Trong đó chương trình họcmôn Đại số 8 và đặc biệt là quá trình ôn tập cho học sinh thi vào trường THPT,tôi nhận thấy học sinh lớp 8 khi mới bắt đầu tiếp cận với dạng toán “ Giải bàitoán
Trang 1THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: “Phân loại và rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập
hệ phương trình cho học sinh trong môn Toán lớp 9”
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Toán THCS
3 Tác giả
Họ và tên: (Nữ)
Ngày tháng 0 năm
Trình độ chuyên môn: Đại học SP Toán
Chức vụ, đơn vị công tác: GiáoViên Trường THCS
Điện thoại:
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THCS– –
Địa chỉ:
Điện thoại:
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:
Tên đơn vị:
6 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
GV: Phải đầu tư thời gian nghiên cứu, phương pháp dạy học và phân dạng bài tập để nâng cao hiệu quả dạy học khi thực hiện
HS: Phải tích cực, chủ động, chuẩn bị sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo Đảm bảo đủ yêu cầu về cơ sở vật chất tối thiểu
7 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu Năm học 2018 – 2019
HỌ TÊN TÁC GIẢ XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Trang 21 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Toán học là một môn khoa học có tính tư duy cao và trừu tượng – đòi hỏitính hệ thống, lôgic Để giải quyết một bài toán, một yêu cầu đề ra đòi hỏi ngườigiải toán phải có một hệ thống kiến thức nhất định nào đó, cùng các kỹ năng vàcác phương pháp giải toán tương ứng, đặc biệt là khả năng tư duy phân tích, tổnghợp, suy luận Toán học
Qua thực tế khi giảng dạy bộ môn Toán ở trường THCS, tôi luôn tìm hiểucác phương pháp dạy học để rèn kĩ năng làm bài cho HS, kích thích tinh thần tựhọc, giúp học sinh tiếp thu bài nhanh và hiệu quả Trong đó chương trình họcmôn Đại số 8 và đặc biệt là quá trình ôn tập cho học sinh thi vào trường THPT,tôi nhận thấy học sinh lớp 8 khi mới bắt đầu tiếp cận với dạng toán “ Giải bàitoán bằng cách lập phương trình” hầu hết các em đều cảm thấy rất khó, thậm chícòn không hiểu cô giáo lập được phương trình do đâu? Dựa vào đâu? Đây quảthực là một vấn đề tôi rất băn khoăn và lo lắng Vì vậy khi được phân công dạylớp 9, thiết nghĩ vấn đề khó chưa được giải quyết nên tôi mạnh dạn tìm hiểu vềdạng toán " Giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình " để giúp các em phândạng Toán, nhận dạng Toán, cách giải từng dạng toán trong chuyên đề này… Vì
vậy tôi mạnh dạn nghiên cứu và viết sáng kiến “Phân loại và rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình cho học sinh môn Toán lớp 9”.
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
* Điều kiện: Giáo viên: Đạt trình độ chuẩn trở lên
Học sinh: Phát triển bình thường
Cơ sở vật chất: Đảm bảo yêu cầu tối thiểu
* Thời gian: Áp dụng từ năm 2017 - 2018
* Đối tượng: Học sinh khối 9
3 Nội dung sáng kiến: Nghiên cứu sáng kiến “Phân loại và rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình cho học sinh môn Toán lớp 9”.
Trong đề tài, tôi trình bày sáu vấn đề, tương ứng với 6 dạng Toán:
- Dạng 1: Toán về tìm số
- Dạng 2: Toán chuyển động
Trang 3- Dạng 3: Toán làm chung, làm riêng công việc
- Dạng 4: Toán có nội dung hình học
- Dạng 5: Toán năng suất ( tăng, giảm)
- Dạng 6: Các dạng toán khác
Sáng kiến kinh nghiệm này nhằm mục đích: Bắt đầu từ một bài toán cơbản, đơn giản rồi sau đó khai thác bài toán để mở rộng, nâng cao để được nhữngbài toán mới khó hơn, đa dạng hơn Xây dựng được hệ thống các bài tập phùhợp với đối tượng học sinh nhằm giúp học sinh có được bài tập luyện tập khắcsâu kiến thức, giáo viên giảng dạy có được hệ thống bài tập phong phú, đượcsắp xếp từ dễ đến khó, nhằm mục đích làm tài liệu để học sinh có thể luyện tập
và ôn tập thi vào trường THPT
- Giúp các em tự mình khám phá ra kiến thức, cách giải bài toán một cáchchủ động theo từng dạng bài không bị gò ép bắt buộc - để từ đó các em hiểu hơn,nắm chắc hơn, nhớ lâu hơn, hơn thế nữa nó còn gây hứng thú học tập cho các em.Giúp cho bản thân tôi và các giáo viên giảng dạy bộ môn Toán có một bộ tài liệu
đã được phân dạng để giảng daỵ cho học sinh
4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến:
Chúng ta biết rằng: Khi dạy ôn luyện cho học sinh nếu giáo viên đưa chohọc sinh một bài toán bất kì hay một bài toán khó mà để HS giải được thì chắcchắn các em rất bỡ ngỡ - khó tìm ra lời giải Nếu giáo viên có hướng dẫn haychữa bài thì mức độ lĩnh hội tiếp thu của các em cũng rất hạn chế Do đó khi dạy
ôn luyện bộ môn Toán học chúng ta nên phân dạng bài và dạy bắt đầu từ một bàitoán cơ bản, đơn giản rồi sau đó khai thác bài toán để mở rộng, nâng cao - Điềunày sẽ phù hợp với quá trình nhận thức của học sinh từ thấp đến cao, từ đơn giảnđến phức tạp, để từ đó các em hiểu hơn, nắm chắc hơn, nhớ lâu hơn, hơn thế nữa
nó còn gây hứng thú học tập, phát huy được năng lực tự học, tự giải quyết vấn đềcho các em học sinh
Trước đây, khi dạy học về dạng toán " Giải bài toán bằng cách lập hệphương trình”, tôi chưa phân dạng bài tập, mà mới chỉ cho các em làm lần lượtcác bài tập trong sách giáo khoa và sách bài tập Đôi khi các bài tập khó thì học
Trang 4sinh lại được làm trước, bài tập dễ thì lại làm sau Do đó các em gặp khó khănkhi làm các bài tập khó, chưa tự mình phân dạng bài tập và chưa vận dụng cácbài tập cơ bản vào trong các bài toán nâng cao Khi nghiên cứu đề tài này tôi đãhướng dẫn cho các em phương pháp chung để giải bắt đầu từ bài tập dễ, nâng dầnkhó hơn Từ đó các em đã có những bài giải tổng quát hơn, biết nhận ra dạng bàitập để áp dụng phương pháp đã học vào giải nhanh, câu từ chính xác Ngoài ravới các bài toán đã học ở chương trình lớp 8 tôi cũng đã giúp các em đưa về dạngtoán trong lớp 9 với cách giải dễ hiểu, đơn giản hơn.
Với mỗi dạng bài tập, tôi đều dự kiến sai lầm của học sinh để rút kinhnghiệm cho các em Kết quả sau khi áp dụng đề tài này, tôi thấy học sinh ở lớptôi dạy hứng thú học tập hơn, không còn ngại làm các bài tập về giải bài toánbằng cách lập hệ phương trình và đây là một kết quả tốt mà tôi đã nhận được
5 Đề xuất, kiến nghị để mở rộng kiến thức:
* Đối với học sinh: Cần nghiên cứu bài, học thuộc và quen dần với các dạng bài
tập Ngôn ngữ sử dụng để lập luận cần trau truốt, chính xác Tự tin và có hứngthú học tập môn Toán
* Đối với giáo viên: - Nghiên cứu kỹ hệ thống chương trình SGK ở bộ môn Toán
và các tài liệu có liên quan Xác định được mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung của
bộ môn Toán
- Đặc biệt giáo viên phải kiên trì, tỉ mỉ, đầu tư thời gian, thường xuyên hỏitừng dạng toán trong chuyên đề
* Đối với nhà trường và các cấp quản lí: Cần tiếp tục tổ chức các chuyên đề
môn Toán trong phạm vi rộng hơn để giáo viên dạy môn Toán có dịp trao đổi vàhọc tập được nhiều hơn Đồng thời đóng góp ý kiến, chỉ đạo để tôi tiếp tục hoànchỉnh sáng kiến và tạo điều kiện cho tôi tiếp tục triển khai trong nhà trường đểgóp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán tại trường THCS
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Trang 5Môn Toán là môn học khó, khó đối với học sinh trong việc lĩnh hội và vậndụng các kiến thức, khó đối với giáo viên trong việc tổ chức dạy học như thế nào
để học sinh học tốt, đặc biệt là dạng toán có lời văn Kiến thức mà học sinh thunhận được chủ yếu thông qua các câu từ có trong đề bài, học sinh phải biết cáchsuy luận để từ đó hình thành nên các phương trình thì lúc đó mới giải được bàitập Vì thế để giúp học sinh lĩnh hội và vận dụng được các kiến thức thì giáo viêncần phải tổ chức tốt các hoạt động dạy học khi dạy phân tích đề bài trong dạngtoán giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình ở môn Toán 9
Trong quá trình giảng dạy bộ môn toán tôi thấy phần kiến thức về giải bàitoán bằng cách lập hệ phương trình này có nội dung và phạm vi rất rộng, nó baogồm tất cả các bài toán từ thực tế đến suy luận, logic… Từ những bài toánchuyển động trên đường, dưới nước, những bài toán tìm số đến những bài toánthực tế hơn như hai người làm chung, làm riêng một công việc, hay bài toán vớiviệc tăng năng suất lao động hay với bài toán xếp ghế theo hàng theo dãy …vv
Để từ đó hình thành cho học sinh kiến thức thực tế mà học sinh có thể áp dụng,vận dụng trực tiếp vào cuộc sống khi các em dời ghế nhà trường
Nhận thức rõ đặc trưng bộ môn và thực tế tình hình học tập của các em trong kì
thi vào THPT tôi đã đúc rút thành sáng kiến kinh nghiệm: “Phân loại và rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình cho học sinh môn Toán lớp 9” Rất mong sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp để sáng kiến được hoàn
chỉnh
2 Cơ sở lý luận của vấn đề
Như chúng ta đã biết khoa học ngày càng phát triển, đòi hỏi mỗi giáo viênphải nỗ lực hết mình đem hết khả năng và trau dồi kiến thức, chuyên môn củamình để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ phát triển của xã hội nói chung và củangành giáo dục nói riêng Đối với học sinh cũng vậy nhu cầu học ngày càng mộtsâu rộng hơn Do đó đòi hỏi kiến thức chương trình, phương pháp dạy học phảithay đổi để phù hợp.Do đó qua quá trình giải toán kiến thức của người học đượccủng cố đào sâu, mở rộng, sâu chuỗi các mối quan hệ ở đề bài với nhau để từ đó
có được lời giải Giải toán là hình thức tốt để rèn luyện các kĩ năng, cũng như để
Trang 6hình thành nên các năng lực, mức độ tiếp thu và hình thành kiến thức của họcsinh.
Phát triển năng lực của HS thông qua các bài toán đòi hỏi các em phải lýluận chặt chẽ, các bài toán được áp dụng vào thực tế mà các em thường gặp có ýnghĩa rất to lớn cho việc hình thành con người
Trong chương trình học Toán lớp 9 học sinh bắt đầu làm quen với:
2.1 Phương trình bậc nhất hai ẩn: Phương trình bậc nhất hai ẩn x và y là hệ thứcdạng: ax + by = c trong đó a, b và c là các số đã biết ( a 0 hoặc b 0)
- Phương trình bậc nhất hai ẩn ax + by = c luôn có vô số nghiệm Tập nghiệmđược biểu diễn bởi đường thẳng ax + by = c (d)
2.2 Hệ hai phương trình bậc nhất hai ẩn: có dạng: ' ' '
- Nếu hai phương trình ấy có 1 nghiệm chung thì hệ đó có nghiệm duy nhất
- Nếu hai phương trình ấy không có nghiệm chung thì hệ đó vô nghiệm
- Nếu hai phương trình ấy có vô số nghiệm chung thì hệ đó vô số nghiệm
2.3 Giải hệ phương trình bằng phương pháp thế:
Cách giải hệ phương trình bằng phương pháp thế:
Bước 1: Từ một phương trình của hệ đã cho ( PT 1) ta biểu diễn một ẩn theo ẩnkia rồi thế ( thay) vào phương trình thứ hai để được phương trình mới chỉ có mộtẩn
Bước 2: Giải phương trình một ẩn vừa có, rồi suy ra nghiệm của hệ đã cho
Ví dụ: Giải hệ phương trình sau: 2x x y2y34 x y2(22xx33) 4
Vậy hệ phương trình đã cho có nghiệm duy nhất là (2; 1)
2.4 Giải hệ phương trình bằng phương pháp cộng đại số:
Cách giải hệ phương trình bằng phương pháp cộng đại số:
Trang 7Bước 1: Nhân hai vế của một phương trình với một số thích hợp ( nếu cần) saocho các hệ số của một ẩn nào đó trong hai phương trình của hệ bằng nhau hoặcđối nhau.
Bước 2: Áp dụng quy tắc cộng đại số để được hệ phương trình mới, trong đó cómột phương trình mà hệ số của một trong hai ẩn bằng 0
Bước 3: Giải phương trình một ẩn vừa thu được rồi suy ra nghiệm của hệ phươngtrình đã cho
Ví dụ 1: Giải hệ phương trình sau: 2x y x y 63
Vậy hệ phương trình có nghiệm duy nhất: (3;-3)
Ví dụ 2: Giải hệ phương trình sau: 3 2 7
Vậy nghiệm của hệ phương trình là: (x; y) = (3;-1)
2.5 Giải hệ phương trình bằng phương pháp đặt ẩn phụ:
Ta xét ví dụ sau: Giải hệ phương trình sau bằng cách đặt ẩn phụ:
y y
Cho phương trình bậc hai: 2
ax + bx + c = 0 (a 0) Ta có: = b2 - 4ac
Trang 8+) Nếu > 0 PT có hai nghiệm phân biệt: 1
2
b x
+) Nếu < 0 PT vô nghiệm
Như vậy để “Phân loại và rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình cho học sinh môn Toán lớp 9” các em phải nắm chắc lượng kiến thức
trên, có giải thành thạo các loại hệ phương trình và phương trình thì chuyên đềnày mới thành công Chính vì vậy, điểm nhấn của sáng kiến này còn ở các bướcgiải hệ phương trình và giải phương trình nữa Xin được trao đổi cùng các đồngnghiệp một số kinh nghiệm về sáng kiến đã chọn
3 Thực trạng của vấn đề
3.1 Thuận lợi:
- Nội dung chương trình SGK được đổi mới giảm nhẹ tính lý thuyết, tăngcác ví dụ và các bài luyện tập: Thời lượng dành cho lý thuyết cũng đă giảm, chỉchiếm 60% tổng thời lượng Thời gian dành cho bài tập, luyện tập, ôn tập và thựchành được tăng lên, giúp khắc sâu kiến thức cho học sinh hơn
- GV được tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng chuyên môn về đổi mới nộidung chương trình SGK, đổi mới phương pháp dạy học, các buổi sinh hoạtchuyên môn liên trường cho phù hợp với đối tượng HS
- Thư viện nhà trường, thiết bị dạy học tương đối tốt Tài liệu tham khảophong phú nên giáo viên có điều kiện mượn và sử dụng các loại sách, máy chiếu,máy tính thiết bị dạy học thuận lợi cho việc vận dụng đổi mới phương pháp vàứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học có hiệu quả
3.2 Khó khăn: Điều tra thực trạng trước khi nghiên cứu.
Khi giảng dạy trên lớp tôi đã gặp một số bài toán về giải bài toán bằngcách lập hệ phương trình, tôi thấy học sinh thường rất lúng túng trong việc làmbài tập, không biết là lập hệ phương trình từ đâu Điều này một phần do giáo viênchưa tìm ra phương pháp phù hợp để học sinh được chủ động, sáng tạo tìm tòikiến thức Trong quá trình giảng dạy, phát triển tư duy sáng tạo của học sinh cótầm quan trọng đặc biệt Giáo viên còn giảng dạy áp đặt cho học sinh vì vậy chưa
Trang 9tạo sự hứng thú trong học tập cho học sinh, chưa rèn cho học sinh kĩ năng làmbài Trước khi thực hiện việc này, tôi đã thực hiện việc khảo sát môn Toán của 2lớp 9 với nội dung kiểm tra như sau:
Đề kiểm tra (Thời gian làm bài 20 phút) Tổng các chữ số của một số có hai
chữ số là 9 Nếu thêm vào số đó 63 đơn vị thì số thu được cũng viết bằng 2 chữ số nhưng theo thứ tự ngược lại Hãy tìm số đó?
Số viết ngược lại là yx 10y x
Vì thêm vào số đó 63 đơn vị thì số thu được số 2 chữ
số nhưng theo thứ tự ngược lại, có PT:
4 Các giải pháp, biện pháp thực hiện
4.1 Kiến thức cơ bản: Các bước giải bài toán bằng cách lập hệ PT:
Bước 1: Lập hệ phương trình:
Trang 10a) Chọn hai ẩn và đặt điều kiện thích hợp cho ẩn.
b) Biểu diễn các đại lượng chưa biết thông qua các ẩn và các đại lượng đã biết
c) Lập hai phương trình biểu thị mối quan hệ giữa các đại lượng
Bước 2: Giải hệ hai phương trình nói trên.
Bước 3: Đối chiếu nghiệm của hệ phương trình với điều kiện của ẩn và kết luận cho bài
toán
* Vậy để giải một bài toán chúng ta cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Trước tiên GV hướng dẫn học sinh hiểu đề toán và trong quá trình giảikhông có sai sót về kiến thức, phương pháp suy luận, kỹ năng tính toán, ký hiệu,điều kiện của ẩn; rèn cho học sinh có thói quen đặt điều kiện của ẩn và xem xétđối chiếu kết quả với điều kiện của ẩn xem đã hợp lý chưa
- Đó là trong quá trình thực hiện từng bước thì việc chọn ẩn chính xác là
rất quan trọng, có chọn ẩn đúng thì bài toán giải mới đúng được Chính vì vậy,học sinh cần hiểu được đâu là ẩn, đâu là dữ kiện, đâu là điều kiện của bài toán đãcho Từ đó xác định hướng đi, thường thì đề toán hỏi gì, thì ta chọn đó là ẩn củabài toán Tuy nhiên có một số trường hợp không phải như vậy, yêu cầu phải đọc
kĩ đề bài và phân tích từng ý của bài toán Nhờ mối tương quan giữa các đạilượng trong bài toán thiết lập được các phương trình từ đó tìm được giá trị của
ẩn, lời giải bài toán lập luận phải có căn cứ chính xác
- Hướng dẫn học sinh không được bỏ sót chi tiết, dữ kiện nào của bài.
Không được thừa nhưng cũng không được thiếu Hướng dẫn học sinh cách kiểmtra lại lời giải xem đã đầy đủ chưa? Kết quả của bài toán đã phù hợp với nội dungcủa đề bài, kiểm tra với các điều kiện khác thì kết quả vẫn luôn luôn đúng, vì vậylời giải phải đầy đủ và mang tính toàn diện, nên chọn cách ngắn ngọn nhất đểtrình bày bài làm
- Lời giải bài toán phải rõ ràng, đầy đủ, có thể nên kiểm tra lại: Lưu ý đến
việc giải các bước lập luận để đưa ra các phương trình (lưu ý bài toán có 2 ẩnchính vì vậy cũng có 2 dữ kiện của bài toán) Vậy cần hướng dẫn cho học sinh có
Trang 11thói quen sau khi giải xong cần thử lại kết quả và tìm hết các nghiệm của bàitoán, tránh bỏ sót nhất là đối với phương trình bậc hai.
4.2 Một số dạng bài tập thường gặp.
* Phân loại dạng toán giải bài toán bằng cách lập phương trình
Thông qua việc giảng dạy học sinh tôi xin đưa ra một số dạng bài tập sau:
- Dạng 1: Toán về tìm số
- Dạng 2: Toán chuyển động
- Dạng 3: Toán làm chung, làm riêng công việc
- Dạng 4: Toán có nội dung hình học
- Dạng 5: Toán năng suất ( tăng, giảm)
- Dạng 6: Các dạng toán khác
* Trong khi thực hiện lời giải bài toán, học sinh cần thiết phải làm các bước thựchiện chi tiết sau:
- Bước 1: Đọc kỹ đề bài (cần thuộc đề bài), tiến hành phân tích bài toán
- Bước 2: Đặt ra câu hỏi, nên chọn ẩn như thế nào cho phù hợp, điều kiệncủa ẩn thế nào cho thoả mãn ( Thường thì ta nên chọn ẩn theo đề bài, tức là sửdụng câu hỏi để chọn ẩn của bài toán Đây là cách chọn ẩn trực tiếp, ngoài ra vớimột số bài toán thì ta cần chọn ẩn gián tiếp mới làm được bài)
+ Ví dụ về cách chọn ẩn trực tiếp:
Bài toán: Hai người đi xe máy khởi hành cùng 1 lúc từ A đến B dài 120 km Biếtrằng mỗi giờ người thứ hai đi chậm hơn người thứ nhất là 6 km nên đến B chậmhơn người thứ nhất là 40 phút Tính vận tốc của mỗi người?
Ta gọi vận tốc của người thứ nhất là x km/h
Gọi vận tốc của người thứ 2 là y km/h
+ Ví dụ về cách chọn ẩn gián tiếp:
Bài toán: Một ca nô xuôi dòng 30 km rồi ngược dòng 36 km Vận tốc ca nô xuôidòng lớn hơn vận tốc ca nô ngược dòng là 3 km/h Tính vận tốc ca nô lúc ngượcdòng Biết thời gian ca nô lúc ngược dòng lâu hơn thời gian lúc xuôi dòng là 1giờ
Ta gọi vận tốc của ca nô lúc nước yên lặng ( vận tốc thực) là x (km/h)
Trang 12- Bước 3: Dựa vào các quan hệ giữa ẩn số và các đại lượng đã biết trong đềbài, dựa vào các công thức, tính chất để xây dựng các phương trình Thường thì,bài toán có hai ẩn nên dữ liệu của bài toán của có 2 dữ kiện, đọc kĩ bài và xétxem dữ liệu nào cần thiết để cho ra các phương trình Muốn cho bài toán dễ hiểuhơn, hãy chọn cách lập bảng – viết các đại lượng đã biết và chưa biết vào bảng,các thành phần tham gia trong bài để lập nên các phương trình Và cũng từ bảnglập ra, yêu cầu HS quan sát vào bảng để viết lên lời giải một cách chi tiết và rõràng Kết hợp 2 phương trình để giải hệ phương trình, đối với dạng toán côngviệc thì giải hệ phương trình cần phải đặt ẩn phụ.
- Bước 4: Vận dụng các kỹ năng giải hệ phương trình như giải bằngphương pháp cộng đại số, phương pháp thế, phương pháp đặt ẩn phụ ( đã nêutrên) để tìm nghiệm của hệ phương trình
- Bước 5: xét nghiệm của hệ phương trình với điều kiện đặt ra của bài toán,với thực tiễn xem có phù hợp không? Sau đó trả lời, kết luận bài toán
- Bước 6: Phân tích biện luận cách giải Phần này thường để mở rộng chohọc sinh khá, giỏi sau khi đã giải xong có thể gợi ý học sinh biến đổi bài toán đãcho thành bài toán khác bằng cách: Giữ nguyên ẩn số thay đổi các yếu tố khác.Giữ nguyên các dữ kiện thay đổi các yếu tố khác Giải bài toán bằng cách khác,tìm cách giải hay nhất
+ Tổng hai số x; y là: x + y Tổng bình phương hai số x, y là: x2 + y2
+ Bình phương của tổng hai số x, y là: (x + y)2
Ví dụ 1: Tìm một số tự nhiên có hai chữ số, biết rằng chữ số hàng chục bằng hai
lần chữ số hàng đơn vị cộng thêm 2 và tổng của hai chữ số là số nguyên tố nhỏ nhất có hai chữ số ?
Trang 13Hướng dẫn giải:
- Bài toỏn cho biết và yờu cầu làm gỡ?
- Chọn ẩn như thế nào? Điều kiện của ẩn ra sao?
- Với dữ kiện: chữ số hàng chục bằng hai lần chữ số hàng đơn vị cộng thêm 2 ta được phương trỡnh nào?
+ Dữ kiện: Tổng của hai chữ số là số nguyờn tố nhỏ nhất cú 2 chữ số? Ta cần biết số nguyờn tố nhỏ nhất cú hai chữ số là số nào? Tổng của 2 chữ số được viết như thế nào? Từ đú lập phương trỡnh thứ hai
- Giải hệ hai phương trỡnh trờn ta cú được kết quả của bài toỏn
- Lưu ý: chữ số hàng chục viết trước, chữ số hàng đơn vị viết sau
Giải chi tiết:
Gọi số phải tìm là ab( a;b N ; 1≤ a ≤ 9 ; 0 ≤ b ≤ 9 )
Vỡ chữ số hàng chục bằng hai lần chữ số hàng đơn vị cộng thờm 2 nờn ta cú PT:
b a
b a
Giải hệ này ta tìm đợc : a = 8 ; b = 3 (t/m) Vậy số phải tìm là : 83
Vớ dụ 2: Tỡm hai số tự nhiờn liờn tiếp cú tổng cỏc bỡnh phương của nú là 85 Giải: Gọi số bộ là x (x N) Số lớn là y
Vỡ tổng cỏc bỡnh phương của nú là 85 nờn ta cú phương trỡnh: x2 + y2 = 85(1)
Vỡ 2 số tự nhiờn liờn tiếp nhau ta cú PT: y= x+ 1( 2)
Trang 14*) Trong bài tập ở ví dụ 2 ngoài cách giải bài toán bằng hệ PT tôi có thể yêu cầucác em giải bài toán bằng cách lập PT để so sánh xem các nào dễ hơn, HS hiểuhơn, tiếp thu nhanh hơn để từ đó có thể hướng các em đến các cách giải.
- Đây là dạng bài toán tương đối đơn giản, học sinh dễ nhận dạng, khi phân dạngtoán này HS luôn có các cách giải cụ thể, các em rất hào hứng với dạng toán này
- Ngoài ra ta còn có các dữ liệu của bài toán như khi thêm vào số 1 giữa, hoặcbên trái, bên phải chữ số đó Rồi đổi chỗ 2 chữ số cho nhau, cần chú ý đến từng
dữ kiện của bài toán để làm chình xác Ví dụ như: ab đổi chỗ hai chữ số là: ba
Vân tốc ca nô khi ngược dòng là v = v1 - v2
- Chuyển động dưới nước có bè gỗ thả trôi hay quả bóng thả trôi trên sông chính
là vận tốc của dòng nước
Ví dụ 1: Một Ô tô du lịch đi từ A đến B, sau 17 phút Ô tô tải đi từ B về A Sau khi
xe tải đi được 28 phút thì hai xe gặp nhau Biết vận tốc của xe du lịch hơn vận tốccủa xe tải là 20 km/h và quãng đường AB dài 88 km Tính vận tốc của mỗi xe.Hướng dẫn giải:
- Đọc kĩ đề bài, xem bài toán cho biết, yêu cầu tính gì? Chọn ẩn trực tiếp haychọn ẩn gián tiếp, điều kiện của ẩn
- Lập bảng liên quan các đại lượng, thành phần tham gia bài toán.
Trang 15- Vì ôtô du lịch xuất phát 17 phút, ôtô tải mới đi và sau 28 phút thì hai xe gặp nhau Nên thời gian của hai xe đã đi đến vị trí gặp nhau là bao nhiêu?
- Như vậy trong bảng còn quãng đường s là chưa biết? Hãy biểu diễn đại lượng chưa biết này thông qua ẩn
- Cả quãng đường AB là 88 km Vậy Phương trình lập được như thế nào?
Giải: Gọi vận tốc xe du lịch là x (km/h);
Vận tốc xe tải là y (km/h) (Điều kiện: x >y > 0)
- Theo bài ra vận tốc xe du lịch lớn hơn vận tốc xe tải là 20 km/h nên ta cóphương trình: x - y = 20 (1)
- Quãng đường xe du lịch đi được trong 45 phút là: 3.
4 x (km)
- Quãng đường xe tải đi được trong 28 phút là: 7 .
15 y (km)Theo bài ra quãng đường AB dài 88km nên ta có phương trình:
Ví dụ 2: Hai người đi xe máy khởi hành cùng 1 lúc từ A đến B dài 120 km Biết
rằng mỗi giờ người thứ hai đi chậm hơn người thứ nhất là 6 km nên đến B chậmhơn người thứ nhất là 40 phút Tính vận tốc của mỗi người?
Hướng dẫn giải
Gọi vận tốc của người thứ nhất là x (km/h), đk: x > 0
Gọi vận tốc của người thứ hai là y(km/h), đk: y > 0
Vì mỗi giờ người thứ hai đi chậm hơn người thứ nhất là 6 km,
nên ta có PT: x – y = - 6 ( 1)
Thời gian người thứ nhất đi từ A đến B là 120
x (giờ)
Trang 16Thời gian người thứ hai đi từ A đến B là 120
y (giờ)
Vì người thứ hai đi chậm hơn người thứ nhất 40 phút = 2
3giờ nên ta có PT: 120 1202(2)
Vậy vận tốc của người thứ nhất là 36 km/h Vận tốc của người 2 là 30 km/h
Ví dụ 3: Trên cùng một dòng sông, một cano chạy xuôi dòng 108 km và ngược
dòng 63 km hết tất cả 7 giờ Nếu ca nô xuôi dòng 81 km và ngược dòng 84 kmthì hết 7 giờ Tình vận tốc thực của ca nô và vận tốc của dòng nước?
Hướng dẫn giải:
Gọi vận tốc thực của ca nô là x (km/h),
vận tốc của dòng nước là: y (km/h) ( Điều kiện: x > y > 0)
Trang 171
a =
27 1
Vậy vận tốc thực của ca nô là 24 (km/h), vận tốc của dòng nước là: 3 (km/h)
*) Trong dạng toán này: Vấn đề đặt ra là các em nhận dạng rất tốt nhưng cách
giải dạng này thì còn khó khăn đối với HS học khá, trung bình Vì vậy tôi đã yêucầu các em tích cực luyện tập các bài toán dạng này để thành thạo hơn trong cácbước giải, lập nên các phương trình theo dữ kiện của đề bài Trên đây tôi đã đưa
ra 2 ví dụ về chuyển động cùng chiều và chuyển động ngược chiều nhau để chothấy rõ sự khác nhau giữa 2 loại chuyển động này Từ đó nhấn mạnh nội dungcủa bài toán rất quan trọng đến việc lập ra các phương trình
- Vì vậy trong khi giải tôi đã lưu ý các em, bài toán cho chúng ta biết gì, thì các
em cần quy đổi hết về yếu tố của đề bài từ đó lập lên các PT theo dữ kiện của bàitoán: nắm chắc mối quan hệ giữa các đại lượng: Quãng đường, vận tốc, thời gian
và công thức S=v.t
- Nếu chuyển động trên một đoạn đường không đổi từ A đến B rồi từ B về
A thì thời gian cả đi và về bằng thời gian thực tế chuyển động
- Nếu hai thành phần tham gia chuyển động ngược chiều nhau, sau mộtthời gian hai thành phần chuyển động gặp nhau thì có thể lập phương trình: S1 +
S 2 = S ( tức là quãng đường xe 1 đi và xe 2 đi được cộng lại bằng cả quãngđường chuyển động của 2 xe)
- Nếu chuyển động trên cùng một quãng đường thì vận tốc và thời gian tỉ
lệ nghịch với nhau
- Nếu thời gian của chuyển động đến chậm hơn so với dự định thì cách lậpphương trình như sau: Thời gian dự định đi với vận tốc ban đầu cộng thời gianđến chậm bằng thời gian thực đi trên đường Nếu thời gian của dự định đếnnhanh hơn dự định thì cách lập phương trình làm ngược lại phần trên
4.2.3 Dạng 3: Toán làm chung, làm riêng công việc
Những kiến thức cần nhớ:
Trang 18- Nếu một đội làm xong công việc trong x giờ thì một ngày đội đó làm được 1
x
công việc
- Xem toàn bộ công việc, vòi nước chảy đầy bể là 1
Ví dụ 1: Hai người thợ cùng làm một công việc trong 16 giờ thì xong Nếu người
thứ nhất làm 3 giờ, người thứ hai làm 6 giờ thì chỉ hoàn thành được 25% côngviệc Hỏi nếu làm riêng thì mỗi người hoàn thành công việc trong bao lâu?
Giải: Ta có 25%= 1
4.Gọi thời gian một mình người thứ nhất hoàn thành công việc là x(x > 0; giờ)Gọi thời gian một mình người thứ hai hoàn thành công việc là y(y > 0; giờ)
Trong một giờ người thứ nhất làm được 1
x công việcTrong một giờ người thứ hai làm được 1
Vậy nếu làm riêng thì người thứ nhất hoàn thành công việc trong 24 giờ Người thứ hai hoàn thành công việc trong 48 giờ
Ví dụ 2: Hai người thợ cùng sơn cửa cho một ngôi nhà thì 2 ngày xong việc Nếu
người thứ nhất làm trong 4 ngày rồi nghỉ người thứ hai làm tiếp trong 1 ngày nữathì xong việc Hỏi mỗi người làm một mình thì bao lâu xong công việc?
Giải:
Trang 19Gọi thời gian để một mình người thứ nhất hoàn thành công việc là x (x>2; ngày)Gọi thời gian để một mình người thứ hai hoàn thành công việc là y (x>2; ngày).Trong một ngày người thứ nhất làm được 1
x công việcTrong một ngày người thứ hai làm được 1
Bài 1 : Hai vòi nước chảy cùng vào 1 bể không có nước thì trong 6 giờ đầy bể
Nếu vòi thứ nhất chảy trong 2 giờ, vòi thứ 2 chảy trong 3 giờ thì được
5
2
bể Hỏi mỗi vòi chảy bao lâu thì sẽ đầy bể?
x
2 5
Trang 20* HS rất hứng thú với việc lập bảng và giải dạng bài này rất nhanh khi đã được
GV hướng dẫn chi tiết các bước giải Đây là một thành công rất lớn của đề tàinày Cũng vì vậy đã tạo được hứng thú và lôi cuốn HS trong các dạng còn lại củasáng kiến Nên khuyến khích HS giải dạng toán này bằng cách lập bảng
4.2.4 Dạng 4: Toán có nội dung hình học:
Kiến thức cần nhớ:
- Diện tích hình chữ nhật S = x.y ( x là chiều rộng; y là chiều dài)
- Diện tích tam giác S 1x.y
2
( x là chiều cao, y là cạnh đáy tương ứng)
- Độ dài cạnh huyền : c2 = a2 + b2 (c là cạnh huyền; a,b là các cạnh góc vuông)
- Số đường chéo của một đa giác n(n 3)
- Đề bài yêu cầu tìm đại lượng nào? Chọn ẩn? Đặt điều kiện cho ẩn?
( Bài toán hỏi các kích thước của hình chữ nhật vậy ta chọn ẩn là chiều dài, chiềurộng của hình chữ nhật lần lượt là x và y)
- Diện tích của hình chữ nhật tính bằng công thức nào? Viết phương trình?
- Nếu tăng kích thước hình chữ nhật thêm 3 cm vậy chiều dài, chiều rộng là bao nhiêu? ( biểu diễn đại lượng này thông qua ẩn)
- Diện tích tăng thêm, vậy ban đầu diện tích là bao nhiêu? Tính diện tích tăng thêm, sau đó viết phương trình
Giải:
Gọi các kích thước của hình chữ nhật lần lượt là x và y (cm; x, y > 0)
Diện tích hình chữ nhật lúc đầu là x.y (cm2) Theo bài ra ta có pt x.y = 40 (1)Khi tăng mỗi chiều thêm 3 cm thì diện tích hình chữ nhật là Theo bài ra ta có pt :(x + 3)(y + 3) – xy = 48 3x + 3y + 9 = 48 x + y = 13(2)
Từ (1) và (2) suy ra x và y là nghiệm của PT: X2 – 13 X + 40 = 0
Trang 21Phương trình có hai nghiệm X1 13 3 8;X2 13 3 5
Vậy các kích thước của hình chữ nhật là 5 (cm) và 8 (cm)
Chú ý: Ngoài cách đưa tổng tích về PT bậc 2, ta có thể sử dụng giải hệ PT bằngPhương pháp thế để tìm nghiệm của (1) và (2)
Ví dụ 2: Mét thửa ruộng hình chữ nhật, nếu tăng chiều dài thêm 2m và tăng
chiều rộng thêm 3m thì diện tích tăng thêm 100m2 Nếu cùng giảm cả chiều dài
và chiều rộng đi 2m thì diện tích giảm đi 68m2 Tính diện tích của thửa ruộng ?
Giải: Gọi chiều dài hình chữ nhật là x (m),
chiều rộng hình chữ nhật là y (m) (ĐK : x > y > 2)
Diện tích của hình chữ nhật là: x.y (m2)
Vì chiều dài thêm 2m và chiều rộng tăng thêm 3 m thì diện tích tăng thêm 100 m2nên ta có PT: (x + 2) ( y + 3) = x.y + 100 (1)
-Vì nếu cùng giảm cả chiều dài và chiều rộng đi 2m thì diện tích giảm đi 68m2-, ,
Vậy chiều dài là 22 m và chiều rộng là 14 m
Diện tích của thửa ruộng đó là : 22 14 = 308 m2
* Đây là một dạng toán tương đối đơn giản đối với các em Hầu hết các em làmtốt dạng toán này, dạng toán này cũng rất nhiều năm có trong đề thi vào THPTcủa Sở, tôi đã yêu cầu các em tự luyện tập với các bài tập đã được tôi cung cấpsẵn, có đáp án cho mỗi bài và các em cũng có thể đối chiếu đáp án với các bạntrong lớp
4.2.5 Dạng 5: Toán năng suất ( tăng, giảm)
Những kiến thức cần nhớ :
Số sản phẩm trong 1 ngày x Số ngày thực hiện = Tổng số sản phầm.
Ví dụ 1: Hai phân xưởng của 1 nhà máy theo kế hoạch phải làm 540 dụng
cụ.Nhưng do cải tiến kĩ thuật phân xưởng 1 vượt mức 15% kế hoạch, phân xưởng