Chính vì vậy, trong khi giáo viên và họcsinh đều có tâm lý rất coi trọng phần lý thuyết và thực hành phân tích đa thức thànhnhân tử thì chúng ta cũng đặt ra câu hỏi trăn trở đó là: làm s
Trang 1MỤC LỤC
I PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Giới hạn của đề tài 3
5 Phương Pháp nghiên cứu 3
II PHẦN NỘI DUNG 5
1 Cơ sở lí luận 5
2 Thực trạng vấn dề nghiên cứu 6
2.1 Thuận lợi – khó khăn: 6
2.2 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra 8
3 Nội dung và hình thức của giải pháp 8
a Mục tiêu của giải pháp 8
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp 9
c Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp 23
d Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học về vấn đề nghiên cứu 24
III PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 25
1 Kết luận 25
2 Kiến nghị 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, Toán học là môn khoa học xuất hiện trong đời sống chúng
ta từ thời cổ đại sơ khai Đây là một môn học hình thành cho học sinh tính chính xác,tính khoa học, hệ thống và logic … Vì vậy nếu chất lượng dạy và học Toán đượcnâng cao thì có nghĩa chúng ta đã tiếp cận nền kinh tế tri thức khoa học hiện đại,giàu tính nhân văn
Theo Phân phối chương trình môn Toán 8 do Sở giáo dục và đào tạo Đắk Lắkban hành thì phần Phân tích đa thức thành nhân tử có 4 tiết lý thuyết và 2 tiết luyệntập Đây quả là một thời lượng khá khiêm tốn so với khối lượng kiến thức, kỹ năngthực hành mà học sinh cần nắm bắt và thực hiện được Mặt khác, kết quả của bàitoán phân tích đa thức thành nhân tử có mối liên hệ khá đậm nét trong các phần kiếnthức tiếp theo của chương trình toán THCS Chính vì vậy, trong khi giáo viên và họcsinh đều có tâm lý rất coi trọng phần lý thuyết và thực hành phân tích đa thức thànhnhân tử thì chúng ta cũng đặt ra câu hỏi trăn trở đó là: làm sao để học sinh có thểnắm được một số phương pháp cơ bản, định hướng cách làm, thực hiện thành thụccác bài tập cơ bản và nâng cao dần
Trở về thực trạng phân tích đa thức thành nhân tử của học trường THCS NguyễnBỉnh Khiêm, điều rất đáng mừng là các thầy cô giáo thường xuyên vận dụng cácphương pháp dạy học tích cực vào việc cung cấp kiến thức, kỹ năng cho các em họcsinh; các em học sinh cũng có ý thức tự giác học tập, trao đổi bài làm với các bạntrong lớp, Thống kê điểm các bài phân tích đa thức thành nhân tử trong bài kiểmtra chương I –Đại số 8 của các em khối 8 của năm học 2017 – 2018 cho thấy:
Trang 3Như vậy, vẫn còn đến 44% học sinh đạt điểm trung bình trở xuống Điều nàykhông chỉ ảnh hưởng đến tổng số điểm của bài kiểm tra Chương I mà còn cho thấynhiều em vẫn còn lúng túng trong việc phân tích phân tích đa thức thành nhân tử Với nhiều năm được phân công dạy Toán 8, tôi luôn mong muốn mình tìm đượccác phương pháp dạy học thích hợp với các em để giúp các em hiểu phương phápphân tích, áp dụng được các phương pháp vào các dạng bài cụ thể; qua trao đổi vớiđồng nghiệp và tìm đọc các tài liệu tham khảo, tôi mạnh dạn suy nghĩ đến các ý
tưởng: “Tìm tòi và giảng dạy các phương pháp phân tích đa thức thành nhân tử” ;
“Hướng dẫn học sinh phân tích đa thức thành nhân tử” ; “một số ứng dụng của kết quả phân tích đa thức thành nhân tử” ; Trong đó ý tưởng “các phương pháp phân tích đa thức thành nhân tử” có rất nhiều thầy cô lưu tâm đến, và trong SGK,
SBT, các Sách Tham khảo có giới thiệu, trình bày rất nhiều các phương pháp; tuynhiên khi tìm hiểu thực tế học tập của học sinh, nhất là đặc thù của học sinh trườngTHCS Nguyễn Bỉnh Khiêm thì tôi thấy về phương pháp phân tích các em đều cơ bảnnắm bắt được thông qua các ví dụ, bài tập cụ thể của mỗi bài lý thuyết phương pháp,nhưng với các bài tập cho dưới dạng tổng hợp phương pháp thì các em lúng túngchưa xác định được thuộc về phương pháp nào Vì vậy, tôi muốn mình đi sâu vàosuy nghĩ tìm cách hướng dẫn học sinh hiểu và thực hành được đối với các phươngpháp; với từng dạng bài các em có lộ trình vững chãi để suy nghĩ, tìm tòi các cách đểphân tích thành công Chính vì vậy, tôi mạnh dạn xây dựng và áp dụng sáng kiến
kinh nghiệm: “Hướng dẫn học sinh tư duy và trình bày bài toán phân tích đa thức thành nhân tử”.
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
a Mục tiêu:
Với đề tài này không ngoài mục tiêu chính là làm cho học sinh phân tích đượcmột đa thức thành nhân tử, giúp các em có sự tư tin để học những phần kiến thứcliên quan đến phân tích đa thức thành nhân tử, tạo sự hứng thu học tập cho từng đốitượng học sinh đặc biệt là những học sinh yếu kém, và các em học sinh giỏi có cơ
Trang 4hội tiếp cận với các bài toán khó để tham gia các kì thi học sinh giỏi các cấp Giúphọc sinh có thể nắm được một số phương pháp cơ bản, định hướng cách làm, thựchiện thành thục các bài tập cơ bản và nâng cao dần.
Áp dụng sáng kiến vào thực tế, thu thập kết quả học tập của học sinh và đánh giákết quả của sáng kiến kinh nghiệm
3 Đối tượng nghiên cứu
Do tỷ lệ học sinh yếu kém khá đông nên đề tài này tôi chọn đối tượng nghiêncứu là học sinh khối 8 của trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm
4 Giới hạn của đề tài
Sáng kiến kinh nghiệm này được tôi tìm hiểu, nghiên cứu giúp học sinh tư duy,trình bày bài toán phân tích đa thức thành nhân tử và đưa vào áp dụng đối với họcsinh khối 8 của trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm năm học 2018 – 2019
5 Phương Pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Nghiên cứu nội dung: Luật Giáo dục, Điều lệ trường THCS, PPCT Toán cáckhối lớp
- Nghiên cứu các tài liệu bồi dưỡng Giáo viên trong các khóa bồi dưỡng nghiệpvụ
* Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Nghiên cứu kết quả bài kiểm tra Chương I – Đại số 8
- Nghiên cứu kết quả phần phân tích đa thức thành nhân tử trong các tiết học, thiViOlympic toán học trên mạng, …
Trang 5- Vấn đáp trực tiếp và kiểm tra Học sinh khi học và khi gặp bài toán có liên hệ.
* Phương pháp nghiên cứu bổ trợ:
- Tham khảo kinh nghiệm của giáo viên về vấn đề có liên quan
- Thảo khảo các thông tin tại các diễn đàn học tập trên Internet
- Tham vấn với giáo viên trong nhóm Toán 8 và giáo viên nhóm Toán 9 về tìnhhình học tập và khả năng ứng dụng của các em
Trang 6II PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận
Theo Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Giáo dục 2005 Theo đó, tạiđiều 2, điều 3 trong Luật Giáo dục có nêu:
Điều 2: Mục tiêu giáo dục
Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Điều 3: Tính chất, nguyên lý giáo dục
1 Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.
2 Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.”
Với mục tiêu, tính chất và nguyên lý giáo dục như vậy, nền Giáo dục Việt Nam
đã có nền móng vững chắc về hệ tư tưởng, mục tiêu và đường hướng hoạt động Giáo viên là người hướng dẫn và điều khiển học sinh tiếp thu tri thức nên khôngthể không nắm vững các nội dung kiến thức và kĩ năng sư phạm cần thiết Mỗi nộidung của toán học nói riêng và của khoa học nói chung không thể tách rời khỏi tổngthể mà nội dung đó là một bộ phận cấu thành Vì vậy mỗi vấn đề cần được nhìnnhận một cách tổng thể trên khía cạnh các yếu tố tác động đến vấn đề đó và ảnhhưởng của nó đến các nội dung khác
Hoạt động dạy – học chỉ có thể đạt đến hiệu quả cao nhất khi các chủ thể (thầy
giáo – học sinh) nhận thức rõ nội dung, ý nghĩa công việc mà mình đang thực hiện
Trang 7Do vậy, không một phần kiến thức nào của Toán 8 lại có thể tách rời chuỗi kiếnthức phổ thông, càng không thể tách rời phần toán Phân tích đa thức thành nhân tử
khỏi chương trình toán phổ thông Điều này càng thôi thúc tôi tìm tòi cách: “Hướng dẫn học sinh tư duy và trình bày bài toán phân tích đa thức thành nhân tử”.
- Trong quá trình giảng dạy với lượng thời gian theo phân phối chương trình chỉ
có 6 tiết trong đó 4 tiết lí thuyết và 2 tiết luyện tập nên khi học dạng toán này đa sốhọc sinh còn rất lúng túng trong việc áp dụng phương pháp, đối với học sinh khágiỏi còn nhiều vấn đề chưa được đề cập đến Do đó kết quả qua các bài kiểm tra củahọc sinh còn thấp, còn nhiều học sinh yếu, kém, số lượng học sinh giỏi thấp
- Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy tình trạng của học sinh khi giải toán nhưsau:
Trang 8+ Khi gặp một bài toán học sinh không biết làm gì? Không biết đi theo hướngnào? Không biết liên hệ những gì đã cho trong đề bài với các kiến thức đã học.
+ Suy luận kém, chưa biết vận dụng các phương pháp đã học vào từng dạng toánkhác nhau
+ Trình bày không rõ ràng, thiếu khoa học, lôgic
- Tôi đã tìm hiểu nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến đa số học sinhchưa có kỹ năng giải bài toán phân tích đa thức thành nhân tử như sau:
Đối với giáo viên :
Trong tiết dạy giáo viên thường phối hợp nhiều phương pháp đễ dẫn dắt học sinhtìm hiểu kiến thức nhưng nội dung bài học nhiều không đảm bảo được thời lượng 45phút nên chưa có được phương pháp giải bài tập cụ thể cho từng đối tượng học sinh
Đối với phụ huynh:
Chưa thật sự quan tâm đến việc học tập của con em mình như theo dõi, kiểm tra,đôn đốc việc học của học sinh Đa số phụ huynh thường phó mặc cho nhà trường,không kiểm tra được việc học ở nhà cũng như việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp
Đối với học sinh :
+ Học sinh có ý thức học tập không đồng đều, ít tập trung chú ý trong giờ học.+ Đa số học sinh yếu về kỹ năng tính toán, quan sát nhận xét, biến đổi và thựchành giải toán Nguyên nhân là do mất kiến thức căn bản ở các lớp dưới cộng thêmviệc không chủ động trong học tập ngay từ đầu năm học dẫn đến chay lười tronghọc tập
+ Các em chưa có phương pháp học tập tốt thường học vẹt, học máy móc thiếunhẫn nại khi gặp bài toán khó
+ Không có thói quen tự học ở nhà: không làm bài, học bài, soạn bài trước khiđến lớp
+ Bạn bè lôi kéo, rủ rê ham chơi
- Vì vậy làm sao để học sinh yêu thích môn Toán, làm sao để học sinh có kỹnăng giải bài toán phân tích đa thức thành nhân tử, làm sao để không còn học sinhyếu kém bộ môn Để giải quyết các vấn đề trên trong quá trình giảng dạy tôi đã đề ra
Trang 9những phương pháp cơ bản, phương pháp đặt biệt thông qua những bài tập cụ thểgiúp các em hiểu rõ và vận dụng các phương pháp này khi giải bài toán phân tích đathức thành nhân tử nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh.
2.2 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra
Trong việc giảng dạy bộ môn Toán cũng như dạy các bài toán về phân tích đathức thành nhân tử, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh tính tư duy, tính tự lập, tínhlinh hoạt và sáng tạo, tự mình tìm tòi ra kiến thức mới, tìm ra các phương pháp ởcác dạng toán cơ bản như các phương pháp thông thường mà còn phải tìm ra một sốphương pháp khó và đó là thủ thuật riêng Từ đó giúp học sinh có hứng thú học tập,say mê học môn toán và phát huy được năng lực của học sinh
Qua thực tế sau khi học xong thời lượng 6 tiết phần phân tích đa thức thành nhân
tử tôi thực hiện khảo sát các em khi chưa thực hiện đề tài thì tôi thấy: các em làmbài rất lúng túng, mất nhiều thời gian, thậm chí không tìm ra hướng phân tích, suyluận và cách giải
Kết quả khảo sát sau khi học xong 6 tiết phân tích đa thức thành nhân tử và chưathực hiện đề tài như sau:
3 Nội dung và hình thức của giải pháp
a Mục tiêu của giải pháp
Với đề tài này thì mục đích của tôi không đi về hướng giới thiệu các phươngpháp phân tích mà đi theo hướng: tìm cách hướng dẫn học sinh vận dụng linh hoạt
Trang 10các phương pháp để phân tích đúng, hợp lý, chính xác, nhanh chóng Vì vậy, khi xâydựng đề tài này, tôi mong muốn:
- Giúp học sinh nắm chắc kiến thức về một số phương pháp phân tích đa thứcthành nhân tử Học sinh có kỹ năng vận dụng các phương pháp thích hợp vào bài tậpphân tích đa thức thành nhân tử cụ thể Học sinh có thêm sự rèn luyện tư duy toánhọc
- Giúp giáo viên có thêm phương pháp chọn cách giảng dạy thích hợp với từngđối tượng học sinh, từng dạng toán, từng dạng bài tập
- Nâng cao chất lượng đại trà và chất lượng Học sinh giỏi toán 8 Qua đó gópphần nâng cao chất lượng học tập của học sinh
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Căn cứ vào kết quả học tập của học sinh lớp 8 trong các năm học và qua việc tựnghiên cứu, tìm tòi và trao đổi với đồng nghiệp, tôi mạnh dạn đưa ra một số biệnpháp nhằm hướng dẫn học sinh phân tích đa thức thành nhân tử Nhưng trước hết, tôixin điểm qua lại phần nội dung kiến thức cơ bản mà chương trình SGK, Tài liệuchuẩn kiến thức kỹ năng yêu cầu
Hệ thống lý thuyết phân tích đa thức thành nhân tử:
*) Định nghĩa Phân tích đa thức thành nhân tử:
Phân tích đa thức thành nhân tử là biến đổi đa thức đó thành một tích của những
Trang 11- Phối hợp nhiều phương pháp.
Ví dụ 1 (Đặt nhân tử chung): Phân tích đa thức 4 xy 2−6 x2y thành nhân tử:
*) Phần bài tập SGK và SBT có các bài tập riêng cung cấp cho HS một số
phương pháp nâng cao như:
Trang 12Ví dụ 7 (Đặt ẩn phụ): Phân tích đa thức ( x−1) (x−2)( x−3)( x−4)−80 thành nhân
tử:
( x−1) (x −2)( x−3 )( x−4 )−80 =[( x−1) ( x−4 )] [( x−2) (x−3)]−80
=(x2−5 x+4)(x2−6 x +6)−80 (*)Đến đây, có thể đặt ẩn phụ theo hai cách:
Trang 13Ngoài các phương pháp cơ bản và nâng cao trên, trong các sách tham khảo và tàiliệu chuyên đề phân tích đa thứ thành phân tử còn cung cấp cho chúng ta nhiềuphương pháp nữa Tuy nhiên, để không đi quá xa so với yêu cầu của Tài liệu chuẩnkiến thức kĩ năng đồng thời để xây dựng cho các em Học sinh có kiến thức – kỹnăng thực hành phần này thì tôi dành phần nhiều các thời lượng giảng lý thuyết vàluyện tập với các phương pháp đã nêu trên
Với lượng phương pháp đã được SGK, SBT đưa ra, tôi xây dựng đề tài của mìnhthành các giải pháp cụ thể sau:
b.1 Hướng dẫn học sinh cách xác định nhân tử chung:
Theo tôi, ngay từ tiết đầu tiên khi dạy“§6 Phân tích đa thức thành nhân tử bằng phương pháp đặt nhân tử chung” tôi đã xác định với các em cần chú ý hai phương
pháp cơ bản nhất: đặt nhân tử chung và hằng đẳng thức Tiết này chúng ta họcphương pháp thứ nhất, tiết tiếp theo chúng ta sẽ học phương pháp thứ hai Chúng làphương pháp cơ bản nhất bởi các phương pháp khác khi thực hiện cũng chỉ để xuấthiện nhân tử chung hoặc hằng đẳng thức
Ví dụ: khi nhóm các hạng tử, các hạng tử được chúng ta nhóm phải có mối quan
hệ với nhau như: có nhân tử chung hoặc khi nhóm xuất hiện hằng đẳng thức Khitách một hạng tử thành nhiều hạng tử thì các hạng tử mới được hình thành cùng vớicác hạng tử ban đầu còn lại phải có mối quan hệ có nhân tử chung hoặc xuất hiệnhằng đẳng thức
Ví dụ 1: Phân tích đa thức sau thành nhân tử: 2x2−6 xy
- Cách 1: Với đa thức: 2x2−6 xy thì tôi yêu cầu học sinh làm theo các bước:
Bước 1 Tìm nhân tử chung là phần hệ số 2
Bước 2 Tìm nhân tử chung là phần biến x
Với kinh nghiệm của tôi, phần này rất đơn giản, nhưng nếu giáo viên không chủđộng tạo cho học sinh thói quen làm cẩn thận, thì sang những bài phức tạp các em dễ
bị nhầm ở các lỗi: nhân tử chung thiếu phần hệ số, nhầm dấu của nhân tử chung Dù
Trang 14có thể học sinh chán kiểu “cẩn thận” quá như thế này, nhưng giáo viên vẫn nên tạonếp làm khoa học cho các em
- Cách 2: Đối với lớp chọn có nhiều học sinh khá giỏi thì có thể hướng dẫn các
em phát hiện nhân tử chung qua việc tách các đơn thức hạng tử như sau:
2x2−6 xy=2 x x−2 x.3 yTùy vào năng lực của các em mà tôi vận dụng linh hoạt hai cách này để trợ giúpcác em tìm nhân tử chung
Tuy nhiên, có những đa thức không phải dễ dàng thấy ngay được nhân tử chung,
mà các em cần biến đổi đa thức qua một số bước Đây là bài toán giúp khả năng tưduy toán học của các em lớp 8 phát triển dần:
Ví dụ 2: Xét đa thức: 10 x( x− y)−8 y( y−x)
Giáo viên có thể gợi ý hoặc tự học sinh sẽ phát hiện ra: Phần hệ số của 2 đa thứchạng tử có thể đặt 2 làm nhân tử chung Khi các em đặt 2 làm nhân tử chung, bàitoán đã dừng được chưa? Dù đã biến đa thức thành tích các nhân tử nhưng chưa phảitriệt để Học sinh có thể phát hiện ra hoặc giáo viên gợi ý:
- “các em có thấy mối liên hệ giữa x− y và y−x hay không?”
- “các em có thể biến đổi chúng như thế nào?
Qua đó học sinh phát hiện ra chúng là các số đối nhau, việc biến đổi là việc làmtất nhiên của các em lúc này Khi đó, kết quả phân tích được thực hiện dễ dàng hơnnhư sau:
10 x( x− y)−8 y( y−x)=2.5 x( x− y)+2.4 y ( x− y)