Tham nhũng – hiện tượng tiêu cực có tính chất lịch sử, xã hội, hiện đang là vấn đề của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, tham nhũng được xác định là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và làm giảm hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Tham nhũng làm sai lệch những giá trị đạo đức, công lý, công bằng xã hội, suy giảm niềm tin của người dân vào bộ máy nhà nước. Trong những năm qua, công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng (PCTN) luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm chỉ đạo và triển khai. Trên cơ sở các quy định của Đảng, Nhà nước, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và các cơ quan hành chính, chức năng đã có nhiều nỗ lực, công tác được triển khai trong cuộc chiến phòng chống tham nhũng. Trong các năm gần đây, những vụ án tham nhũng có tính chất phức tạp, nghiêm trọng, được đông đảo dư luận xã hội quan tâm đã được phát hiện, điều tra, làm rõ, xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Trong Nghị quyết Trung Ương 3 (Khóa X) của Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, chống lãnh phí” đã thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước trong PCTN, với mục tiêu được đặt ra là: “ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc về tác hại của tham nhũng, Đảng và Nhà nước đã thông qua nhiều văn kiện xác định rõ chủ trương, chính sách, giải pháp đấu tranh phòng chống tham nhũng và tháng 22013 đánh dấu sự ra đời của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, là cơ quan phòng chống tham nhũng tối cao của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Quốc hội cũng đã thông qua Luật PCTN vào năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) tạo cơ sở pháp lý nền tảng cho công tác đấu tranh, phòng chống tham nhũng. Trên cơ sở Nghị quyết số 21NQCP, Chính Phủ cũng đã ban hành “Chiến lược quốc gia phòng chống tham nhũng đến năm 2020”, trong đó chiến lược xác định những mục tiêu căn bản; đề ra các giải pháp toàn diện; xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước trong công tác phòng chống tham nhũng. Trên trường quốc tế, Việt Nam đã tích cực tham gia các hợp tác quốc tế về đấu tranh chống tham nhũng, trong đó bao gồm: “Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng”. Những nỗ lực đó đã bước đầu mang lại những điểm sáng, tạo dựng nền tảng cơ bản trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng ở nước ta hiện nay.Tuy nhiên trong những năm gần đây, tình hình tham nhũng ở Việt Nam được nhận định có nhiều diễn phức tạp, thủ đoạn tinh vi, xảy ra ở nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành; tính có tổ chức và biểu hiện lợi ích nhóm của một số vụ tham nhũng ngày càng thể hiện rõ nét; thiệt hại của những vụ tham nhũng không chỉ dừng lại tại tài sản mà đã tạo ra làn sóng hoang mang trong dư luận, giảm niềm tin của người dân vào bộ máy hành chính nhà nước. Công tác đấu tranh, phòng chống tham nhũng hiện tại còn nhiều bất cập, hạn chế đặc biệt còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong các quy định về việc thu hồi tài sản tham nhũng.Theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc Hội về công tác tác phòng chống tham nhũng năm 2017, các vụ án, vụ việc tham nhũng gây thiệt hại trên 1.521 tỷ đồng và 77.057 m2 đất; tuy nhiên, việc thu hồi chỉ mới được gần 330 tỷ (đạt 21,7% giá trị thiệt hại), 314.000 USD và 3.700 m2 đất (đạt 4,8% giá trị thiệt hại). Năm 2016, con số thu hồi tài sản tham nhũng cũng chỉ đạt 38,3 % giá trị thiệt hại . Bên cạnh những vụ án, vụ việc đã được phát hiện, điều tra thì còn nhiều hoạt động tham nhũng vẫn còn đang được che giấu tinh vi và số tài sản tham nhũng vẫn không ngừng tăng lên, trong đó công tác thu hồi tài sản tham nhũng chưa có những cách làm triệt để, hiệu quả.Với nhận định rõ ràng về ý nghĩa, vai trò của thu hồi tài sản tham nhũng, đó là “Thu hồi tài sản tham nhũng và tịch thu tài sản do tham nhũng mà có là hoạt động quan trọng và là thước đo hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng” . Nhiều nghiên cứu, quan điểm đã chỉ ra rằng thu hồi tài sản tham nhũng giúp khắc phục tính nguy hiểm của hành vi tham nhũng với xã hội. Dư luận xã hội với các vụ án, vụ việc tham nhũng bên cạnh quan tâm tới sự nghiêm minh của hình phạt với các đối tượng, tội phạm có hành vi tham nhũng thì luôn mong muốn, đòi hỏi các cơ quan chức năng phải áp dụng các biện pháp triệt để để thu hồi đầy đủ các tài sản tham nhũng về cho Quốc gia.Do tính chất thời sự của vấn đề và cần làm rõ những vấn đề còn hạn chế, bất cập từ khía cạnh lý luận, thực tiễn; các cơ sở pháp lý, rút ra bài học kinh nghiệm...qua đó thể hiện mục đích đóng góp, cải thiện các quy định của pháp luật về việc thu hồi tài sản tham nhũng hiện nay và thúc đẩy sự nghiệp phòng chống tham nhũng ở Việt Nam. Chính vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu và chọn chủ đề “Pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -0-0 -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAM
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Trần Anh Đức
Sinh viên thực hiện : Trần Đăng Ngọc Sơn
Hà Nội - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan báo cáo này là nghiên cứu của riêng tôi.Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong báo cáo có nguồn dẫn rõràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi
TÁC GIẢ KHÓA LUẬN
Trần Đăng Ngọc Sơn
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 7
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
3.1 Mục đích nghiên cứu: 9
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 9
4 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu 9
4.1 Đối tượng nghiên cứu 9
4.2 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 10
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của báo cáo nghiên cứu 10
7 Kết cấu của báo cáo nghiên cứu 11
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THAM NHŨNG; TÀI SẢN THAM NHŨNG VÀ THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG 12
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THAM NHŨNG 12
1.1.1 Tham nhũng 12
1.1.2 Tài sản tham nhũng 22
1.1.3 Thu hồi tài sản tham nhũng 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 33
2.1 BỐI CẢNH TÌNH HÌNH PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ THỰC TRẠNG THAM NHŨNG 33
2.1.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng về thu hồi tài sản tham nhũng 33 2.1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện tại về thu hồi tài sản tham nhũng .35
Trang 52.1.4 Hoạt động của những cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực thu hồi tài sản
tham nhũng 49
2.1.5 Thực trạng về tình hình tham nhũng của nước ta trong những năm gần đây 60
2.1.6 Những bất cập, hạn chế hiện tại về quy định của pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng Việt Nam hiện hành 70
2.1.7 Kinh nghiệm quốc tế về thu hồi tài sản tham nhũng 75
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 92
3.1 Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế về quy định pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng Việt Nam hiện hành: 92
3.2 Mục tiêu, quan điểm, phương hướng về thu hồi tài sản tham nhũng 96
3.3 Các giải pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay 97
3.3.1 Thống nhất nhận thức, phát triển lý luận về tài sản tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng 97
3.3.2 Hoàn thiện cơ sở chính trị, pháp lý về thu hồi tài sản tham nhũng 98
3.3.3 Nâng cao hiệu quả công tác thu hồi tài sản tham nhũng qua các hoạt động cụ thể 99
3.4 Một số đề xuất, kiến nghị đột phá, cụ thể 106
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Liên hợp quốc
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tham nhũng – hiện tượng tiêu cực có tính chất lịch sử, xã hội, hiệnđang là vấn đề của hầu hết các quốc gia trên thế giới Tại Việt Nam, thamnhũng được xác định là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của đấtnước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và làm giảm hiệu quả quản lý của bộ máynhà nước Tham nhũng làm sai lệch những giá trị đạo đức, công lý, công bằng
xã hội, suy giảm niềm tin của người dân vào bộ máy nhà nước Trong nhữngnăm qua, công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng (PCTN) luôn đượcĐảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm chỉ đạo và triển khai Trên cơ sở cácquy định của Đảng, Nhà nước, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và các
cơ quan hành chính, chức năng đã có nhiều nỗ lực, công tác được triển khaitrong cuộc chiến phòng chống tham nhũng Trong các năm gần đây, những vụ
án tham nhũng có tính chất phức tạp, nghiêm trọng, được đông đảo dư luận xãhội quan tâm đã được phát hiện, điều tra, làm rõ, xử lý nghiêm minh theopháp luật Trong Nghị quyết Trung Ương 3 (Khóa X) của Đảng về “Tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng,chống lãnh phí” đã thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước trong
PCTN, với mục tiêu được đặt ra là: “ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham
nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính Trên cơ sở nhận thức sâu sắc về tác hại của tham nhũng, Đảng và Nhà
nước đã thông qua nhiều văn kiện xác định rõ chủ trương, chính sách, giảipháp đấu tranh phòng chống tham nhũng và tháng 2/2013 đánh dấu sự ra đờicủa Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, là cơ quan phòng
Trang 9chống tham nhũng tối cao của Đảng Cộng Sản Việt Nam Quốc hội cũng đãthông qua Luật PCTN vào năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) tạo
cơ sở pháp lý nền tảng cho công tác đấu tranh, phòng chống tham nhũng.Trên cơ sở Nghị quyết số 21/NQ-CP, Chính Phủ cũng đã ban hành “Chiếnlược quốc gia phòng chống tham nhũng đến năm 2020”, trong đó chiến lượcxác định những mục tiêu căn bản; đề ra các giải pháp toàn diện; xác định rõtrách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước trong công tácphòng chống tham nhũng Trên trường quốc tế, Việt Nam đã tích cực thamgia các hợp tác quốc tế về đấu tranh chống tham nhũng, trong đó bao gồm:
“Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng” Những nỗ lực đó đãbước đầu mang lại những điểm sáng, tạo dựng nền tảng cơ bản trong công tácđấu tranh phòng chống tham nhũng ở nước ta hiện nay
Tuy nhiên trong những năm gần đây, tình hình tham nhũng ở Việt Namđược nhận định có nhiều diễn phức tạp, thủ đoạn tinh vi, xảy ra ở nhiều lĩnhvực, nhiều cấp, nhiều ngành; tính có tổ chức và biểu hiện lợi ích nhóm củamột số vụ tham nhũng ngày càng thể hiện rõ nét; thiệt hại của những vụ thamnhũng không chỉ dừng lại tại tài sản mà đã tạo ra làn sóng hoang mang trong
dư luận, giảm niềm tin của người dân vào bộ máy hành chính nhà nước Côngtác đấu tranh, phòng chống tham nhũng hiện tại còn nhiều bất cập, hạn chếđặc biệt còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong các quy định về việc thu hồi tàisản tham nhũng
Theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc Hội về công tác tác phòngchống tham nhũng năm 2017, các vụ án, vụ việc tham nhũng gây thiệt hại trên1.521 tỷ đồng và 77.057 m2 đất; tuy nhiên, việc thu hồi chỉ mới được gần 330
tỷ (đạt 21,7% giá trị thiệt hại), 314.000 USD và 3.700 m2 đất (đạt 4,8% giá trịthiệt hại) Năm 2016, con số thu hồi tài sản tham nhũng cũng chỉ đạt 38,3 %
Trang 10giá trị thiệt hại1 Bên cạnh những vụ án, vụ việc đã được phát hiện, điều tra thìcòn nhiều hoạt động tham nhũng vẫn còn đang được che giấu tinh vi và số tàisản tham nhũng vẫn không ngừng tăng lên, trong đó công tác thu hồi tài sảntham nhũng chưa có những cách làm triệt để, hiệu quả.
Với nhận định rõ ràng về ý nghĩa, vai trò của thu hồi tài sản tham
nhũng, đó là “Thu hồi tài sản tham nhũng và tịch thu tài sản do tham nhũng
mà có là hoạt động quan trọng và là thước đo hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng” 2 Nhiều nghiên cứu, quan điểm đã chỉ ra rằng thu
hồi tài sản tham nhũng giúp khắc phục tính nguy hiểm của hành vi thamnhũng với xã hội Dư luận xã hội với các vụ án, vụ việc tham nhũng bên cạnhquan tâm tới sự nghiêm minh của hình phạt với các đối tượng, tội phạm cóhành vi tham nhũng thì luôn mong muốn, đòi hỏi các cơ quan chức năng phải
áp dụng các biện pháp triệt để để thu hồi đầy đủ các tài sản tham nhũng vềcho Quốc gia
Do tính chất thời sự của vấn đề và cần làm rõ những vấn đề còn hạnchế, bất cập từ khía cạnh lý luận, thực tiễn; các cơ sở pháp lý, rút ra bài họckinh nghiệm qua đó thể hiện mục đích đóng góp, cải thiện các quy định củapháp luật về việc thu hồi tài sản tham nhũng hiện nay và thúc đẩy sự nghiệpphòng chống tham nhũng ở Việt Nam Chính vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên
cứu và chọn chủ đề “Pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay đã có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu đề cập về chủ đề có liên quan tới thu hồi tài sản tham nhũng được thực hiện bởi nhiều
cơ quan, tổ chức, cá nhân ở Việt Nam, trong đó tiêu biểu như:
1 “Thu hồi tài sản tham nhũng: Quá khó!?”, Báo Người lao động đăng ngày 24/12/2017
2 Quỳnh Vũ, “Thu hồi tài sản tham nhũng theo Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay – Một số vấn đề đặt ra”, đăng trên Tạp chí Dân chủ & Pháp luật
Trang 11Thanh tra Chính phủ, Một số kinh nghiệm quốc tế về công tác phòng,
chống tham nhũng, Nxb Lao động, 2014.
Thanh tra Chính Phủ, Tham nhũng từ góc nhìn của người dân, doanh
nghiệp và cán bộ, công chức, viên chức – Kết quả khảo sát xã hội học, Nxb.
Chính trị Quốc gia, 2013
Đỗ Thu Huyền, Thu hồi tài sản tham nhũng: quy định trong Công ước
Liên hợp quốc và pháp luật Việt Nam, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, tháng
12/2016
G.S Martin Painter, TS Đào Lê Thu, Hoàng Mạnh Chiến, Nguyễn
Quang Ngọc, Phân tích so sánh pháp luật phòng chống tham nhũng quốc tế:
Bài học về những cơ chế xử lý và thực thi cho Việt Nam, Cải cách hành chính
và chống tham nhũng - Loạt báo cáo nghiên cứu thảo luận chính sách, tháng11/2012
TS.Mushtaq H Khan, Cải cách công tác quản trị và phòng chống tham
nhũng ở Việt Nam: Bài học rút ra từ Đông Á, Cải cách hành chính và chống
tham nhũng – Loạt bài nghiên cứu thảo luận chính sách, tháng 11/2009
Lã Văn Huy, Pháp luật về phòng chống tham nhũng của Singapore vàbài học cho Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, tr.64-65, 2013
Tổ chức hướng tới Minh Bạch, Báo cáo kết quả thu thập và phân tích ý
kiến đóng góp của các chuyên gia nhằm hỗ trợ Chính phủ trong việc tự đánh giá thực thi Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) ở Việt Nam năm 2011, Chương V: Vấn đề thực thi pháp luật phòng, chống tham nhũng, Hà Nội, 8-2011.
Những công trình nghiên cứu, bài viết trên đã cung cấp một nguồnthông tin và kiến thức hữu ích về những vấn đề liên quan tới công tác đấutranh, phòng chống tham nhũng và đã thể hiện những nhận định, ý kiến, quanđiểm về vấn đề thu hồi tài sản tham nhũng trên thế giới và ở Việt Nam hiện
Trang 12nay Tuy vậy, số lượng nghiên cứu, bài viết chuyên khảo tập trung nghiên cứuchuyên sâu và toàn diện vào chủ đề quy định về thu hồi tài sản tham nhũng ởViệt Nam hiện tại còn rất ít, còn rải rác trong các nghiên cứu thuộc các cơquan chức năng, cơ sở đào tạo, bộ ngành khác nhau.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của báo cáo là phân tích làm rõ những quy địnhcủa pháp luật Việt Nam hiện tại về thu hồi tài sản tham nhũng, xác nhậnnhững ưu điểm, mặt hạn chế và nguyên nhân, đồng thời đề xuất những giảipháp thiết thực, khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật về thu hồi tài sản thamnhũng, góp phần nâng cao công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng
Với mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của báo cáo được xác định cụ thể gồm:
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về tham nhũng,
về tài sản tham nhũng; thu hồi tài sản tham nhũng;
- Hệ thống hóa các quy định của Pháp luật Việt Nam về thu hồi tài sản
tham nhũng hiện nay; xác định rõ cơ sở pháp lý về thu hồi tài sản tham nhũng
ở Việt Nam;
- Đánh giá thực trạng thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam trong thời
gian qua; chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện thu hồitài sản tham nhũng;
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về thu hồi tài sản tham nhũng; liên
hệ, vận dụng vào điều kiện Việt Nam hiện nay;
- Đề xuất, kiến nghị các giải pháp cụ thể về thu hồi tài sản tham nhũng
ở Việt Nam trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
Trang 134.1 Đối tượng nghiên cứu
- Một số lý luận chung về tham nhũng;
- Tài sản tham nhũng;
- Các quy định và thực trạng áp dụng quy định về thu hồi tài sản tham
nhũng của pháp luật Việt Nam hiện nay, tham khảo một số quan điểm trên cộng đồng quốc tế;
Báo cáo chỉ tập trung nghiên cứu về các vấn đề liên quan chủ đề về
“Pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” Báo cáokhông đi sâu nghiên cứu các vấn đề khác về tham nhũng và phòng chốngtham nhũng Mặc dù vậy, trong quá trình phân tích, báo cáo sẽ đề cập kháiquát một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác phòng, chốngtham nhũng
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, diễn giải, so sánh được sử dụng để nghiên
cứu những vấn đề lý luận chung về tham nhũng, tài sản tham nhũng, thu hồitài sản tham nhũng; kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về thu hồi tàisản tham nhũng và điều kiện vận dụng tại Việt Nam
- Phương pháp phân tích, bình luận được sử dụng để đánh giá cơ sở về
thu hồi tài sản tham nhũng; thực tiễn thu hồi tài sản tham nhũng tại Việt Namhiện nay
- Phương pháp tổng hợp, quy nạp được sử dụng để đề xuất, kiến nghị
các quan điểm, định hướng, giải pháp về thu hồi tài sản tham nhũng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của báo cáo nghiên cứu
Báo cáo tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về tham nhũng, tàisản tham nhũng cũng như các quy định về thu hồi tài sản tham nhũng củapháp luật Việt Nam hiện nay, cụ thể làm rõ những quan điểm, bản chất của
Trang 14tham nhũng, tài sản tham nhũng và điều cần thiết của việc thu hồi tài sản thamnhũng; đánh giá thực trạng của pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng củaViệt Nam hiện tại, chỉ ra những mặt ưu điểm, hạn chế của các quy định hiệntại; làm rõ những kinh nghiệm quốc tế về thu hồi tài sản tham nhũng và điềukiện cần có để vận dụng tại Việt Nam.
Trên cơ sở tiếp cận các vấn đề trên, báo cáo nghiên cứu đưa ra những
đề xuất, kiến nghị các giải pháp cụ thể, thiết thực để hoàn thiện pháp luật vềthu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện tại Do đó, báo cáo nghiên cứu cóthể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các cơ quan nhà nước,cho việc giảng dạy, học tập tại các cơ sở đào tạo luật tại Việt Nam
7 Kết cấu của báo cáo nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, báo cáo nghiên cứu gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tham nhũng, tài sản tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng tại Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THAM NHŨNG;
TÀI SẢN THAM NHŨNG VÀ THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG
Theo Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa “Tham nhũng là lợi dụng quyền
hành để tham ô và hạch sách, nhũng nhiễu dân”3 Theo Từ điển Luật học
Việt nam: “Tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hành hưởng lợi
ích vật chất trái pháp luật, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể, cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức”4.Theo nghĩa
rộng, tham nhũng được hiểu là hành vi của bất kỳ người nào có chức vụ,quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyềnhạn hoặc được giao nhiệm vụ để vụ lợi Theo nghĩa hẹp và là khái niệm đượcnhắc tới trong Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung
năm 2007, 2012) đưa ra định nghĩa về tham nhũng như sau: “Tham nhũng là
hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó
vì vụ lợi” 5 Trong đó luật cũng đặt ra giới hạn những người có chức vụ, quyền
hạn bao gồm: (1) Cán bộ, công chức, viên chức; (2) Sĩ quan, quân nhân
3 Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh phát hành (2007), Đại từ điển tiếng Việt, thành phố
Hồ Chí Minh, tr.1458
4 Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa; Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội 2006, tr.695
5 Khoản 2, điều 1, Luật PCTN năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007,2012), tr9.
Trang 16chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân độinhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹthuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; (3) Cán bộ lãnh đạo,quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước, cán bộ lãnh đạo, quản lý là ngườiđại diện phần vốn góp của Nhà nước tại Doanh nghiệp; (4) Người được giaothực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công
vụ đó Khoản 5 điều 2 Luật PCNT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007,2012) đã đưa ra khái niệm về động cơ của hành vi tham nhũng là vụ lợi, trong
đó “Vụ lợi là lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ quyền hạn đạt
được hoặc có thể đặt được thông quan hành vi tham nhũng” 6
Các quy định trên đã giới hạn nhóm đối tượng có khả năng xuất hiện hành vitham nhũng là những người làm việc trong các đơn vị, cơ quan, tổ chức có sửdụng ngân sách, vốn, tài sản của nhà nước Tác giả đưa ra định nghĩa trên cóthể hiểu đang ngầm ý vạch ra những khu vực tham nhũng thường xảy ra phổbiến, mục đích đưa ra như vậy để có thể xây dựng những biện pháp phòngchống cụ thể, phù hợp nhưng lại đặt ra một giả thuyết là “Liệu tham nhũng cóxuất hiện bên ngoài khu vực hành chính công hay không?” Đến nay chưa cóđịnh nghĩa nào trong pháp luật của Việt Nam quy định cụ thể về vấn đề “thamnhũng trong khu vực tư” nhưng thực tế trong xã hội đã xuất hiện nhiều vụviệc, tình trạng gây nhức nhối trong dư luận xã hội Việc đề xuất sớm cónhững công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này sẽ giúp pháp luật ViệtNam làm rõ nội hàm đầy đủ của “tham nhũng” và phòng, chống tham nhũngmột cách có hiệu quả
Một khái niệm khác về tham nhũng được Ngân hàng Thế giới (World
Bank – WB) thường sử dụng đã định nghĩa: “Tham nhũng là hành vi lạm
dụng quyền lực công để thu lợi ích riêng” Định nghĩa theo hướng giản dị, cô
6 Khoản 5, Điều 2, Luật PCTN năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012), tr11.
Trang 17đọng này một lần nữa được Tổ chức Minh bạch quốc tế (TransparencyInternational – IT) – một tổ chức phi chính phủ quốc tế hoạt động hằng đầutrong lĩnh vực chống tham với những quan điểm tương tự Khi trả lời câu hỏitham nhũng là gì, Ông Vito Tanzi – Nhà kinh tế nổi tiếng của Quỹ Tiền tệQuốc tế (IMF) cho rằng “Tham nhũng là hành động cố tình không tuân thủcác nguyên tắc công minh nhằm trục lợi cho cá nhân hoặc cho những kẻ cóliên quan tới hành động đó” Đi sâu vào phân tích, trong khái niệm trên đượccấu thành từ ba nội dung chính Nội dung đầu tiên đề cập tới nguyên tắc côngminh – nguyên tắc đặt ra yêu cầu đối xử bình đẳng với các bên trong nền kinh
tế thị trường là yếu tố cần thiết, đòi hỏi trong bất kì mọi quyết định kinh tếliên quan tới lợi ích nhiều bên không được đưa vào quan hệ cá nhân hoặc cácmối quan hệ khác Và cơ sở xuất hiện tham nhũng chính là việc trái vớinguyên tắc công minh, là xuất hiện thái độ “thiên vị” đối với một số chủ thểkinh tế nhất định Nội dung thứ hai mà nhà kinh tế của IMF đề cập tới trongkhái niệm chính là căn nguyên của thái độ “thiên vị” – điều kiện xuất hiệntham nhũng, đó chính là phải có “động cơ” và nội dung thứ ba của khái niệm
là động cơ này phải phục vụ một “lợi ích” nhất định cho chính chủ thể viphạm nguyên tắc công minh Việc vô ý vi phạm nguyên tắc công minh, tức làkhông xuất hiện thái độ “thiên vị” hoặc không có lợi ích nhất định nào đượcđặt ra khi thực hiện việc vi phạm thì sẽ không xuất hiện hành vi tham nhũng.Ngoài ra việc vi phạm nguyên tắc công minh nhằm trục lợi cho bản thân vàviệc hưởng lợi từ hành vi vi phạm đó có thể xảy ra cùng thời điểm hoặc diễn
ra ở những thời điểm khác nhau Có nhiều nhận định cho rằng tham nhũng lànhững thỏa thuận đơn phương hoặc song phương giữa các bên Trong đó bên
A hứa trả một khoản lợi ích cho bên B nếu bên B thực hiện một công việcnhất định để bên A đạt được lợi ích hoặc hai bên đều cùng hứa thực hiệnnhững phần việc của mình để giúp bên còn lại đạt được lợi ích của riêng
Trang 18mình Tuy nhiên phải nhận định rõ ràng trong hợp đồng song phương và đaphương việc hai bên tham gia để đạt được lợi ích chính đáng của mình vàkhoản phí thực hiện giao dịch là điều pháp luật không cấm nhưng hành vitham nhũng sẽ chỉ xuất hiện khi mục đích thực hiện thỏa thuận là bất hợppháp và chi phí giao dịch để thực hiện thỏa thuận đội lên rất nhiều.
Những cách định nghĩa về tham nhũng nên trên đã đề cập tới một sốđiểm cơ bản của tham nhũng và nhìn chung đã có sự thống nhất trong cácquan niệm về tham nhũng Có thể tóm gọn là khái niệm của tham nhũng theoquan niệm hiện tại bao gồm những ý chính sau:
“Tham nhũng” = “Người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực hành
chính công” + “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện các hành vi thamnhũng” + “mục tiêu là để vụ lợi”
Trong luật PCNT 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) tại điều 3 đểđịnh nghĩa hành vi tham nhũng, nhà làm luật đã sử dụng phương pháp liệt kê
để khái quát hành vi tham nhũng bằng 12 hành vi sau: (1) Tham ô tài sản; (2)Nhận hối lộ; (3) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; (4) Lợidụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; (5)Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; (6) Lợi dụng chức
vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; (7) Giả mạo trongcông tác vì vụ lợi; (8) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người cóchức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặcđịa phương vì vụ lợi; (9) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tàisản của Nhà nước vì vụ lợi; (10) Nhũng nhiều vì vụ lợi; (11) Không thực hiệnnhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; (12) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao checho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái phápluật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành
Trang 19án vì vụ lợi Báo cáo nghiên cứu xin được khái quát ra các dấu hiệu đặc trưngcủa hành vi tham nhũng từ 12 hành vi trên như sau:
Một là, hành vi tham nhũng được thực hiện bởi người có chức vụ,quyền hạn trong bộ máy Nhà nước hoặc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị xãhội nói chung Tại khoản 3 điều 1 Luật PCNT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2007,2012) đã liệt kê ra 4 nhóm đối tượng trong nhóm người có chức vụ, quyềnhạn này
Hai là, hành vi tham nhũng xuất hiện khi người có chức vụ, quyền hạn
đã lợi dụng, lạm dụng chính chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ,công vụ được giao (các công việc xuất hiện trong quá trình hoạt động của bộmáy nhà nước hay trong khu vực hành chính công) Sự lợi dụng chức vụ,quyền hạn thể hiện ở chỗ họ đã sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình để làmsai lệch hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức (như tham ô, nhũng nhiễu,giả mạo,…); lợi dụng quyền giải quyết hoặc không giải quyết, hoặc giải quyếtsai lệch một công việc theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước, tổ chức, công dânđặt ra theo chức năng, nhiệm vụ đã giao phó; khía cạnh thứ ba có thể hiểu làngười có chức vụ, quyền hạn không lợi dụng chính chức vụ, quyền hạn củamình mà do có chức vụ, quyền hạn nên họ có những mối quan hệ nhất địnhvới những người có chức vụ, quyền hạn khác và họ đã lợi dụng những mốiquan hệ này để tác động với những người có chức vụ, quyền hạn khác đểnhững cá nhân này thực hiện các hành vi trái với quy định của pháp luật hoặccác công việc trong phạm vi chức vụ, quyền hạn của mình để đem lại lợi íchcho người tác động hoặc một bên thứ ba Ví dụ như ông A là giám đốc công
an tỉnh X, nhờ mối quan hệ giữa các bên Công an – Viện kiểm sát – Tòa án
mà ông A có quan biết với bà D là Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh X Ông B
là bạn ông A có nhờ ông A giúp mình giải quyết một tranh chấp cá nhân đangđược giải quyết tại Tòa án nhân dân tỉnh X và nếu được sẽ có hậu tạ lớn Ông
Trang 20A bằng quen biết câ nhđn đê có sự tâc động tới bă D để có được sự hỗ trợ, cđnnhắc, giúp đỡ trong vụ việc của ông B Tranh chấp giải quyết thănh công vẵng A đê nhận được một khoản chi phí hậu hĩnh từ ông B Đđy lă một ví dụđiển hình trong xê hội hiện nay về việc mă người ta gọi lă kim chỉ nam trong
giải quyết câc công việc, đó lă nhất thđn, nhì quen Quan điểm năy không chỉ
phổ biến trong tư tưởng của những người lăm trong khu vực hănh chính công
mă còn nó đê vă đang ăn sđu văo tiềm thức của người Việt trong câc hănh vi,
xử lý ra xê hội Một khía cạnh cần được lăm rõ lă không phải tất cả hănh vi sửdụng câc mối quan hệ đều lă tham nhũng, với quan điểm của phâp luật nước
ta hiện tại thì chỉ những hănh vi có sử dụng câc mối quan hệ trong khu vựchănh chính công âp dụng để giải quyết, thực hiện những vấn đề trong khu vựcnăy, lợi dụng, chức vụ quyền hạn được nhă nước giao phó để thực hiện nhữnghănh vi trâi với phâp luật quy định hòng vụ lợi cho người thực hiện, người tâcđộng hoặc một bín thứ ba mới được xếp văo nhóm hănh vi tham nhũng
Yếu tố thứ ba điều kiện đủ để xâc định có xuất hiện hănh vi thamnhũng hay không chính lă yếu tố động cơ khi thực hiện những nhóm hănh vi
đó Vă ở đđy động cơ chính lă để vụ lợi (khoản 5 điều 2 Luật PCTN năm
2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) đê giải thích đầy đủ nội hăm củakhâi niệm năy) Đđy lă dấu hiệu bắt buộc phải có để phđn biệt hănh vi thamnhũng với những hănh vi vi phạm phâp luật khâc do người có chức vụ, quyềnhạn thực hiện
1.1.1.2 Bản chất của tham nhũng
Băn thím về bản chất của tham nhũng, trong băi viết “Tính câch củangười Trung Quốc” của tâc giả Leo - một học giả người Trung Quốc trong tâcphẩm kỷ niệm 100 năm công dđn Trung Quốc đê đưa ra nhận định rằng:
“Người Trung Quốc cổ đại nhầm tưởng rằng bản tính con người vốn lă thiện, lừa người vă tự lừa mình, từ đó hình thănh đặc trưng nhđn câch của quyền
Trang 21lực Trung Hoa, xem trọng nhân trị, xem nhẹ pháp trị, dẫn đến chủ nghĩa chuyên trị kéo dài suốt mấy nghìn năm Trong khi đó phương Tây cổ đại lại cho rằng bản tính con người vốn là ác, họ không tin vào nhân trị, mà rất coi trọng pháp trị, vì thế nhân cách thị trường của họ được coi trọng và đề cao
và cuối cùng hình thành một chế độ kiểm soát Chính phủ, điều đó khiến cho mức độ tai hại do quyền lực gây nên được giảm thiểu đi rất nhiều” 7 Nhận
định này lần nữa được GS.TS Nguyễn Đăng Dung nhắc lại trong một bài viết
về giám sát quyền lực nhà nước Theo quan niệm trên, tác giả bài viết đã nhậnđịnh rằng về tham nhũng là một thói hư tật xấu của con người và điều kiện đểxảy ra tham nhũng là nắm trong tay của cải, quyền lực Trong nhận định trên,phương Đông và phương Tây có quan điểm khác nhau về yếu tố “bản tínhcon người”, để làm rõ hơn nhận định này cần có một sự đánh giá khách quan
về con người, cụ thể hơn là yếu tố bản tính trong mỗi cá nhân Có thể nói conngười là mối tổng hòa của các mối quan hệ xã hội và luôn mang trong mình 2yếu tố “thiện” và “ác” Là “thiện” hay “ác” sẽ bộc phát tùy trong những hoàncảnh nhất định và phương Đông và phương Tây cũng có những cách tiếpnhận khác nhau về vấn đề này Phương Đông cho rằng “nhân tri sơ, tính bảnthiện” – cho rằng con người khi sỉnh ra đã có tính thiện, quan điểm này trùngvới các đạo giáo phát triển mạnh ở phương Đông như nho giáo, phật giáoluôn khuyên nhủ con người ta sống phải biết “tu thân, tích đức” Xét sự liênquan tới tham nhũng theo quan điểm phương Đông thì rất khó xảy ra vì vốn dĩcăn nguyên của con người là tính thiện mà tham nhũng được nhận định làxuất phát từ những thói hư tật xấu Với hệ tư tưởng như vậy phần nào đã thểhiện trong hiện tại là sự quan tâm, phòng chống tham nhũng của chính cácnước phương Đông hiện nay đã thể hiện rõ sự đánh giá chưa đúng và mộtcách đầy đủ nguồn gốc và các vấn đề xuất phát của tham nhũng, dẫn tới công
7 Leo, Tính cách của người Trung Quốc, Nxb Công an nhân dân, H.2007, tr.137.
Trang 22tác phòng, chống chưa thu được hiệu quả Phương Tây tiếp cận với một góc
độ khác, họ quan điểm rằng bản tính con người là “ác” cho nên họ không tintưởng quá nhiều vào nhân trị mà lại đề cao xây dựng một nền pháp trị vớimong muốn kìm hãm những thói hư, tật xấu của con người Tác giả báo cáonhận định rằng với quan điểm như phương Tây họ đã sớm tự ý thức được mộtđiều: “Tham nhũng” là từ thói hư tật xấu của con người mà ra mà bản chấtcon người là “ác” cho nên việc đặt ra nền pháp trị, xây dựng nhà nước thượngtôn pháp luật là bước đi đầu tiên trong việc giảm thiểu những tai hại do việclạm dụng quyền lực gây ra và khẳng định một điều là “quyền lực luôn đượcthực hiện thông qua con người cụ thể và chính vì thế nó luôn có xu hướng dễdàng tha hóa, phục vụ cho lợi ích riêng của mỗi cá nhân Chính vì lẽ đó màphải luôn đặt ra việc quyền lực cần được kiểm soát, đối trọng giữa các bên –
đó chính là yếu tố then chốt trong việc định hướng tư tưởng cho công tác đấutranh, phòng ngừa, tham nhũng”
1.1.1.3 Nguyên nhân của tham nhũng
Về nguyên nhân của tham nhũng, đã có nhiều bài viết, công trìnhnghiên cứu đã chỉ ra nhiều nguyên nhân và điều kiện phát sinh tham nhũng.Qua đó, báo cáo nghiên cứu xin chỉ những nguyên nhân điều kiện cơ bản sau:
Nhóm nguyên nhân và điều kiện khách quan
- Hệ thống chính trị chậm được đẩy mới; trình độ quản lý còn lạc hậu;mức sống thấp, tạo ra các kẽ hỡ cho tệ nạn tham nhũng nảy sinh và phát triển
- Ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường; đề cao giá trị của đồng tiềntrong cuộc sống dẫn tới người sản xuất, kinh doanh có xu hướng tối đa hóa lợinhuận bằng mọi giá, tìm mọi cách đưa hối lộ nhằm tạo lợi thế kinh doanh;Bên cạnh đó sức ép của việc kiếm tiền cũng theo đó tăng lên làm xuất hiệntâm lý mọi việc đều có thể mua bán, trao đổi dẫn tới đảo lộn nhiều giá trị đạođức – văn hóa trong xã hội
Trang 23- Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt
- Cơ chế chính sách pháp luật chưa đầy đủ, hoàn thiện, thiếu tính đồng
bộ, nhất quán Cơ chế quản lý tài sản công, vốn và tài sản của của nhà nướcchưa được xiết chặt, còn nhiều “kẽ hỡ” trong hệ thống pháp luật tạo ra nhữngcon đường cho hành vi tham nhũng được thực hiện
- Văn hóa như biếu và nhận quà tặng bị lợi dụng để thực hiện hành vitham nhũng
Nhóm nguyên nhân và điều kiện chủ quan
- Phẩm chất đạo đức, lý tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên bịsuy thoái Công tác quản lý, kiểm soát cán bộ, đảng viên còn bộc lộ nhiều hạnchế trong khâu phát hiện, đánh giá, cơ chế kỷ luật chưa đủ tính răn đe khi cósai phạm
- Thủ tục hành chính còn nặng nề, qua nhiều khâu trung gian dẫn tớihình thành cơ chế “xin – cho” trong khu vực hành chính công còn phổ biến
- Thiếu các công cụ phát hiện và cách thức xử lý tham nhũng hữu hiệu.Tuy rằng đã ban hành Chiến lược quốc gia về phòng chống tham nhũng đếnnăm 2020 nhưng vẫn cần xây dựng những phương án, cách thức cụ thể để có
cơ chế phòng chống tham nhũng một cách tối ưu
- Chưa đẩy mạnh vai trò của người dân trong công cuộc đấu tranh,phòng ngừa tham nhũng Ý thức xã hội trong việc phòng chống tham nhũngcủa một bộ phận người dân chưa cao và việc để các cơ quan ngôn luận, truyềnthông tham gia vào trong công tác phòng ngừa còn gặp một số khó khăn hạnchế từ chính các cơ quan hành chính nhà nước vì các yếu tố như: lo ngạithông tin lộ ra ngoài gây ảnh hưởng đến danh dự, hình ảnh của đơn vị, việccung cấp các thông tin không đầy đủ, chính thống sẽ gây ảnh hưởng tới côngcuộc lật tẩy các hành vi tham nhũng
1.1.1.4 Tác hại của tham nhũng
Trang 24Báo cáo nghiên cứu xin khái quát những tác hại chủ yếu của thamnhũng ở những điểm chính sau:
1 Tác hại về chính trị:
Tham nhũng là những trở lực đối với quá trình phát triển của mỗi đấtnước, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với chính quyền, tiềm ẩn cácxung đột lợi ích, phản kháng về xã hội, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo.Hiện tượng tham nhũng tràn lan, mất kiểm soát làm đe dọa sự tồn vong củachế độ xã hội chủ nghĩ
2 Tác hại về kinh tế:
Tham nhũng gây thiệt hại rất lớn về tài sản của Nhà nước và của côngdân Tính riêng trong năm 2017 theo báo cáo về công tác phòng, chống thamnhũng, số tài sản thiệt hại do các vụ án, vụ việc tham nhũng đã lên tới 1.521
tỷ đồng Đây là con số thiệt hại quá lớn đối với nước đang phát triển như ViệtNam Năm 2017 cũng là năm ghi nhận “12 đại án” về tham nhũng gây thiệthại hàng trăm, nghìn tỷ đồng cho đất nước Đặt ra một câu hỏi rằng với tổnggiá thiệt hại đó thì những phần việc như nỗ lực xóa đói, giảm nghèo, cácchính sách xã hội, giáo dục đạo đức, tư tưởng có được đảm bảo thực hiện, duytrì hay không và nền kinh tế của Việt Nam sẽ mất bao nhiêu năm để có thểhồi phục lại những con số “lên tới trăm ngàn tỷ” như vậy, chưa nói tới việcđất nước đang trên con đường phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa cầntập trung một nguồn lực rất lớn để đẩy mạnh
3 Tác hại về xã hội:
Có thể khẳng định rằng, tham nhũng đã tác động đến một bộ phậnkhông nhỏ của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Gây suy thoái đạo đức,đảo lộn những chuẩn mực của xã hội, làm tha hóa các thế hệ cán bộ làm việctrong khu vực hành chính công Điểm đáng nói ở đây là chính từ những lợiích “bất chính” nhưng “khổng lồ” là nguyên nhân tác động lớn tới ý thức của
Trang 25nhóm cán bộ, công chức này Cơ chế thị trường thay đổi phần nào dẫn tới sức
ép của việc kiếm tiền, đó là điều kiện cần và “lợi ích bất chính” là điều kiện
đủ để những cán bộ, công chức nhà nước này bỏ qua mục tiêu phục vụ cho lợiích chính đáng của người dân để thực hiện những hành vi thu lợi bất chínhnày Đáng lo ngại hơn khi giờ đây hành vi thu lợi bất chính này được một bộphận cán bộ, công chức đánh giá rằng là bình thường, là cần thiết, là hiểnnhiên phải có khi thực hiện những phần việc thuộc thẩm quyền của cán bộ,công chức Đây chính là biểu hiện rõ nét nhất trong vấn đề suy thoái đạo đức,phẩm chất một cách nghiêm trọng của người cán bộ, công chức Khôngnhững vậy, tác hại của tham nhũng đang dần thấm sâu, làm đảo lộn các giá trịđạo đức, truyền thống của dân tộc và nền tảng của xã hội
1.1.2 Tài sản tham nhũng
1.1.2.1 Tài sản:
Tài sản là một khái niệm được giải thích bằng rất nhiều những địnhnghĩa khác nhau và còn gây nhiều tranh luận Giữa các hệ thống pháp luậttrên thế giới hay giữa chính trong các quốc gia trong cùng một khu vực lại cónhiều quan điểm khác nhau về “Tài sản”
Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Tài sản là của cải vật chất dùng để
sản xuất hoặc tiêu dùng” 8 Trong từ điển luật học định nghĩa: “Tài sản là các vật có giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền tài sản và các lợi ích vật chất khác Tài sản bao gồm vật có thực, vật đang tồn tại và sẽ có như hoa lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo theo mẫu đã được thỏa thuận giữa các bên, tiền
và các giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản” 9 Bộ Luật Dân sự năm
2015 đưa ra định nghĩ về “Tài sản” như sau: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có
giá trị và quyền tài sản; Tài sản bao gồm động sản và bất động sản…” 10
8 Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008, tr.1417
9 Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa; Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội 2006, tr.685.
10 Điều 105, Bộ Luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015.
Trang 26Tác giả cho rằng tính đến thời điểm này, pháp luật V dân sự Việt Nam
có nhiều ảnh hưởng của pháp luật các nước phát triển trên thế giới như Anh,
Mỹ và cộng với việc tiếp thu những quan điểm từ trước của pháp luật Liên Xô(cũ), Trung Quốc dẫn tới việc còn rất nhiều tranh cãi, quan điểm về địnhnghĩa “tài sản” trong giới học thuật ngành luật Việc định nghĩa và có sự hiểuđúng về tài sản là yếu tố cực kì quan trọng, đây là nền tảng của pháp luật dân
sự và phần nào sẽ ảnh hưởng tới một số quan điểm có liên quan tới “tài sản”trong những ngành luật khác Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, báo cáo sẽ
sử dụng định nghĩa “tài sản” của Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành là cơ sở
để triển khai lý luận Trong khái niệm “Tài sản” ghi nhận trong Bộ luật Dân
sự Việt Nam năm 2015 thì tài sản được cấu thành bởi các yếu tố là: vật; tiền;giấy tờ có giá; quyền tài sản Trong đó:
Vật theo nhiều quan điểm trên thế giới có thể là vật vô hình, vật hữu
hình nhưng theo quan điểm của pháp luật dân sự của Việt Nam hiện tại thì vật
là tài sản hữu hình, có tồn tại bên ngoài tự nhiên, có thể định lượng Vật trởthành tài sản khi trên nó phải có xác minh của một quyền sở hữu
Tiền là một tài sản đặc biệt, do Nhà nước độc quyền ban hành, sử dụng
để trao đổi, thanh toán và chỉ Nhà nước có quyền tiêu hủy tiền
Giấy tờ có giá là các loại giấy tờ có giá trị và có thể thanh toán, trao đổi
(giấy tờ có giá ngắn hạn, giấy tờ có giá dài hạn, giấy tờ có giá vô danh, cácloại chứng khoán và công trái, ); việc lưu thông giấy tờ có giá phải theo quyđịnh của pháp luật
Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản
đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sảnkhác11
11 Điều 115, Bộ luật Dân sự 2015
Trang 27Một trong những yếu tố cơ bản và then chốt của tài sản đó chính làquyền sở hữu Theo quan điểm của pháp luật Việt Nam và sự diễn giải từ một
số tài liệu học thuật tại một số cơ sở đào tạo luật thì quyền sở hữu bao gồm
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Chủ sở hữu tài sản cóđồng thời cả ba quyền năng trên đối với tài sản thuộc sở hữu của mình vàđược phép thực hiện mọi hành vi theo ý chí đối với tài sản đó nhưng khôngđược gây ảnh hưởng đến lợi ích của bên thứ ba và lợi ích của nhà nước, lợiích của công cộng Báo cáo nhận định đây là cơ sở lý luận cần có để tiến hànhcác biện pháp thu hồi tài sản tham nhũng
1.1.2.2 Tài sản tham nhũng
Luật PCTN 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) đưa ra giải thích
“Tài sản tham nhũng là tài sản có được từ hành vi tham nhũng, tài sản có nguồn gốc từ hành vi tham nhũng 12 ” Định nghĩa tài sản tham nhũng theo luật
định như trên gồm hai nguồn gốc là: Có được từ hành vi tham nhũng và có
nguồn gốc từ hành vi tham nhũng Một số tài liệu, công trình nghiên cứu hiện
nay liên quan tới vấn đề giải thích về tài sản tham nhũng vẫn tồn tại một sốcách hiểu khác nhau, cụ thể hai quan điểm như sau:
Tài sản do phạm tội thamô; nhận hối lộ; lạm dụngchức vụ, quyền hạn chiếmđoạt tài sản; lợi dụng chức
vụ, quyền hạn khi thi hànhcông vụ; lạm quyền trongkhi thi hành công vụ; lợidụng chức vụ, quyền hạn
12 Khoản 1, Điều 2, Luật PCTN 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012)
Trang 28Quan điểm 1 Quan điểm thứ hai
gây ảnh hưởng đối vớingười khác để trục lợi; giảmạo trong công tác
+ do giả mạo trong công tác;
+ do đưa hối lộ, môi giới hối
lộ của người có chức vụ,quyền hạn để giải quyết côngviệc của cơ quan, tổ chức, đơn
vị hoặc địa phương;
+ do lợi dụng chức vụ, quyềnhạn sử dụng trái phép tài sảncủa Nhà nước;
+ do nhũng nhiễu;
+ do không thực hiện nhiệm
vụ, công vụ; do lợi dụng chức
Tài sản có được từ hành vitham nhũng nhưng đã đượcngười thực hiện hành vitham nhũng và người kháchợp pháp hóa để chuyểnthành các hình thái khácnhư:
+ rửa tiền + đầu tư vào các khu vuichơi, giải trí,
+ mua bất động sản (nhà,đất, ) nhưng không trựctiếp đứng tên
+ chuyển tiền ra nướcngoài
+ dùng vào mục đích từthiện
Trang 29Quan điểm 1 Quan điểm thứ hai
vụ, quyền hạn để bao che chongười có hành vi vi phạmpháp luật; do cản trở, canthiệp trái pháp luật vào việckiểm tra, thanh tra, kiểm toán,điều tra, truy tố, xét xử, thihành án
Tham khảo thêm một số quan điểm trên thế giới về tài sản tham nhũng,báo cáo nghiên cứu ghi nhận thêm những quan điểm như sau:
Theo khoản (d), (e) Điều 2, Công ước Liên hợp quốc về chống tham
nhũng (UNCAC), tài sản tham nhũng hay còn gọi là tài sản do phạm tội mà
có được hiểu bao gồm mọi loại tài sản (vật chất hay phi vật chất/ cụ thể haykhông cụ thể, động sản hay bất động sản, hữu hình hay vô hình/ trừu tượng,các văn bản pháp lý hay giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối vớitài sản đó) có nguồn gốc/ bắt nguồn hay có được một cách trực tiếp hoặc giántiếp từ/ thông qua việc thực hiện một hành vi tội phạm
Nhiều quốc gia còn vận dụng quy định tại Khoản 1 và Khoản 6 Điều 31
UNCAC để nhận diện tài sản tham nhũng, gồm: i) tài sản có nguồn gốc từ
hành vi tham nhũng hoặc tài sản có giá trị tương đương với giá trị của tài sản do thực hiện hành vi tham nhũng mà có; (ii) tài sản, trang thiết bị hay công cụ khác được sử dụng hoặc sẽ được sử dụng để thực hiện hành vi tham nhũng; thu nhập hoặc các lợi ích khác có được từ tài sản do thực hiện hành
vi tham nhũng mà có, từ tài sản biến đổi, chuyển đổi từ tài sản do thực hiện hành vi tham nhũng mà có hoặc tài sản mà trong đó lẫn lộn một phần với tài sản do thực hiện hành vi tham nhũng mà có.
Trang 30Một số quốc gia như Nam Phi trong quan điểm đã mở rộng nội hàmcủa tài sản tham nhũng trong đó quy định “Tài sản tham nhũng” bao gồm cảnhững tài sản “có liên quan” đến hành vi tham nhũng Điều đó có nghĩa rằng
kể cả những tài sản có giá trị “nhỏ nhất” trong một tài khoản trộn lỗn giữahợp pháp và bất hợp pháp thì cũng có thể bị thu hồi toàn bộ số tài sản trongtài khoản đó
Tổng hợp lại các quan điểm về tài sản tham nhũng trên thế giới có thểthấy định nghĩa tài sản tham nhũng trong luật PCTN 2005 (sửa đổi, bổ sungnăm 2007, 2012) của Việt Nam chưa bao quát toàn diện các nhóm tài sản phátsinh trong quá trình thực hiện hành vi tham nhũng, cần sớm được bổ sung vàhoàn thiện thêm về những nhóm tài sản cũng có thể được xếp vào tài sản
tham nhũng, bao gồm: “tài sản phái sinh từ hành vi tham nhũng (như tài sản
thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra nhưng không phải do người có hành
vi tham nhũng chiếm đoạt được mà là tài sản khác đã tự thiệt hại hoặc tài sản
mà cá nhân, tổ chức khác được hưởng lợi từ hành vi tham nhũng đó) và “tài
sản do áp dụng các chế tài đối với người hành vi tham nhũng” (chế tài dân
sự, chế tài hành chính, chế tài hình sự) Việc bổ sung thêm 2 nhóm tài sản
vào định nghĩa “tài sản tham nhũng” giúp hình dung bức tranh toàn cảnh vềthực trạng các tài sản tham nhũng hiện nay, trên cơ sở đó sẽ xây dựng cácbiên pháp thu hồi tài sản phù hợp với từng nhóm tài sản tham nhũng Cũngqua một số những quan niệm về tài sản tham nhũng trên thế giới, có thể thấyviệc phân định tài sản nào là tài sản tham nhũng với các loại tài sản khác là rấtquan trọng, có ý nghĩa quyết định với công tác thu hồi tài sản tham nhũng.Trên thực tế để xác định rõ ràng giữa tài sản tham nhũng với các loại tài sảnkhác gặp rất nhiều khó khăn do các thủ đoạn che giấu, đánh tráo tinh vi củacác đối tượng như đã kể trên đã dẫn tới việc thất thoát, thất thu những tài sảnbất minh do tham nhũng gây ra Vì vậy, vấn đề thu hồi tài sản tham nhũngkhông chỉ nên dừng ở việc xác minh những biện pháp, phương thức thu hồi
Trang 31tài sản sau khi đã xác định rõ các hành vi tham nhũng mà cần có những lậpluận, cơ sở đầy đủ và phương pháp phân loại tài sản tham nhũng với các loạitài sản khác, đặc biệt là nhóm tài sản do hành vi vi phạm pháp luật khác gây
ra
Từ những nhận định trên, có thể rút ra những dấu hiệu cơ bản để nhận
biết tài sản tham nhũng, cụ thể như sau:
Một là chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng Khi xác định được chủthể thực hiện hành vi tham nhũng từ đó sẽ nắm được mức độ, tính chất củahành vi tham nhũng thông qua những tài sản mà người đó chiếm đoạt hoặc cóđược Những tài sản như vậy sẽ xác định chắn chắn là tài sản tham nhũng
Hai là nguồn gốc của tài sản Căn cứ vào nguồn gốc để xác minh đó cóphải là tài sản tham nhũng hay không thì sẽ đi kèm với nghĩa vụ chứng minh.Nếu người có chức vụ, quyền hạn không chứng minh được nguồn gốc của tàisản đó hoặc do đâu mà xuất hiện phần tài sản tăng thêm thì có thể coi đó là tàisản do tham nhũng mà có Nhận định này liên quan tới một tình trạng khá phổbiến trong giới công chức, nhà nước đang đặt ra nhiều dấu hỏi trong dư luậnhiện nay là lương công chức không quá cao nhưng tại sao vẫn có biệt phủ, xeoto nhập khẩu, ? Số tài sản có giá trị lớn như vậy ở đâu mà có? Đây cũng là
cơ sở nền tảng cho việc xác minh hành vi “làm giàu bất chính” của cán bộ,công chức nhà nước mà thường dựa vào căn cứ chứng minh rõ ràng nguồngốc của tài sản đó
Ba là có thể nhận biết tài sản tham nhũng thông qua việc áp dụng cácchế tài đối với người có hành vi tham nhũng Ngoài các chế tài dân sự, chế tàihành chính, đối với chế tài hình sự, trong 07 tội danh quy định tại Bộ luậthình sự hiện hành đều quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền; riêng các tộidanh tham ô tài sản và nhận hối lộ, người phạm tội có thể bị áp dụng hìnhphạt bổ sung là tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
Trang 32Bốn là tài sản xuất hiện trong quá trình làm rõ các vấn đề chứng minhtrong các vụ án tham nhũng Theo đó, tài sản của những người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan trong vụ án tham nhũng nếu chứng minh được đó là tài sảnphái sinh từ hành vi tham nhũng thì đây chính là tài sản tham nhũng Tuynhiên điều này chỉ có thể đạt được khi định nghĩ về tài sản tham nhũng củapháp luật Việt Nam hiện tại có sự bổ sung, điều chỉnh như đề xuất bên trên.
1.1.3 Thu hồi tài sản tham nhũng
1.1.3.1 Khái niệm:
Trong những năm gần đây, tham nhũng đã gây ra nhiều vấn nạn và đểlại hậu quả cho xã hội Nổi cộm lên những hậu quả về kinh tế, đã gây thiệt hạihàng nghìn tỷ động cho xã hội Bên cạnh đó, khi vấn đề tham nhũng được xử
lý, xã hội không chỉ quan tâm đến hình phạt đối với người phạm tội thamnhũng mà một trong những vấn đề dư luận xã hội quan tâm là việc thu hồi tàisản tham nhũng diễn ra như thế nào? Hiệu quả đạt được ra sao? Có thu hồiđược toàn bộ số tài sản thiệt hại do tham nhũng đã gây ra hay không? Việckết quả của quá trình thu hồi có thể xác định là thước đo đánh giá tính hiệuquả, triệt để của các biện pháp thu hồi tài sản nói riêng và việc xử lý thamnhũng nói chung
Vậy cần hiểu như thế nào về “thu hồi tài sản tham nhũng”?
Có một quan điểm đưa được ra trong bài “Phòng, chống tham nhũng:Chống “giặc nội xâm” và chuyện thu hồi tài sản khung, tác giả đã nhận định
rằng: “Thu hồi tài sản tham nhũng là việc Nhà nước tịch thu tài sản mà quan
chức có được từ hành vi tham nhũng” 13 Cùng trong bài viết đã đưa việc cần
thiết phải phân biệt giữa “thu hồi tài sản” (asset recovery) và “tịch thu tài sản”(asset confiscation) Việc thu hồi tài sản cốt không phải đề bù đắp những thiệthại của Nhà nước và nền kinh tế do tham nhũng gây ra, mà mục tiêu nhấn
13 Lê Nguyễn Duy Hậu, Phòng, chống tham nhũng: Chống “giặc nội xâm” và chuyện thu hồi tài sản khủng,
đăng ngày 07/12/2017 trên báo Vietnamnet.vn
Trang 33mạnh ở việc là trao trả lại nó cho chủ sở hữu hợp pháp của nó và đền bù chonhững thiệt hại liên quan tới các bên.
Trong các quan điểm về thu hồi tài sản trên thế giới, UNCAC đã dànhmột chương riêng về “Thu hồi tài sản” (Chương V) với tuyên bố được đưa rarằng “Việc hoàn trả tài sản theo quy định tại chương này là nguyên tắc cănbản của Công ước và các quốc gia thành viên sẽ dành cho nhau sự hợp tác vàtrợ giúp tối đa trong vấn đề này” (Điều 51)14 Từ nhận định của bài viết trênchúng ta rút ra được hai quan điểm là: (1) trên thế giới thống nhất bản chấtcủa thu hồi tài sản tham nhũng là “hoàn trả” lại những tài sản đó với chínhnhững chủ sở hữu của nó Vấn đề thứ hai là UNCAC đã có nhiều sự đầu tưcho việc xây dựng một nền tảng pháp lý vững chắc, cải tiến về “thu hồi tàisản” và muốn có một sự thống nhất chung trong việc nhận định về thu hồi tàisản của các nước tham gia công ước bằng việc yêu cầu các quốc gia thànhviên phải có nhiều thay đổi trong hệ thống pháp luật và thể chế trong nước đểđảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế quy định tại công tác thu hồi tài sảntham nhũng
Như đã nhận định ở trên, thu hồi tài sản tham nhũng là hoạt động quantrọng và là thước đo hiệu quả của công tác đấu tranh chống tham nhũng Tuynhiên, nhìn nhận thực tế về số tiền, tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các
vụ án tham nhũng là rất lớn, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản củaNhà nước, của nhân dân nhưng việc thu hồi tài sản tham nhũng còn gặp rấtnhiều khó khăn; tỉ lệ tiền, tài sản thu hồi được rất nhỏ so với tổng số thiệt hại
do các đối tượng chiếm đoạt Cụ thể trong năm 2017, mới chỉ thu hồi đượcgần 330 tỷ đồng trên 1.521 tỷ đồng (chỉ đạt 21,7%); Năm 2016 cũng chỉ đạt38,3 % theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội về công tác phòng chốngtham nhũng năm 2017 Ngày nay tham nhũng đã xuất hiện ở nhiều bộ, ngành,
14 Đỗ Thu Huyền, Thu hồi tài sản tham nhũng: quy định trong Công ước Liên hợp Quốc và pháp luật Việt
Nam, đăng ngày 12/12/2016 trên Tạp chí Tổ chức nhà nước:
http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010067/0/35420/Thu_hoi_tai_san_tham_nhung_quy_dinh_trong_C ong_uoc_Lien_hop_quoc_va_phap_luat_Viet_Nam
Trang 34lĩnh vực, kể cả những ngành, lĩnh vực trước đây chưa từng xuất hiện thamnhũng; những vụ án, vụ việc liên quan tới tham nhũng chưa có dấu hiệu suygiảm mà ngày càng có dấu hiệu gia tăng với những thủ đoạn che giấu tinh vi,những con số thiệt hại đã đạt trăm, nghìn tỷ đồng Tình hình tham nhũng giatăng như vậy nhưng khi bị phát hiện thì việc thu hồi tài sản tham nhũng lạigặp rất nhiều khó khăn.
Từ những phân tích và nhận định trên, báo cáo nghiên cứu xin tóm gọn
một khái niệm cơ bản về vấn đề thu hồi tài sản tham nhũng như sau: Thu hồi
tài sản tham nhũng là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm thu hồi tài sản có được do hành vi tham nhũng, tài sản có nguồn gốc từ hành
vi tham nhũng, tài sản phái sinh từ hành vi tham nhũng hoặc tài sản thu được
từ việc áp dụng các chế tài đối với người có hành vi tham nhũng".
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, tội phạm về tham nhũng cóyếu tố nước ngoài có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp ở nước ta
Để kịp thời có những nhận định đúng đắn và đề ra biện pháp xử lý phù hợpLuật PCTN 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) đã quy định về thu hồi
tài sản tham nhũng có yếu tổ nước ngoài như sau: "Trên cơ sở điều ước quốc
tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ nước ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nước ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp" 15 Từ góc
độ lý luận cho thấy về bản chất thu hồi tài sản tham nhũng có yếu tố nướcngoài không có gì khác so với thu hồi tài sản tham nhũng nói chung Sự khácnhau ở đây tập trung vào đề ra cách thức, trình tự, thủ tục trong quá trình giảiquyết vấn đề khi xuất hiện hiện tượng tham nhũng giữa các quốc gia
1.1.3.2 Mục đích, ý nghĩa của thu hồi tài sản tham nhũng
15 Điều 71, Luật PCNT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012), tr 148
Trang 35Một lần nữa, báo cáo nghiên cứu khẳng định thu hồi tài sản thamnhũng như đã phân tích ở trên là một trong những thước đo hiệu quả công tácPCTN Thu hồi tài sản tham nhũng cho phép tước đoạt khỏi người thamnhũng các tài sản mà người đó có được từ hành vi tham nhũng và hoàn trả nó
về cho chính chủ sỡ hữu Nguồn gốc của tham nhũng suy cho cùng là cácđộng cơ lợi ích tài chính, do đó, thu hồi các tài sản có được từ hành vi thamnhũng sẽ là giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn và góp phần xử lý triệt để thamnhũng Thu hồi tài sản tham nhũng giúp khắc phục hậu quả nguy hiểm cho
xã hội của hành vi tham nhũng, trả lại nguồn lực cho đất nước, khiến chomục đích kinh tế của tội phạm tham nhũng không đạt được Một số nghiêncứu mới đây của các chuyên gia trong và ngoài nước cho rằng, thu hồi tài sảntham nhũng là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với công cuộc đấu tranhchống tham nhũng, bởi những lợi ích mà một hệ thống pháp luật thu hồi tàisản tham nhũng hiệu quả mang lại, bao gồm:
Ngăn cản: Bằng cách tước đoạt khỏi người phạm tội các lợi ích từ các
hoạt động tội phạm
Phát hiện: Với quy định cho phép các cơ quan thực thi pháp luật truy
tìm, phong tỏa và tịch thu lợi ích và phương tiện của người phạm tội, chophép phát hiện ra các mạng lưới tội phạm phức tạp và thu thập được thêmbằng chứng về các hoạt động tội phạm
Tịch thu: Bằng cách cho phép các cơ quan tịch thu tài sản do phạm tội
mà có Theo một số quy định riêng về tịch thu tài sản phạm tội, lợi ích bị tịchthu có thể được chia sẻ với các nước có đóng góp chủ đạo vào việc thu hồilợi ích hoặc điều tra hoặc khởi tố tội phạm
Phòng ngừa tội phạm: Tịch thu tài sản có được từ hành vi tham nhũng
đồng nghĩa với việc người có hành vi phạm tội đã bị xử lý, qua đó phòngngừa tội phạm tiếp tục thực hiện
Trang 36Tái đầu tư vào cộng động: Tài sản thu được từ tội phạm tham nhũng sẽ
giúp Chính phủ tái đầu tư vào các hoạt động phòng ngừa tội phạm hoặc cáchoạt động khác vì lợi ích của xã hội
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 BỐI CẢNH TÌNH HÌNH PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ THỰC TRẠNG THAM NHŨNG
2.1.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng về thu hồi tài sản tham nhũng
Công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng trong những năm quađược Đảng Cộng Sản Việt Nam rất coi trọng, quan tâm và có nhiều sự chỉđạo, định hướng cụ thể Điều đó được thể hiện các quy định: Các Văn kiệnĐại hội đại biểu toàn quốc của Đảng; Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) vềtăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí; Nghịquyết Trung ương 4 (khóa XI) một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng; Kếtluận Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trungương 3 (khóa X) hay sự thành lập của Ban Chỉ đạo Trung Ương về phòngchống tham nhũng do trực tiếp đồng chí Tổng Bí Thư lãnh đạo Đây là nhữngquy định thể hiện rõ sự quyết tâm, quan điểm, chủ trương của Đảng đối vớicông tác PCTN; trong đó thu hồi tài sản tham nhũng là một trong nhữngnhiệm vụ, giải pháp quan trọng được đề cập trong các quy định của Đảng về
PCTN Trong phiên họp thứ 12 của Ban Chỉ đạo TW về phòng, chống tham
nhũng ngày 31/7/2017, đồng chí Tổng Bí thư khi tiếp xúc với cử tri đã có mộtcâu nói về vấn đề phòng, chống tham nhũng thể hiện sự quyết tâm trong côngtác đấu tranh với tham nhũng đã nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận xã
hội, đó là “Cái lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy”
Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng CộngSản Việt Nam đã nêu bật lên tinh thần với công tác “thu hồi tài sản tham
Trang 38nhũng”, đó là: “Xử lý đúng pháp luật, kịp thời, công khai cán bộ tham nhũng;
tịch thu sung công tài sản tham nhũng, tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng”.
Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) đã thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo
của Đảng đối với công tác PCTN, đó là “Thực hiện đồng bộ các biện pháp
chính trị, tư tưởng, tổ chức hành chính, kinh tế, hình sự” Biện pháp kinh tế ở
đây được hiểu là việc áp dụng hình phạt tiền, tịch thu tài sản, khuyến khíchviệc bồi thường, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng, nhằm thu hồicho Nhà nước những tài sản bị thất thoát do tham nhũng; hạn chế tới mứcthấp nhất thiệt hại do tham nhũng gây ra Do đó, một trong các nhiệm vụ, giải
pháp mà Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) đề ra là “Chú trọng thu hồi tài
sản tham nhũng; áp dụng chính sách khoan hồng đối với những người phạm tội nhưng có thái độ thành khẩn, đã bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả kinh tế, hợp tác tốt với cơ quan chức năng; nghiên cứu sửa đổi pháp luật hình sự theo hướng khoan hồng hơn đối với những người đưa hoặc người nhận hối lộ nhưng đã tự giác khai báo và nộp lại tài sản trước khi bị phát hiện; chú trọng tới các chế tài phạt tiền nhằm tăng khả năng thu hồi tài sản tham nhũng”
Để cụ thể hóa các quan điểm, chủ chương của Đảng về thu hồi tài sảntham nhũng thành các quy định pháp luật cụ thể Trong kết luận của Hội nghị
Trung Ương 5 (khóa XI) đã yêu cầu các cơ quan chức năng liên quan “Sửa đổi
pháp luật hình sự theo hướng tăng hình thức phạt tiền, miễn hoặc giảm hình phạt khác đối với những đối tượng có hành vi tham nhũng nhưng đã chủ động khai báo, khắc phục hậu quả”.
Qua những quan điểm, nhận định trên có thể thấy chủ trương nhất quáncủa Đảng là cùng với việc xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật đối với người
có hành vi tham nhũng thì cần phải quan tâm tới việc thu hồi tài sản thamnhũng, khắc phục những hậu quả mà hành vi tham nhũng gây ra
Trang 392.1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện tại về thu hồi tài sản tham nhũng 2.1.2.1 Quy định của Luật PCTN về thu hồi tài sản tham nhũng 16
Luật PCTN năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012 có thể nói làvăn bản pháp lý tập trung đầy đủ các quy phạm liên quan tới tham nhũng vàthu hồi tài sản tham nhũng nhất hiện nay Trong nguyên tắc xử lý tham
nhũng, Luật PCTN đã quy định: “Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch
thu; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật” (Khoản 3, Điều 4) Như vậy, quá trình phát
hiện, xử lý tham nhũng, nếu xác định là tài sản tham nhũng thì phải thu hồi,tịch thu về cho Nhà nước; nếu xác định có thiệt hại do hành vi tham nhũnggây ra thì cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân bị thiệt hại có quyền yêu cầungười có hành vi tham nhũng phải bồi thường, bồi hoàn cho những thiệt hại
đó
Bên cạnh đó, để khuyến khích người có hành vi tham nhũng chủ độngkhai báo trước khi bị phát hiện, tích cực hạn chế thiệt hại do hành vi trái phápluật của mình gây ra, tự giác nộp lại tài sản tham nhũng, Luật PCTN (Khoản
4, Điều 4) quy định trong các trường hợp này có thể xem xét giảm nhẹ hìnhthức kỷ luật, hình phạt hoặc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy địnhcủa pháp luật
Về nguyên tắc trong xử lý tài sản tham nhũng, Luật PCTN (Điều 70)
quy định: “Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần
thiết để thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng; tài sản tham nhũng phải được trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước; người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát hiện hành vi đưa hối lộ thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ”.
16 Luật PCTN năm 2005, sửa đổi, bổ sung 2007, 2012.
Trang 40Về thu hồi tài sản có yếu tố nước ngoài, Luật PCTN (Điều 71) quy
định: “Trên cơ sở điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ nước ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nước ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp” Như vậy, việc thu hồi tài sản tham nhũng ở nước
ngoài được thực hiện trên cơ sở các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kếthoặc tham gia, đồng thời phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của phápluật Việt Nam
Nhìn chung, các quy định về thu hồi tài sản tham nhũng trong LuậtPCTN còn mang tính nguyên tắc; chưa có các quy định cụ thể, chi tiết vềthẩm quyền, trách nhiệm, trình tự, thủ tục thu hồi tài sản tham nhũng
2.1.2.2 Quy định của Bộ luật hình sự về thu hồi tài sản tham nhũng
Trong phần chung của Bộ luật hình sự, quy định về thu hồi tài sản nóichung, trong đó có thu hồi tài sản tham nhũng được thể hiện trong các quyđịnh về áp dụng hình phạt tiền, tịch thu tài sản và các biện pháp tư pháp đốivới các tội phạm, trong đó có tội phạm tham nhũng Cụ thể như sau:
Điều 32 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về các loại hình phạt, gồm
có hình phạt chính và hình phạt bổ sung Trong hình phạt chính có phạt tiền
Trong hình phạt bổ sung có tịch thu tài sản và phạt tiền (khi không áp dụng là
hình phạt chính) Như vậy, căn cứ Điều 32 đã quy định về việc thu hồi tài sản
do phạm tội mà có, trong đó có tài sản tham nhũng trước hết được thực hiệnthông qua việc áp dụng hình phạt tiền, là hình phạt chính; tịch thu tài sản, là
hình phạt bổ sung; phạt tiền, là hình phạt bổ sung (khi không áp dụng là hình
phạt chính).
Điều 35, Bộ luật hình sự năm 2015 quy định phạt tiền được áp dụng làhình phạt bổ sung đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma tuý hoặc