1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIÁO TRÌNH NGUYÊN LÝ VÀ THỰC HÀNH BẢO HIỂM

249 97 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 249
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

22 Ngành bảo hiểm luôn phải đối diện với những cạnh tranh và những sản phẩm thay thế mới trong nội bộ nền kinh tế bởi các sản phẩm đa dạng của hàng hóa dịch vụ các ngành khác như ngân hà

Trang 1

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

GIÁO TRÌNH NGUYÊN LÝ VÀ THỰC HÀNH BẢO HIỂM

VÕ THỊ HỒNG PHÖC

LÊ THÙY TRANG

Tháng 04/2014

Trang 2

2

LỜI MỞ ĐẦU

Như chúng ta đã biết, ở bất kỳ nơi đâu và thời đại nào, con người đều phải đồng hành với rủi ro Rủi ro và an toàn là hai thuộc tính song hành trong cuộc sống chúng

ta Như vậy làm thế nào để giảm thiểu rủi ro? Làm thế nào để làm chủ được rủi ro? Đó

là câu hỏi muôn thuở của mỗi cá nhân, tổ chức, nhà nước và xã hội Vậy là một ngành kinh tế đã ra đời, không chỉ giúp chúng ta giải đáp bài toán trên, mà còn trở thành một trong những động lực kích thích sự phát triển của mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội khác

Đó chính là Bảo hiểm

Ngày nay, ở Việt Nam, bảo hiểm đang là lĩnh vực hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Đã, đang và sẽ có hàng loạt các công ty bảo hiểm trong nước và quốc tế ra đời, nhiều công ty bảo hiểm hiện nay đang dần hình thành những tập đoàn tài chính - bảo hiểm lớn với phạm vi hoạt động bao trùm lên nhiều lĩnh vực: bảo hiểm, ngân hàng, quản lý quỹ đầu tư, chứng khoán, cho thuê tài sản và có mặt ở khắp mọi nơi Bạn đừng lo ngại về công việc, nếu bạn thực sự đáp ứng được yêu cầu công việc, bạn

sẽ trở thành mục tiêu đắt giá của nhiều hãng bảo hiểm trong nước và quốc tế

Do đó là sinh viên ngành kinh tế thì không thể nào không biết đến vị trí cũng như

là tầm quan trọng của bảo hiểm trong các lĩnh vực hoạt động kinh doanh Vì vậy giáo

trình Nguyên lý và thực hành bảo hiểm này sẽ cung cấp cho sinh viên những nội dung

cơ bản nhất nhằm góp phần trang bị cho sinh viên kiến thức cơ bản về môn học bảo

hiểm

Trang 3

3

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Danh sách các công ty bảo hiểm 6

Bảng 3.1: Kết quả tung đồng xu (10 lần) 57

Bảng 3.2: Kết quả tung đồng xu (100 lần) 58

Bảng 3.3: Kết quả tung đồng xu (1000 lần) 58

Bảng 4.1: Dữ liệu đề bài ví dụ 4.2 67

Bảng 4.2: Dữ liệu đề bài ví dụ 4.3 69

Bảng 4.3: Phân chia trách nhiệm về STBH của ví dụ 4.3: 70

Bảng 4.4: Phân chia PBH gốc và số tiền bồi thường của ví dụ 4.2: 70

Bảng 4.5: Bảng dữ liệu đề bài ví dụ 4.4 71

Bảng 5.2: Bảng tỷ lệ tính phí bảo hiểm 89

Bảng 5.3: Bảng tỷ lệ tính phí bảo hiểm ngắn hạn 90

Bảng 5.4: Ví dụ về bảng phí bảo hiểm tai nạn thân thể 91

Bảng 7.1: Bảng dự phòng phí theo phương pháp 1/24 123

Bảng 7.2: Dữ liệu đề bài ví dụ 124

Bảng 7.3: Bảng so sánh dự phòng toán học của hợp đồng tử kỳ 146

Bảng 7.4: Bảng so sánh dự phòng toán học của hợp đồng tử kỳ 150

Trang 4

4

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 7.1: phí san bằng (phí quân bình) và phí tương ứng rủi ro mỗi năm (phí tự

nhiên) của sản phẩm bảo hiểm tử kỳ 117

Biểu đồ 7.2: Dự phòng sản phẩm tử kỳ 117

Biểu đồ 7.3: Dự phòng phí theo phương pháp 36% 122

Biểu đồ 7.4: Đồ thị trích lập dự phòng phí theo phương pháp 1/24 124

Trang 5

5

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Các yếu tố cấu thành môi trường ngành bảo hiểm 9

Sơ đồ 2.1: Mối quan hệ giữa nguy cơ, rủi ro và tổn thất 25

Sơ đồ 2.2: Các phương thức xự lý rủi ro 33

Sơ đồ 2.3: Mô phỏng phương thức chấp nhận rủi ro 34

Sơ đồ 2.4: Qui trình quản trị rủi ro 37

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ đồng bảo hiểm 59

Sơ đồ 3.2: Sơ đồ tái bảo hiểm 59

Sơ đồ 4.1: Sơ đồ thể hiện mối quan hệ trong đồng bảo hiểm 65

Sơ đồ 4.2: Mối quan hệ trong tái bảo hiểm 67

Sơ đồ 4.3: Các phương thức tái bảo hiểm 69

Sơ đồ 4.4: Sự kết hợp trong đồng – tái bảo hiểm 76

Sơ đồ 7.1: Dự phòng phí chưa được hưởng trong công ty bảo hiểm phi nhân thọ 118

Trang 6

6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHXH Bảo hiểm xã hội

BH TNCN Bảo hiểm Tai nạn con người

DPBT Dự phòng bồi thường DPDĐL Dự phòng dao động lớn

HĐBH Hợp đồng bảo hiểm

SMCN Sinh mạng cá nhân STBH Số tiền bảo hiểm STBT Số tiền bồi thường

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

(World Trade Organization)

Trang 7

7

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: 11

THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM CHỦ YẾU 11

1.1 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm 11

1.1.1 Trên thế giới: 11

1.1.2 Tại Việt Nam: 14

1.2 Môi trường ngành bảo hiểm: 19

1.2.1 Môi trường vĩ mô 19

1.2.2 Môi trường vi mô 21

1.3 Một số nghiệp vụ bảo hiểm chủ yếu: 22

1.3.1 Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải: 22

1.3.2 Bảo hiểm tài sản 28

1.3.3 Bảo hiểm kỹ thuật 30

1.3.4 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe đối với người thứ ba 31

1.3.5 Bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm du lịch 32

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO VÀ PHƯƠNG THỨC QUẢN TRỊ RỦI RO 35

2.1 Một số thuật ngữ cơ bản về bảo hiểm 35

2.1.1 Tổn thất: 35

2.2 Các phương thức xử lý rủi ro: 43

2.2.1 Tránh né rủi ro 43

2.2.2 Chấp nhận gánh chịu rủi ro 44

2.2.3 Giảm thiểu nguy cơ, giảm thiểu tổn thất 45

2.2.4 Hoán chuyển rủi ro 46

2.2.5 Bảo hiểm : 46

2.3 Quy trình quản trị rủi ro 47

2.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro: 47

2.3.2 Qui trình quản trị rủi ro: [3] 47

CHƯƠNG 3: 51

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM 51

3.1 Tổng quan về bảo hiểm: 51

Trang 8

8

3.1.1 Khái niệm về bảo hiểm: 51

3.1.2 Đặc điểm và sự cần thiết của bảo hiểm đối với đời sống kinh tế - xã hội 52

3.1.3 Vai trò – tác dụng của bảo hiểm 53

3.1.4 Phân loại bảo hiểm: 55

3.2 Hệ thống bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại 56

3.2.1 Hệ thống bảo hiểm xã hội 56

3.2.2 Hệ thống bảo hiểm thương mại: 57

e) Căn cứ vào tính chất pháp lý 64

g) Căn cứ vào lịch sử ra đời của các nghiệp vụ bảo hiểm 66

3.3 Các nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm 67

3.3.1 Nguyên tắc số đông 67

3.3.2 Nguyên tắc trung thực tuyệt đối 70

3.3.4 Nguyên tắc phân chia, phân tán rủi ro 71

3.4 Về kỹ thuật bảo hiểm[4] 72

3.5 Về tài chính: 72

CHƯƠNG 4: ĐỒNG BẢO HIỂM VÀ TÁI BẢO HIỂM 75

4.1 Đồng bảo hiểm 75

4.1.1 Định nghĩa: 75

4.1.2 Thủ tục: 75

4.2 Tái bảo hiểm 76

4.2.1 Khái niệm: 76

4.2.2 Sự cần thiết của tái bảo hiểm: 78

4.2.3 Tác dụng của tái bảo hiểm: 78

4.2.4 Phương thức tái bảo hiểm: 79

4.3 Sự kết hợp giữa đồng – tái bảo hiểm: 86

CHƯƠNG 5: BẢO HIỂM TAI NẠN CON NGƯỜI 92

5.1 Tổng quan về bảo hiểm tai nạn con người: 92

5.1.1 Vị trí của Bảo hiểm tai nạn con người trong hệ thống Bảo hiểm thương mại 92

5.1.2 Các loại hình Bảo hiểm tai nạn con người 92

5.1.3 Đặc điểm cơ bản: 94

5.2 Nội dung của bảo hiểm tai nạn con người: 95

5.2.1 Người được bảo hiểm 95

5.2.2 Đối tượng bảo hiểm 97

Trang 9

9

5.2.3 Phạm vi bảo hiểm 98

5.2.4 Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm 100

5.2.5 Số tiền bồi thường 102

5.2.6 Thủ tục trả tiền bảo hiểm 104

CHƯƠNG 6: HỆ THỐNG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM VÀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM 109

6.1 Hệ thống pháp luật bảo hiểm 109

6.1.1 Khái quát sự ra đời hệ thống pháp luật bảo hiểm 109

6.1.2 Pháp luật bảo hiểm chính tắc 109

6.1.3 Pháp luật bảo hiểm thông luật 109

6.2 Hợp đồng bảo hiểm 110

6.2.1 Khái niệm 110

6.2.2 Tính chất: 111

6.2.3 Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm: 112

6.2.4 Thiết lập hợp đồng bảo hiểm [2] 113

6.2.5 Trách nhiệm của các bên 114

6.3 Một số nội dung chủ yếu của hợp đồng bảo hiểm 115

6.3.1 Giá trị bảo hiểm- Số tiền bảo hiểm 115

6.3.2 Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm : 116

6.3.3 Phạm vi bảo hiểm : 116

6.3.4 Phí bảo hiểm : 117

6.3.5 Bồi thường hoặc chi trả bởi nhà bảo hiểm 117

6.3.6 Các chế độ đảm bảo bảo hiểm: Có 3 chế độ: 118

6.4 Sự cần thiết phải có kiểm tra của nhà nước 118

6.4.1 Các nguyên tắc kiểm tra 119

6.4.2 Nội dung kiểm tra 120

6.4.3 Sự cần thiết của các chê định pháp lý riêng biệt chi phối các hoạt động kinh doanh bảo hiểm 121

6.4.4 Quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm 122

6.5 Tuyên truyền giáo dục pháp luật bảo hiểm: 123

CHƯƠNG 7: 126

DỰ PHÒNG NGHIỆP VỤ TRONG CÔNG TY BẢO HIỂM 126

7.1 Mục tiêu hoạt động của công ty bảo hiểm 126

7.2 Khái niệm về dự phòng nghiệp vụ [1] 126

Trang 10

10

7.3 Phân loại quỹ dự phòng nghiệp vụ và các phương pháp trích lập quỹ:[1] 129 7.3.1 Các loại quỹ dự phòng nghiệp vụ: 129 7.3.2 Phương pháp trích lập quỹ dự phòng nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ: 130 7.3.3 Phương pháp trích lập dự phòng bồi thường cho các công ty bảo hiểm nhân thọ: 147

PHỤ LỤC

Trang 11

11

CHƯƠNG 1:

THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NGHIỆP

VỤ BẢO HIỂM CHỦ YẾU 1.1 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm

1.1.1 Trên thế giới:

Nhu cầu an toàn với con người là vĩnh cửu Lúc nào con người cũng tìm cách

để bảo vệ bản thân và tài sản của mình trước những rủi ro, bất hạnh Ngay từ thời tiền

sử đã xuất hiện các ý tưởng, các tổ chức gần giống với bảo hiểm Từ thời Trung cổ, các quy tắc về bảo hiểm hàng hải đã được hình thành, song phải đến thế kỷ XIX thì bảo hiểm mới phát triển toàn diện, mạnh mẽ kéo theo sự ra đời, tồn tại và phát triển của tất cả các loại hình bảo hiểm: bảo hiểm thương mại, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y

tế, bảo hiểm thất nghiệp

Các nhà khả cổ học đã tìm được các vết tích chứng minh ở Ai Cập cổ đại từ

4500 năm trước Công nguyên những người thợ đẽo đá đã hình thành Quỹ tương trợ để giúp đỡ các nạn nhân trong các vụ tai nạn Những người Ba – bi – lon, những người Trung Hoa cổ đại đã biết bảo nhau khi được mùa, mỗi gia đình góp vài hộc thóc vào một kho chung phòng khi mất mùa, thiên tai, đói kém Hoặc những nhà buôn khi ấy chủ yếu dựa vào các đội thương thuyền đi biển, song đi biển thường gặp nhiều rủi ro, nếu chẳng may gặp nạn thì họ sẽ trắng tay Để phòng vệ, họ đã tự san bớt hàng hoá của mình sang nhiều thuyền buôn khác nhau, khi gặp bất trách họ chỉ mất một phần hàng hoá

Đến thời Trung cổ ở Châu Âu, các thợ thuyền, nhà buôn, kỹ nghệ gia đã biết cách tổ chức đoàn kết các thành viên của mình để khắc phục các tổn thất khi tai nạn lao động, hoả hoạn, ốm đau xảy ra thông qua quỹ cứu hộ do các thành viên đóng góp Tiếp đó là những người Hy Lạp, La Mã tổ chức cho các thương gia vay nặng lãi Cơ chế cho vay lúc đó khác với hiện nay ở chỗ: nếu các nhà buôn đi biển cần vay nhiều tiền, họ rất sẵn sàng; nếu bị đắm, người đi vay không phải trả gì cả, trái lại nếu việc buôn bán thành công người cho vay không những được hoàn trả số vốn mà họ còn được hưởng thêm một khoản chia lời rất lớn Khoản lãi có khi lên tới 40%, thậm chí là 50% Tuy nhiên, tình trạng trên dần dần đã bị lạm dụng về lãi suất, cá biệt có những trường hợp người đi vay phải trả lãi suất là 300% Chính vì vậy, năm 1234, Giáo Hoàng Grégeire IX đã thông qua sắc lệnh nghiêm cấm việc cho vay nặng lãi và từ đó loại hình cho vay này đã không còn tồn tại

Trang 12

12

Cần phải tìm một phương thức mới giúp những người cho vay lấy lại được số vốn của mình đã bỏ ra và người đi vay không còn phải chịu cảnh lãi suất cắt cổ Phương thức đó đã ra đời, đó là Bảo hiểm trong lĩnh vực hàng hải Bản hợp đồng bảo hiểm cổ xưa nhất mà người ta tìm thấy tại cảng Gênes vào năm 1347 trước Công nguyên Bản hợp đồng sẽ bị huỷ ngay khi con tàu cập bến, có nghĩa là những cam kết

về bảo hiểm đã kết thúc Cũng chính tại Gênes (nước Italy ngày nay) công ty bảo hiểm hàng hải đầu tiên đã ra đời Từ thế kỷ XIII, các văn bản luật liên quan đến buôn bán đường biển và bảo hiểm hàng hải liên tục ra đời, đó là các quy phạm của Orleron năm

1266, luật Wisby của Thuỵ Điển năm 1288, các chiếu chỉ Barcelon 1435; các quy định của phòng bảo hiểm Bruges năm 1310 Như vậy trong lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm bảo hiểm hàng hải là loại hình bảo hiểm thương mại ra đời đầu tiên Tiếp

đó, một số loại hình bảo hiểm thương mại khác đã nhanh chóng ra đời và rất phát triển Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ký vào năm 1583 tại nước Anh, sau vụ hoả hoạn này 2/9/1866, các công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên ra đời tại London Năm 1846, công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp đầu tiên đã ra đời tại CHLB Đức Trong suốt thế kỷ XIX, các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại mà ngày nay đang triển khai cũng đã ra đời như: Bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm trộm cắp, bảo hiểm trách nhiệm dân sự, bảo hiểm kỹ thuật thế kỷ XX, ngành bảo hiểm thương mại có bước phát triển vượt bậc và đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển và tăng trưởng của các nền kinh tế Chẳng hạn, năm 1997 trong cơ cấu GDP của Hàn Quốc ngành bảo hiểm thương mại đóng góp 15,42%, con số này ở Nhật Bản là 11,87%, Anh là 11,22%, Mỹ

là 8,94%, Thái Lan 2,44%, Malaysia là 4,37% và Việt Nam là 0,46% năm 2000, tổng phí bảo hiểm thương mại toàn cầu đạt 2.444 tỷ USD, trong đó phí bảo hiểm nhân thọ

là 1.521 tỷ chiếm 62,3%, phí bảo hiểm phi nhân thọ là 923 tỷ chiếm 27,7%

Bảo hiểm xã hội ra đời vào những năm giữa thế kỷ XIX, khi nền công nghiệp

và kinh tế hàng hoá bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước Châu Âu Từ năm 1883, nước Phổ (nước Đức ngày nay) đã ban hành Luật Bảo hiểm y tế Ở Pháp, ý tưởng về bảo hiểm tai nạn lao động cho những công nhân ngành đường sắt đã được Marestaing

đề xuất năm 1850 nhưng lại bị giới thương lưu từ chối, bác bỏ Đến năm 1860, ông buộc phải thành lập một công ty của mình là Preservatrice tại Bỉ Trong một thời gian ngắn, lợi ích của bảo hiểm tai nạn lao động đem lại cho những người làm công ăn lượng là rất lớn, đến nỗi công ty ông phải chuyển trụ sở chính về Paris vào năm 1898, bảo hiểm tai nạn lao động trở thành bắt buộc đối với giới chủ Pháp Sau này công ty ông trờ thành độc quyền của nhà nước Pháp vào năm 1945 Những năm đầu của thế kỷ

XX, bảo hiểm xã hội đã được triển khai ở nhiều nước châu Âu và Bắc Mỹ Đặc biệt sau Công ước số 102 năm 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), hầu hết các

Trang 13

13

nước trên thế giới đều tổ chức cho mình hệ thống bảo hiểm xã hội phù hợp Loại hình bảo hiểm này có đối tượng là thu nhập của người lao động và đối tượng tham gia là người lao động và người sử dụng lao động Hầu hết các nước khi mới triển khai bảo hiểm xã hội đều thực hiện trước hết đối với người làm công ăn lương Ngày nay, bảo hiểm xã hội là loại hình bảo hiểm rất ổn định và phát triển, nó đã được Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc ghi nhận: Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm y tế ra đời vào cuối thế kỷ XIX Thực chất bảo hiểm y tế mang tính chất của bảo hiểm xã hội và là một trong hai hình thức bảo hiểm sức khoẻ của con người được các nước quan tâm phát triển mạnh mẽ Cùng với sự phát triển và tăng trưởng kinh tế, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, nhu cầu khám chữa bệnh cũng tăng lên Để chủ động về tài chính, con người cũng đã sử dụng nhiều biện pháp, trong đó có bảo hiểm y tế Tuy nhiên, có những nước triển khai kết hợp với bảo hiểm xã hội và coi bảo hiểm y tế như là chế độ chăm sóc y tế nằm trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm thất nghiệp lần đầu tiên ở Châu Âu trong một nghề khá phổ biến và phát triển, đó là nghề sản xuất các mặt hàng thuỷ tinh ở Thuỵ Sỹ Nghề này rất cần nữhng thợ lành nghề và tổ chức trong phạm vi nhỏ hẹp khoảng 20-30 công nhân Để giữ được những công nhân có tay nghề bậc cao gắn bó với mình, năm 1893 các nhà doanh nghiệp loại hình này ở Thuỵ Sỹ đã lập ra quỹ doanh nghiệp để trợ cấp cho những người thợ phải nghỉ việc vì lý do thời vụ sản xuất Sau đó nhiều nghiệp đoàn ở châu Âu cũng đã lập quỹ công đoàn để trợ cấp cho những đoàn viên của minh trong trường hợp phải nghỉ việc, mất việc Khi thấy rõ vai trò và tác dụng cảu loại quỹ này, nhiều chính quyền địa phương đã tập hợp các nghiệp đoàn, các chủ doanh nghiệp vận động thành lập quỹ trợ cấp thất nghiệp Quỹ trợ cấp thất nghiệp tự nguyện ra đời lần đầu tiên tại Béc – nơ (Thụy Sỹ) vào cuối năm 1893 Đến năm 1900 và 1910, Na Uy và Đan Mạch ban hành đạo luật quốc gia về bảo hiểm thất nghiệp Sau đó là nước Anh và Cộng hòa liên ban Đức cũng ban hành những đạo luật riêng về bảo hiểm thất nghiệp Sau cuộc Tổng khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) nhiều nước ở Châu Âu và Bắc Mỹ ban hành luật bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, một loạt nước đã triển khai bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động,

kể cả bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp tự nguyện Cũng như bảo hiểm y tê, bảo hiểm được nhiều nước triển khai độc lập và cũng có những nước triển khai kết hợp với bảo hiểm xã hội và đó chính là chế độ trợ cấp thất nghiệp nằm trong

hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội

Trang 14

14

1.1.2 Tại Việt Nam:

Bảo hiểm Việt Nam ra đời khá muộn so với sự phát triển chung của ngành bảo hiểm thế giới do nhiều điều kiện chủ quan cũng như khách quan Tuy nhiên, hiện nay, ngành bảo hiểm đang dần dần bắt kịp xu thế phát triển chung của bảo hiểm trong khu vực và quốc tế và ngày càng chứng tỏ vai trò không thể thiếu được của mình đối với nền kinh tế Chúng ta có thể nhận thấy điều này khi theo dõi quá trình phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam từ những ngày đầu đến nay

1.1.2.1 Giai đoạn trước năm 1986:

Hoạt động bảo hiểm ở nước ta ít nhiều cũng đã có những bước phát triển ngay

từ thời thực dân Pháp Cho tới khi miền Bắc được giải phóng, đất nước bị chia cắt, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở miền Nam khá phát triển dưới chế độ Ngụy quyền

Ở miền Nam trước năm 1975, có hơn 52 công ty trong và ngoài nước đã triển khai các loại hình nghiệp vụ khá đa dạng như bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm chuyên chở, bảo hiểm xe tự động, bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tai nạn lao động Các công

ty hoạt động khá mạnh mẽ, đáp ứng được phần nào nhu cầu về bảo hiểm trên toàn thị trường miền Nam Các công ty bảo hiểm trong nước thường được thành lập dưới dạng Hội vô danh và Hội tương hỗ Các công ty nước ngoài thành lập ở Việt Nam dưới hình thức công ty chi nhánh Hầu hết các công ty đều đặt trụ sở chính ở Sài Gòn Mạng lưới trung gian bảo hiểm là môi giới và đại lý bảo hiểm được sử dụng phổ biến để kinh doanh bảo hiểm trên phạm vi toàn miền Nam Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được trôi chảy, cạnh tranh lành mạnh, các công ty bảo hiểm đã sớm thành lập hiệp hội nghề nghiệp bảo hiểm của mình Hiệp hội có chức năng thông tin tư vấn, đào tạo, tạo

ra một môi trường hợp tác Việc quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm được thực hiện thông qua Bộ Tài chính Các văn bản pháp luật điều chỉnh như Luật bảo hiểm cũng sớm ra đời Ngoài ra, Hội đồng tư vấn bảo hiểm quốc gia cũng đóng vai trò khá quan trọng

Ở miền Bắc trước năm 1975, hoạt động bảo hiểm chỉ thực sự bắt đầu khi có sự

ra đời của Bảo Việt Để đáp ứng nhu cầu về bảo hiểm trong hoạt động ngoại thương, ngày 17/12/1964, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Công ty Bảo hiểm Việt Nam, gọi tắt là Bảo Việt Đến ngày 15/01/1965, Bảo Việt chính thức đi vào hoạt động Đây cũng là công ty bảo hiểm Nhà nước duy nhất đại diện cho ngành bảo hiểm Việt Nam Từ ngày thành lập cho đến trước năm 1975, do những điều kiện khó khăn của chiến tranh, hoạt động của Bảo Việt ở miền Bắc chưa phát triển Lúc bấy giờ, Bảo Việt chỉ có trụ sở ở Hà Nội và chi nhánh ở Hải Phòng thực hiện chủ yếu 3 nghiệp vụ:

Trang 15

ty được chuyển thành chi nhánh của công ty bảo hiểm Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh Thời kỳ này, Bảo Việt là công ty duy nhất hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam theo chế độ hạch toán kế toán kinh tế thống nhất toàn ngành Công ty trực thuộc Bộ Tài chính, có chức năng giúp Bộ Tài chính thống nhất quản lý công tác bảo hiểm Nhà nước và trực tiếp tiến hành nghiệp vụ bảo hiểm trong cả nước Trong giai đoạn này, ở Việt Nam, Bảo Việt độc quyền kinh doanh bảo hiểm nên các sản phẩm của Bảo Việt chưa đa dạng, chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ với khoảng 20 sản phẩm bảo hiểm Có thể nói, thời gian này, hoạt động bảo hiểm ở nước ta vẫn chưa phát triển

1.1.2.2 Giai đoạn từ năm 1986 đến khi gia nhập WTO:

Năm 1986 đánh dấu một bước ngoạt trong sự nghiệp phát triển kinh tế của nước

ta Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI diến ra vào năm này đã đưa ra chính sách đổi mới, tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh theo các quy định của pháp luật Đồng thời, Việt Nam cũng đã tiến hành mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư từ nhiều quốc gia, khu vực Hoạt động sản xuất - kinh doanh từng bước phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao đòi hỏi ngành bảo hiểm cũng phải đổi mới để đáp ứng nhu cầu, thích hợp với hoàn cảnh mới Sự xuất hiện của các công ty bảo hiểm mới, công ty liên doanh, công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình phát triển bảo hiểm ở nước ta

Ngày 18/12/1993, nghị định 100 CP về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã được Chính phủ ban hành, mở ra bước phát triển mới cho ngành bảo hiểm Việt Nam Nó phá vỡ thế độc quyền đang tồn tại, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức bảo hiểm với nhiều hình thức khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế Mặc dù vậy, phải từ sau năm 1995, một loạt các công ty kinh doanh bảo hiểm mới ra đời: Bảo Minh, VINARE, PVI, PJICO và các công ty liên doanh bảo hiểm như: UIC, VIA, Ngoài ra, với khoảng 40 văn phòng đại diện của các công ty bảo hiểm nước ngoài và hơn 70.000 đại

lý bảo hiểm thị trường bảo hiểm Việt Nam đang phát triển ngày một sôi động

Trang 16

16

Việc mở cửa thị trường bảo hiểm cũng như sự xuất hiện của các công ty mới đã tạo điều kiện cho bảo hiểm phát triển mạnh mẽ trong một môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt Các công ty liên tục hoàn thiện những sản phẩm cũ, đồng thời nghiên cứu và giới thiệu những loại hình nghiệp vụ bảo hiểm mới đa dạng và hấp dẫn Người tham gia bảo hiểm có thể tự do lựa chọn người bảo hiểm, loại hình dịch vụ bảo hiểm với mức phí cạnh tranh nhất Trong tương lai, nhu cầu bảo hiểm sẽ ngày càng đa dạng hơn và số lượng, chủng loại sản phẩm chắc chắn sẽ còn được rộng mở Không chỉ có vậy, để nâng cao tính cạnh tranh, công tác chăm sóc khách hàng cũng ngày càng được chú trọng Bảo hiểm Việt Nam được đánh giá là một thị trường vẫn đang rất giàu tiềm năng phát triển

1.1.2.3 Giai đoạn sau khi gia nhập WTO đến nay:

Ngày 11/01/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại quốc tế_WTO Từ đó dịch vụ bảo hiểm nói riêng, thị trường tài chính nói chung đã trở thành lĩnh vực đi hàng đầu trong việc hội nhập kinh tế thế giới Kết quả đàm phán gia nhập WTO thì Việt Nam phải thực hiện một số cam kết như: cam kết đa phương, cam kết về thuế nhập khẩu, cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ Với những cam kết này, thị trường bảo hiểm Việt Nam tiếp tục mở cửa rộng hơn và sâu hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài vào kinh doanh bảo hiểm Điều này gây sức ép cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam không ngừng cải tiến và nâng cao hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Từ đó người tiêu dùng càng có điều kiện tiếp cận các dịch vụ ngày càng đa dạng hơn cả về số lượng và cả về chất lượng

Tính đến năm 2013, Việt Nam hiện có 57 công ty bảo hiểm, gồm 29 DN bảo hiểm phi nhân thọ, 14 DN bảo hiểm nhân thọ, 2 DN tái bảo hiểm và 12 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Số lượng đại lý bảo hiểm đạt khoảng 283.593 đại lý

Bảng 1.1: Danh sách các công ty bảo hiểm

thành lập

Vốn điều lệ(tỷ đồng) CÔNG TY BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ: 29

1 Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt (Bảo hiểm Bảo Việt) 1964 1,500

2 Tổng công ty cổ phần Bảo Minh (Bảo Minh) 1994 755

3 Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (Pjico) 1995 709

4 Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long) 1995 336.345

6 Công ty liên doanh bảo hiểm Bảo Việt –

Tokio Marine (BảoViệt – Tokio Marine)

1996 300

Trang 17

17

8 Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện (PTI) 1998 450

9 Công ty TNHH bảo hiểm tổng hợp Groupama Việt Nam

(Groupama)

2001 388.906

10 Công ty TNHH 1 thành viên bảo hiểm Ngân hàng công

thương V iệt Nam (Bảo Ngân)

2002 500

11 Công ty TNHH bảo hiểm Samsung Vina (Samsung Vina) 2002 300

12 Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông (VASS) 2003 400

13 Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát

triển Việt Nam (BIC)

2005 660

15 Công ty TNHH bảo hiểm phi nhân thọ Chartis (Việt Nam) 2005 375

16 Công ty TNHH bảo hiểm QBE (Việt Nam) (QBE) 2005 300.322

17 Công ty cổ phần bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam

(ABIC)

2006 380

18 Công ty cổ phần bảo hiểm Toàn Cầu (GIC) 2006 400

20 Công ty TNHH bảo hiểm Liberty (Liberty) 2006 994.872

22 Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Quân đội (MIC) 2007 400

23 Công ty cổ phần bảo hiểm Hàng Không (VNI) 2008 500

24 Công ty cổ phần bảo hiểm SHB – Vinacomin (SVIC) 2008 300

25 Công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương ( B H V ) 2008 300

26 Công ty TNHH bảo hiểm phi nhân thọ MSIG Việt Nam

(MSIG)

2008 300

27 Công ty TNHH bảo hiểm Fubon (Việt Nam) (Fubon) 2008 300

28 Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Xuân Thành (Xuân Thành)

CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ: 14

30 Tổng công ty Bảo Việt Nhân thọ (Bảo Việt Nhân thọ) 2004 1,500

31 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam

(Prudential)

1999 1,136

32 Công ty TNHH Manulife (Việt Nam) (Manulife) 1999 800

33 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ AIA (Việt Nam) (AIA) 2000 970

34 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Ace (Ace Life) 2005 606

35 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prévoir Việt Nam 2005 600

Trang 18

41 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Fubon (Việt

Nam)( F ubon Life)

CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM: 2

44 Tổng công ty cổ phần tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam

(VINARE)

1994 1,008

CÔNG TY MÔI GIỚI BẢO HIỂM: 12

47 Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Việt Quốc 2001 8.05

48 Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Á Đông 2003 8

49 Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Đại Việt 2003 6

50 Công ty TNHH môi giới bảo hiểm Gras

Savoye Willis ViệtNam

2003 8

51 Công ty TNHH môi giới bảo hiểm Marsh Việt Nam 2004 8.746

52 Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Thái Bình Dương 2005 24.75

53 Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Cimeco 2006 30

54 Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Sao Việt 2008 4

55 Công ty TNHH môi giới bảo hiểm Jardine Loyld Thompson

Việt Nam

2008 30.675

Trang 19

19

56 Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Nam Á 2010 8

57 Công ty TNHH môi giới bảo hiểm Toyota-Tsusho 2011 4.81

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ tài chính Việt Nam

1.2 Môi trường ngành bảo hiểm:

Sơ đồ 1.1: Các yếu tố cấu thành môi trường ngành bảo hiểm

Nguồn: Giáo trình “Nguyên lý và thực hành bảo hiểm” [2]

1.2.1 Môi trường vĩ mô

1.2.1.1 Môi trường pháp lý:

- Thị trường bảo hiểm của bất kỳ quốc gia nào cũng được vận hành dưới sự kiểm soát của nhà nước Đa số các quốc gia được điều hành bởi nhà nước pháp quyền, thị trường bảo hiểm được kiểm soát trong khuôn khổ lập pháp lập quy chính xác

- Sự phát triển của thị trường bảo hiểm sẽ chịu sự tác động trực tiếp và mạnh mẽ của các chính sách như: chính sách phát triển thị trường bảo hiểm, chính sách an sinh

xã hội và chính sách thuế của nhà nước Nếu chính sách an sinh xã hội được đảm bảo

ở mức cao thì nhu cầu đảm bảo cho rủi ro con người ở bảo hiểm thương mại sẽ giảm

đi Chính sách thuế sẽ khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia bảo hiểm ở một lĩnh vực nào đó

- Tiếp theo là sự phát triển của thị trường cũng sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của các chính sách sách mở cửa hay chính sách bảo hộ thương mại nội địa Mậu dịch quốc tế được khuyến khích thì nhà đầu tư nước ngoài càng được thu hút nhiều hơn thì nhu cầu bảo hiểm càng tăng, và ngược lại

Trang 20

20

- Và sau cùng thì cơ chế quản lý kinh tế chính là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến

sự phát triển của thị trường như: làm đa dạng hóa các yếu tố cung cầu của thị trường, tạo động lực cạnh tranh phát triển nhưng cũng chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn nếu không được quản lý chặt chẽ

 Môi trường pháp lý càng hoàn thiện thì càng tạo điều kiện đảm bảo thị trường có sự cạnh tranh mạnh mẽ và phát triển bền vững, đảm bảo lợi ích cho bên mua bảo hiểm

1.2.1.2 Môi trường kinh tế:

- Chúng ta cũng biết rằng ngoài tài sản và nguồn thu nhập phải bảo hiểm ra, người ta cũng muốn bỏ ra một khoản tiền từ thu nhập của mình để trả cho phí bảo hiểm Tuy nhiên không phải ai cũng có đủ khả năng thanh toán phí bảo hiểm đó để đảm bảo sự an toàn cho mình, nhưng không lẽ vì như vậy mà chỉ có ai đủ khả năng tài chính mới có thể mua bảo hiểm Nên điều quan trọng là tìm ra biện pháp để phát triên bảo hiểm ngay cả những nơi nguồn thu nhập thấp đó

- Sự phát triển của thị trường bảo hiểm chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi quy mô và

cơ cấu các ngành của nền kinh tế quốc gia Vì vậy mà nước nào có tỷ trọng nông nghiệp lớn thì thị trường sẽ kém phát triển hơn so với những nước có ngành sản xuất dịch vụ phát triển

- Lạm phát vừa ảnh hưởng trực tiếp đến già trị của cải của các tổ chức bảo hiểm, vừa tác động trực tiếp đến sức mua của bên mua bảo hiểm

- Độ nhạy cảm tài chính: lãi suất tiền gửi, sự ổn định của thị trường chứng khoán… ảnh hưởng đến cung và cầu bảo hiểm, làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng –tiết kiệm-đầu tư, danh mục đầu tư làm thay đổi lượng cầu dịch vụ bảo hiểm (đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ)

1.2.1.3 Môi trường xã hội:

- Dân số: là yếu tố đảm bảo cho cơ sở kỹ thuật của kinh doanh bảo hiểm Số dân, tuổi thọ trung bình, trình độ dân trí tác động làm thay đổi cung-cầu thị trường bảo hiểm

- Văn hóa, tôn giáo: niềm tin, sự tín ngưỡng, tập quán, lối sống sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu đảm bảo bảo hiểm của con người, ảnh hưởng đến cách thức mà các tổ chức bảo hiểm triển khai các sản phẩm trên thị trường

1.2.1.4 Môi trường công nghệ:

Trang 21

21

- Mức độ phát triển của công nghệ làm thay đổi tập quán tiêu dùng, thay đổi hệ thống phân phối bảo hiểm của các nhà bảo hiểm Ví dụ như ATM có nhiều tiện ích trong việc thanh toán nhưng cũng có mặt ảnh hưởng không tốt

- Công nghệ số giúp ích nhiều cho các nhà bảo hiểm trong việc quản lý và điều hành hoạt động thông qua các chương trình quản lý, các thiết bị hỗ trợ và các đường truyền tốc độ cao

1.2.1.5 Môi trường tự nhiên:

Hàng năm con người phải gánh chịu nhiều hậu quả do các thảm họa, trong đó có thảm họa thiên nhiên chiếm tỷ trọng lớn về mặt tổn thất Khoa học dù có tiến bộ cao cũng không triệt tiêu được các rủi ro từ thiên nhiên mang lại

Ví dụ: bão, thiên lai lũ lụt hạn hán, sóng thần, động đất, núi lửa… những bất lợi này làm ảnh hưởng đến thị trường cung-cầu bảo hiểm

1.2.2 Môi trường vi mô

1.2.2.1 Khách hàng:

Khách hàng mua bảo hiểm có thể là những cá nhân mua bảo hiểm cho bản thân hay gia đình của mình Cũng có thể là những pháp nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức mua bảo hiểm cho các nguồn lực thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu, sử dụng của đơn vị mình Ví dụ: chủ các công ty doanh nghiệp mua bảo hiểm cho công nhân… Hợp đồng bảo hiểm được ký kết trên cơ sở tự nguyện của khách hàng nhưng do những đặc tính riêng biệt của hợp đồng bảo hiểm, khách hàng bảo hiểm luôn ở vị thế

“yếu” hơn Do đó hệ thống pháp lý cần phải được quy định rõ ràng nhằm bảo vệ quyền lợi bên mua bảo hiểm Tuy nhiên, nếu chỉ như vậy vẫn chưa đủ, bản thân những người tiêu dùng bảo hiểm không thể đứng riêng lẻ trong mối quan hệ riêng biệt với doanh nghiệp bảo hiểm của từng hợp đồng mà cần đứng chung để bảo vệ quyền lợi không chỉ của riêng mình mà còn bảo vệ quyền lợi chung của cộng đồng xã hội Vì lẽ đó, ở nhiều quốc gia Hiệp hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bảo hiểm đã ra đời, tồn tại và phát triển

1.2.2.2 Đối thủ cạnh tranh và sản phẩm thay thế:

Mục đích hoạt động của các nhà bảo hiểm là cung cấp dịch vụ bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng: nhu cầu bảo vệ, nhu cầu tiết kiệm và nhu cầu đầu tư Các nhà bảo hiểm luôn phải đề phòng sự cạnh tranh của những đối thủ và các sản phẩm thay thế đến hoặc từ nội bộ nền kinh tế hoặc từ bên ngoài

Trang 22

22

Ngành bảo hiểm luôn phải đối diện với những cạnh tranh và những sản phẩm thay thế mới trong nội bộ nền kinh tế bởi các sản phẩm đa dạng của hàng hóa dịch vụ các ngành khác như ngân hàng, bưu điện, các công ty quản lý quỹ… sự ra đời của các

tổ chức “bảo hiểm cộng đồng” (các quỹ bảo hiểm của các hội tương tế, các nghiệp đoàn) Bên cạnh đó thì việc mở cửa thị trường bảo hiểm cũng tạo nên áp lực cạnh tranh từ bên ngoài cho các doanh nghiệp bảo hiểm Mức độ cạnh tranh tùy thuộc vào mức độ mở cửa thị trường của mỗi quốc gia

Các doanh nghiệp bảo hiểm mặc dù là đối thủ cạnh tranh của nhau trong nội bộ ngành, nhưng là “đồng đội” trước áp lực cạnh tranh từ phía bên ngoài Sự hợp tác, hỗ trợ nhau trong hoạt động nhằm nâng cao năng lực chung của thị trường là nét đặc trưng của ngành bảo hiểm Thông qua hoạt động của Hiệp hội nghề nghiệp bảo hiểm, môi trường nghề nghiệp được củng cố, giám sát thông qua cơ chế tự quản bên cạnh sự kiểm soát của nhà nước làm cho hoạt động của ngành trở nên hiệu quả hơn

1.2.2.3 Nhà cung ứng: [2]

Ngành bảo hiểm có "tính xã hội" rất cao không chỉ ở chỗ khách hàng của nó hiện hữu ở mọi lĩnh vực mà còn ở chỗ nó sử dụng những dịch vụ được cung cấp bởi nhiều ngành nghề đang dạng Trình độ phát triển của nhà cung ứng cũng như chất lượng dịch

vụ cung ứng (yếu tố đầu vào) góp phần quyết định chất lượng dịch vụ của ngành bảo hiểm

Thống kê kinh tế xã hội giúp các doanh nghiệp bảo hiểm phát hiện và lựa chọn rủi ro đưa vào phạm vi bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm Nó cũng giúp nhà bảo hiểm phát hiện nhu cầu và khả năng thanh toán của người tiêu dùng nhằm hoạch định các sản phẩm bảo hiểm thích hợp.Hệ thống đào tạo, đào tạo lại đáp ứng nhu cầu nhân lực có trình độ cao cho lĩnh vực kinh doanh đặc biệt này Tương tự ngành bảo hiểm cũng được cung cấp dịch vụ từ nhiều ngành khác như: viễn thông, ngân hàng, công nghệ phần mềm, y tế

Ở một khía cạnh khác, những ngành này cũng chính là những khách lớn của các doanh nghiệp bảo hiểm Sự tương tác để phát triển vì vậy không chỉ một chiều mà là hai chiều Trong một số trường hợp người cung ứng cũng chính là người sở hữu doanh nghiệp bảo hiểm khi công ty được hình thành dưới hình thức một công ty chuyên ngành

1.3 Một số nghiệp vụ bảo hiểm chủ yếu:

1.3.1 Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải:

Trang 23

b) Các loại hình bảo hiểm hàng hải

- Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển: đối tượng bảo hiểm là hàng hoá xuất nhập khẩu được vận chuyển trên biển và các chi phí có liên quan

- Bảo hiểm thân tàu: đối tượng bảo hiểm là vỏ tàu, máy móc thiết bị trên tàu và các chi phí hợp lý (chi phí dọc hành trình, chi phí ứng trước lương cho sỹ quan thuỷ thủ, một phần trách nhiệm mà chủ tàu phải chịu trong trường hợp hai tàu đâm va nhau)

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu: bảo hiểm những thiệt hại phát sinh từ trách nhiệm của chủ tàu trong quá trình sở hữu, kinh doanh, khai thác tàu biển đối với người khác

1.3.1.2 Rủi ro, tổn thất trong bảo hiểm hàng hải

 Phân loại rủi ro

 Căn cứ vào nguyên nhân gây rủi ro

- Thiên tai: là những hiện tượng tự nhiên mà con người không chi phối được: bão

tố, sấm sét, sóng thần, núi lửa…

- Tai nạn bất ngờ trên biển: là những tai nạn xảy ra đối với con tàu ở ngoài biển: cháy nổ, đâm va, mất tích

Trang 24

24

- Rủi ro do các hành động chính trị xã hội hoặc do lỗi của người được bảo hiểm gây nên

- Rủi ro do các hành động riêng lẻ của con người

- Rủi ro do các nguyên nhân khác, thường là các rủi ro phụ (hàng hoá bị rách, vỡ, cong, vênh, mất mùi, lây hại…)

 Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm

 Các rủi ro thông thường được bảo hiểm: là các rủi ro được bảo hiểm một cách bình thường theo những điều kiện bảo hiểm gốc

 Rủi ro chính: là rủi ro thường xuyên xảy ra và được bảo hiểm trong mọi điều kiện bảo hiểm:

- Rủi ro mắc cạn (stranding): là hiện tượng tàu đi vào chỗ nước nông, đáy tàu chạm với đáy biển hoặc nằm trên một chướng ngại vật khác làm cho hành trình của tàu

bị gián đoạn và muốn thoát được phải nhờ đến ngoại lực; rủi ro mắc cạn bao gồm cả rủi ro mắc kẹt

- Rủi ro chìm đắm (sinking): là hiện tượng tàu hoặc phương tiện vận chuyển bị chìm hẳn xuống nước, đáy tàu chạm với đáy biển làm cho hành trình bị huỷ bỏ

- Rủi ro cháy (Fire): là hiện tượng ô xy hoá hàng hoá hay vật thể khác trên tàu có toả nhiệt lượng cao:

+) Cháy bình thường: do nguyên nhân từ bên ngoài hay do những nguyên nhân khách quan như thiên tai, sơ suất của người không phải người được bảo hiểm, buộc phải thiêu huỷ để tránh bị địch bắt hoặc tránh lây lan dịch bệnh…

+) Cháy nội tỳ: do bản thân hàng hoá tự bốc cháy mà người bảo hiểm chứng minh được là do quá trình bốc xếp hàng hoá lên tàu không thích hợp hoặc do bản chất tự nhiên của hàng hoá Công ty bảo hiểm chỉ bồi thường cháy bình thường

- Rủi ro đâm va (Collision): là hiện tượng phương tiện vận chuyển đâm hoặc va với bất kỳ vật nào ở bên ngoài trừ nước (bao gồm cả nước đá)

- Rủi ro vất hoặc ném xuống biển (Jettision): là hành động vất một phần hàng hoá hoặc trang thiết bị của tàu xuống biển nhằm mục đích cứu tàu và hành trình của tàu

- Rủi ro mất tích (missing): là trường hợp tàu không đến được cảng như quy định của hợp đồng và sau một khoảng thời gian nhất định kể từ ngày hành trình bị mất tin tức về tàu và hàng hoá trên tàu

Trang 25

25

+) Pháp: 6 tháng đối với hành trình ngắn và 12 tháng đối với hành trình dài +) Anh và các nước theo luật Anh: thời gian tuyên bố tàu mất tích bằng 3 lần hành trình nhưng không nhỏ hơn 2 tháng và không lớn hơn 6 tháng

+) Việt nam: thời gian tuyên bố tàu mất tích bằng 3 lần hành trình của tàu nhưng không nhỏ hơn 3 tháng

 Các rủi ro phụ: là những rủi ro ít xảy ra, chỉ được bảo hiểm trong các điều

kiện bảo hiểm rộng nhất: rách, vỡ, gỉ, bẹp, cong, vênh, hấp hơi, mất mùi, lây bẩn, lây bệnh, va đập vào hàng hoá khác, hành vi ác ý, trộm cắp, cướp, nước mưa, móc cẩu, giao thiếu hàng hoặc không giao hàng…

Hấp hơi là sự thoát hơi nước từ bản thân hàng hoá, phương tiện chuyên chở hàng hoá lây lan sang khi hàng hoá được xếp trong hầm tàu, container thông gió kém… Lây hại là hàng hoá bị hư hại kém phẩm chất từ hàng hoá khác hoặc phương tiện chuyên chở lây sang

Lây bẩn là hàng hoá bị làm bẩn dẫn đến kém phẩm chất

Rỉ là hàng hoá bằng kim loại bị hoen rỉ do lây hại, do nước mưa, nước biển hoặc

từ rủi ro bảo hiểm khác đem lại

Móc cẩu là sự thiếu hụt hàng hoá do quá trình móc cẩu trong khi xếp dỡ hàng hoá tại cảng gây nên làm mất nguyên đai nguyên kiện hay rách vỡ bao bì

 Các rủi ro phải bảo hiểm riêng (rủi ro loại trừ tương đối): là những rủi ro loại

trừ đối với các điều kiện bảo hiểm tiêu chuẩn, nếu muốn được bảo hiểm thì phải mua riêng:

- Rủi ro chiến tranh (War Risk- WA)

- Rủi ro đình công (SRCC- strike, riots & civil commodition)

 Rủi ro loại trừ (loại trừ tuyệt đối): là những rủi ro không được bảo hiểm đối

với bảo hiểm hàng hải trong mọi trường hợp:

- Buôn lậu (Contraband)

- Lỗi của người được bảo hiểm (Insured’s fault)

- Tàu không đủ khả năng đi biển (Unseaworthiness)

- Tàu đi chệch hướng (Deviation)

- Nội tỳ (Inherent Vice)

- Ẩn tỳ (Latent Defect)

Trang 26

26

- Mất khả năng tài chính của chủ tàu

b) Tổn thất (Loss/ Damage/ Average)

 Khái niệm

Tổn thất là những hư hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do những rủi ro được bảo hiểm gây nên

 Phân loại tổn thất

 Căn cứ vào mức độ và quy mô tổn thất

 Tổn thất bộ phận (partial loss): là những mất mát, hư hại một phần đối tượng bảo hiểm thuộc một hợp đồng bảo hiểm

 Tổn thất toàn bộ (total loss): là sự mất mát hư hại 100% giá trị sử dụng của đối tượng bảo hiểm

Tổn thất toàn bộ thực tế (Actual Total Loss): là tổn thất do đối tượng bảo hiểm

bị phá huỷ hoàn toàn, bị hư hỏng nghiêm trọng hoặc người được bảo hiểm bị tước hẳn quyền sở hữu đối với đối tượng bảo hiểm

Tổn thất toàn bộ ước tính (Constructive Total Loss): là những tổn thất xét thấy không sao tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực tế hoặc những chi phí phải bỏ ra để sửa chữa khôi phục để đưa đối tượng bảo hiểm về đích bằng hoặc vượt quá trị giá của đối tượng bảo hiểm hoặc giá trị bảo hiểm

- Hành động từ bỏ hàng: là hành động của người được bảo hiểm từ bỏ mọi quyền lợi của mình đối với hàng hoá cho người bảo hiểm trong trường hợp tổn thất toàn bộ ước tính để được bồi thường toàn bộ

- Khi từ bỏ đối tượng bảo hiểm phải tuân theo nguyên tắc:

+ Làm tuyên bố từ bỏ gửi cho công ty bảo hiểm

+ Khi từ bỏ đã được chấp nhận thì không thay đổi được nữa

+ Chỉ được từ bỏ khi đối tượng bảo hiểm còn ở dọc đường và chưa bị tổn thất toàn bộ thực tế

 Căn cứ vào trách nhiệm và quyền lợi đối với tổn thất (tính chất của tổn thất)

 Tổn thất riêng (Particular average):là tổn thất của riêng từng quyền lợi bảo hiểm do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây nên

Trang 27

27

 Bảo hiểm bồi thường tổn thất riêng thuộc rủi ro bảo hiểm và chi phí hợp lý phát sinh của vụ tổn thất riêng (chi phí tổn thất riêng)

 Hàng hoá: chi phí tổn thất riêng là những chi phí nhằm bảo tồn hàng hoá khỏi

bị hư hại thêm hay giảm bớt hư hại khi xảy ra tổn thất thuộc rủi ro bảo hiểm trên hành trình

 Bảo hiểm thân tàu: chi phí tổn thất riêng gồm chi phí đã sửa chữa tàu và chi phí chưa sửa chữa tàu

- Chi phí đã sửa chữa

- Chi phí sửa chữa tạm thời

- Chi phí sửa chữa chính thức: chi phí sửa chữa, thay thế các bộ phận tổn thất đã xảy ra nhằm khôi phục lại giá trị ban đầu của con tàu trước khi có tai nạn tổn thất

- Chi phí chưa sửa chữa: là số tiền hợp lý đối với việc giảm giá trị thân tàu, máy móc trang thiết bị do việc hư hỏng chưa sửa chữa gây ra

 Tổn thất chung (General Average):

a) Khái niệm và đặc trưng

Tổn thất chung là những thiệt hại xảy ra do những chi phí và hy sinh đặc biệt được tiến hành một cách cố ý và hợp lý nhằm cứu tàu, hàng hoá và cước phí khỏi bị tai hoạ trong một hành trình chung trên biển

Muốn có tổn thất chung phải có hành động tổn thất chung: có và chỉ có hành động tổn thất chung khi và chỉ khi có một sự hy sinh hoặc chi phí bất thường (extraordinary) được tiến hành một cách cố ý và hợp lý nhằm bảo tồn tài sản khỏi bị tai hoạ trong một hành trình chung trên biển

Nguyên tắc 1: tổn thất chung vì sự an toàn chung

Nguyên tắc 2: những chi phí phát sinh tuy không phải cần thiết để tránh hiểm hoạ cho tàu và hàng nhưng là hậu quả trực tiếp của hành động tổn thất chung và vì lợi ích chung cũng được công nhận là tổn thất chung

1.3.1.3 Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển

Sự cần thiết phải bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển

- Hàng hoá vận chuyển bằng đường biển thường gặp nhiều rủi ro

Trang 28

Thiên tai: bão tố, sóng thần, sét đánh, núi lửa

Tai nạn bất ngờ: cháy, nổ, đâm va, tàu mất tích

b)Phân loại: chia thành các nhóm sau:

Nhóm 1: bao gồm 4 rủi ro chính: Mắc cạn, Chìm đắm, Cháy, Đâm va

Nhóm 2: các rủi ro thông thường khác:

Hành vi phi pháp của thuyền trưởng

Ở Việt Nam, bảo hiểm tài sản có nhiều tên gọi, nhưng phổ biến tồn tại dưới ba loại đơn chính, đó là:

Bảo hiểm cháy nổ bắt buộc của chính phủ

Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt

Bảo hiểm Mọi rủi ro tài sản

Trang 29

29

Bên cạnh 3 đơn bảo hiểm chính này, còn có một số loại đơn bảo hiểm khác được thiết kế phù hợp với nhu cầu thực tế và được "nhập khẩu" từ nước ngoài về, đó là:

Bảo hiểm Mọi rủi ro văn phòng

Bảo hiểm Mọi rủi ro nhà ở

b)Tài sản đƣợc bảo hiểm:

Bất cứ tài sản nào cũng có thể được bảo hiểm, như nhà cửa, bàn ghế, máy móc thiết bị, bao gồm cả máy tính, camera, các đồ trang trí, nội thất Tuy nhiên, có một số tài sản có tính chất đặc thù riêng thông thường hay được cân nhắc để mua những gói bảo hiểm đặc thù, đó là tiền, đồ trang sức quý giá, máy móc có sử dụng sức nén lớn, có quan hệ mất thiết với điện, máy móc sử dụng bộ vi sử lý

Bảo hiểm tài sản bảo hiểm những rủi ro nào:

Như đã giới thiệu ở trên, tùy thuộc vào mỗi đơn bảo hiểm mà phạm vi rủi ro được bảo hiểm là khác nhau, tuy nhiên có một số các rủi ro chính sau:

Đất sụt, đất lở, đá lở hay những di chuyển khác của đất

Tràn nước từ bể chứa hay đường ống dẫn nước

Thiệt hại do hành động ác ý

Gây rối, đình công, bế xưởng

Đó là các rủi ro chính trong đơn bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt, còn đối với bảo hiểm Mọi rủi ro, phạm vi bảo hiểm ngoài những rủi ro trên còn bao gồm cả những rủi ro không lường trước được khác

Bảo hiểm cho các tổn thất vật chất bất ngờ không lường trước được xảy ra đối với các tài sản được bảo hiểm mà người được bảo hiểm đã kê khai Không bảo hiểm cho các tổn thất hậu quả về tài chính do xảy ra sự cố tổn thất

Cách tính phí bảo hiểm = tỷ lệ phí x Số tiền bảo hiểm

Trang 30

30

1.3.3 Bảo hiểm kỹ thuật

1.3.3.1 Đối tƣợng bảo hiểm

o Công việc xây dựng

o Trang thiết bị xây dựng

o Máy móc xây dựng

o Chi phí dọn dẹp hiện trường

o Trách nhiệm đối với bên thứ ba

1.3.3.2 Phạm vi bảo hiểm:

a) Các nguyên nhân chính thuộc phạm vi bảo hiểm

o Cháy, sét nổ, máy bay rơi, nước chữa cháy hay do tiến hành các biện pháp chữa cháy

o Lũ lụt mưa tuyết , tuyết lở, sóng thần

o Các loại gió bão

o Động đất, đất lún, đất đá lở

o Trộm cắp

o Tay nghề kém, thiếu kinh nghiệm, sơ suất, hành động cố ý hay nhầm lẫn của con người

b) Thời hạn bảo hiểm

Thời gian bảo hiểm bắt đầu từ lúc khởi công công trình hay ngay sau khi các hạng mục được kê khai trong bản phụ lục kèm theo đơn bảo hiểm, được dỡ xuống công trường và sẽ kết thúc khi cồng trình được hoàn thành hay khi một phần công trình được hoành thành và được bàn giao hay đưa vào sử dụng Riêng đối với máy móc, trang thiết bị xây dựng thì trách nhiệm của người bảo hiểm bắt đầu từ khi các máy móc, trang thiết bị đó được dỡ xuống tại công trường và kết thúc ngay sau khi được chuyển khỏi công trường Ngoài ra, có thể mở rộng thời hạn bảo hiểm cho cả thời gian bảo hành công trình

1.3.3.3 Xác định giá trị bảo hiểm và phí bảo hiểm a) Giá trị bảo hiểm

o Máy móc thiết bị xây dựng (giá trị thay thế mới bao gồm: giá mua, phí vận chuyển, lắp đặt, thuế hải quan)

Trang 31

31

o Các công trình có sẵn trên khu vực công trường

o Chi phí dọn dẹp hiện trường

b) Phí bảo hiểm

Căn cứ trên các yêú tố

o Đặc tính và sự nguy hiểm tại khu vực công trường (áp suất, kiến taọ địa chất, khả năng xảy ra động đất, lũ lụt)

o Thiết kế đặc trưng và nguyên vật liệu xây dựng

o Phương pháp xây dựng

o Các yếu tố an toàn được tính đến trong tiến trình xây dựng

o Các biện pháp được áp dụng đảm bảo cho an toàn thi công

o Các căn cứ xem xét khi tính phí bảo hiểm: hợp đồng xây dựng, bản vẽ các đặc hiểm kỹ thuật, tiến độ thi công, số lượng giá cả nguyên vật liệu cũng như các thông tin liên quan khác

1.3.4 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe đối với người thứ ba

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một loại hình bảo hiểm mà nguời bảo hiểm cam kết bồi thường phần trách nhiệm dân sự của người bảo hiểm theo cách thức và hạn mức đã được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng với điều kiện người tham gia bảo hiểm phải đóng một khoản phí tương ứng

Mục đích của người tham gia chính là chuyển giao phần trách nhiệm dân sự của mình mà chủ yếu là trách nhiệm bồi thường

Nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự ra đời từ rất sớm và ngày càng phát triển Hiện nay có rất nhiều các nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm như :

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hành khách trên xe

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tầu biển

- Bảo hiểm trách nhiệm đối với hàng hóa vận chuyển trên xe

- Bảo hiểm trách nhiệm đối với sản phẩm và của chủ lao động đối với người lao động

Mặc dầu có rất nhiều nghiệp vụ bảo hiểm dân sự nhưng mỗi nghiệp vụ đều mang những đặc điểm chung của bảo hiểm trách nhiệm dân sự :

Trang 32

32

Thứ nhất: Đối tượng bảo hiểm mang tính trừu tượng Đó chính là trách nhiệm

hay nghĩa vụ bồi thường Hơn nữa trách nhiệm là bao nhiêu lại không xác định được ngay ở lúc tham gia bảo hiểm Mức độ thiệt hại thường xác định dựa trên mức độ lỗi của người gây ra và mức độ thiệt hại của bên thứ ba

Thứ hai: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự thường được thực hiện dưới hình thức bắt

buộc

Thứ ba: Phương thức bảo hiểm có thể là có hoặc không có giới hạn

Bởi vì thiệt hại trách nhiệm dân sự chưa xác định được ngay tại thời điểm tham gia bảo hiểm và thiệt hại này có thể sẽ là rất lớn Bởi vậy để nâng cao trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm thì các công ty bảo hiểm thường đưa ra các hạn mức trách nhiệm, tức là mức bồi thường bị giới hạn bởi số tiền bảo hiểm

Tuy vậy cũng có một số nghiệp vụ bảo hiểm lại không áp dụng hạn mức trách nhiệm Hình thức bảo hiểm này khiến các nhà bảo hiểm không xác định được mức độ thiệt hại của các rủi ro, không xác định được số tiền bảo hiểm vì vậy trách nhiệm bồi thường chính là toàn bộ trách nhiệm phát sinh của người được bảo hiểm Thế nhưng loại bảo hiểm này rất dễ đẩy các công ty vào tình trạng phá sản Do vậy khi nhận bảo hiểm không có giới hạn thì các công ty phải sử dụng các biện pháp nhằm phân tán rủi

ro để bảo vệ mình

1.3.5 Bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm du lịch

1.3.5.1 Bảo hiểm tai nạn: (xem chương 5)

1.3.5.2 Bảo hiểm du lịch: Là sản phẩm bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm bị tai nạn trong thời gian đi du lịch trong nước hoặc nước ngoài

a) Đặc điểm sản phẩm:

- Bảo hiểm người Việt Nam du lịch trong nước:

Sản phẩm bảo hiểm cho các rủi ro do tai nạn, bao gồm tử vong hoặc thương tật vĩnh viễn Mức trách nhiệm căn cứ vào khả năng tài chính và thông thường được áp dụng từ 10 -100 triệu đ, thời hạn bảo hiểm trong chuyến đi du lịch từ khi xuất phát tới khi kết thúc chuyến đi

- Bảo hiểm người Việt Nam du lịch nước ngoài:

Bảo hiểm cho rủi ro tai nạn, bao gồm tử vong hoặc thương tật vĩnh viễn và bảo hiểm cho hành lý bị mất trong quá trình đi du lịch Mức trách nhiệm theo khả năng tài

Trang 33

33

chính và theo yêu cầu quy định của nước tới du lịch, có thể tới 50,000$ Thời hạn BH

từ lúc xuất phát tới khi kết thúc chuyến đi

- Bảo hiểm người nước ngoài du lịch Việt Nam:

Bảo hiểm cho rủi ro tai nạn, bao gồm tử vong hoặc thương tật vĩnh viễn và bảo hiểm cho hành lý bị mất trong quá trình đi du lịch Mức trách nhiệm theo khả năng tài chính và theo yêu cầu quy định của nước tới du lịch, có thể tới 50,000$ Thời hạn bảo hiểm từ lúc nhập cảnh tới lúc xuất cảnh

b) Điều kiện sử dụng:

- Các cá nhân, tập thể có yêu cầu bảo hiểm

Trang 34

34

CÂU HỎI ÔN TẬP

Câu 1.1: Trình bày sự ra đời của bảo hiểm trên thế giới?

Câu 1.2: Tóm tắt sự hình thành và phát triển bảo hiểm Việt Nam ?

Câu 1.3: Hãy phân tích ảnh hưởng của cam kết WTO đến bảo hiểm như thế nào? Câu 1.4: Phân tích những cam kết chủ yếu về mở cửa thị trường bảo hiểm khi gia nhập WTO ?

Câu 1.5: Nêu những điểm khác biêt cơ bản trong bảo hiểm con người và bảo hiểm thiệt hại ?

Câu 1.6: Phân tích các yếu tố hình thành nên môi trường vi mô và vĩ mô của bảo hiểm thương mại?

Câu 1.7: Phân tich những đặc điểm chung của các loại hình bảo hiểm trách ?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] PGS.TS.Nguyễn Ngọc Định, TS.Hồ Thủy Tiên: “Tài chính doanh nghiệp bảo hiểm”, NXB Tài chính

[2] Nguyễn Tiến Hùng, Ts Hồ Thủy Tiên, Ts Nguyễn Tấn Hoàng, Võ Đình Trí, Nguyễn Thanh Nguyên Vũ: “Nguyên lý và thực hành bảo hiểm”, Đại học Kinh Tế TP HCM, Nhà xuất bản tài chính

[3] TS Hồ Thủy Tiên :Nguyên lý và thực hành bảo hiểm”, Trường Đại Học Tài chính

- Marketing, NXB Tài Chính, 2011

[4] Bảo hiểm Bảo Việt Việt Nam: http://www.baoviet.com.vn

[5] Bảo hiểm.Info http://baohiem.info

[6] Cổng thông tin điện tử Bộ tài chính Việt Nam: http://mof.gov.vn

[7] Luật kinh doanh bảo hiểm, luật số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000

[8] Luật sửa đổi số: 61/2010/QH12 năm 2010

[9] Thông tư số 156/2007/TT-BTC, Bộ tài chính Việt Nam

[10] Trung tâm dữ liệu thông tin ngành bảo hiểmwww.baohiem.pro.vn

Trang 35

35

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO VÀ PHƯƠNG THỨC

QUẢN TRỊ RỦI RO 2.1 Một số thuật ngữ cơ bản về bảo hiểm

Sơ đồ 2.1: Mối quan hệ giữa nguy cơ, rủi ro và tổn thất

2.1.1 Tổn thất:

2.1.1.1 Khái niệm:

Tổn thất là sự thiệt hại một đối tượng nào đó phát sinh từ một biến cố bất ngờ

ngoài ý muốn của chủ sở hữu (hoặc người chiếm hữu sử dụng)

 Ví dụ: cháy nhà do bị chập mạch điện (vụ cháy ở chợ Biên Hòa), tai nạn thiệt hại tính mạng con người do xe lửa bị trật đường rây (tai nạn ở cầu ghềng vào tết năm 2011)

 Lưu ý trong định nghĩa này cần phân biệt rõ yếu tố “không cố ý” và “cố ý” Nếu một bạn nam tặng quà cho bạn gái mình thì ở đây bạn nam đã tự nguyện tặng, chứ không phải là sự mất mát hay thiệt hại về việc mất quyền sỡ hữu món quà đó nữa, hoàn toàn do bạn nam này đã chủ động đem tặng nên không xem là tổn thất

Câu hỏi hiểu bài 2.1: các trường hợp nào sau đây không thuộc tổn thất? Vì sao?

- Cháy căn nhà do sét đánh?

- Tặng một đồ vật cho người bạn?

- Điều khiển xe gây tai nạn cho người khác?

- Hành động tự tử?

- Phá ngôi nhà cũ để xây dựng nhà mới?

- Bị bệnh lao phổi do uống rượu?

RỦI RO

NGUY CƠ

TỔN THẤT

Trang 36

36

2.1.1.2 Phân loại:

a) Căn cứ vào đối tƣợng bị thiệt hại:

- Tổn thất tài sản: là sự giảm sút hoặc mất hẳn giá trị của tài sản do không cố ý

mà phát sinh tử một sự cố bất ngờ

- Tổn thất con người: nẩy sinh từ sự thiệt hại tính mạng thân thể con người dẫn đến thiệt hại một khoản giá trị (các khoản chi phí bằng tiền) nhằm khắc phục, điều trị hoặc dẫn đến việc mất hoặc giảm đi một khoản thu nhập nhất định

- Tổn thất do phát sinh trách nhiệm dân sự: đó là việc phát sinh trách nhiệm dân

sự theo ràng buột của luật dân sự dẫn đến phải bồi thường bằng tiền những thiệt hại về tài sản, tính mạng, thân thể có khi cả thiệt hại về mặt tinh thần gây ra cho người thứ 3 khác do lỗi của mình

b) Căn cứ vào hình thái biểu hiện:

- Tổn thất động: là trường hợp đối tượng vẫn giữ nguyên giá trị sử dụng (không

có sự hủy hoại vật chất) nhưng giá trị bị giảm sút Tổn thất nảy sinh do tác động của yếu tố thị trường

- Tổn thất tỉnh: là tôn thất mà vật thể bị hư hỏng, mất mát, hủy hoại về mặt vật chất Tổn thất này phát sinh vừa làm giảm (hoặc mất) giá trị sử dụng vừa làm giảm (hoặc mất) giá trị của đối tượng (trừ trường hợp tổn thất con người)

Câu hỏi hiểu bài 2.2: Cho biết các loại tổn thất sau thuộc nhóm nào căn cứ vào cách phân loại trên?

- Chi phí y tế điều trị bệnh tật

- Tai nạn lao động làm giảm 30% sức khỏe

- Bị phạt hợp đồng do gian dối trong giao dịch

- Va quệt trên đường làm hỏng xe của người khác

- Phá ngôi nhà cũ để xây dựng nhà mới?

- Bị bệnh lao phổi do uống rượu?

Câu hỏi hiểu bài 2.3: các loại tổn thất?

- Xe bị hỏng lốp?

- Xe bị lạc mốt?

Trang 37

37

c) Căn cứ vào khả năng lượng hóa:

- Tổn thất có thể tính toán được (tổn thất tài chính): là tổn thất mà có thể tính toán, xác định được dưới hình thái tiền tệ Vì vậy cón gọi là tổn thất tài chính Cần phân biệt : Tổn thất có thể lường trước được và không lường trước được

- Tổn thất không xác định được (tổn thất phi tài chính): là tổn thất mà khi xảy ra người ta không thể lượng hóa được bằng tiền Ví du: tổn thất về mặt tinh thần…

2.1.1.3 Ý nghĩa:

- Đối với đời sống kinh tế-xã hội: Tổn thất phát sinh sẽ làm gián đoạn quá trình sinh hoạt của cá nhân, làm gián đoạn quá trình sản xuất, quá trình kinh doanh của chủ thể (tạm thời hoặc vĩnh viễn) Làm giảm của cải vật chất của xã hội, giảm sút hoặc mất khả năng lao động của con người, ảnh hưởng xấu đến toàn bộ nền kinh tế xã hội Vì vậy người ta luôn tìm cách chống lại, tránh né hoặc giảm thiểu trong phạm vi và mức

độ có thể

- Đối với lĩnh vực bảo hiểm: tổn thất là nhân tố trực tiếp làm cho tác dụng của bảo hiểm được thể hiện và phát huy một cách cụ thể

2.1.2 Rủi ro

2.1.2.1 Khái niệm về rủi ro

 Theo trường phái truyền thống: rủi ro được xem là sự không may mắn, sự

tổn thất mất mát, nguy hiểm Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất

Câu hỏi hiểu bài 2.4:Trong các tình huống nào sau đây đẫn đến tổn thất?

- Bị gãy tay trong một vụ tai nạn?

- Bị cháy nhà

- Bị từ chối thanh toán do chuyển giao hàng kém phẩm chất?

- Bị tung tin đồn thất thiệt trong kinh doanh

- Đi thi bị kẹt xe

- Sông Thị vải bị ô nhiễm do Vedan

Trang 38

38

mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người

 Theo trường phái hiện đại: rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa

mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế

những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai

 Có nhiều cách để định nghĩa về rủi ro, tùy theo từng gốc độ khác nhau mà ta

có khái niệm rủi ro khác nhau Trong kinh doanh, rủi ro chính là sự dao động của lợi nhuận, lợi nhuận dao động càng lớn rủi ro càng cao Hay ở khía cạnh khác thì rủi ro là

sự không chắc chắn về tổn thất Trong ngành bảo hiểm thì:

- Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất, không chắc chắn về tổn thất

- Rủi ro là l sự bất trắc có thể đo lường được

- Rủi ro là l sự không thể đóan trước một khuynh hướng dẫn đến một kết quả thực khác với kết quả dự đoán

- Rủi ro còn là khả năng xảy ra một số sự cố không mong đợi

 Các định nghĩa trên dù ít nhiều khác nhau song đều đề cập đến cùng hai vấn đề:

- Sự không chắc chắn, yếu tố bất trắc

- Một khả năng xấu: một biến cố không mong đợi

Như vậy, có thể kết luận: Rủi ro là khả năng xảy ra biến cố bất thường có hậu

quả thiệt hại hoặc mang lại kết quả không mong đợi

2.1.2.2 Nguồn gốc và nguyên nhân rủi ro

a) Nguồn gốc rủi ro

- Nguồn gốc tự nhiên: do con người chưa nhận thức hết các quy luật tự nhiên hoặc không đủ khả năng chế ngự các tác động của tự nhiên Ví dụ: rủi ro động đất, rủi

ro núi lửa

- Nguồn gốc kinh tế - xã hội: do tiến bộ khoa học kỹ thuật (phát minh ra các loại máy móc, thiết bị điện tử vi tính hiện đai) một mặt thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, mặt khác sẽ làm nảy sinh các rủi ro đe dọa đời sống con người khi có sự mất khả năng kiểm soát, chế ngự nhất thời Ví dụ: cháy nổ, điện giật

Trang 39

39

- Bên cạnh đó rủi ro còn xuất phát từ mâu thuẩn của các mối quan hệ xã hội, do

xã hội ngày càng phát triển các mối quan hệ xã hội ngày càng nhiều và phức tạp hơn,

có lúc thuận lợi cũng có lúc xảy ra tranh chấp mâu thuẫn dẫn đến phá vỡ các mối quan

hệ xã hội ban đầu từ đó nảy sinh chiến tranh, trộm cắp, đình công, làm tăng nguy cơ thất nghiệp, tai nạn lao động, tai nạn giao thông

b) Nguyên nhân của rủi ro

 Nguyên nhân khánh quan: độc lập với hoạt động con người, có thể là do:

Trường hợp bất khả kháng gắn với tự nhiên, gắn với đời sống xã hội, rủi ro do thiên nhiên gây ra như lũ lụt, hạn hán, động đất, dịch bệnh

- Rủi ro do môi trường kinh tế, chính trị, xã hội gây nên Rủi ro loại này có thế gây nên thiệt hại ở phạm vi rất rộng và thường ảnh hưởng tới mọi thành viên trong xã hội chẳng hạn như: ốm đau, dịch bệnh do môi trường ô nhiễm, nền kinh tế khủng hoảng dẫn đến người lao động mất việc, khủng bố, chiến tranh làm nhà cửa đổ nát, người dân bị chết chóc

- Các trường hợp ngẫu nhiên: gắn liền với hoạt động của con người nhưng nguyên nhân không rõ ràng

 Nguyên nhân chủ quan: xảy ra dưới tác động của con người, có thể là do:

- Bản thân nạn nhân tự gây ra tổn thất cho mình, nạn nhân không thể đòi ai bồi thường

- Do người thứ 3 khác gây ra, nạn nhân có thể yêu cầu người thứ 3 đó bồi thường trong khả năng tài chính của người đó

Bất kể nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thường đem lại cho con người những khó khăn trong cuộc sống như mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài sản, làm ngưng trệ quá trình sản xuất kinh doanh của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân….làm ảnh hưởng đời sống kinh tế xã hội nói chung

Câu hỏi hiểu bài 2.5: nguồn gốc các loại rủi ro?

Trang 40

40

2.1.2.3 Phân loại rủi ro

Tùy theo mục đích của việc đánh giá và quản lý rủi ro, rủi ro được phân loại cụ

thể theo nhiều tiêu thức khác nhau Liên quan đến kỹ thuật bảo hiểm, rủi ro thường được xếp thành những cặp sau:

a) Rủi ro tài chính và phi tài chính:

Xét về tính chất hậu quả của biến cố có thể chia rủi ro thành hai loại: Loại thứ nhất có thể tính toán và xác định được hậu quả bằng tiền - rủi ro tài chính Loại thứ hai không thể tính toán và xác định hậu quả bằng tiền - rủi ro phi tài chính Hỏa hoạn xảy

ra đối với các tòa nhà hoàn toàn có thể xác định giá trị thiệt hại của tài sản bị cháy còn những cung bậc trạng thái tâm lý: khó chịu , chán chường, buồn bã mà những sự biến trong đời sống con người gây ra lại không phải là thước đo tài chính của việc đánh giá hậu quả

b) Rủi ro tĩnh và rủi ro động:

 Rủi ro tĩnh: là những tổn thất xảy ra không gắn với sự thay đổi trong nền kinh

tế, có khả năng dẫn đến tổn thất hoặc không tổn thất chứ không có khả năng kiếm lời

Do nó luôn luôn và chỉ gắn liền với một khả năng xấu, khả năng tổn thất nên người ta gọi là rủi ro thuần tuý (hay rủi ro thuần túy) Rủi ro tĩnh phát sinh có thể làm tổn thất xảy ra đối với cả ba đối tượng: tài sản, con người, trách nhiệm Rủi ro tĩnh có thể được bảo hiểm

 Rủi ro động: là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi trong nền kinh tế, có

thể dẫn đến tổn thất hay lợi nhuận Ví dụ như những thay đổi về mức giá cả, thị hiếu khách hàng, công nghệ kỹ thuật có thể dẫn đến tổn thất về tài chính nhưng cũng có thể mang đến lợi nhuận cho các chủ thể.Cũng vì khả năng kiếm lời đó mà người ta còn gọi những rủi ro này là rủi ro suy tính hay rủi ro đầu cơ

 Ba điểm khác nhau cơ bản giữa rủi ro động và rủi ro tĩnh là:

Câu hỏi hiểu bài 2.6: Rủi ro nào thường gắn liền với đặc điểm?

- Dẫn đến huỷ hoại vật chất, Dẫn đến thay đổi giá cả

- Tác động đến một vài phần tử, Tác động đến tổng thể

- Tính phổ biến

Ngày đăng: 29/11/2020, 09:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w