Nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động trí tuệ giúp sinh viên vận dụng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học trong học tập và trong thực tiễn, trong đó sinh viên bư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
GIÁO TRÌNH PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
BÙI VĂN THỤY LÂM THỊ MỸ DUNG ĐOÀN THỊ HỒNG NGA
Tháng 6/2015
Trang 3MỤC LỤC
Lời nói đầu
Chương 1: Tổng quan về phương pháp nghiên cứu khoa học 1
1.1 Khoa học 1
1.1.1 Khái niệm khoa học 1
1.1.2 Ý nghĩa của khoa học 2
1.1.3 Phân loại khoa học 2
1.1.4 Thành tựu khoa học 3
1.1.4.1 Phát minh 3
1.1.4.2 Phát hiện 3
1.1.4.3 Sáng chế 3
1.2 Nghiên cứu khoa học 3
1.2.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học 3
1.2.2 Đặc điểm nghiên cứu khoa học 4
1.2.3 Vai trò của nghiên cứu khoa học 5
1.2.4 Phân loại nghiên cứu khoa học 5
1.2.4.1 Phân loại theo chức năng nghiên cứu 5
1.2.4.2 Phân loại theo giai đoạn nghiên cứu 6
1.2.4.3 Phân loại theo dạng thức 6
1.2.5 Yêu cầu nghiên cứu khoa học 7
1.3 Phương pháp nghiên cứu khoa học 7
1.3.1 Khái niệm phương pháp nghiên cứu khoa học 7
1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu khoa học 7
1.3.2.1 Phương pháp diễn giải và phương pháp quy nạp 7
1.3.2.2 Phương pháp định tính và phương pháp định lượng 9
1.3.2.3 Phương pháp phối hợp 12
1.4 Quy trình nghiên cứu khoa học 14
Câu hỏi ôn tập và thảo luận 18
Tài liệu tham khảo chương 1 18
Chương 2: Xác định đề tài nghiên cứu khoa học 19
2.1 Các khái niệm liên quan 19
2.1.1 Khái niệm đề tài 19
2.1.2 Lý do chọn đề tài 20
2.1.3 Lịch sử nghiên cứu 20
2.1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu 21
Trang 42.1.5 Khách thể nghiên cứu 22
2.1.6 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.7 Đối tượng khảo sát 23
2.1.8 Phạm vi nghiên cứu 24
2.1.9 Mục đích nghiên cứu 24
2.1.10 Mục tiêu nghiên cứu 24
2.1.11 Phương pháp nghiên cứu 25
2.2 Lựa chọn và đặt tên đề tài nghiên cứu 27
2.2.1 Làm đề tài bắt đầu tư đâu 27
2.2.2 Đặc điểm của đề tài nghiên cứu tốt 28
2.3 Đặt giả thuyết khoa học để định hướng nghiên cứu 28
2.4 Cơ sở lý thuyết trong nghiên cứu 30
2.5 Xây dựng đề cương nghiên cứu 30
Câu hỏi ôn tập và thảo luận 32
Tài liệu tham khảo chương 2 32
Chương 3: Lập kế hoạch nghiên cứu 33
3.1 Lựa chọn mô hình nghiên cứu 33
3.1.1 Mô hình nghiên cứu ứng dụng 33
3.1.1.1 Mô hình nghiên cứu lý thuyết 33
3.1.1.2 Mô hình nghiên cứu ứng dụng 33
3.1.2 Mô hình nghiên cứu mục tiêu 34
3.1.2.1 Mô hình nghiên cứu thăm dò 34
3.1.2.2 Mô hình nghiên cứu mô tả 34
3.1.2.3 Mô hình nghiên cứu tương quan 34
3.1.2.4 Mô hình nghiên cứu giải thích 34
3.1.3 Mô hình nghiên cứu thông tin 35
3.1.3.1 Mô hình nghiên cứu thông tin định tính 35
3.1.3.2 Mô hình nghiên cứu thông tin định lượng 35
3.2 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu 36
3.2.1 Phương pháp thống kê 36
3.2.2 Phương pháp tư duy trừu tượng 36
3.2.3 Phương pháp thực nghiệm 36
3.3 Xác định tối tượng và đặc tính nghiên cứu 37
3.4 Lập kế hoạch nghiên cứu 37
Câu hỏi ôn tập và thảo luận 44
Tài liệu tham khảo chương 3 44
Trang 5Chương 4: Thu thập dữ liệu 45
4.1 Giới thiệu chung về dữ liệu 45
4.1.1 Khái niệm chung 45
4.1.2 Phân loại dữ liệu 46
4.2 Thu thập dữ liệu thông qua nghiên cứu tài liệu 48
4.2.1 Nội dung cần thu thập khi nghiên cứu tài liệu 48
4.2.2 Nguồn tài liệu nghiên cứu 48
4.2.3 Phân tích tài liệu 49
4.2.3.1 Phân tích nguồn 49
4.2.3.2 Phân tích tác giả tài liệu 49
4.2.3.3 Phân tích nội dung vào tổng hợp tài liệu 49
4.2.3.4 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu tài liệu 50
4.3 Thu thập dữ liệu thông qua phương pháp phi thực nghiệm 50
4.3.1 Khái niệm 50
4.3.2 Các phương pháp phi thực nghiệm 51
4.3.2.1 Phương pháp quan sát khách quan 51
4.3.2.2 Phương pháp chuyên gia 51
4.3.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi 53
4.3.2.4 Phương pháp hội nghị 60
4.4 Thu thập dữ liệu thông qua phương pháp thực nghiệm 60
4.4.1 Khái niệm 60
4.4.2 Phân loại thực nghiệm 61
4.4.2.1 Phân loại theo mục đích quan sát 61
4.4.2.2 Phân loại theo diễn trình thực nghiệm 61
4.4.3 Nguyên tắc thực nghiệm 62
4.4.4 Các phương pháp phi thực nghiệm 62
4.4.4.1 Phương pháp thực nghiệm thử và sai 62
4.4.4.2 Phương pháp thực nghiệm Heuristic 63
4.4.4.3 Phương pháp thực nghiệm trên mô hình 63
4.4 Thu thập dữ liệu thông qua phương pháp trắc nghiệm 63
Câu hỏi ôn tập và thảo luận 65
Tài liệu tham khảo chương 4 65
Chương 5: Phương pháp chọn mẫu và xác định thang đo 66
5.1 Phương pháp chọn mẫu 66
5.1.1 Khái niệm 66
Trang 65.1.2 Các phương pháp chọn mẫu 67
5.1.2.1 Chọn mẫu xác suất 67
5.1.2.2 Chọn mẫu phi xác suất 71
5.1.3 Xác định kích thước mẫu 72
5.1.3.1 Xác định kích thước mẫu trong ước lượng khoảng tin cậy của trung bình tổng thể 73
5.1.3.2 Xác định kích thước mẫu trong ước lượng khoảng tin cậy của tỷ lệ tổng thể 74
5.1.3.3 Xác định kích thước mẫu trong ước lượng giá trị tham số trên tổng thể chung 74
5.1.3.4 Phương pháp xác định kích thước mẫu khác 74
5.2 Xác định thang đo 75
5.2.1 Khái niệm 75
5.2.2 Các loại thang đo 75
5.2.2.1 Thang đo danh nghĩa 75
5.2.2.2 Thang đo thứ bậc 77
5.2.2.3 Thang đo khoảng 77
5.2.2.4 Thang đo tỷ lệ 78
5.2.3 Kỹ thuật xây dựng thang đo trong nghiên cứu 78
5.2.3.1 Kỹ thuật tạo thang đo so sánh 78
5.2.3.2 Kỹ thuật tạo thang đo không so sánh 79
5.2.4 Các tiêu chuẩn đánh giá thang đo 82
5.2.4.1 Sai lệch trong đo lường 82
5.2.4.2 Độ tin cậy 82
5.2.4.3 Giá trị của thang đo 83
5.2.4.4 Tính đa dạng của thang đo 83
5.2.4.5 Tính dễ trả lời 83
Câu hỏi ôn tập và thảo luận 84
Tài liệu tham khảo chương 5 84
Chương 6: Xử lý dữ liệu 85
6.1 Khái niệm 85
6.2 Xử lý dữ liệu định tính 85
6.2.1 Mô tả dữ liệu, hiện tượng 86
6.2.2 Phân loại và sắp xếp dữ liệu, hiện tượng 86
6.2.3 Gắn kết dữ liệu 86
6.3 Xử lý dữ liệu định lượng 86
Trang 76.3.1 Mã hóa số liệu, dữ liệu 87
6.3.2 Xử lý thống kê 87
6.3.2.1 Giá trị trung bình cộng 88
6.3.2.2 Số trung vị 89
6.3.2.3 Số mốt 91
6.3.2.4 Khoảng biến thiên 93
6.3.2.5 Độ lệch tuyệt đối bình quân 93
6.3.2.6 Độ phân tán 93
6.3.3 Mô hình kinh tế lượng 95
6.3.3.1 Kiểm định thang đo 95
6.3.3.2 Phân tích nhân tố khám phá 96
6.3.3.3 Kiểm định mô hình lý thuyết 97
6.3.4 Trình bày biểu đồ 97
6.3.4.1 Biểu đồ hình cột 97
6.3.4.2 Biểu đồ hình tròn 100
6.3.4.3 Biểu đồ miền 102
6.3.4.4 Biểu đồ đường 103
6.4 Sai số quan sát 105
6.4.1 Sai số ngẫu nhiên 105
6.4.2 Sai số kỹ thuật 106
6.4.3 Sai số hệ thống 106
6.5 Độ chính xác của dữ liệu 106
Câu hỏi ôn tập và thảo luận 107
Tài liệu tham khảo chương 6 107
Chương 7: Viết và trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu 108
7.1 Tổng quan các hình thức nghiên cứu khoa học 108
7.1.1 Tóm tắt khoa học 109
7.1.2 Tổng luận khoa học 109
7.1.3 Bài báo khoa học 109
7.1.4 Luận văn 110
7.2 Các bước triển khai nghiên cứu khoa học 111
7.3 Quy cách trình bày luận văn 116
7.4 Cấu trúc của một luận văn 118
7.5 Cấu trúc của bài báo khoa học 121
7.6 Chi tiết trình bày 123
7.6.1 Chi tiết trình bày phần dẫn nhập 123
Trang 87.6.1.1 Trang bìa .123
7.6.1.2 Trang tựa đề .123
7.6.1.3 Trang lời cảm ơn/lời nói đầu .124
7.6.1.4 Trang nhận xét .124
7.6.1.5 Danh mục bảng biểu .124
7.6.1.6 Bảng viết tắt .124
7.6.1.7 Mục lục .125
7.6.2 Chi tiết trình bày phần nội dung chính .129
7.6.3 Chi tiết trình bày phần tài liệu tham khảo .130
7.6.4 Trang phụ lục .131
7.6.5 Trích dẫn khoa học .132
7.7 Công bố và bảo vệ báo cáo nghiên cứu khoa học .133
Câu hỏi ôn tập và thảo luận .136
Tài liệu tham khảo chương 7 136
Chương 8: Đánh giá công trình nghiên cứu khoa học .137
8.1 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu khoa học .137
8.1.1 Nội dung của vấn đề đạo đức trong nghiên cứu khoa học .137
8.1.2 Mục đích của việc tuân thủ đạo đức trong nghiên cứu khoa học .137
8.1.3 Các yêu cầu đạo đức trong nghiên cứu khoa học .138
8.2 Các tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu .138
8.3 Chủ thể đánh giá kết quả nghiên cứu .139
8.4 Phương pháp đánh giá .139
8.5 Đảm báo pháp lý cho công trình khoa học .139
8.5.1 Bản quyền .140
8.5.2 Quyền sở hữu công nghiệp .140
8.6 Trình bày báo cáo công trình nghiên cứu khoa học .141
Bài đọc thêm 1 144
Bài đọc thêm 2 146
Bài đọc thêm 3 154
Câu hỏi ôn tập và thảo luận 161
Tài liệu tham khảo chương 8 162 Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động quan trọng hàng đầu trong những ngành khoa học Kết quả từ nghiên cứu khoa học là một quá trình áp dụng các ý tưởng, nguyên lý và phương pháp khoa học để phát hiện ra các kiến thức mới về bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, sáng tạo phương pháp và phương tiện
kỹ thuật mới có giá trị cao
Nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động trí tuệ giúp sinh viên vận dụng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học trong học tập và trong thực tiễn, trong đó sinh viên bước đầu vận dụng một cách tổng hợp những tri thức đã học để tiến hành hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu, bước đầu góp phần giải quyết những vấn đề khoa học do thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp đặt ra để từ đó có thể đào sâu, mở rộng và hoàn thiện vốn hiểu biết của mình
Trong khuôn khổ chương trình đào tạo ngành Tài chính – Ngân hàng nói riêng và sinh viên chuyên ngành kinh tế nói chung tại trường Đại học Lạc Hồng Môn học này được thiết kế với thời lượng 2 tín chỉ (30 tiết), chủ yếu chúng tôi muốn cung cấp cho sinh viên nhiều nội dung mới đa dạng, cung cấp những thông tin, những kiến thức cơ bản, các bước trong nghiên cứu khoa học, những kỹ thuật cần thiết để sinh viên tiếp cận phương pháp và cách thức trình bày các kết quả trong nghiên cứu khoa học Do
đó, mục tiêu chính của chúng tôi khi viết cuốn giáo trình này là phục vụ tài liệu giảng dạy môn học “Phương pháp nghiên cứu khoa học” Giáo trình này là một tài liệu cần thiết cho các bạn sinh viên chuyên ngành khối ngành kinh tế khác có quan tâm đến nghiên cứu khoa học
Ban biên soạn giáo trình bao gồm:
1) ThS Đoàn Thị Hồng Nga Chương 2: Xác định đề tài nghiên cứu khoa học
Chương 3: Lập kế hoạch nghiên cứu
2) ThS Bùi Văn Thụy
Chương 4: Thu thập dữ liệu
Chương 5: Phương pháp chọ mẫu và xác định thang
Trang 10Nhóm biên soạn đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn theo tinh thần cô đọng, dễ hiểu và cập nhật kiến thức Tuy nhiên, khó tránh khỏi những sai sót, vì vậy rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của độc giả để kịp thời bổ sung chỉnh lý
để giáo trình được hoàn thiện hơn
Thư từ góp ý xin gửi về địa chỉ: Văn phòng Khoa Tài chính – Kế toán, B201, Cơ
sở 1, trường Đại học Lạc Hồng; Điện thoại: 0613.953.923
Chúng tôi trân trọng cảm ơn và xin tiếp nhận ý kiến đóng góp quý báu của độc giả
Nhóm biên soạn
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Khoa học là gì? Nghiên cứu khoa học là gì? Phương pháp nghiên cứu khoa học là gi? Đây là những câu hỏi bất kỳ nhà nghiên cứu nào cũng quan tâm Để nắm rõ các nội dung trên, trong chương này đề cập các nội dung cơ bản bao gồm:
- Các vấn đề liên quan đến khoa học và phương pháp nghiên cứu khoa học
- Quy trình nghiên cứu khoa học
Qua đó, tạo ra một nền tảng về các nhận thức, nhận định ban đầu liên quan đến các hoạt động nghiên cứu khoa học và tiếp tục được trình bày chi tiết trong các chương tiếp theo
1.1 Khoa học
1.1.1 Khái niệm khoa học
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu về khái niệm khoa học Theo UNESCO (Unitedd Nations Educational Scientific and Cultural Oganization) – Tổ chức giáo dục và văn hóa của Liên hiệp quốc thì: Khoa học là hệ thống tri thức về các quy luật của vật chất
và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy
Theo GS Nguyễn Văn Lê (1995), “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học”, thì:
Khoa học được hiểu là một hệ thống tri thức về tự nhiên xã hội và tư duy về những quy luật pát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy Nó giải thích một cách đúng đắn nguồn gốc của những sự kiện ấy, phát hiện ra những mối liên hệ của các hiện tượng, vũ trang cho con người những tri thức về quy luật khách quan của thế giới hiện thực để con người áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống
Có thể nói, Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới,… về tự nhiên và xã hội Những kiến thức hay học thuyết mới này, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp
Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội Hệ thống tri thức gồm 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học
- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các
Trang 12thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học
- Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,…
1.1.2 Ý nghĩa của khoa học
Người ta nói rằng khoa học là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội, làm cho con người ngày càng văn minh hơn, nhân ái hơn, sống tốt hơn và vững tin hơn vào chính bản thân mình trong cuộc sống Cụ thể những nội dung đó là:
- Con người hiểu được tự nhiên, nắm được các quy luật biến đổi, chuyển hóa của vật chất, chinh phụ tự nhiên theo quy luật của nó
- Con người nắm được các quy luật vận động của chính xã hội mình đang sống và vận dụng chúng để thúc đẩy xã hội ấy phát triển nhanh chóng hơn
- Con người ngày càng có ý thức, càng thận trọng hơn trong việc nhận thức khoa học: không vội vã, không ngộ nhận, không chủ quan, tiến vững chắc đến chân lý của
1.1.3 Phân loại khoa học
Có rất nhiều quan điểm về phân loại khoa học, trong giáo trình này đề cập tới 2 căn
cứ phân loại khoa học đó là:
- Phân loại theo đối tượng nghiên cứu:
+ Khoa học tự nhiên như: toán học, vật lý học, hóa học, sinh vật học… liên quan đến thế giới vật thể và vật chất như: đất đá, cây cối, hóa chất, máu, điện… Khoa tự nhiên là nền tảng của công nghệ mới
+ Khoa học xã hội như: nhân chủng học, chính trị học, tâm lý học, xã hội học, kinh
tế học,… liên quan đến nghiên cứu con người, tín ngưỡng, hành vi, sự tác động của họ
và các định chế
- Phân loại theo tính chất công trình nghiên cứu:
+ Khoa học lý thuyết: dựa trên các nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu của lý thuyết
Trang 13+ Khoa học ứng dụng: dựa trên nghiên cứu thực nghiệm
1.1.4 Thành tựu khoa học
1.1.4.1 Phát minh
Phát minh là sự phát hiện ra những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức của con người
Ví dụ: Newton phát minh định luật Vạn vật hấp dẫn, Archimede phát minh định luật Sức nâng của nước…Phát minh là khám phá về quy luật khách quan, chưa có ý nghĩ
áp dụng trực tiếp vào sản xuất và đời sống Vì vậy phát minh không có giá trị thương mại Không quốc gia nào cấp sáng chế độc quyền cho các phát minh Phát minh không được bảo hộ pháp lý
1.1.4.2 Phát hiện
Phát hiện là sự nhận ra những vật thể, những quy luật xã hội đang tồn tại một cách khách quan
Ví dụ: Kock phát hiện vi trùng lao, Marie Curie phát hiện những nguyên tố phóng
xạ radium, Marx phát hiện quy luật giá trị thặng dư, Adam Smith phát hiện quy luật
“Bàn tay vô hình của kinh tế thị trường”…Các phát hiện cũng chỉ mới là sự khám phá
ra các vật thể hoặc các quy luật xã hội, làm thay đổi nhận thức, chưa thể áp dụng trực tiếp, chỉ có thể áp dụng thông qua các giải pháp Vì vậy phát hiện không có giá trị thương mại, không cấp sáng chế độc quyền và không được bảo hộ pháp lý
1.2 Nghiên cứu khoa học
1.2.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (2002), nghiên cứu và phát triển (R&D) bao gồm các hoạt động sáng tạo được thực hiện trên nền tảng mang tính hệ thống nhằm gia tăng nguồn kiến thức, bao gồm kiến thức về con người, văn hóa và xã hội, và việc vận dụng nguồn kiến thức này nhằm tới mục tiêu ứng dụng
Trang 14Kumar (2005) cho rằng: “Nghiên cứu là một trong những cách để tìm ra các câu trả lời cho những câu hỏi” Cũng theo Kumar, khi nói đến khái niệm nghiên cưu, ta hàm ý
là quá trình được thực hiện trong khuôn khổ của một bộ các triết lý, sử dụng các quy trình, phương pháp và kỹ thuật đã được kiểm định về tính hiệu lực và tin cậy, và được thiết kế để tránh tình trạng thiên lệch và chủ quan
Qua các định nghĩa trên, ta có thể hiểu khái niệm “Nghiên cứu khoa học” theo các khí cạnh sau:
- Mục tiêu: nhằm vào việc tìm kiếm kiến thức, sự hiểu biết về một sự vật, hiện tượng nào đó, để trả lời cho các câu hỏi chưa được giải đáp, để khám phá, giải thích về bản chất của sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu
- Hành động: là một quá trình thu thập thông tin, dữ liệu phù hợp và phân tích, đánh giá chúng
- Kết quả phải đạt: là có được kiến thức, nhận thức và năng lực hiểu biết về sự vật, hiện tượng nghiên cứu và đề xuất các hành động phù hợp
1.2.2 Đặc điểm nghiên cứu khoa học
Theo Kumar (2005), để nghiên cứu đạt được chất lượng tốt, quá trình nghiên cứu phải có được đặc điểm như: được kiểm soát, có tính nghiêm ngặt, có tính hệ thống, có tính hiệu lực và kiểm chứng được, có tính thực nghiệm và phê phán Các đặc điểm này được giải thích cụ thể như sau:
Được kiểm soát: trên thực tế, có rất nhiều yếu tố tác động đến một kết quả nào đó
Rất hiếm khi một kết quả xảy ra chỉ do tác động của một yếu tố đơn lẻ nào đó Nhất là đối với khoa học xã hội và khoa học kinh tế, vốn nhằm giải thích mong muốn và hành
vi của con người nói chung về các vấn đề kinh tế - xã hội, các yếu tố này là hết sức phức tạp Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, các nhà nghiên cứu có thể kiểm soát các yếu tố này bằng cách thiết lập các thí nghiệm có kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm chỉ có các yếu tố được nghiên cứu mới có thể tác động đến đối tượng nghiên cứu Ngược lại,
ta không thể kiểm soát chặt chẽ các yếu tố tác động đến kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội, và vì thế cần đánh giá tác dộng của chúng đến kết quả nghiên cứu một cách cẩn thận
Tính nghiêm ngặt: ta phải luôn đảm bảo rằng các quy trình được áp dụng để trả lời
các câu hỏi phải thích đáng, phù hợp và kiểm chứng được Vì tính chất phức tạp của các vấn đề khoa học kinh tế và xã hội so với khoa học tự nhiên, mức độ nghiêm ngặt trong nghiên cứu cũng thay đổi rất nhiều giữa các loại hình này
Có tính hệ thống: tính chất này ngụ ý là quy trình nghiên cứu cần phải được bảo
đảm thực thi theo một trình tự lô-gic Ta không thể tùy tiện thay đổi trật tự các bước nghiên cứu
Trang 15Có tính hiệu lực và kiểm chứng được: tính chất này ngụ ý là các kết luận của ta phải
dựa trên các phát hiện trong quá trình nghiên cứu và đúng đắn, đồng thời có thể được người khác hay chính ta kiểm chứng lại
Có tính thực nghiệm: điều này có nghĩa là bất kỳ kết luận nào rút ra được từ nghiên
cứu đều phải dựa trên các thông tin thu thập được từ kinh nghiệm và quan sát thực tiễn
Có tính phê phán: quy trình nghiên cứu và các phương pháp được sử dụng cũng
phải được phê bình, chỉ trích Vì vậy quy trình nghiên cứu phải chặt chẻ để bảo đảm đứng vững trước các phê bình, chỉ trích
1.2.3 Vai trò của nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học có mục tiêu chủ yếu là tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi đặt ra, nói cách khác là tìm kiếm kiến thức và sự hiểu biết Tuy nhiên, nếu ta có thể chia sẻ, phổ biến thông tin, kiến thức và sự hiểu biết mà ta có được thông qua nghiên cứu sẽ có hiệu quả cao hơn rất nhiều Nói cách khác, bản chất của nghiên cứu khoa học là một quá trình vận dụng các ý tưởng, nguyên lý và phương pháp khoa học để tìm ra các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
Với cách nhìn nhận như trên, nghiên cứu khoa học còn có vai trò làm thay đổi cách nhìn nhận vấn đề của người đọc, thuyết phục người đọc tin vào bản chất khoa học và kết quả thực nghiệm nhằm đưa người đọc đến quyết định và hành động phù hợp để cải thiện tình hình của các vấn đề đặt ra theo chiều hướng tốt hơn
Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học là một chủ đề mà nhà nghiên cứu hoặc nhóm nghiên cứu thực hiện, bao gồm:
- Chủ trương phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia được ghi trong các văn kiện chính thức của các cơ quan có thẩm quyền Người nghiên cứu có thể tìm kiếm thị trường trong nhiệm vụ thuộc lĩnh vực này
- Nhiệm vụ được giao từ cơ quan cấp trên của cá nhân hoặc tổ chức nghiên cứu Đối với nguồn nhiệm vụ này, người nghiên cứu không có sự lựa chọn mà phải làm theo yêu cầu
- Nhiệm vụ được nhận từ hợp đồng với các đối tác Đối tác có thể là các doanh nghiệp hoặc tổ chức xã hội hoặc cơ quan chính phủ Nguồn này thường dẫn đến những nguồn thu nhập cao, tạo tiền đề phát triển nguồn lực nghiên cứu
- Nhiệm vụ do người nghiên cứu tự đạt ra cho mình xuất phát từ những ý tưởng khoa học của người nghiên cứu Khi có điều kiện (chẳng hạn về kinh phí) thì người nghiên cứu biến những ý tưởng đó thành một đề tài
1.2.4 Phân loại nghiên cứu khoa học
1.2.4.1 Phân loại theo chức năng nghiên cứu
Trang 16Nghiên cứu khoa học được phân loại theo chức năng nghiên cứu sẽ bao gồm: nghiên cứu mô tả; nghiên cứu giải thích; nghiên cứu giải pháp; nghiên cứu dự báo
Nghiên cứu mô tả:
Nghiên cứu mô tả là nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri thức về nhận dạng sự vật, giúp chúng ta phân biệt được sự khác nhau về bản chất giữa sự vật này với sự vật khác
Nội dung nghiên cứu mô tả bao gồm: mô tả hình thái, động thái, tương tác Mô tả định tính tức là các đặc trưng về vật chất của sự việc Mô tả định lượng nhằm chỉ rõ các đặc trưng về lượng của sự vật
Nghiên cứu giải thích:
Nghiên cứu giải thích là nghiên cứu nhằm làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật
Nội dung nghiên giải thích bao gồm: giải thích nguồn gốc, động thái, cấu trúc, tương tác, hậu quả, quy luật chung chi phối quá trình vận động của sự vật
Nghiên cứu giải pháp:
Nghiên cứu giải pháp là nghiên cứu nhằm làm ra một sự vật mới, chưa từng tồn tại
Nghiên cứu dự báo:
Nghiên cứu dự báo là nghiên cứu nhằm dạng trạng thái của sự vật trong tương lai
1.2.4.2 Phân loại theo giai đoạn nghiên cứu
Nghiên cứu khoa học được phân loại theo giai đoạn nghiên cứu sẽ bao gồm: nghiên cứu cơ bản; nghiên cứu ứng dụng; nghiên cứu phát triển
Nghiên cứu cơ bản:
Nghiên cứu cơ bản là các công việc mang tính lý thuyết hoặc thực nghiệm được thực hiện chủ yếu để đạt được các kiến thức mới mang tính nền tảng của các hiện tượng và các sự kiện thực tế quan sát
Nghiên cứu ứng dụng:
Nghiên cứu ứng dụng là các nghiên cứu mang tính nguyên gốc nhằm đạt các kiến thức mới, nhưng nó định hướng đến một mục tiêu thực tế cụ thể nào đó
Nghiên cứu phát triển:
Nghiên cứu phát triển là công việc mang tính hệ thống, được rút ra từ kiến thức có được từ nghiên cứu hoặc kinh nghiệm thực tiễn, định hướng đến việc sản xuất ra vật liệu mới, sản phẩm hay công cụ mới, để áp dụng quy trình, hệ thống và dịch vụ mới, hoặc để cải tiến một cách chắc chắn những gì đã được sản xuất và áp dụng
1.2.4.3 Phân loại theo dạng thức
Nghiên cứu khoa học được phân loại theo dạng thức nghiên cứu sẽ bao gồm: Tiểu luận; Luận văn tốt nghiệp; Đồ án tốt nghiệp; Luận án, luận văn; Bài báo khoa học
Trang 17Tiểu luận: ghi nhận và đánh giá kết quả đi thực tế của sinh viên Tiểu luận chưa
chuyên sâu bằng luận văn vì còn thiếu phần cơ sở lý luận
Luận văn tốt nghiệp: dành cho sinh viên chuẩn bị ra trường Đây là một nghiên
cứu kết hợp lý thuyết với thực tế tại đơn vị thực tập
Đồ án tốt nghiệp: dùng cho ngành kỹ thuật, dùng các mô hình, đồ họa, tổng hợp
kiến thức toàn khóa học như là thành quả để tốt nghiệp ra trường
Luận án, luận văn: là một loại nghiên cứu khoa học, do một cá nhân thực hiện để
bảo vệ công khai, nhằm mục đích đạt được học vị Thạc sĩ, Tiến sĩ Luận án, luận văn được xem là hình thức nghiên cứu cao nhất trong các bậc học vị
Bài báo khoa học: là một tác phẩm khoa học thu nhỏ Tác giả trình một đề tài khoa
học nào đó một cách có hệ thống Bài báo khoa học, nếu phát triển lên, có thể trở thành một tác phẩm khoa học
1.2.5 Yêu cầu nghiên cứu khoa học
Có 3 yêu cầu cơ bản của nghiên cứu khoa học:
- Xác định rõ mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các dữ liệu cần thu thập
- Lựa chọn phương pháp nghiên cứu
1.3 Phương pháp nghiên cứu khoa học
1.3.1 Khái niệm phương pháp nghiên cứu khoa học
Phương pháp và nội dung là hai phương diện của một quá trình nghiên cứu Nội dung là những kiến thức, thông tin trọng tâm hay chủ để chính của công việc nghiên cứu cần trình bày Phương pháp là cách thức giải quyết chủ đề trọng tâm đó Các phương pháp cụ thể không phải được đặt ra áp dụng vào mọi vấn đề nghiên cứu Đúng hơn, các vấn đề nghiên cứu phải được phân tích để xác định phương pháp sử dụng thích hợp
1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu khoa học
1.3.2.1 Phương pháp diễn giải và phương pháp quy nạp
Phương pháp diễn giải (Phương pháp diễn dịch): Phương pháp diễn giải trình tự
gồm các bước tư duy như sau:
Bước 1: Phát biểu một giả thuyết (dựa trên lý thuyết hay tổng quan nghiên cứu) Bước 2: Thu thập dữ liệu để kiểm định giả thuyết
Bước 3: Ra quyết định chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết
Tiếp cận nghiên cứu theo lối diễn giải là một hình thức lập luận mà mục đích của nó
là đi đến kết luận, và kết luận nhất thiết phải đi theo các lý do cho trước Các lý do này dẫn đến kết luận và thể hiện qua các minh chứng cụ thể
Trang 18Thông thường hầu hết các nghiên cứu đều được phát triển theo cách tư duy diễn giải, Điều này dễ hiểu vì khi ta nghiên cứu đều dựa trên những lý thuyết sẵn có và được thừa nhận như là quy luật chung, mang tính phổ quát trên toàn thế giới
Ví dụ: Dựa vào lý thuyết kinh tế vi mô, chúng ta tin rằng mức cầu của người tiêu dùng đối với loại hàng hóa, dịch vụ nào đó sẽ tăng lên khi giá của hàng hóa, dịch vụ
đó giảm đi và ngược lại
Tuy nhiên, cần suy xét cẩn thận về kết luận có thể rút ra từ cách tiếp cận này, vì ta không chắc rằng liệu lý thuyết có đúng tuyệt đối trong mọi hoàn cảnh nghiên cứu hay không Nhất là trong khoa học kinh tế và khoa học xã hội, tính phức tạp của vấn đề nghiên cứu rất cao và kết quả nghiên cứu thường chịu tác động bởi rất nhiều yếu tố khác nhau mà ta không biết được toàn bộ, hoặc là lý thuyết không bao quát toàn bộ mọi khía cạnh của vấn đề nghiên cứu
Ví dụ: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thông tin minh bạch, các quyết định kinh tế đều dựa trên tính duy lý Nhưng thực tế, các giải định này thường bị vi phạm trong bối cảnh cụ thể của nghiên cứu, đặc biệt đối với các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi
Phương pháp quy nạp: Phương pháp quy nạp gồm 3 bước tư duy cụ thể như sau:
Bước 1: Quan sát thực tiễn
Bước 2: Tìm kiếm một mẫu hình để quan sát
Bước 3: Tổng quát hóa về những vấn đề đang xảy ra
Cách tiếp cận quy nạp không gò bó nhà nghiên cứu trong các khuôn khổ lý thuyết
mà cho phép nhà nghiên cứu quan sát vấn đề nghiên cứu, sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu trong thế giới thực, hoặc là thông qua một mẫu hình cụ thể Từ các quan sát, ghi nhận , mô tả, phân tích sâu sắc mà nhà nghiên cứu có thể đúc rút, tổng quát hóa (quy nạp) ra các quy luật vận động, phát triển của đối tượng nghiên cứu
Phương pháp quy nạp hoàn toàn khác với phương pháp diễn giải Trong quy nạp, không có các mối quan hệ chặt chẽ giữa các lý do và kết quả Trong phương pháp quy nạp, ta rút ra một kết luận từ một hoặc hơn các chững cứ cụ thể Như vậy, tiếp cận quy nạp chú trọng đến các chứng cứ thực tiễn và khả năng giải thích của các chững cứ thực tiễn này đối với vấn đề nghiên cứu
Ví dụ: Một địa phương thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo cho người dân, nhưng sau ba năm thực hiện thì tỷ lệ hộ nghèo vẫn không giảm Tại sao tỷ lệ hộ nghèo không giảm? Kết luận có phải là chính sách xóa đói giảm nghèo sai hay không?
Trang 19- Thị trường hàng hòa, dịch vụ ở địa phương phát triển chưa đủ mạnh đẻ tạo cơ hội mới cho người nghèo tiếp cận và hưởng lợi
Tóm lại, hai cách tiếp cận này không mâu thuẫn nhau mà thực sự bổ sung cho nhau
để làm sáng tỏ bản chất của vấn đề nghiên cứu Cách tiếp cận diễn giải cho phép ta có nền tảng lý thuyết vững chắc cho nghiên cứu Trong khi đó, cách tiếp cận quy nạp lại cho ta khả năng hiểu sâu sắc vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh nghiên cứu cụ thể thông qua các chứng cứ thực tiễn và giúp ta khám phá những tính chất đặc thù của vấn
đè nghiên cứu trong bối cảnh riêng của nó mà lý thuyết chưa bao quát hết
1.3.2.2 Phương pháp định tính và phương pháp định lượng
Phương pháp nghiên cứu định tính: Nghiên cứu định tính được phân loại như là
loại nghiên cứu nhằm mô tả sự vật, hiện tượng mà thông tin thu thập chủ yếu là thông tin dưới dạng thang đo danh nghĩa (nominal scale) hay là thang đo thứ bậc (ordinal scale) Loại hình nghiên cứu này cũng không quan tâm đến sự biến thiên của đối tượng nghiên cứu và cũng không nhằm lượng hóa sự biến thiên này
Nghiên cứu định tính là một phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả và phân tích đặc điểm văn hóa và hành vi của con người và của nhóm người từ quan điểm của nhà nghiên cứu Nghiên cứu định tính cung cấp thông tin toàn diện về các đặc điểm của môi trường xã hội nơi nghiên cứu được tiến hành Đời sống xã hội được nhìn nhận như một chuỗi các sự kiện liên kết chặt chẽ với nhau mà cần được mô tả một cách đầy
đủ để phản ánh được cuộc sống thực tế hàng ngày Nghiên cứu định tính dựa trên một chiến lược nghiên cứu linh hoạt và có tính biện chứng Phương pháp này cho phép phát hiện những chủ đề quan trọng mà các nhà nghiên cứu có thể chưa bao quát được trước đó Trong nghiên cứu định tính, một số câu hỏi nghiên cứu và phương pháp thu thập thông tin được chuẩn bị trước, nhưng chúng có thể được điều chỉnh cho phù hợp khi những thông tin mới xuất hiện trong quá trình thu thập Đó là một trong những khác biệt cơ bản giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng
Nghiên cứu định tính thường được áp dụng ở cả giai đoạn thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu Ở giai đoạn thu thập dữ liệu, các kỹ thuật định tính thường được áp dụng bao gồm phỏng vấn nhóm, phỏng vấn chuyên gia, nghiên cứu tình huống, lý thuyết nền, nghiên cứu hành động và quan sát
Các phương pháp nghiên cứu định tính thông thường:
- Phỏng vấn:
+ Phỏng vấn không cấu trúc: Là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu xã hội Khi sử dụng phương pháp này người nghiên cứu phải nhớ một số chủ đề cần phỏng vấn và có thể sử dụng một danh mục chủ đề để khỏi bỏ sót trong khi phỏng vấn Người nghiên cứu có thể chủ động thay đổi thứ tự của các chủ đề tuỳ theo hoàn cảnh phỏng vấn và câu trả lời của người được phỏng vấn
Trang 20Phỏng vấn không cấu trúc giống như nói chuyện, làm cho người được phỏng vấn cảm thấy thoải mái và cởi mở trả lời theo các chủ đề phỏng vấn Điều cốt yếu quyết định sự thành bại của phỏng vấn không cấu trúc là khả năng đặt câu hỏi khơi gợi một cách có hiệu quả, tức là khả năng kích thích người trả lời cung cấp thêm thông tin + Phỏng vấn bán cấu trúc: Là phỏng vấn dựa theo danh mục các câu hỏi hoặc các chủ đề cần đề cập đến Tuy nhiên thứ tự và cách đặt câu hỏi có thể tuỳ thuộc vào ngữ cảnh và đặc điểm của đối tượng phỏng vấn
+ Phỏng vấn có cấu trúc hoặc hệ thống: Là phương pháp phỏng vấn tất cả các đối tượng những câu hỏi như nhau Thông tin thu được bằng phương pháp này có thể bao gồm cả các con số và các dữ liệu có thể đo đếm được Các phương pháp này được coi
là một bộ phận trong nghiên cứu định tính vì chúng giúp cho việc mô tả và phân tích các đặc điểm văn hóa và hành vi của đối tượng nghiên cứu Các phương pháp này nhằm phát hiện và xác định rõ các phạm trù văn hóa thông qua sự tìm hiểu “những quy luật văn hóa” trong suy nghĩ của cá nhân, tìm hiểu xem họ nghĩ và biết gì về thế giới xung quanh họ và cách họ tổ chức các thông tin này như thế nào
- Thảo luận nhóm:
+ Thảo luận nhóm tập trung: Một nhóm tập trung thường bao gồm từ 6 đến 8 người
có chung một số đặc điểm nhất định phù hợp với chủ đề cuộc thảo luận, ví dụ cùng một trình độ học vấn, cùng một độ tuổi, cùng một giới tính, Thảo luận nhóm tập trung thường được sử dụng để đánh giá các nhu cầu, các biện pháp can thiệp, thử nghiệm các ý tưởng hoặc chương trình mới, cải thiện chương trình hiện tại và thu thập các thông tin về một chủ đề nào đó phục vụ cho việc xây dựng bộ câu hỏi có cấu trúc + Thảo luận nhóm không chính thức: Phương pháp này dùng kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc hoặc phỏng vấn tự do Phương pháp thảo luận nhóm nhóm không chính thức không có trọng tâm dễ dàng thực hiện nhưng ít có tính hệ thống do đó khó sử dụng để so sánh giữa các nhóm Phương pháp này có giá trị đối với các can thiệp đã được lập kế hoạch từ trước
+ Quan sát tham gia
+ Quan sát không tham gia
+ Quan sát công khai
+ Quan sát bí mật
Trang 21+ Quan sát có giải thích rõ mục tiêu của quan sát cho đối tượng bị quan sát biết + Quan sát không giải thích rõ mục tiêu của quan sát cho đối tượng bị quan sát biết + Quan sát một lần
+ Quan sát nhiều lần (Quan sát lặp lại)
+ Quan sát một hành vi
+ Quan sát tổng thể
Quy trình nghiên cứu định tính:
- Tìm hiểu mục đích nghiên cứu
- Thiết kế khung vấn đề cần nghiên cứu
- Phỏng vấn, quan sát thu thập thông tin
- Chuyển đổi thông tin
- Phân tích dữ liệu
- Kiểm chứng, phân tích
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu định lượng là loại hình nghiên
cứu mà ta muốn lượng hóa sự biến thiên của đối tượng nghiên cứu Vì thế, thống kê là công cụ được ứng dụng cho việc lượng hóa các thông tin của nghiên cứu định lượng Các phương pháp định lượng bao gồm các quy trình thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, giải thích và viết ra các kết quả của một công trình nghiên cứu Các phương pháp chuyên biệt được phát triển cho các loại hình nghiên cứu dựa trên điều tra/khảo sát cũng như cho hình thức nghiên cứu trong điều kiện có kiểm soát Các phương pháp chuyên biệt này đều liên quan đến việc xác định mẫu và tổng thể, nêu rõ chiến lược điều tra, thu thập và phân tích dữ liệu, trình bày các kết quả , đưa ra lời giải thích và viết nghiên cứu theo loại hình của nó
Nghiên cứu định lượng rất hữu ích và phù hợp nếu vấn đề ta cần nghiên cứu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến một kết quả nào đó, tác động của việc can thiệp vào một vấn đề nào đó bằng chính sách kinh tế, hay là phân tích dự báo sự xuất hiện của sự vật hiện tượng theo điều kiện cho trước Cách tiếp cận định lượng cũng là cách tiếp cận tốt nhất cho việc kiểm định một lý thuyết hay cách giải thích
Sự khác biệt giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng có thề giải thích khái quát trong bảng sau:
Bảng 1.1: Sự khác biệt giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Tiêu chí Nghiên cứu định tính Nghiên cứu định lượng
Thu thập dữ liệu Thu thập dữ liệu bằng chữ Thu thập dữ liệu bằng số
Mục tiêu
Mô tả, phân tích đặc điểm nhóm người theo quan điểm nhân học
Giải quyết quan hệ trong lý thuyết
và nghiên cứu theo quan điểm diễn dịch
Mục đích - Mô tả các vấn đề chưa biết rõ - Mô tả và đo lường các chủ đề
Trang 22- Trả lời câu hỏi: tại sao, như thế nào
- Xác định các yếu tố có liên quan đến chủ đề nghiên cứu
nghiên cứu đã biết rõ
- Trả lời các câu hỏi bao nhiêu
- Xác định được mối quan hệ nhân quả
Động từ Tìm hiểu, thăm dò Xác định, khảo sát
- Chỉ quan tâm đối tượng nghiên cứu
- Mẫu đồng nhất
Bảng câu hỏi
- Bán cấu trúc/ phỏng vấn sâu
- Quan sát có sự tham gia,
- Khung câu hỏi phỏng vấn linh động
Chủ yếu dựa vào kích thước cỡ mẫu xác định (giá trị bên ngoài)
Môi trường Ảnh hưởng nhiều Ảnh hưởng ít
Kết quả Trong khuôn khổ bộ câu hỏi Phát hiện những vấn đề không mong
đợi và khám phá sâu chủ đề Câu hỏi Tại sao? Như thế nào? Bao nhiêu?
Biến Không xác định Xác định
[Nguồn: Tác giả tổng hợp]
1.3.2.3 Phương pháp nghiên cứu phối hợp
Nghiên cứu theo phương pháp phối hợp sử dụng các khía cạnh của cả phương pháp định lượng lẫn định tính Trên thực tế, nghiên cứu phối hợp lại khá phổ biến trong ngành khoa học xã hội nhân văn, trong đó có ngành kinh tế và quản trị
Thông thường, trong nghiên cứu ta thường dựa trên một quan sát với cỡ mẫu đủ lớn
để kết quả có mức tin cậy cần thiết Ta cũng thường mong muốn dùng số liệu, thông tin của mẫu để ước đoán số liệu, thông tin của tổng thể nghiên cứu Vì vậy, việc áp dụng các phân tích định lượng là hiển nhiên Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, ta cũng muốn hiểu rõ thêm bản chất của sự vật, hiện tượng nghiên cứu bằng cách áp
Trang 23dụng một số kỹ thuật định tính như phỏng vấn nhóm, phỏng vấn chuyên gia hoặc mô
tả quá trình hình thành, phát triển của sự vật, hiện tượng nghiên cứu
Vì vậy, thiết kế nghiên cứu theo phương pháp phối hợp hữu ích trong việc nắm bắt những gì tốt nhất của cả hai cách tiếp cận định lượng và định tính Trong những tình huống này, lợi thế của việc thu thập cả dữ liệu định lượng dưới dạng câu hỏi đóng lẫn
dữ liệu định tính dưới dạng câu hỏi mở, tỏ ra là có lợi để hiểu được tốt nhất vấn đề nghiên cứu
Ví dụ: Quy trình nghiên cứu phối hợp của nhóm tác giả Nguyễn Tiến Việt và Võ
Thị Vân Anh với đề tài “Tác động của thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam”
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiên cứu phối hợp
[Nguồn: Nguyễn Tiến Việt, Võ Thị Vân Anh]
Cơ sở lý
thuyết
Nghiên cứu định tính
Mục tiêu
nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng sơ bộ(Khảo sát 50 khách
Trang 241.4 Quy trình nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu không chỉ đơn giản là một hành động đơn lẻ, mà là một chuỗi các hành động diễn ra theo trình tự và gắn liền với nền tảng kiến thức cũng như các bước tư duy lô-gic Chuỗi các hành động này được gọi là quy trình nghiên cứu, thể hiện một chuỗi các bước tư duy và vận dụng kiến thức về phương pháp nghiên cứu và kiến thức chuyên ngành khởi đầu từ việc xác định vấn đề nghiên cứu cho đến bước cuối cùng là tìm ra câu trả lời cho vấn đề đặt ra
Dự trên các kinh nghiệm quốc tế, cũng như các vấn đề thực tiễn nảy sinh trong quá trình thực hiện nghiên cứu khoa học phổ biến hiện nay trong bối cảnh Việt Nam, ta có thể vận dụng để xây dựng một quy trình nghiên cứu khoa học mang tính tham khảo và phù hợp cho sinh viên bậc đại học và sau đại học ở Việt Nam
Quy trình nghiên cứu được thể hiện tổng quát qua sơ đồ như sau:
Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiên cứu
[Nguồn: Tác giả tổng hợp]
Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu:
Xác định vấn đề nghiên cứu là bước đầu tiên của quy trình nghiên cứu Ta không thể thực hiện nghiên cứu nếu ta không biết sẽ nghiên cứu vấn đề gì Thông thường, xác định vấn đề nghiêm cứu là một việc khó khăn, ngay cả đối với các nhà nghiên cứu
có kinh nghiệm Đối với sinh viên đại học hoặc bậc sau đại học việc này càng khó khăn hơn nhiều
Đầu tiên, người nghiên cứu phải xác định được lĩnh vực nghiên cứu mà mình quan tâm, từ đó thu hẹp lại thành vấn đề nghiên cứu cụ thể Đây là bước hết sức quan trọng, đòi hỏi nhà nghiên cứu phải am hiểu vấn đề nghiên cứu và những khái niệm liên quan
Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu Bước 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước
Bước 3: Viết đề cương nghiên cứuBước 4: Thu thập dữ liệuBước 5: Phân tích dữ liệuBước 6: Giải thích kết quả và viết báo cáo
Trang 25Đồng thời ở bước này ta cũng xác lập mục tiêu nghiên cứ và các câu hỏi nghiên cứu nhất quán và phù hợp với vấn đề nghiên cứu
Bước 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước:
Bước này đòi hỏi chúng ta phải tổng quan lại tất cả những lý thuyết và nghiên cứu trước đây có liên quan có thể giúp chúng ta giải quyết vấn đề nghiên cứu Cần nhớ rằng ở bước một, chúng ta đã có thể phải đọc rất nhiều lý thuyết để làm rõ vấn đề nghiên cứu Nhưng ở bước thứ hai, khi vấn đề nghiên cứu đã được xác định rõ, chúng
ta chỉ sử dụng những lý thuyết thật sự liên quan và phù hợp có thể giúp ta giải quyết vấn đề nghiên cứu Đồng thời, ta cũng phải tham khảo rất nhiều báo cáo nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu đã đặt ra để học hỏi kinh nghiệm từ việc thiết kế và tổ chức thực hiện các nghiên cứu này, cũng như các phát hiện, các kết quả đã được chứng minh Kinh nghiệm có được từ bước này sẽ giúp chúng ta có nền tảng kiến thức lý thuyết và thực tiễn để xác định và xây dựng các thành phần cần thiết cho thiết kế nghiên cứu
Sau khi xác định vấn đề nghiên cứu và tìm hiểu lý thuyết, chúng ta phải xác định các thành phần cho thiết kế nghiên cứu Các thành phần này chính là các ý tưởng và công cụ cần thiết giúp chúng ta cụ thể hóa tiến trình nghiên cứu và là các nội dung cốt lõi của đề cường nghiên cứu Các thành phần này bao gồm khung khái niệm, khung phân tích, chọn lựa các thông tin, dữ liệu, biến số cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu, xác định các công cụ phù hợp để thu thập phân tích thông tin dữ liệu
Bước 3: Viết đề cương nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu là một văn bản chỉ ra lý lẽ để thực hiện nghiên cứu và cách thức mà ta sẽ tiến hành tổ chức thực hiện nghiên cứu Có thể coi đề cương nghiên cứu
là một bản kế hoạch chi tiết, tổng hợp tất cả các nội dung mang tính kế hoạch ta sẽ thực hiện khi thực thi đề tài nghiên cứu
Chính vì vậy, đề cương nghiên cứu được trình bày như là một “báo cáo nghiên cứu khả thi” của nghiên cứu, thể hiện kết quả của các bước ta đã đạt được trong quá trình tìm kiếm ý tưởng và chuẩn bị kế hoạch, bao gồm lý do chọn vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu, các lý thuyết liên quan,v.v… Bên cạnh đó, trong đề cương nghiên cứu còn thể hiện phương pháp nghiên cứu của báo cáo nghiên cứu gồm việc:
- Thu thập dữ liệu như thế nào
- Nguồn thông tin dữ liệu
- Kỹ thuật thu thập và phân tích số liệu: cách thức để thu thập thông tin, dữ liệu Nếu là dữ liệu sơ cấp thì cần xác định các chỉ tiêu nghiên cứu cụ thể cần phải thu thập, phương pháp chọn mẫu, xác định cỡ mẫu phù hợp, thiết kê bảng câu hỏi (nếu có)
Trang 26- Kỹ thuật xử lý và phân tích số liệu: nhằm kiểm định được giả thuyết nghiên cứu hoặc tìm ra câu trả lời cho vấn đề nghiên cứu, và những kiểm định nhằm bảo đảm độ tin cậy của kết quả nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu với vai trò là bản kế hoạch nghiên cứu là cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý và tổ chức tài trợ nghiên cứu xem xét, phê duyệt và cho phép tài trợ thực hiện nghiên cứu Vì vậy, viết và đăng ký đề cương nghiên cứu là một thủ tục
bắt buộc của nhà quản lý, nhà tài trợ đối với nhà nghiên cứu
Bước 4: Thu thập dữ liệu
Tùy vào vấn đề nghiên cứu mà chúng ta sẽ phải thu thập loại dữ liệu thích hợp Nói chung, có hai loại dữ liệu: thứ cấp và sơ cấp Dữ liệu sơ cấp là loại thông tin, dữ liệu được thu thập trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu Dữ liệu thứ cấp là loại thông tin, dữ liệu sẵn có từ nhiều nguồn khác nhau có thể phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu
Đối với số liệu thứ cấp, tùy vào lĩnh vực nghiên cứu mà chúng ta sẽ phải tìm ra nguồn cung cấp thích hợp Thông thường là các niên giám thống kê, số liệu tổng hợp của các ngành và số liệu tổng hợp của các cơ quan chức năng, hoặc thông tin dữ liệu
có được từ các nghiên cứu trước
Dữ liệu sơ cấp thường được các nhà nghiên cứu tổ chức thu thập trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu thông qua nhiều hình thức thu thập khác nhau Ví dụ như: thu thập
từ việc quan sát, phỏng vấn (phỏng vấn trực tiếp, gián tiếp), điều tra
Lưu ý rằng khi xác định vấn đề nghiên cứu ta phải cân nhắc trước về khả năng thu thập được dữ liệu cần thiết Vấn đề nghiên cứu có thể rất hay và có ý nghĩa, nhưng nếu
ta không có khả năng thu thập được dữ liệu cần thiết thì nghiên cứu của ta sẽ không khả thi Và điều này là khá phổ biến trong bối cảnh nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay
Bước 5: Phân tích dữ liệu
Tùy vào loại dữ liệu và giả thuyết nghiên cứu mà ta phải lựa chọn kỹ thuật phân tích
dữ liệu thích hợp Có thể là phân tích định tính hoặc phân tích định lượng hoặc phối hợp Thông thường công việc này sẽ đòi hỏi chúng ta phải có kiến thức cơ bản về thống kê, kinh tế lượng và các kỹ thuật thống kê đa biến khác Dĩ nhiên là để phân tích tốt, nhà nghiên cứu cần phải có nền tảng kiến thức về kinh tế học và các môn học chuyên ngành khác
Bước 6: Giải thích kết quả và viết báo cáo
Từ kết quả phân tích dữ liệu, ta phải giải thích ý nghĩ của nó về mặt kinh tế Những câu hỏi cần phải trả lời là:
(1) Kết quả phân tích cho phép kết luận như thế nào về giả thuyết nghiên cứu, trả lời như thế nào cho câu hỏi nghiên cứu
Trang 27(2) Các kết luận có ý nghĩa gì đối với vấn đề nghiên cứu ở cả hai khía cạnh học thuật và thực tiễn? Ta phải tự hỏi nghiên cứu của chúng ta có giá trị gì đối với những người nghiên cứu tiếp theo không? (ý nghĩa học thuật)
(3) Nó giúp những nhà hoạt động thực tiễn cải thiện được gì về vấn đề mà chúng ta nghiên cứu không? (ý nghĩa thực tiễn)
Viết báo cáo cuối cùng là một công việc không quá khó khăn, nhưng đòi hỏi người viết kiên trì và dĩ nhiên phải có kiến thức cớ bản về cách thức viết báo cáo Nhìn chung, báo cáo cuối cùng sẽ theo cấu trúc mà ta đã đề nghị trong đề cương nghiên cứu nếu không có phát sinh ngoài dự kiến về nội dung nghiên cứu buộc phải dẫn đến thay đổi cấu trúc báo cáo Tuy nhiên cũng không nhất thiết phải tuân thủ nghiêm ngặt cấu trúc báo cáo định sẵn Ta có thể thay đổi cấu trúc này cho hợp lý hơn, miễn sao nêu bật được:
- Vấn đề nghiên cứu;
- Cơ sở lý thuyết và kết quả nghiên cứu trước liên quan đến vấn đề nghiên cứu;
- Khung phân tích, phương pháp nghiên cứu;
- Kết quả phân tích và giải thích kết quả phân tích dữ liệu;
- Kết luận, đề xuất, ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Trang 28CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN
1 Trình bày khái niệm khoa học, khái niệm nghiên cứu khoa học, phân loại nghiên cứu khoa học
2 Hãy lập bảng so sánh phát hiện, phát minh, sáng chế
3 Hãy cho biết bản chất của nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai?
4 Hãy trình bày các loại phương pháp nghiên cứu khoa học?
5 Các bước của quy trình nghiên cứu khoa học? Trong các bước trên, bước nào là quan trọng nhất? Tại sao?
6 Hãy so sánh phương pháp định tính và phương pháp định lượng
7 Hãy nêu các lợi ích mà người học nhận được khi tham gia nghiên cứu khoa học?
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 1
1 Nguyễn Thị Cành (2007), Giáo trình phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học kinh tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
2 Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Khoa
5 Nguyễn Đình Thọ (2013), Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh,
Nhà xuất bản lao động xã hội
Trang 29CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Trước khi bắt tay vào nghiên cứu nào đó, nhà nghiên cứu cần phải xác định đề tài nghiên cứu của mình, đây là công việc rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu Trong chương này sẽ đề cập các nội dung cơ bản bao gồm:
- Các vấn đề cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, lịch
sử nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu,…
- Lựa chọn và đặt tên đề tài nghiên cứu
- Xây dựng đề cương nghiên cứu
Qua đó, tạo ra sự nhận thức đúng đắn trong việc lựa chọn đề tài nghiên cứu và xác định các vấn đề nghiên cứu
2.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1 Khái niệm đề tài
Đề tài được hiểu một cách khái quát: là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học,
do một người hoặc một nhóm người thực hiện nghiên cứu, giải quyết một vấn đề nào
đó Mỗi đề tài đều có những mục đích nghiên cứu riêng biệt, rõ ràng và được thể hiện qua các câu hỏi nghiên cứu được nhà nghiên cứu đặt ra
Đề tài có thể nghiên cứu có thể chia thành hai dạng cơ bản: đề tài nghiên cứu về học thuật mang tính hàn lâm hoặc nghiên cứu về ứng dụng.Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác, tuy không hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu khoa học nhưng có những đặc điểm tương tự với đề tài, và do vậy, cũng có thể vận dụng các phương pháp của một đề tài khoa học như chương trình, dự án, đề án,… Có thể phân biệt về đề tài như sau:
Đề tài định hướng vào việc trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, có thể chưa quan tâm nhiều đến việc hiện thực hóa trong hoạt động thực tế Kết quả của nghiên cứu chủ yếu nhằm vào mục đích trả lời cho các câu hỏi về bản chất lý thuyết của khoa học hay nói cách khác là đề tài nghiên cứu có mục đích xây dựng và kiểm định các lý thuyết khoa học Bên cạnh đó, đối với các đề tài nghiên cứu ứng dụng thì kết quả của nghiên cứu nhằm vào mục đích trực tiếp là hỗ trợ cho việc ra các quyết định
Dự án là một loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định cụ thể về kinh tế, xã hội
Dự án có những đòi hỏi khác đề tài như: đáp ứng một nhu cầu đã được nêu ra, chịu sự ràng buộc của kỳ hạn và thường là ràng buộc về nguồn lực
Đề án là loại văn kiện được xây dựng để trình một cấp quản lý hoặc một cơ quan tài trợ để xin được thực hiện một công việc nào đó như xin thành lập một tổ chức, xin cấp tài trợ cho một hoạt động xã hội nào đó Sau khi một đề án được phê chuẩn, sẽ có thể
Trang 30xuất hiện những dự án, chương trình, đề tài hoặc những hoạt động kinh tế xã hội theo yêu cầu của đề án
Chương trình là một nhóm các đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục đích xác định Giữa chúng có thể có tính độc lập tương đối cao Tiến độ thực hiện các dự
án, đề tài trong chương trình không có sự đòi hỏi quá cứng nhắc nhưng những nội dung của chương trình thì phải luôn đồng bộ
Đề tài có ý nghĩa thực tiễn: Trong khoa học không phải đề tài nào cũng có ý nghĩa thực tiễn, nhất là trong nghiên cứu cơ bản thuần túy Tuy nhiên, tiêu chuẩn này phải luôn được xem xét, nhất là trong điều kiện kinh phí eo hẹp Ý nghĩa thực tiễn thể hiện trong việc xây dựng luận cứ cho các chương trình phát triển kinh tế và xã hội, nhu cầu
kỹ thuật của sản xuất, nhu cầu về tổ chức, quản lý, thị trường,…
Đề tài có tính cấp thiết: Tính cấp thiết thể hiện ở mức độ ưu tiên giải đáp những nhu cầu lý thuyết và thực tiễn đã được xem xét Tính cấp thiết là một yêu cầu bổ sung đối với tính khoa học và thực tiễn của một đề tài nghiên cứu Nếu chưa cấp thiết thì dành kinh phí và quỹ thời gian cho những đề tài hoặc nghiên cứu cấp thiết hơn
2.1.3 Lịch sử nghiên cứu
Lịch sử nghiên cứu là việc thu thập các tài liệu đã được nghiên cứu trước đây hoặc trong thời gian gần đây liên quan đến đề tài Đối với các tài liệu này cần có sự chọn lọc căn cứ vào mục tiêu và đối tượng của đề tài sau đó ta sẽ tiến hành tóm tắt, hệ thống hóa, nhận xét về những mặt đạt được và chưa đạt được của các đề tài trước đó Trên cơ
sở này ta sẽ có kiến thức rộng hơn, sâu hơn về lĩnh vực nghiên cứu và đưa ra hướng nghiên cứu mới và điểm mới của đề tài nghiên cứu so với các nghiên cứu trong quá khứ
Cần lưu ý thêm là: việc chọn lọc tài liệu cần dựa vào uy tín của tác giả trong lĩnh vực nghiên cứu, năm xuất bản, ý kiến của các chuyên gia, kinh nghiệm của bản thân
và điều quan trọng là phải trích nguồn các tài liệu tham khảo này Một mặt điều này sẽ thể hiện sự tôn trọng đối với công sức nghiên cứu của người khác, là đạo đức của người làm khoa học và thể hiện nền tảng của tính kế thừa và phát huy
Ví dụ: Khi viết đề tài nghiên cứu khoa học với đề tài: “Ứng dụng mô hình TAM
trong việc đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến dịch vụ Internet Banking tại Ngân hàng thương mại Sài Gòn Thương Tín – Chi Nhánh Đồng Nai” tác giả Trương
Trang 31Diễm Trang Đài (Đại học Lạc Hồng) đã tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu của đề tài bao gồm:
Sinh viên Huỳnh Thị Thu Hiền, “Phát triển dịch vụ Internet Banking tại các ngân hàng thương mại”, chuyên đề kinh tế Đề tài này nghiên cứu về tình hình phát triển dịch vụ Internet Banking của các NHTMVN, phân tích các ưu và nhược điểm, cơ hội
và thách thức từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng
Đề tài của tác giả Nguyễn Tường Vi: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng điện tử tại NH TMCP Đông Á- CN Đồng Nai” Đề tài này nghiên cứu thực trang hoạt động NHĐT và đưa ra mức độ tác động của từng nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động NHĐT tại NH Đông Á – CN Đồng Nai
Th.S Lê Thị Kim Tuyết, “Nghiên cứu động cơ sử dụng dịch vụ Internet Banking của người tiêu dùng tại thành phố Đà Nẵng”
Ngoài ra tác giả cũng tham khảo 1 số bài báo ở nước ngoài về đề tài này để làm cơ
sở đưa ra mô hình và bổ sung các biến cần thiết cho đề tài như:
Ankit Kesharwani, Shailendra Singh Bisht (2012), “The impact of trust and perceived risk on internet banking adoption in India: An extension of technology acceptance model”, International Journal of Bank Marketing, Vol 30 Iss: 4pp.302-
322
Ather Akhlaq and Ejaz Ahmed (2013), “The effect of “motivation on trust in the acceptance of internet banking in a low income country”, International Journal of
Bank Marketing, Vol.31 No.2, 2013 pp: 115-125
Cry, D.(2008), “Modeling website design across cultures: relationship to trust, satisfaction and e-loyatly”, Journal of Management Information System, Vol 20 No
2.1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu là những việc mà nhà nghiên cứu phải làm để đạt được mục tiêu nghiên cứu hay nói cách khác là trả lời được các câu hỏi nghiên cứu
Các nguồn nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:
- Chủ trương phát triển kinh tế xã hội của quốc gia được ghi trong các văn kiện chính thức của cơ quan có thẩm quyền
Trang 32- Nhiệm vụ được giao từ cơ quan cấp trên của cá nhân hoặc nhóm nhóm cá nhân ngiên cứu Trường hợp này nhà nghiên cứu không có quyền lựa chọn mà phải làm theo yêu cầu
- Nhiệm vụ được nhận từ hợp đồng với các đối tác Đối tác có thể là doanh nghiệp hoặc tổ chức xã hội hoặc cơ quan chính phủ Nguồn này thường dẫn đến những nguồn thu nhập cao, tạo tiền đề để phát triển nguồn lực kinh tế
- Nhiệm vụ do nhà nghiên cứu tự đặt cho mình xuất phát từ ý tưởng khoa học của bản thân nhà nghiên cứu Khi có điều kiện thì người nghiên cứu biến ý tưởng đó thành một đề tài nghiên cứu
Thông thường một số đề tài nghiên cứu có các nhiệm vụ sau:
- Xây dựng hệ thống lý luận làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài
- Điều tra, tìm hiểu bản chất, quy luật của đối tượng nghiên cứu
- Thực nghiệm, kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài
- Đề xuất giải pháp
2.1.5 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là vật mang đối tượng nghiên cứu, là nới chứa đựng những câu hỏi mà người nghiên cứu cần tìm câu trả lời Khách thể nghiên cứu có thể là: Một không gian: Ví dụ, với đề tài có đối tượng nghiên cứu là: “Xanh hóa các dải cát ven biển miền Trung” thì khách thể nghiên cứu là “Miền trung”
Một khu vực hành chính Ví dụ, với đề tài có đối tượng nghiên cứu là: “Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Hà Nội”, thì khách thể nghiên cứu là các doanh nghiệp nhà nước thuộc khu vực hành chính Hà Nội
Một quá trình Ví dụ, với đề tài có đối tượng nghiên cứu là: “Áp dụng phương pháp học tập theo kiểu nghiên cứu khoa học ở bậc Đại học” thì khách thể nghiên cứu là
“quá trình học tập của sinh viên”
Một hoạt động Ví dụ, với đề tài có đối tượng nghiên cứu là: “Khắc phục rào cản giữa cha mẹ và con cái trong truyền thông về chủ đề giáo dục sức khỏe sinh sản”, thì khách thể nghiên cứu là “hoạt động truyền thông”
Một cộng đồng Ví dụ, với đề tài có đối tượng nghiên cứu là: “ Sử dụng thời gian nhàn rỗi của sinh viên ở các trường Đại học” ”, thì khách thể nghiên cứu là “cộng đồng sinh viên các trường Đại học”
2.1.6 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bản chất sự vật hoặc hiện tượng cần được xem xét và làm
rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu Do đó, trong quá trình nghiên cứu cần có sự phân biệt
rõ ràng giữa Đối tượng nghiên cứu với Khách thể nghiên cứu và Đối tượng khảo sát,
từ đó đảm bảo đề tài nghiên cứu được tiến hành một cách đúng hướng và chính xác về vấn đề cần nghiên cứu
Trang 33Ví dụ: Khi viết đề tài nghiên cứu khoa học: “Ứng dụng mô hình TAM trong việc
đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến dịch vụ Internet Banking tại Ngân hàng thương mại Sài Gòn Thương Tín – Chi Nhánh Đồng Nai” tác giả Trương Diễm
Trang Đài (Đại học Lạc Hồng) đã lựa chọn đối tượng nghiên cứu là các nhân tố ảnh hưởng đến dự định sử dụng dịch vụ Internet Banking tại Sacombank-Đồng Nai Như vậy, đối tượng khảo sát được lựa chọn trong đề tài này là các khách hàng sử dụng dịch
vụ Internet Banking tại Sacombank-Chi nhánh Đồng Nai
2.1.7 Đối tƣợng khảo sát
Đối tượng khảo sát là một bộ phận đủ để đại diện cho khách thể nghiên cứu được người nghiên cứu lựa chọn để xem xét Thực tế cho thấy: không bao giờ người nghiên cứu có thể đủ quỹ thời gian và kinh phí để khảo sát trên toàn bộ khách thể Do đó sau khi đã xác định được đối tượng khảo sát thì việc khảo sát các đối tượng chỉ mang tính chất tương đối
Một Khách thể nghiên cứu hoặc một đối tượng khảo sát có thể phục vụ cho nhiều đối tượng nghiên cứu khác nhau Thông thường, đối tượng khảo sát thường được chia làm hai nhóm:
a) Nhóm khảo sát: đối tượng được đặt ra trong giả thuyết
b) Nhóm đối chứng: đối tượng được so sánh với nhóm khảo sát
Ngoài ra, để bố trí và thu thập số liệu thí nghiệm nghiên cứu thì công việc trước tiên
là thiết lập khung mẫu Khung mẫu cần xác định các cá thể trong quần thể mục tiêu (target population), cỡ mẫu và phương pháp lấy mẫu Trong trường hợp thiết lập khung mẫu sai thì mẫu chọn sẽ không đại diện cho quần thể mục tiêu và số liệu thu thập sẽ không đại diện cho quần thể Có ba trường hợp tạo ra khung mẫu sai:
Khung mẫu chứa quá nhiều cá thể, mà trong đó có cá thể không nằm trong quần thể mục tiêu
Khung mẫu chứa quá ít cá thể, mà trong đó có cá thể nằm và không nằm trong quần thể mục tiêu
Khung mẫu chứa tập hợp các cá thể không đúng hay khung mẫu không nằm trong quần thể mục tiêu
Hai giai đoạn tạo khung mẫu:
(i) Xác định các cá thể trong quần thể mục tiêu và cỡ mẫu Thí dụ, cỡ mẫu của 100 khách hàng giao dịch ở thành phố Biên Hòa và 150 khách hàng giao dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh
(ii) Chọn phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên hoặc không ngẫu nhiên Thí dụ: trong nghiên cứu điều tra, mẫu ngẫu nhiên thì vị trí chọn mẫu có thể dựa vào bản đồ ranh giới giữa các vùng, lập danh sách hộ gia đình theo số nhà, danh bạ điện thoại nếu có, sau đó chọn phương pháp lấy mẫu
Trang 342.1.8 Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, việc xác định rõ phạm vi nghiên cứu đóng vai trò khá quan trọng, bởi lẽ: xác định phần giới hạn của nghiên cứu liên quan đến đối tượng khảo sát và nội dung nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu bao gồm những giới hạn về không gian của đối tượng khảo sát, giới hạn quỹ thời gian để tiến hành nghiên cứu và giới hạn quy mô nội dung được xử lý Tùy theo điều kiện cụ thể mà nhà nghiên cứu cần phải đặt ra các giới hạn như:
- Giới hạn về thời gian
- Giới hạn về không gian
- Giới hạn về quy mô của mẫu khảo sát
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu
- Giới hạn về nguồn tài liệu gốc
2.1.9 Mục đích nghiên cứu
Khi viết đề cương nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm sao thể hiện được mục tiêu và mục đích nghiên cứu mà không có sự trùng lấp lẫn nhau Vì vậy, cần thiết
để phân biệt sự khác nhau giữa mục đích nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu là cái đích về nội dung mà người nghiên cứu vạch ra để định hướng nỗ lực tìm kiếm Mục tiêu là những điều cần làm trong công việc nghiên cứu Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”
Khi xác định mục đích của việc nghiên cứu cần lưu ý nêu ra mục đích trực tiếp, có khả năng đạt được của đề tài Không nên nêu ra những mục đích quá xa, vượt khả năng thực hiện và có thể dùng chung cho nhiều đề tài
2.1.10 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là phát biểu tổng quát về kết quả mà nhà nghiên cứu mong muốn đạt được sau quá trình tiến hành nghiên cứu Để làm rõ bản chất của mục tiêu nghiên cứu, ta đặt ra các câu hỏi như sau:
- Tại sao phải thực hiện nghiên cứu này?
- Qua nghiên cứu này ta hi vọng đạt được điều gì?
Mục tiêu nghiên cứu có quan hệ rất chặt chẽ với việc đặt vấn đề nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu thường được phân làm hai loại là mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể Tuy nhiên, theo Kumar (2005) lại phân loại bằng cách chia ra thành hai loại mục tiêu là mục tiêu chính và mục tiêu phụ
Trong đó, mục tiêu tổng quát là phát biểu về kỳ vọng mà nhà nghiên cứu mong muốn đạt được khi nghiên cứu theo ý nghĩa tổng quát nhất Nói cách khác, mục tiêu tổng quát là kỳ vọng chung về tác động của nghiên cứu Mục tiêu tổng quát được chia nhỏ ra và cụ thể hóa thành những mục tiêu chi tiết hơn, liên kết với nhau một cách hợp
lý, được gọi là mục tiêu cụ thể
Trang 35Mục tiêu cụ thể nên chỉ ra một cách hệ thống các khía cạnh khác nhau của nghiên cứu, vốn đã được xác định trong quá trình xác định vấn đề nghiên cứu, và là những yếu tố chủ yếu được giả định gây ra ảnh hưởng hoặc tác động đến vấn đề nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu cụ thể cũng là những mục tiêu mà ta phải đạt được khi kết thúc quá trình nghiên cứu
Việc xác định và phát triển mục tiêu nghiên cứu giúp ta các việc sau đây:
- Tập trung sâu vào nghiên cứu, thu hẹp vấn đề nghiên cứu đến mức cần thiết
- Tránh thu thập các dữ liệu, thông tin không thật sự cần thiết cho nghiên cứu và giải quyết các vấn đề nghiên cứu
- Tổ chức nghiên cứu một cách rõ ràng theo những phần hay những giai đoạn cụ thể, có nghĩa là hình thành được tiến trình nghiên cứu một cách cụ thể
Nếu được hình thành một cách đúng đắn, mục tiêu cụ thể sẽ làm cơ sở cho quá trình phát triển phương pháp luận nghiên cứu và sẽ định hướng việc thu thập, phân tích, diễn dịch và sử dụng dữ liệu
2.1.11 Phương pháp nghiên cứu
Tiếp nhận theo cách nhìn liên quan đến phương pháp nghiên cứu có thể chia thành
ba phương pháp bao gồm: phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu phối hợp Phần này sẽ trình bày các kiến thức căn bản
về các phương pháp trên cũng như khả năng ứng dụng chúng trong nghiên cứu kinh tế
2.1.11.1 Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính được xem là loại hình nghiên cứu nhằm mô tả sự vật, hiện tượng mà thông tin thu thập chủ yếu là thông tin dưới dạng thang đo danh nghĩa hay thang đo thứ bậc Loại hình nghiên cứu này cũng không quan tâm đến sự biến thiên của đối tượng nghiên cứu và cũng không nhằm lượng hóa sự biến thiên này Vì vậy, không nhất thiết phải áp dụng các công cụ thống kê trong nghiên cứu định tính
Theo Berg (2009) cho rằng nghiên cứu định tính hướng đến ý nghĩa, khái niệm, định nghĩa, đặc điểm, biểu tượng và mô tả các đối tượng nghiên cứu Theo Cooper và Schindler (2006) lại cho rằng, khi nghiên cứu trong nhiều trường hợp ta cần phải hiểu tại sao vấn đề nghiên cứu xuất hiện và vì lý do nào Nếu ta biết cái gì xảy ra, xảy ra thường xuyên hay không thì tiếp cận theo nghiên cứu định tính sẽ phù hợp Nhưng để hiểu các ý nghĩa tại sao con người có những hành vi, hành động khác nhau, ta cần phải biết và áp dụng các kỹ thuật nghiên cứu cho phù hợp nhằm khám phá ra sự lý giải, hiểu biết và động lực ẩn giấu của họ Vì vậy, nghiên cứu định tính nhằm vào việc cho
ta biết như thế nào và tại sao mà sự vật, hiện tượng nghiên cứu xảy ra
Cooper và Schindler (2006) cũng cho rằng nghiên cứu định tính thường được áp dụng trong các lĩnh vực nhân chủng học, xã hội, tâm lý, ngôn ngữ học, truyền thông,
Trang 36kinh tế học,… Theo hai tác giả này, nghiên cứu định tính rất phù hợp trong các bối cảnh cụ thể sau:
- Sử dụng cẩn thận kết quả tổng quan tài liệu để xây dựng các câu hỏi thăm dò
- Xem xét kỹ lưỡng để chọn lựa phương pháp luận nghiên cứu
- Chọn mẫu phù hợp với vấn đề nghiên cứu thay vì chọn mẫu để đạt được tính đại diện cho tổng thể
- Xử lý dữ liệu từ nhiều nguồn và trong những bối cảnh khác nhau
- Tổ chức việc đánh giá chuyên gia về kết quả nghiên cứu để có thêm được sự rõ ràng, hiểu biết sâu sắc và giảm sai lệch
Với bản chất như vậy, nghiên cứu định tính bao gồm một chuỗi các kỹ thuật diễn giải nhằm mô tả, giải mã, … để hiểu được các ý nghĩa Mặt khác, khi cần hiểu một khái niệm hay một hiện tượng thì cách tiếp cận định tính đáng được sử dụng Nghiên cứu định tính mang tính khảo sát và hữu ích khi nhà nghiên cứu chưa biết những biến
số quan trọng để xem xét Cách tiếp cận này nhìn chung là cần thiết bởi vì đề tài còn mới mẻ và chưa được xử lý với một mẫu hay nhóm nghiên cứu nhất định nào đó
2.1.11.2 Nghiên cứu định lƣợng
Nghiên cứu định lượng là loại hình nghiên cứu mà ta muốn lượng hóa sự biến thiên của đối tượng nghiên cứu Vì thế, thống kê là công cụ được ứng dụng cho việc lượng hóa các thông tin của nghiên cứu định lượng
Các phương pháp định lượng bao gồm quy trình thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, giải thích và viết ra các kết quả của một công trình nghiên cứu Các phương pháp chuyên biệt được phát triển cho các loại hình nghiên cứu chủ yếu dựa trên khảo sát Các phương pháp này liên quan đến việc xác định kích cỡ mẫu và tổng thể, chiến lược điều tra, thu thập dữ liệu, phân tích và trình bày kết quả nghiên cứu, đưa ra giải thích, nhận định và viết nghiên cứu theo cách thức phù hợp với một công trình nghiên cứu tùy theo loại hình của nó
Nghiên cứu định lượng rất hữu ích và phù hợp nếu vấn đề ta cần nghiên cứu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến một kết quả nào đó, tác động của việc can thiệp vào một vấn đề nào đó bằng chính sách kinh tế hay phân tích dự báo sự xuất hiện của sự vật hiện tượng theo những điều kiện cho trước Cách tiếp cận định lượng cũng là cách tiếp cận tốt nhất cho việc kiểm định một lý thuyết hay cách giải thích thuyết phục và
có căn cứ khoa học
2.1.11.3 Nghiên cứu phối hợp
Nghiên cứu theo phương pháp phối hợp sử dụng các khía cạnh của cả phương pháp định lượng lẫn định tính Trên thực tế cho thấy, nghiên cứu phối hợp cả phương pháp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính lại khá phổ biến trong ngành khoa học
xã hội nhân văn, trong đó có ngành kinh tế và quản trị
Trang 37Thông thường trong nghiên cứu ta thường dựa trên một quan sát với kích cỡ mẫu đủ lớn để kết quả đạt mức tin cậy cần thiết Ta cũng thường mong muốn dùng số liệu, thông tin của mẫu để ước đoán số liệu, thông tin của tổng thể nghiên
2.2 Lựa chọn và đặt tên đề tài nghiên cứu
2.2.1 Làm đề tài bắt đầu từ đâu
Khi lựa chọn đề tài nghiên cứu, có thể có những khả năng sau:
Giáo viên hướng dẫn áp đặt một đề tài mà mình đang quan tâm, ưu tiên trong các nghiên cứu trước mắt: lúc này có thể người hướng dẫn sẽ có tâm thế sẵn sàng hơn khi hướng dẫn những đề tài như vậy;…
Giáo viên hướng dẫn gợi ý một đề tài được cho là phù hợp, có thể là phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế trong thời điểm hiện tại
Sinh viên lựa chọn một đề tài trong danh sách các đề tài nghiên cứu của người hướng dẫn: ở đó có thể có đủ cả những vấn đề bắt buộc phải nghiên cứu, những vấn
đề ưu tiên, những vấn đề ưa thích, hay chỉ đơn giản là những gợi ý nghiên cứu;… Sinh viên lựa chọn một đề tài từ các ý tưởng có sẵn của mình: có thể liên quan đến những lợi ích, điều kiện thuận tiện trước mắt hoặc khả năng, mục tiêu nghiên cứu của sinh viên đối với đề tài nghiên cứu
Sinh viên và người hướng dẫn trao đổi, thảo luận với nhau, mỗi người đưa ra những
ý tưởng, lí do, đánh giá ưu nhược điểm của mỗi vấn đề, và cuối cùng đi đến một lựa chọn phù hợp nhất cho cả hai: đây là cách khá phổ biến, lời khuyên của người thầy giúp sinh viên định hướng tốt hơn trong quyết định của mình mà không có cảm giác bị
áp đặt, điều này sẽ ảnh hưởng không ít đến động cơ và hứng thú làm việc về sau; Ngoài ra cần lưu ý: nội dung nghiên cứu của một đề tài khoa học phải được phản ánh một cách cô đọng nhất trong tiêu đề của nó Tên của đề tài cần có tính đơn nghĩa, khúc chiết, rõ ràng, không dẫn đến những sự hiểu lầm, hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau hay hiểu mập mờ
Có một số điểm cần lưu ý hạn chế khi đặt tên cho đề tài như sau:
- Dùng những cụm từ có độ bất định thông tin cao: như "Về ", "Thử bàn về ",
"Một số biện pháp ", "Một số vấn đề ", "Tìm hiểu về ",… vì càng bất định thì nội dung phản ánh được càng không rõ ràng, chính xác;
Trang 38- Thể hiện tình cảm, thiên kiến, quan điểm: một tiêu chí quan trọng khác trong khoa học, đó là tính khách quan, không phụ thuộc vào tình cảm, chính kiến, quan điểm, vì chúng thường có tính nhất thời, tính lịch sử trong một thời điểm nhất định
2.2.2 Đặc điểm của đề tài nghiên cứu tốt
Có thể có một số đề tài đòi hỏi những kĩ năng đặc biệt hoặc sự đầu tư thời gian và công sức nhiều hơn bình thường, nhưng nhìn chung đối với sinh viên nghiên cứu khoa học, một đề tài sẽ có kết quả tốt nếu như chịu làm việc một cách có phương pháp, có
óc tìm tòi và một chút thông minh, sáng tạo Về mặt phương pháp, một đề tài tốt phải khuyến khích một quá trình học tập có tính sáng tạo và lâu dài của sinh viên về các phương pháp nghiên cứu cũng như kĩ thuật trình bày ý tưởng và kết quả thu thập được
Thông thường, một đề tài nghiên cứu được đánh giá là tốt khi:
- Có phạm vi giới hạn: vì phạm vi càng hẹp vấn đề sẽ càng được đào sâu, trong khi một vấn đề có phạm vi rộng sẽ dễ dẫn đến nguy cơ dàn trải, thiếu tập trung, xử lí các vấn đề chỉ ở trên bề mặt;
- Có tính mới và độc đáo: kết quả nghiên cứu phải mang lại một sự tiến bộ nhất định trong tri thức khoa học chuyên ngành, không trùng lắp với những kết quả, công trình đã công bố trước đó;
- Khả năng xử lí vấn đề tương đối trọn vẹn: sao cho kết quả thu được giúp rút ra những kết luận rõ ràng, góp phần giải quyết hầu hết các vấn đề cơ bản cần nghiên cứu
đã đặt ra (thể hiện qua tên đề tài);
- Thể hiện bằng một báo cáo kết quả nghiên cứu: chặt chẽ trong phương pháp tiến hành, rõ ràng trong phong cách trình bày và dễ đọc Do đó, để hướng đến một kết quả tốt cho công tác nghiên cứu, cần lưu ý những điểm sau khi chọn đề tài:
+ Khả năng thực hiện;
+ Khả năng truy cập các nguồn thông tin, tài liệu chuyên ngành;
+ Sự hỗ trợ của các chuyên gia và nhà chuyên môn;
+ Các điều kiện, phương tiện, thiết bị nghiên cứu;
+ Những thói quen, yêu cầu, xu hướng về chuyên môn và quản lí;…
+ Giải pháp mang tính thiết thực và có khả năng giải quyết được các vấn đề nghiên cứu
Tất cả phải đáp ứng đủ yêu cầu để có thể tiến hành được đề tài nghiên cứu và đạt được đến đích mong muốn
2.3 Đặt giả thuyết khoa học để định hướng nghiên cứu
Trong nghiên cứu, giả thuyết đóng một số vai trò quan trọng bao gồm hướng dẫn, định hướng nghiên cứu, xác minh các sự kiện nào là phù hợp và không phù hợp với
Trang 39nghiên cứu, từ đó đề xuất các dạng nghiên cứu thích hợp nhất và cung cấp khung sườn
để định ra các kết luận về kết quả nghiên cứu
Vấn đề đặt ra là như thế nào thì được xem là một giả thuyết tốt? Một giả thuyết tốt thỏa mãn các điều kiện sau đây: phù hợp với mục tiêu của nó, có thể kiểm định được
và tốt hơn các giả thuyết cạnh tranh khác
Về cách viết, giả thuyết nên được viết dưới dạng một câu khẳng định, rõ ràng, cụ thể và rõ ràng về khái niệm Để dễ dàng kiểm định, giả thuyết nên bao hàm chỉ một ý tưởng duy nhất, mang tính đơn hướng nghĩa là chỉ phát biểu về một quan hệ duy nhất giữa các biến số Phát biểu của giả thuyết thường phải phù hợp với lý thuyết hoặc phù hợp với quy luật chung mà ta quan sát thấy trên thực tiễn trong trường hợp không có lý thuyết nền Giả thuyết cũng phải tạo ra khả năng kiểm định được thông qua quá trình thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu Chính vì vậy, các khái niệm mà giả thuyết đưa ra phải có khả năng đo lường để có thể áp dụng các kiểm định thống kê cần thiết
Thông thường giới nghiên cứu phân loại giả thuyết theo nhiều cách khác nhau nhưng phổ biến nhất là ba loại: giả thuyết mô tả, giả thuyết tương quan, giả thuyết nhân quả Trong đó:
Giả thuyết mô tả phát biểu về sự tồn tại, kích thước, dạng hình hoặc phân phối của một biến nào đó Thường các giả thuyết được mô tả thành dạng câu hỏi nghiên cứu Giả thuyết tương quan phát biểu mô tả quan hệ giữa hai biến hoặc phát biểu rằng một số biến xuất hiện cùng với nhau theo một cách nào đó nhưng không có nghĩa là biến này là nguyên nhân của biến kia Quan hệ tương quan là quan hệ hai chiều, biểu thị sự tác động qua lại giữa hai biến quan sát Ví dụ: Chính sách thuế bất động sản hiện nay có quan hệ với giá nhà trên thị trường bất động sản
Giả thuyết giải thích cho phép ám chỉ rằng sự hiện diện hoặc thay đổi của một biến gây ra hoặc dẫn đến sự thay đổi của một biến khác Biến nguyên nhân được gọi là biến độc lập và biến còn lại gọi là biến phụ thuộc Quan hệ nhân quả là quan hệ một chiều, biểu thị sự tác động của một biến này đến một biến khác mà không có chiều ngược lại
Ví dụ: Một sự gia tăng về thu nhập của hộ gia đình dẫn đến một sự gia tăng về tỷ lệ tiền thu nhập tiết kiệm được
Chúng ta có thể thực hiện các công việc sau để xây dựng giả thuyết:
- Thảo luận với bạn bè, đồng nghiệp và các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu về vấn đề nghiên cứu, nguồn gốc của nó và mục tiêu cụ thể của việc tìm ra lời giải đáp
- Khảo sát những thông tin, dữ liệu sẵn có về vấn đề nghiên cứu
- Khảo sát những nghiên cứu trước đây về những vấn đề liên quan hoặc những nghiên cứu tương tự đã được thực hiện ở những địa phương/quốc gia khác
- Thông qua khảo sát và phán đoán của riêng chúng ta về vấn đề nghiên cứu hoặc qua việc lấy ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu
Trang 402.4 Cơ sở lý thuyết trong nghiên cứu
Sau khi đã xác định được vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu thì bước tiếp theo là tổng hợp và xây dựng cơ sở lý thuyết trong nghiên cứu Việc tổng hợp về tài liệu nghiên cứu cho phép chúng ta hiểu
và có được một nền tảng lý thuyết vững chắc liên quan đến vấn đề nghiên cứu Trong phần này ta cũng đánh giá qua về lịch sử nghiên cứu của đề tài bao gồm các kinh nghiệm từ các nghiên cứu tương tự trước đó đã được thực hiện
Việc tổng hợp và xây dựng cơ sở lý thuyết trong nghiên cứu giúp ta định hình rõ hơn cách tiếp cận vấn đề cần nghiên cứu từ đó có những nhận định đúng đắn về phương pháp nghiên cứu và phân tích Do đó, việc xây dựng và trình bày cơ sở lý thuyết trong nghiên cứu cần có sự định hình và mạch lạc về các khái niệm, các mô hình và biến số liên quan đến nghiên cứu, cách thức đo lường mối quan hệ giữa các biến,…Để làm được công việc này ta cần đọc khá nhiều tài liệu lý thuyết về kinh tế trong nước và nước ngoài, từ đó có được cơ sở tin cậy khi trình bày về cơ sở lý thuyết trong nghiên cứu Ngoài ra, chúng ta cũng cần lưu ý rằng, vấn đề nghiên cứu đã được
đề cập trong các nghiên cứu trước đây thường được lý giải ở các khía cạnh và góc độ khác nhau Các lý thuyết này có thể liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu và vì vậy khi tổng hợp tài liệu nghiên cứu ta phải chú ý để lựa chọn ra những lý thuyết nào phù hợp và liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài nghiên cứu
Để phát hiện và xây dựng các lý thuyết liên quan trực tiếp và gián tiếp thì cách tốt nhất là xây dựng một khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu Khung lý thuyết được đề cập ở đây là sự tóm tắt các ý tưởng chủ đạo của các lý thuyết mà ta có thể vận dụng làm nền tảng cho nghiên cứu của mình Dựa trên khung lý thuyết này ta sẽ chọn lọc và giữ lại các lý thuyết cần thiết, liên quan trực tiếp làm nền tảng cho nghiên cứu, cũng như loại bỏ những lý thuyết không liên quan Như vậy có thể thấy rằng: việc sử dụng khung lý thuyết có hai vai trò lớn đó là giúp rút ngắn thời gian tổng hợp tài liệu vì tránh được việc đọc các tài liệu không liên quan và tóm lược được các ý tưởng chủ yếu của các lý thuyết mà ta có thể dựa vào để giải quyết vấn đề nghiên cứu
2.5 Xây dựng đề cương nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu là một văn bản chỉ ra các nội dung sẽ tiến hành thực hiện nghiên cứu Có thể xem đề cương nghiên cứu là một bản kế hoạch chi tiết, tổng hợp tất
cả các nội dung mang tính kế hoạch mà ta sẽ thực hiện khi thực thi đề tài nghiên cứu Chính vì vậy, đề cương nghiên cứu được trình bày như là một báo cáo nghiên cứu khả thi của nghiên cứu Đề cương nghiên cứu phải thể hiện kết quả của các bước ta đã đạt được trong quá trình tìm kiếm ý tưởng và chuẩn bị kế hoạch Thông thường, nếu xem tiến trình nghiên cứu là một quá trình xuyên suốt từ việc tìm kiếm ý tưởng nghiên cứu cho đến báo cáo công bố kết quả nghiên cứu thì việc hoàn thiện đề cương nghiên