Tiểu luận triết học anh chị hãy trình bày những nhận thức của mình về các quan niệm triết học trong lịch sử phương đông và phương tây Tiểu luận triết học anh chị hãy trình bày những nhận thức của mình về các quan niệm triết học trong lịch sử phương đông và phương tây Tiểu luận triết học anh chị hãy trình bày những nhận thức của mình về các quan niệm triết học trong lịch sử phương đông và phương tây Tiểu luận triết học anh chị hãy trình bày những nhận thức của mình về các quan niệm triết học trong lịch sử phương đông và phương tây Tiểu luận triết học anh chị hãy trình bày những nhận thức của mình về các quan niệm triết học trong lịch sử phương đông và phương tây Tiểu luận triết học anh chị hãy trình bày những nhận thức của mình về các quan niệm triết học trong lịch sử phương đông và phương tây Tiểu luận triết học anh chị hãy trình bày những nhận thức của mình về các quan niệm triết học trong lịch sử phương đông và phương tây
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
VỚI CUỘC SỐNG
Giáo viên hướng dẫn : TS Tạ Thị Vân Hà
Trang 2MỞ ĐẦU 2
PHẦN I 3
KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TRIẾT HỌC 3
PHẦN NỘI DUNG 5
1 Những đặc điểm của lịch sử triết học phương Đông 5
1.1 Những đặc điểm cơ bản của lịch sử triết học Ấn Độ 5
1.2 Những đặc điểm cơ bản của lịch sử triết học Trung Quốc 7
2 Những đặc điểm của lịch sử triết học Phương Tây 8
2.1 Những đặc điểm cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại 8
2.2 Một số đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời trung cổ 10
2.3 Những đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng 11
2.4 Những đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại 12
2.5 Những đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức 13
3.1 Sự giống nhau 14
3.2 Sự khác nhau 15
1 Về hướng tiếp cận của minh triết phương Đông và triết học phương Tây 16
2 Về tính chất của minh triết phương Đông và triết học phương Tây 18
3 Về mục đích của triết học 18
4 Về đối tượng của triết học phương Đông và triết học phương Tây 18
5 Về phương tiện, phương pháp nhận thức của minh triết phương Đông và triết học phương Tây 19
6 Về sự phát triển của minh triết phương Đông và triết học phương Tây 23
7 Về phép biện chứng trong minh triết phương Đông và trong triết học phương Tây 23
PHẦN II 25
LIÊN HỆ THỰC TIỄN BẢN THÂN ĐỂ THẤY VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC VỚI ĐỜI SỐNG - VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC VỚI VIỆC HỌC VÀ HÀNH CỦA HỌC VIÊN, SINH VIÊN HIỆN NAY 25
KẾT LUẬN 30
2
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử văn hoá nhân loại nói chung
và tư tưởng triết học nói riêng, triết học Phương Đông và triết học Phương Tây cónhiều nội dung phong phú, đa dạng Những giá trị của nó đã để lại dấu ấn đậm nét và
có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử loài người Triết học Phương Đông và triết họcPhương Tây không thể thoát ly những vấn đề chung của lịch sử triết học Mặc dù vậy,giữa triết học Phương Đông và triết học Phương Tây vẫn có những đặc điểm đặc thùcủa nó Nghiên cứu về triết học Phương Đông và triết học Phương Tây, đặc biệt là sosánh sự khác nhau của nó là một vấn đề phức tạp, nhưng cũng rất lý thú, vì qua đó ta
có thể hiểu biết sâu sắc thêm những giá trị về tư tưởng văn hoá của nhân loại Việcnhận thức một cách đầy đủ những giá trị của hai nền Triết học này là một vấn đề có ýnghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vừa cấp bách, vừa lâu dài Do đó tôi chọn “Đề tài:Anh chị hãy trình bày những nhận thức của mình về các quan niệm Triết học trong lịch
sử Phương Đông và Phương Tây làm đề tài nghiên cứu trong bài tiểu luận của mình
3
Trang 5PHẦN I KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TRIẾT HỌC
Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị
trí, vai trò của con người trong thế giới ấy Triết học nghiên cứu về các câu hỏi chung
và cơ bản về sự tồn tại, kiến thức, giá trị, lý trí, tâm trí và ngôn ngữ Những câu hỏinhư vậy thường được đặt ra là vấn đề cần nghiên cứu hoặc giải quyết Phương pháptriết học bao gồm đặt câu hỏi, thảo luận phê bình, lập luận hợp lý và trình bày có hệ
thống Về nguồn gốc, triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây từ khoảng thế
kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN, tại các quốc gia văn minh cổ đại như: Hy Lạp, Ấn Độ,Trung Quốc
Ở phương Tây, khái niệm triết học lần đầu tiên xuất hiện tại Hy Lạp với têngọi φιλοσοφία nphilosophia) có nghĩa là “"love of wisdom” - “tình yêu đối với sựthông thái” bởi nhà tư tưởAng Hy Lạp cổ đại mang tên Pythagoras Với người Hy Lạp,triết học mang tính định hướng đồng thời cũng nhấn mạnh khát vọng tìm kiếm chân lýcủa con người
Ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học được bắt nguồn từ chữ triết và được hiểu là sựtruy tìm bản chất của đối tượng, là trí tuệ, sự hiểu biết sâu sắc của con người Còn tại
Ấn Độ, darshanas ntriết học) lại mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đườngsuy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải
Nói tóm lại, ngay từ đầu, dù cho ở phương Đông hay phương Tây, triết học cũngđều là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người Tồntại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội Lúc đầu, Triết học bao gồm tri thức củahầu hết các môn khoa học, Triết học thậm chí còn coi là “Khoa học của các Khoahọc” Qua thời gian và lịch sử do nhu cầu ngày càng đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu thếgiới nên các khoa học cụ thể dần dần tách ra khỏi Triết học để trở thành một mônnghiên cứu độc lập Đối tượng nghiên cứu của Triết học cũng từng bước được xác lập.Bản thân quan niệm về Triết học cũng có sự thay đổi trong lịch sử Triết học ra đời dokết quả của sự tách biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay Bên cạnh đó, Triếthọc ra đời còn do tư duy nhân loại đã phát triển ở trình độ cao – trình độ hệ thống hóa,khái quát hóa và trừu tượng hóa Theo quan điểm của Triết học Mác- Lênin: “Triết học
Trang 6là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trongthế giới” Ăngghen Tiểu Luận Triết Học - 4 - khẳng định “vấn đề cơ bản lớn của mọiTriết học đặc biệt là của Triết học hiện đại, là quan hệ giữa tư duy với tồn tại” Vấn đề
cơ bản của Triết học gồm hai mặt: - Mặt thứ nhất, tư duy và tồn tại ný thức và vật chất)cái nào có trước cái nào có sau? Cái nào quyết định cái nào? - Mặt thứ hai, con người
có khả năng nhận thức thế giới hay không? Tùy theo cách giải quyết vấn đề cơ bản củaTriết học mà người ta phân chia thành hai trường phái: Duy vật và Duy tâm + Triếthọc Duy vật cho rằng vật chất có trước, vật chất quyết định ý thức Con người hoàntoàn có thể nhận thức được thế giới, chỉ có những gì con người chưa biết chứ không cócái gì con người không biết Có những sự vật và hiện tượng mà các thế hệ hôm naychưa biết nhưng cùng với sự phát triển của thực tiễn, của khoa học thì các thế hệ maisau hoàn toàn có thể sẽ nhận thức được + Triết học Duy tâm ndù là Duy tâm chủ quanhay Duy tâm khách quan) đều cho rằng ý thức có trước, ý thức quyết định vật chất.Nhìn chung thì Triết học Duy tâm phủ nhận khả năng nhận thức của con người nếu cónhận thức được thì con người chỉ có thể nhận thức được cái bề ngoài chứ không thểnhận thức được bản chất bên trong của các sự vật hiện tượng Bên cạnh cuộc đấu tranhgiữa chủ nghĩa Duy vật và chủ nghĩa Duy tâm, lịch sử Triết học còn diễn ra cuộc đấutranh giữa hai phương pháp: Biện chứng và Siêu hình - Phương pháp Biện chứngkhẳng định các sự vật hiện tượng trong thế giới tồn tại trong mối liên hệ phổ biến vàvận động, phát triển không ngừng - Phương pháp Siêu hình nhìn nhận thế giới trong
sự cô lập, tách rời nhau, tĩnh tại bất biến, nếu có vận động thì chỉ là sự tăng giảm về sốlượng mà không có sự biến đổi về chất Trên cơ sở nhận thức những vấn đề chung nêutrên, chúng ta có thể đánh giá, so sánh đặc điểm Triết học Phương Tây và Triết họcPhương Đông cổ đại thông qua quan niệm của các nhà Triết học tiêu biểu
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
1 Những đặc điểm của lịch sử triết học phương Đông
1.1 Những đặc điểm cơ bản của lịch sử triết học Ấn Độ
Là một trong những hình thái ý thức xã hội, triết học Ấn Độ hình thành, pháttriển và nội dung, đặc điểm của nó tất yếu bị chi phối và phản ánh những điều kiện tựnhiên, điều kiện khí hậu đa dạng, khắc nghiệt cùng với sự quy định và ảnh hưởng sâusắc bởi điều kiện lịch sử - xã hội Ấn Độ khá đặc biệt thời cổ đại Đó là chế độ nô lệmang tính chất gia trưởng hà khắc, lại bị kìm hãm bởi công xã nông thôn và chế độphân biệt đẳng cấp xã hội - chế độ varna, hết sức khắt khe Quá trình hình thành, nộidung và đặc điểm của triết học Ấn Độ còn dựa trên sự phát triển của nền văn minh Ấn
Độ cổ, từ thời kỳ văn minh sông Ấn nthiên niên kỷ III tr CN đến thiên kỷ II tr CN)qua nền văn minh Veda - Sử thi nkhoảng thế kỷ XV tr CN - thế kỷ VI tr CN), đếnthời kỳ Phật giáo - Bàlamôn giáo nthế kỷ VI tr CN - thế kỷ III sau CN), với thành tựukhoa học và văn hóa nổi bật trên các lĩnh vực như: thiên văn học, lịch pháp, toán học,
y học, văn học, nghệ thuật, kiến trúc Tất cả luôn tác động và ghi dấu ấn sâu đậm đếnnội dung, đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại
Trên cơ sở điều kiện và tiền đề đó, triết học Ấn Độ cổ đại đã hình thành, pháttriển và trải qua hai thời kỳ: Thời kỳ Veda - Sử thi ntừ thế kỷ XV trước CN đến thế kỷ
VI trước CN) triết học Ấn Độ được thể hiện trong kinh Veda, Upanishad, trong Sử thi
cổ Ấn Độ Ràmàyana và Mahàbhàrata, trong đó thế giới quan thần thoại tôn giáo mangtính chất đa thần tự nhiên chiếm địa vị thống trị Và sau đó là sự biến chuyển từ thếgiới quan đa thần sang nhất thần và cuối cùng hòa trộn với nó là thuyết nhất nguyên,với quan niệm về “Tinh thần vũ trụ tối cao” là bản thể của thế giới, đánh dấu bướcchuyển từ tư duy thần thoại tôn giáo sang tư duy triết học Thời kỳ Cổ điển hay thời kỳPhật giáo - Bàlamôn giáo ntừ thế kỷ VI trước CN đến thế kỷ III sau C.N) là thời kỳhình thành các trường phái triết học lớn như: Sànkhya, Vais’esika, Nyàya, Yoga,Mimàmsà và Vedànta, gọi là các darsanas hay hệ thống triết học chính thống nas’tika),
và các môn phái Jaina, Lokàyata và Phật giáo , gọi là hệ thống triết học không chínhthống nnas’tika), đi sâu lý giải về thế giới và nhân sinh hệ thống chặt chẽ hơn
Qua bức tranh khái quát về triết học Ấn Độ cổ đại, có thể thấy rõ một số đặc
Trang 8điểm chủ yếu: Nếu xem xét triết học Ấn Độ ở tổng thể và tính chất, ta thấy triết học
Ấn Độ cổ đại vừa mang tính thống nhất vừa mang tính đa dạng Trên cùng cơ sở xãhội và một mục đích chung là đi tìm lẽ sống cho nhân sinh, nhưng các trường phái triếthọc Ấn Độ lại phát triển theo các khuynh hướng và tính chất khác nhau Có trườngphái nhất nguyên như Vedànta nhưng cũng có những phái nhị nguyên hay đa nguyênnhư Jaina, Sànkhya, Vaise’sika; có những trường phái duy tâm triệt để như Vedànta,Yoga, nhưng cũng có trường phái duy vật triệt để như Lokàyata và những trường pháivừa giải thích thế giới bằng sự tiến hóa của vật chất do sự kết hợp hay phân rã củanguyên tử, vừa đề cao Thượng đế; có trường phái đề cao phương pháp rèn luyện đạođức và trí tuệ, trực giác như phái Vedànta, có những trường phái đi sâu phương pháptiếp cận chân lý bằng học thuyết nhận thức và lô gích học đặc sắc như Vais’esika,Nyàya Trường phái Jaina cho rằng dục vọng và vật dục dẫn tới sự đau khổ, do vậyphải tu luyện theo luật ahimsa Trong khi đó, Phật giáo vừa không thừa nhận thế giớiquan thần quyền vừa chủ trương vạn pháp đều do nhân duyên tác động cho nên “vôthường”, “vô ngã” Và, căn cứ của nhân duyên là ở tâm chúng ta Do đó, muốn giảithoát, con người phải cắt đứt nhân duyên, xóa vô minh, diệt dục vọng bằng “Bát chínhđạo”, để đạt tới cái tâm thanh tịnh, giác ngộ, giải thoát và Niết bàn Nếu tiếp cận triếthọc Ấn Độ ở phương diện động lực, chúng ta thấy sự cạnh tranh, kế thừa giữa cáctrường phái triết học duy vật, vô thần như “Lục sư ngoại đạo”, Càrvàka với các trườngphái triết học duy tâm, tôn giáo như triết lý Veda, Upanishad, giáo lý đạo Bàlamôn,triết lý Vedànta, là đặc điểm xuyên suốt của triết học Ấn Độ cổ Nếu xem xét triết học
Ấn Độ ở mặt giá trị, triết lý đạo đức nhân sinh và mục đích tối cao là giải thoát conngười khỏi nỗi khổ, trên bình diện tinh thần, tâm linh, bằng con đường tu luyện đạođức nkarma-yoga), trí tuệ nprajna-yoga) và tín ái nbhakti-yoga), là đặc điểm trung tâmcủa triết học Ấn Độ cổ đại
Với nội dung và đặc điểm trên, triết học Ấn Độ cổ đại thực sự có ý nghĩa to lớntrên nhiều mặt Về mặt tư tưởng, triết học Ấn Độ cổ đại đã nghiên cứu, làm sáng tỏhầu hết các lĩnh vực cơ bản của triết học, do đó, nó đã góp phần vào mài sắc tư duy,phát triển nhận thức, làm phong phú và sâu sắc những quan điểm về thế giới và nhânsinh trong triết học Ấn Độ Về mặt tôn giáo, triết học Ấn Độ với tư cách là khoa học đitìm chân lý, bao giờ cũng là cơ sở triết lý cho một tôn giáo nào đó Còn tôn giáo chính
Trang 9là sự thể nghiệm chân lý đó, biến triết lý đó thành đạo lý, đức tin bằng sự tu luyện đạođức, trí tuệ trực giác, thông qua giáo lý, giới luật và các lễ nghi tôn giáo Về mặt đạođức, triết học Ấn Độ cổ đại luôn quan tâm đến con người, đưa ra các phương pháp rènluyện hoàn thiện con người, cố gắng xây dựng cho con người mục đích, lý tưởng sống
và những quan hệ và chuẩn mực cao đẹp
1.2 Những đặc điểm cơ bản của lịch sử triết học Trung Quốc
Lịch sử triết học Trung Quốc thấm đượm tinh thần nhân văn, trong đó Nho gia làmột học thuyết tiêu biểu, đã coi con người là chủ thể của đối tượng nghiên cứu, đãtách con người khỏi động vật và thần linh, và cho rằng: “con người có khí, có sinh, cótrí thì cũng có nghĩa, bởi vậy là vật quý nhất trong thiên hạ) nTuân Tử-Vương Chế).Nho gia thừa nhận vũ trụ là trời - đất- người cùng một thể, người được xếp ngang hàngvới trời - đất thành một bộ “tam tài” Như vây ngay từ buổi đầu, triết học Trung Quốc
mà Nho gia là tiêu biểu đã khẳng định rõ giá trị của con người, thể hiện tinh thần nhânvăn đậm nét và thấm nhuần tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” Trên cơ sở tư tưởng đó,những mệnh đề khác đã ra đời như: tâm, tính, tình, lý, khí, lương tri, “thiên nhân cảmứng”… nhưng suy cho cùng đều phục vụ cho giải quyết vấn đề nhân sinh của conngười và xã hội Có thể nói trong tư tưởng triết học Trung Quốc, Các loại liên quanđến con người như triết học nhân sinh, triết học chính trị, triết học lịch sử đều pháttriển còn triết học tự nhiên có phần mờ nhạt
Vấn đề trọng tâm của tinh thần nhân văn trong lịch sử triết học Trung Quốc làvấn đề đạo đức xã hội và đạo đức con người Họ luôn luôn tìm tòi, xây dựng nhữngnguyên lý, những chuẩn mực đạo đức để thích nghi trong lịch sử và bảo vệ lợi ích củagiai cấp thống trị trong xã hội Nhiều trường phái tư tưởng đã đưa ra những nguyên tắcđạo đức cao nhất của mình và chứng minh đó là hợp lý nhất: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tíncủa Nho gia; Vô vi của Đạo gia; Kiêm ái của Mặc gia; Công và Lợi của Pháp gia.Những nguyên tắc đạo đức luôn gắn liền với tính đẳng cấp trong xã hội, coi nhẹ thuộctính tự nhiên của con người
Triết học Trung Quốc thường đem luân thường đạo lý của con người gán cho vạnvật trong trời đất, biến trời thành hoá thân của đạo đức rồi lấy thiên đạo chứng minhcho nhân thế Vũ trụ quan, nhân sinh quan, nhận thức luận của nhà Nho đều thấmđượm ý thức đạo đức Chuẩn mực đạo đức trở thành đặc điểm nổi bật Vì vậy, họ tranh
Trang 10luận xung quanh vấn đề thiện ác Họ liên hệ việc nhận thức thế giới khách quan vớiviệc tu nhân, dưỡng tính cá nhân Thậm chí họ coi việc dưỡng tính cá nhân là cơ sởcủa việc nhận thức thế giới khách quan, “người tận tâm thì biết được tính của mình,biết được tính của mình thì biết được trời” Vì vậy, trong mấy ngàn năm lịch sử, cáctriết học đều theo đuổi cái vương quốc luân lý đạo đức, họ xem đạo đức là cái “trờiphú” Bởi thế, họ xem việc thực hành đạo đức là hoạt động thực tiễn căn bản nhất củamột đời người, đặt lên vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội Có thể
nói, đây là nguyên nhân triết học dẫn đến sự kém phát triển về nhận thức luận và
sự lạc hậu về khoa học thực chứng ở Trung Quốc
Mặt khác, triết học Trung Quốc đặc biệt chú ý đến sự hài hoà thống nhất giữa cácmặt đối lập Các nhà triết học đều xem xét một cách biện chứng sự vận động của vũtrụ, xã hội, nhân sinh, đều chú ý đến mặt đối lập thống nhất của sự vật Đa số họ đềunhấn mạnh sự hài hoà thống nhất giữa các mặt đối lập, coi việc điều hoà mâu thuẫn làmục tiêu cuối cùng để giải quyết vấn đề Đạo gia, nho gia, Phật giáo đều phản đối cái
“thái quá”, “bất cập” Tính tổng hợp và tính quán xuyến của hàng loạt các phạm trù
“Thiên nhân hợp nhất”, “Tri hành hợp nhất”, “Thể dụng hợp nhất”, “Tâm vật dunghợp”, “Cảnh và tình hợp nhất”… đã thể hiện sự hài hoà thống nhất của tư tưởng triếthọc cổ đại Trung Quốc
2 Những đặc điểm của lịch sử triết học Phương Tây
2.1 Những đặc điểm cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại
Tư tưởng triết học ra đời rất sớm ở Hy Lạp cổ đại, nhưng với tư cách là một hệthống nmột nền) triết học hoàn chỉnh, nó xuất hiện khoảng thế kỷ VII đến đầu thế kỷ
VI tr.CN
Hy Lạp cổ đại là một vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm nhiều thành bang ở phíanam bán đảo Bancăng, nhiều đảo trên biển Êgiê và vùng Tiểu Á
Khoảng thế kỷ X tr.CN, Hy Lạp cổ đại dần chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ
Từ thế kỷ VII tr.CN, đồ sắt phát triển đã thúc đẩy các ngành kinh tế cũng như giao lưubuôn bán phát triển giữa các vùng của Hy Lạp và giữa Hy Lạp với các nước khác
Hy Lạp còn là quê hương của toán học, văn học, thần thoại, của phong tràoÔlimpíc Những điều này cũng là nhân tố thúc đẩy cho triết học Hy Lạp cổ đại ra đời
và phát triển
Trang 11Do sự phát triển của kinh tế, nên sự phân công lao động diễn ra khá sâu sắc Điềunày đã góp phần hình thành tầng lớp trí thức Đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy sựphát triển của khoa học nói chung và triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng Trong xã hội
có hai giai cấp chủ yếu là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ Trong giai cấp chủ nô saunày cũng có sự phân hóa thành chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc Chính cuộc đấutranh giữa chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc đã là những điều kiện chính trị quan trọngcho cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học HyLạp cổ đại nói riêng cũng như sự ra đời và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại nóichung
Dựa trên điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và sự phát triển của khoa học cũngnhư chính sự phát triển của bản thân triết học Hy Lạp cổ đại Có thể thấy, triết học HyLạp cổ đại có những đặc điểm cơ bản sau:
1 Triết học Hy Lạp cổ đại là triết học của giai cấp chủ nô thống trị trong xã hội
Hy Lạp khi ấy Cho nên, triết học Hy Lạp cổ đại ngay từ khi mới ra đời đã mang tínhđảng, tính giai cấp sâu sắc Điều này thể hiện ở cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm; giữa hai phương pháp biện chứng và siêu hình; giữa quan điểm
“có thể biết” và “không thể biết” Dù là duy vật hay duy tâm nhưng tất cả các nhàtriết học Hy Lạp cổ đại đều thuộc giai cấp chủ nô, đều bảo vệ chế độ chiếm hữu nô lệ
2 Triết học Hy Lạp cổ đại ngay từ khi mới ra đời đã đề cập đến nhiều vấn đềkhác nhau thuộc về thế giới quan của người Hy Lạp cổ đại Trước hết là những vấn đề:Tồn tại là gì? Nguồn gốc của thế giới là gì? Cuộc đời và số phận con người như thếnào? và những vấn đề này luôn được giải quyết theo hai quan điểm trái ngược nhau:hoặc là duy vật, hoặc là duy tâm
3 Triết học Hy Lạp cổ đại chứa đựng mầm mống của nhiều thế giới quan hiệnđại sau này Có đặc điểm này bởi triết học Hy Lạp cổ đại được nảy sinh từ nhiều vùngkhác nhau thuộc Hy Lạp cổ đại và nó phát triển đa dạng, phong phú, mang tính “cáchmạng đột biến”
4 Triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó chặt chẽ với khoa học đương thời Các nhàtriết học đồng thời là các nhà khoa học Vì vậy, đã xuất hiện quan điểm sai lầm chorằng: “triết học là khoa học của các khoa học”
5 Trong triết học Hy Lạp cổ đại đã có tư tưởng biện chứng Đỉnh cao là phép
Trang 12biện chứng của Hêraclít Mặc dù phép biện chứng này còn ngây thơ, chất phác nhưng
đã là hình thức lịch sử đầu tiên của phép biện chứng duy vật và có ý nghĩa to lớn đốivới sự phát triển của tư duy biện chứng của nhân loại Bởi ngay từ khi mới ra đời, nó
đã tìm cách giải thích thế giới như một chỉnh thể thống nhất trong đó các sự vật vậnđộng và biến đổi không ngừng Hêraclít đã nhận ra một chân lý nổi tiếng: trong cùngmột thời điểm sự vật đồng thời là nó lại vừa là cái khác Vì vậy, “không thể tắm hailần trong cùng một dòng sông” Mặc dù vậy, phép biện chứng cũng mới chỉ được hiểunhư là nghệ thuật tranh luận Hoạt động thực tiễn của con người hầu như không đượcbàn đến
6 Triết học Hy Lạp cổ đại đề cập đến nhiều vấn đề con người và số phận conngười Mặc dù các nhà triết học còn có những ý kiến khác nhau về bản chất con người,nhưng họ đều coi trọng con người, coi con người là tinh hoa cao quý của tạo hóa, conngười cần chinh phục tự nhiên để phục vụ cho mình Chẳng hạn, Pitago cho rằng:
“Con người là thước đo của tất thảy mọi vật” Tuy nhiên, con người thời kỳ cổ đạiđược nhìn nhận chủ yếu với tổ chức cá thể; giá trị con người chủ yếu chỉ được bàn đến
ở khía cạnh đạo đức, giao tiếp, nhận thức luận
2.2 Một số đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời trung cổ
Thứ nhất, sự phát triển của những tư tưởng triết học các nước Tây Âu thời Trung
cổ bị chi phối rất mạnh bởi tư tưởng tôn giáo và thần học của thiên chúa giáo
Theo Ăngghen, trong thời kỳ Trung cổ ở Tây Âu, triết học chỉ là "đầy tớ", "consen" cho thần học Bởi vì, nhiệm vụ của triết học là giải thích đúng đắn và chứng minh
về mặt hình thức cho những tín điều tôn giáo do nhà thờ thiên chúa giáo thống trị,đứng đầu là Giáo hoàng La Mã đặt ra
Đây là thời kỳ lịch sử mà tiếng nói "trí tuệ và lương tri nhân loại" bị áp đảo bởi
sự tuyên truyền của giáo hội về đức tin nơi Thiên chúa Đây cũng là thời kỳ các nhàthần học được phép tuyên bố rằng mọi tri thức của nhân loại đều có thể rút ra từ Kinhthánh nCựu ước và Tân ước); rằng tất cả những gì trái với kinh thánh đều đáng nguyềnrủa và xử tội
Thứ hai, sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của tư tưởng triết học kinh viện nchủnghĩa kinh viện) cũng là một nét nổi bật của thời kỳ Trung cổ ở Tây Âu; chủ nghĩakinh viện với tư cách là một trường phái triết học - một thứ triết học "nhà trường",
Trang 13"sách vở" Nghĩa là, một thứ triết học đặt ra và giải quyết các vấn đề xa rời thực tếcuộc sống.
Những căn cứ để triết học kinh viện "luận chứng" chính là những tín điều trongcác cuốn kinh thánh của đạo Thiên chúa, chứ không phải là những kiến thức khoa học,không phải là thực tiễn quan sát và thí nghiệm của khoa học như giai đoạn sau này,cũng không phải là thực tiễn kinh tế xã hội hiện thực Bởi vậy, những luận chứng của
nó mang tính "sáo rỗng" hình thức mà thiếu đi nội dung hiện thực của cuộc sống sinhđộng Triết học kinh viện là triết học chính thức của giai cấp phong kiến, đã kìm hãm
sự phát triển của khoa học và triết học duy vật
Thứ ba, cuộc đấu tranh giữa hai phái Duy thực và Duy danh cũng là đặc trưngcủa tư tưởng triết học Trung cổ Tây Âu Xét đến cùng, cuộc đấu tranh này phản ánh ítnhiều hai xu hướng triết học đối lập nhau: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.Phái Duy thực luận chứng về mặt triết học sự tồn tại có thật, duy nhất của cáichung; còn phái Duy danh thì ngược lại, chứng minh cho sự tồn tại duy nhất, có thậtcủa cái riêng Phái Duy danh có khuynh hướng duy vật, phái Duy thực lại có xu hướngduy tâm về triết học
2.3 Những đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng
Triết học thời kỳ này là thế giới quan của triết học giai cấp tư sản đang ở trongquá trình hình thành, phát triển Sau “đêm trường trung cổ”, dưới sự thống trị của thầnhọc và triết học kinh viện, thời kỳ này chủ nghĩa duy vật được khôi phục và phát triển
Sự khôi phục và phát triển đó lại gắn liền với cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại thầnhọc và triết học kinh viện
Do tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩaduy tâm, tôn giáo, hơn nữa do ảnh hưởng rất lớn của thần học lúc bấy giờ nên chủnghĩa duy vật thời kỳ này chưa triệt để, nó vẫn mang tính hình thức phiếm luận Tuynhiên trong đó, tư tưởng duy vật vẫn giữ vai trò chi phối
Triết học thời kỳ này đặc biệt đề cao vai trò con người, quan tâm đến việc giảiphóng con người, mang lại quyền tự do cho con người
Thời kỳ này triết học có bước phát triển mới, dựa trên cơ sở các thành tựu khoahọc tự nhiên Tuy nhiên giữa triết học và khoa học tự nhiên vẫn thống nhất chặt chẽvới nhau, chưa có sự phân chia rạch ròi Trên cơ sở những thành tựu mới của khoa học
Trang 14tự nhiên, các nhà khoa học tự nhiên lại đi đến những khái quát mới về mặt triết học.Các nhà khoa học tự nhiên đồng thời là các nhà triết học.
Có thể nói triết học thời kỳ Phục hưng đã tạo ra một bước ngoặt trong sự pháttriển của triết học sau “đêm trường trung cổ” Nó tạo tiền đề cho triết học tiếp tục pháttriển vào thời cận đại
2.4 Những đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại
Triết học Tây Âu thời kỳ cận đại là sự phát triển tiếp tục các tư tưởng triết họcthời kỳ Phục hưng trong giai đoạn mới - giai đoạn cách mạng tư sản và sự phát triểnmạnh mẽ của khoa học tự nhiên
Đây là thời kỳ thắng thế của chủ nghĩa duy vật đối với chủ nghĩa tâm, của khoahọc đối với tôn giáo Chủ nghĩa duy vật thời kỳ này là thế giới quan của giai cấp tư sảncách mạng; là vũ khí tư tưởng của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống phongkiến và giáo hội, xác lập xã hội tư bản
Do yêu cầu phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thời kỳ nàykhoa học tự nhiên diễn ra quá trình phân ngành sâu sắc và phát triển một cách mạnh
mẽ Nhờ những thành tựu khoa học tự nhiên, chủ nghĩa duy vật có một bước phát triểnmới, nó có cơ sở khoa học vững chắc và được chứng minh về chi tiết
Do yêu cầu phát triển của khoa học tự nhiên, triết học thời kỳ này đặc biệt chú ýđến những vấn đề nhận thức luận, về phương pháp nhận thức Cuộc đấu tranh của pháiduy cảm với duy lý; giữa phương pháp quy nạp với phương pháp diễn dịch đã đóngmột vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm các phương pháp nhận thức khoa học vàgóp phần thúc đẩy khoa học phát triển
Tiếp tục phát triển tư tưởng nhân đạo thời kỳ Phục hưng, thời kỳ này các nhà triếthọc càng đề cao vị trí con người, giương cao ngọn cờ đấu tranh giải phóng con ngườikhỏi sự thống trị của phong kiến và giáo hội, mang lại quyền tự do, bình đẳng và hạnhphúc cho con người Đây chính là vấn đề bức xúc của cuộc cách mạng tư sản đặt ra và
nó có sức cổ vũ mãnh mẽ quần chúng đứng lên làm cách mạng
Mặc dù thời kỳ này là thời kỳ thắng thế của chủ nghĩa duy vật đối với chủ nghĩaduy tâm và tôn giáo nhưng hầu hết các nhà duy vật vẫn rơi vào phiếm thần luận, chỉ cómột số ít nhà duy vật đi đến chủ nghĩa vô thần Điều này không chỉ do ảnh hưởng sâusắc của tôn giáo mà còn do giai cấp tư sản vẫn cần đến tôn giáo cho nên có lập trường
Trang 15thiếu triệt để.
Do thói quen trong nghiên cứu khoa học chuyên môn, tách biệt khỏi các mối liên
hệ chung, hơn nữa do sự thống trị của cơ học Niutơn, nên trong thời kỳ này phươngpháp tư duy siêu hình, máy móc vẫn giữ vai trò chi phối
2.5 Những đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức
Triết học cổ điển Đức nghiên cứu lịch sử của nhân loại, cũng như toàn bộ quan
hệ con người – tự nhiên theo quan niệm biện chứng Vì vậy, quan niệm biện chứng vềhiện thực là đặc điểm hết sức quan trọng của triết học cổ điển Đức Trước những bướcphát triển như vũ bão của khoa học và thực tiễn ở Châu Âu từ cuối thế kỷ XVIII, đãcho thấy hạn chế của bức tranh cơ học về thế giới Các nhà triết học cổ điển Đức tiếpthu những tư tưởng biện chứng trong di sản triết học từ thời cổ đại, xây dựng phépbiện chứng trở thành một phương pháp luận triết học trong việc nghiên cứu các hiệntượng tự nhiên và xã hội Hêghen đã phát hiện ra và phân tích một cách hệ thốngnhững quy luật và phạm trù cơ bản của phép biện chứng, xây dựng nó trở thành mộtphương pháp luận, một cách tư duy, quan niệm về tất thảy mọi sự vật trong thế giớihiện thực Phương pháp tư duy biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức về sauđược C.Mác cải biến duy vật, phát triển tiếp, trở thành thành linh hồn của chủ nghĩaMác
Với cách nhìn biện chứng về toàn bộ hiện thực, nhiều nhà triết học cổ điển Đức
có ý đồ hệ thống hoá toàn bộ những tri thức và thành tựu mà nhân loại đã đạt được từtrước tới lúc bấy giờ Tiếp thu những tinh hoa của siêu hình học thế kỷ 17 trong việcphát triển tư duy lý luận và hệ thống hoá tri thức của con người, các nhà triết học, nhất
là Kant và Hêghen có ý đồ xây dựng một hệ thống triết học vạn năng của mình, làmnền tảng cho toàn bộ các khoa học và mọi lĩnh vực hoạt động khác của con người,khôi phục lại quan niệm coi triết học là khoa học của mọi khoa học Vì vậy, họ lànhững bách khoa toàn thư, uyên bác không chỉ về tri thức triết học mà còn am hiểu vềkhoa học tự nhiên, lịch sử, pháp quyền, tôn giáo… Dĩ nhiên quan niệm này hiện naykhông còn phù hợp, nhưng về phương diện lịch sử, nó đáp ứng nhu cầu khoa học cần
hệ thống hoá toàn bộ tri thức con người mà các nhà siêu hình học là những người khởisướng
So sánh đặc điểm của triết học Phương Đông và triết học Phương Tây
Trang 163.1 Sự giống nhau
C.Mác đã viết: Để hiểu rõ tư tưởng của một thời đại nào đó thì chúng ta phải hiểuđược điều kiện sinh hoạt vật chất của thời đại đó Bởi vì, theo C.Mác, tồn tại xã hộiluôn quyết định ý thức xã hội, do đó nó phản ánh tồn tại xã hội – những điều kiện sinhhoạt vật chất của xã hội Chính vì thế, các trào lưu triết học Phương Đông và PhươngTây đều được nảy sinh trên những điều kiện kinh tế - xã hội trong giai đoạn lịch sửnhất định Xét trong mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, thì triếthọc là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng, do đó các học thuyết triết học Đông – Tâyđều chịu sự quyết định của cơ sở hạ tầng và đến lượt nó cũng có vai trò hết sức to lớnđối với cơ sở hạ tầng
Triết học Phương Đông và Phương Tây đều được hình thành, phát triển trongcuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm, giữa phương pháp siêu hình và phương phápbiện chứng Thực chất cuộc đấu tranh này là một phần cuộc đấu tranh tư tưởng củanhững giai cấp đối kháng trong xã hội Những quan niệm duy vật thường gần gũi vàgắn liền với những lực lượng tiến bộ trong xã hội và ngược lại những quan niệm duytâm thường gần gũi và gắn liền với lực lượng lạc hậu, bảo thủ trong xã hội
Triết học Phương Đông và Phương Tây có thể sử dụng những khái niệm, phạmtrù khác nhau nhưng đều phải bàn đến vấn đề cơ bản của triết học, đồng thời đều tuântheo những phương pháp chung trong nhận thức thế giới: Phương pháp biện chứnghoặc Phương pháp siêu hình
Triết học Phương Đông và Phương Tây đều bàn đến vấn đề con người ở nhữngkhía cạnh khác nhau, mức độ đậm nhạt khác nhau và qua những thời kỳ lịch sử khácnhau đều có cách đánh giá khác nhau về con người
Các học thuyết triết học ở Phương Đông hay Phương Tây đều có khuynh hướngchung là xâm nhập lẫn nhau, vừa có sự kế thừa giữa các học thuyết, hoặc trong sự pháttriển của học thuyết đó, vừa có sự đào thải, lọc bỏ những quan niệm lạc hậu, hoặcnhững quan niệm không phù hợp với nhãn quan của giai cấp thống trị
Mỗi học thuyết trong triết học ở Phương Đông hay Phương Tây cũng vậy, đều cónhững mặt tích cực và hạn chế của nó nhưng đã góp phần tạo nên những giá trị vănminh nhân loại