1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín Ngưỡng Thờ Anh Hùng Nguyễn Trung Trực Trong Đời Sống Văn Hóa Cư Dân Nam Bộ

266 150 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 266
Dung lượng 5,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tín ngưỡng thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực là sản phẩm văn hóa của nhân dân từ lâu đã đi vào trong đời sống văn hóa - xã hội của cư dân vùng Nam Bộ; không chỉ là dịp để nhân dân tri ân, t

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

VÕ HOÀNG KHẢI

TÍN NGƯỠNG THỜ ANH HÙNG

NGUYỄN TRUNG TRỰC TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

CƯ DÂN NAM BỘ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌC

TRÀ VINH, NĂM 2020

ISO 9001:2015

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

VÕ HOÀNG KHẢI

TÍN NGƯỠNG THỜ ANH HÙNG

NGUYỄN TRUNG TRỰC TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

CƯ DÂN NAM BỘ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của NCS dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Thị Thu Yến Các kết quả nghiên cứu và các kết quả trong luận án là trung thực, không sao chép bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các tài liệu đã được NCS trích dẫn và ghi nguồn theo đúng qui định

Trà Vinh, ngày 20 tháng 10 năm 2020

Nghiên cứu sinh

Võ Hoàng Khải

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Thị Thu Yến đã quan tâm, tận tình hướng dẫn và cho tôi những lời khuyên quý báu trong thời gian học tập, nghiên cứu, thực hiện luận án

Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Tiết Khánh - Hiệu trưởng Trường Đại học Trà Vinh, Ban giám hiệu, lãnh đạo và giảng viên, viên chức Khoa Ngôn ngữ – Văn hóa – Nghệ thuật Khmer Nam Bộ, Phòng Đào tạo Sau đại học, Trung tâm Học liệu, Tạp chí Khoa học và các phòng, khoa thuộc Trường Đại học Trà Vinh đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn

Xin chân thành cảm ơn quí thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn chúng tôi trong suốt thời gian tổ chức lớp học; cảm ơn các bạn nghiên cứu sinh ngành Văn hóa học, khóa 2016 Trường Đại học Trà Vinh đã đoàn kết, giúp nhau vượt qua khó khăn trong học tập, công tác

Xin chân thành cảm ơn quí đồng nghiệp, cộng tác viên đã hỗ trợ khảo sát, thống

kê số liệu và những lời góp ý chân tình, hiệu quả trong thực hiện luận án

Xin chân thành cảm ơn các nhà quản lý văn hóa các tỉnh ở Nam Bộ, các nhà nghiên cứu; quí vị trong Ban Quản trị các đình Nguyễn Trung Trực; người dân đã tham gia phỏng vấn, trả lời câu hỏi, chia sẻ những câu chuyện về Nguyễn Trung Trực, đặc biệt là ông Nguyễn An Thọ, hậu duệ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã cung cấp những minh chứng thực tế, sống động trong luận án

Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận án

Trân trọng!

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ x

TÓM TẮT xi

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 3

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 3

2.2 Giả thuyết nghiên cứu 3

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

6 HƯỚNG TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

6.1 Hướng tiếp cận liên ngành 4

6.2 Phương pháp nghiên cứu 4

6.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu 5

6.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học 5

6.2.3 Phương pháp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu 5

6.2.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp 6

6.2.5 Phương pháp so sánh 6

7 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 7

8 KẾT CẤU LUẬN ÁN 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8

1.1 TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 8

1.1.1 Trước năm 1975 8

1.1.2 Sau năm 1975 11

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 20

Trang 7

1.2.1 Một số khái niệm liên quan 20

1.2.1.1 Khái niệm văn hóa 20

1.2.1.2 Khái niệm tín ngưỡng 22

1.2.1.3 Khái niệm văn hóa tín ngưỡng 23

1.2.1.4 Khái niệm đời sống văn hóa 24

1.2.2 Các lý thuyết tiếp cận 26

1.2.2.1 Lý thuyết cấu trúc - chức năng 26

1.2.2.2 Lý thuyết biến đổi 28

1.2.2.3 Lý thuyết vùng văn hóa 29

1.3.2 Lược sử vùng đất Nam Bộ 34

1.3.3 Chủ thể văn hóa vùng Nam Bộ 35

1.3.4 Khái quát tín ngưỡng, lễ hội ở Nam Bộ 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 42

CHƯƠNG 2: NGUYỄN TRUNG TRỰC NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ HUYỀN THOẠI 44

2.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ 44

2.1.1 Tình hình Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX 44

2.1.2 Những anh hùng kháng Pháp tiêu biểu ở Nam Bộ 46

2.1.2.1 Cuộc khởi nghĩa của Trương Công Định (Trương Định, 1860 – 1864) 46

2.1.2.2 Thủ Khoa Huân (Nguyễn Hữu Huân) chiến đấu ở Mỹ Tho và Tân An (1862 – 1875) 47

2.1.2.3 Thiên Hộ Dương (Võ Duy Dương) lập chiến khu ở Đồng Tháp Mười (1860 – 1886) 48

2.2 NGUYỄN TRUNG TRỰC – NHÂN VẬT LỊCH SỬ 49

2.2.1 Tóm tắt tiểu sử Nguyễn Trung Trực 49

2.2.2 Những chiến công oanh liệt 50

2.2.2.1 Trận Nhật Tảo 50

2.2.2.2 Trận tập kích đồn Rạch Giá 51

2.2.2.3 Lập căn cứ kháng chiến ở Phú Quốc 52

2.2.3 Sự hy sinh anh dũng 52

2.3 NGUYỄN TRUNG TRỰC - NHÂN VẬT HUYỀN THOẠI 53

2.3.1 Huyền thoại về người anh hùng võ nghệ cao cường và lời thề đánh Pháp 55

Trang 8

2.3.2 Huyền thoại về những chiến công 57

2.3.2.1 Huyền thoại về Hỏa hồng Nhật Tảo 57

2.3.2.2 Huyền thoại Kiếm bạt Kiên Giang 59

2.3.2.3 Huyền thoại căn cứ Phú Quốc 61

2.3.3 Huyền thoại về cái chết và sự thiêng hóa của người anh hùng 63

2.3.4 Huyền thoại liên quan đến người thân 67

2.3.4.1 Về lòng hiếu đễ với cha mẹ 67

2.3.4.2 Huyền thoại về vợ con người anh hùng 68

2.3.4.3 Huyền thoại về nghĩa bạn bè 70

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 71

CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT VIỆC THỜ PHỤNG NGUYỄN TRUNG TRỰC Ở NAM BỘ 73

3.1 KHÁI QUÁT CÁC CƠ SỞ THỜ PHỤNG NGUYỄN TRUNG TRỰC Ở NAM BỘ 73

3.1.1 Thống kê di tích thờ Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ 73

3.1.2 Không gian đình Nguyễn Trung Trực 77

3.1.3 Thời gian cúng tế đình Nguyễn Trung Trực 78

3.1.4 Nghi thức cúng tế đình Nguyễn Trung Trực 79

3.2 MỘT SỐ LỄ HỘI TIÊU BIỂU THỜ NGUYỄN TRUNG TRỰC Ở NAM BỘ 82

3.2.1 Lễ hội tái hiện chiến công kháng Pháp trên đất Long An 83

3.2.1.1 Khu di tích vàm Nhật Tảo, huyện Tân Trụ (Long An) 84

3.2.1.2 Nơi thờ phụng tại quê hương Nguyễn Trung Trực ở xã Thạnh Đức, huyện 85 3.2.2 Lễ hội anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở Kiên Giang 87

3.2.2.1 Đình Nguyễn Trung Trực ở thành phố Rạch Giá (Kiên Giang) 87

3.2.2.2 Đình Vĩnh Hòa Hiệp ở huyện Châu Thành (Kiên Giang) 92

3.2.2.3 Đình Nguyễn Trung Trực ở huyện Phú Quốc (Kiên Giang) 94

3.2.3 Lễ hội Nguyễn Trung Trực ở An Giang 96

3.2.4 Lễ hội và việc thờ cúng Nguyễn Trung Trực ở Bạc Liêu 98

3.2.5 Lễ hội và việc thờ cúng Nguyễn Trung Trực ở Sóc Trăng 100

3.2.5.1 Đình Nguyễn Trung Trực ở thị trấn Long Phú, huyện Long Phú (Sóc Trăng) 100

3.2.5.2 Đình Nguyễn Trung Trực ở huyện Cù Lao Dung (Sóc Trăng) 102

Trang 9

3.2.6 Việc thờ cúng Nguyễn Trung Trực ở Hậu Giang 104

3.2.7 Việc thờ cúng Nguyễn Trung Trực ở Trà Vinh 105

3.2.7.1 Đình Nguyễn Trung Trực ở xã An Quảng Hữu, huyện Trà Cú 105

3.2.7.2 Đình Nguyễn Trung Trực ở xã Lưu Nghiệp Anh, huyện Trà Cú 106

3.2.8 Các hình thức thờ vọng tại gia 107

3.3 NHỮNG BIẾN ĐỔI VÀ NGUYÊN NHÂN BIẾN ĐỔI CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ NGUYỄN TRUNG TRỰC Ở NAM BỘ 110

3.3.1 Những biến đổi của tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ 111

3.3.1.1 Về kiến trúc, xây dựng 112

3.3.1.2 Về thời gian tổ chức ngày giỗ Nguyễn Trung Trực 113

3.3.1.3 Về nghi thức cúng tế 115

3.3.1.4 Về tổ chức hoạt động hội 116

3.3.2 Nguyên nhân biến đổi tín ngưỡng thờ phụng Nguyễn Trung Trực 118

3.3.2.1 Những thay đổi trong đường lối, chủ trương về văn hóa và tôn giáo, tín ngưỡng là nguyên nhân chủ quan dẫn đến những biến đổi trong đời sống tín ngưỡng, cũng như tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực của cư dân Nam Bộ 118

3.3.2.2 Những thay đổi về kinh tế - văn hóa - xã hội cũng góp phần không nhỏ trong sự biến đổi của tín ngưỡng này là nguyên nhân khách quan 121

TIỂU KẾT 124

CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ, GIÁ TRỊ CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ NGUYỄN TRUNG TRỰC Ở NAM BỘ VÀ MỘT SỐ BÀN LUẬN 126

4.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ NGUYỄN TRUNG TRỰC 126

4.1.1 Anh hùng Nguyễn Trung Trực – vị nhân thần của cư dân Nam Bộ 126

4.1.1.1 Sự tương đồng 127

4.1.1.2 Sự khác biệt 128

4.1.2 Tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực mang đậm yếu tố sông nước trong đặc trưng của văn hóa Nam Bộ, tập trung chủ yếu ở vùng Nam Sông Hậu 131

4.1.3 Tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực không ngừng được mở rộng 132

4.2 VAI TRÒ CỦA VIỆC THỜ PHỤNG NGUYỄN TRUNG TRỰC TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƯ DÂN NAM BỘ 135

4.2.1 Việc phụng thờ Nguyễn Trung Trực đáp ứng được nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần của người dân Nam Bộ 136

Trang 10

4.2.2 Việc thờ phụng Nguyễn Trung Trực đáp ứng được các nhu cầu mới, phái sinh

141

4.2.2.1 Các cơ sở thờ Nguyễn Trung Trực gắn với các hoạt động thiện nguyện 141

vụ dân sinh 142

4.2.2.3 Các hoạt động dịch vụ, du lịch gắn với hoạt động lễ hội Nguyễn Trung Trực 144

4.3.1 Giá trị cố kết cộng đồng 146

4.3.2 Giá trị lịch sử 148

4.3.3 Giá trị giáo dục 149

4.3.3.1 Giáo dục truyền thống lịch sử 150

4.3.3.2 Giáo dục đạo đức 151

4.4 MỘT SỐ BÀN LUẬN VIỆC THỜ PHỤNG ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC 153

TIỂU KẾT 157

KẾT LUẬN 159

TÀI LIỆU THAM KHẢO 164

CÁC CÔNG TRÌNH NCS ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 1: BẢN ĐỒ PHÂN BỐ CÁC CƠ SỞ THỜ PHỤNG ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC Ở NAM BỘ 1

PHỤ LỤC 2: TRUYỀN THUYẾT VỀ NGUYỄN TRUNG TRỰC 3

PHỤ LỤC 3: PHIẾU KHẢO SÁT 18

PHỤ LỤC 4: BẢNG TỔNG HỢP SỐ LIỆU MINH HỌA CÁC NỘI DUNG TRONG LUẬN ÁN 20

PHỤ LỤC 5: NGUỒN TƯ LIỆU PHỎNG VẤN SÂU ĐƯỢC TRÍCH DẪN TRONG LUẬN ÁN 26

PHỤ LỤC 6: HÌNH ẢNH MINH HỌA 46

Trang 11

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa tiếng việt

VHTTDL Văn hóa Thể thao & Du lịch

Trang 12

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3 1 Thống kê sự phân bố các di tích thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực ở các tỉnh

Nam Bộ 74

Bảng 3 2 Thống kê số lượng đình thờ Nguyễn Trung Trực tại các tỉnh 76

Bảng 3 3 Thời gian, nghi thức ở các tỉnh có di tích thờ Nguyễn Trung Trực 81

Bảng 3 4 Khảo sát mức độ thay đổi trong tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực 112

Bảng 4 1 Số lượng và địa bàn thờ phụng các vị anh hùng ở Nam Bộ 128

Bảng 4 2 So sánh số người dự lễ hội đình các vị anh hùng dân tộc ở Nam Bộ 130

Bảng 4 3 Danh sách các đình thờ ở địa phương đổi tên thành đình Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ 134

Bảng 4 4 Số lượng người dự lễ hội đình Nguyễn Trung Trực 137

Bảng 4 5 Thành phần, nghề nghiệp người dân tham gia lễ hội Nguyễn Trung Trực 137 Bảng 4 6 Mục đích của người tham gia lễ hội đình Nguyễn Trung Trực 138

Trang 13

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Hình 1 1 Bản đồ Nam Bộ 33 Hình 3 1 Bản đồ các đình thờ Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ 76 Biểu đồ 4 1 Lý do người dân dự lễ hội tại đình Nguyễn Trung Trực 139

Trang 14

TÓM TẮT

Luận án “Tín ngưỡng thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực trong đời sống văn hóa

cư dân Nam Bộ” là tài liệu khoa học hệ thống lại các cơ sở thờ anh hùng Nguyễn Trung

Trực, cùng các thực hành tế lễ, tổ chức hoạt động hội; nhận diện đặc điểm, vai trò, giá trị của tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ

Luận án đã áp dụng lý thuyết chức năng, lý thuyết biến đổi và lý thuyết vùng văn hóa để làm sáng tỏ vai trò, ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực trong đời sống văn hóa của cộng đồng; giải thích quá trình hình thành và biến đổi của tín ngưỡng thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực trong đời văn hóa xã hội của cư dân Nam Bộ Từ cơ

sở lý luận đó, luận án đã miêu thuật các câu chuyện, huyền thoại về anh hùng Nguyễn Trung Trực Theo thời gian, mặc dù đã hơn một thế kỷ rưỡi trôi qua nhưng những huyền thoại ấy vẫn còn mang giá trị nhân văn sâu sắc

Luận án đã tập trung khảo sát sự hình thành, phát triển các cơ sở thờ tự Nguyễn Trung Trực, những biến đổi và nguyên nhân biến đổi tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ Hệ thống đình, khu tưởng niệm Nguyễn Trung Trực được người dân xây dựng ở khắp Nam Bộ, tôn thờ Ông như một vị phúc thần cùng các danh tướng kháng Pháp Nguyễn Trung Trực được nhân dân kính trọng, tôn thờ không những ở đình, đền

mà còn được tôn vinh, tưởng nhớ ở chùa, thậm chí thờ tại gia Do đó, các hoạt động tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực ngày càng đa dạng và phong phú hơn Tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực phát triển mạnh mẽ bởi lẽ Nguyễn Trung Trực là vị nhân thần tiêu biểu ở Nam Bộ, hiện nay, tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực đang lan tỏa và mở rộng Những đặc điểm trên chứng tỏ, vai trò của tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực ngày càng sâu đậm trong lòng nhân dân; có giá trị nhất định trong đời sống văn hóa tâm linh của cư dân Nam Bộ Giờ đây, tín ngưỡng này là một phần không thể thiếu trong các hoạt động tư tưởng, tâm linh của người dân vùng sông nước

Tín ngưỡng thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực là sản phẩm văn hóa của nhân dân

từ lâu đã đi vào trong đời sống văn hóa - xã hội của cư dân vùng Nam Bộ; không chỉ là dịp để nhân dân tri ân, tưởng nhớ người anh hùng mà còn là nơi gắn kết cộng đồng, vui chơi giải trí, liên kết người với người thông qua các hoạt động cúng tế, vui chơi, thiện nguyện, trị bệnh miễn phí Tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực một mặt đáp ứng nhu cầu tâm linh mang lại niềm tin cho con người, mặt khác là nơi lưu giữ, truyền lại đạo lý làm người của cha ông cho thế hệ sau

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Từ sau thời kỳ Đổi mới, Việt Nam phát triển mọi mặt về kinh tế, văn hóa xã hội, đời sống người dân được nâng lên, nhu cầu văn hóa được quan tâm Cùng với sự phát triển của đất nước, tổ chức và hoạt động tín ngưỡng, lễ hội của nước ta cũng thay đổi mạnh mẽ Xu hướng nhân dân phục dựng, bảo tồn di tích, thực hành tín ngưỡng ngày càng cao Bên cạnh việc phục hồi tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ cúng Thành hoàng,

tổ chức các lễ hội truyền thống, tín ngưỡng thờ cúng anh hùng dân tộc cũng luôn được coi trọng Việc khôi phục tín ngưỡng thờ cúng người có công khai phá đất đai, mở cõi, thờ cúng các vị anh hùng dân tộc là phù hợp với đạo lý truyền thống dân tộc ta Đó là những người lao động, chiến đấu, hy sinh vì nhân dân, vì đất nước Khi mất đi, trong tâm thức người dân, họ linh thiêng tiếp tục phò trợ nhân dân làm ăn, sinh sống Cuộc đời và sự nghiệp của người anh hùng vừa có tính lịch sử, hào hùng vừa mang tính huyền thoại, bay bổng Do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu anh hùng dân tộc trong đời sống văn hóa là việc làm ý nghĩa, nhằm ghi lại hình ảnh cha ông như một cách bảo tồn di sản, cũng là một cách để thể hiện lòng biết ơn của thế hệ sau đối với các bậc tiền nhân

Ở Việt Nam, khi thực dân Pháp không thực hiện được âm mưu đánh nhanh, thắng

nhanh ở Đà Nẵng, buộc phải chuyển hướng tiến đánh Gia Định (tháng 2-1859), đông

đảo nhân dân Nam Kỳ đã tích cực tham gia chống Pháp, kể cả sau khi triều đình ký với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất (năm 1862) thừa nhận việc Pháp cai quản ba tỉnh miền Đông

Nam Kỳ Do đó, quân Pháp luôn phải đối mặt với những trung tâm kháng chiến ở khắp

mọi nơi, chia nhỏ ra vô cùng, hầu như có bao nhiêu người An Nam thì có bấy nhiêu trung tâm kháng chiến (155, 1985, tr.41) Như vậy, trong lịch sử Việt Nam, giai đoạn

nửa cuối thế kỷ XIX, Nam Bộ là nơi ghi dấu đậm nhất về phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược Nơi đây có những con người kiên trung của dân tộc với một ý chí bất

diệt thà hy sinh tất cả, quyết không làm nô lệ đã được lịch sử và nhân dân mãi mãi ghi

nhớ, mãi mãi kính yêu và tôn thờ Những danh tướng kháng Pháp lừng lẫy của Nam Bộ

có thể kể Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, Thiên hộ Dương, Thủ khoa Huân, Nguyễn Trung Trực Trong đó, Nguyễn Trung Trực là một trong những người yêu nước tiêu biểu Ông là vị thủ lĩnh trong phong trào khởi nghĩa kháng Pháp từ những năm đầu tiên Pháp xâm lược Việt Nam Tinh thần chống Pháp của Ông thể hiện qua câu nói

bất hủ Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây; với

Trang 16

hai chiến công lừng lẫy: đốt cháy tàu Espérance (Hy Vọng) trên vàm sông Nhật Tảo và trận đánh chiếm đồn Rạch Giá Tên tuổi của Ông là niềm cảm phục và tự hào của người dân Nam Bộ Các vị anh hùng kháng Pháp ở Nam Bộ khi mất đều được nhân dân thành tâm lập đền thờ kính bái, nhưng Nguyễn Trung Trực là một trường hợp đặc biệt Nếu Thủ Khoa Huân, Trương Định chủ yếu được thờ phụng ở nơi dấy nghiệp là Tiền Giang, Thiên hộ Dương ở Đồng Tháp và An Giang thì anh hùng Nguyễn Trung Trực lại được nhân dân toàn cõi Nam Bộ tôn kính, thờ phụng như một vị thần chủ trong nhiều đình, đền, miếu, thậm chí có gia đình còn thờ tại gia Hệ thống các ngôi đình, miếu, đền thờ Nguyễn Trung Trực có một phổ rất rộng từ Tân An tới Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trăng

và cả Trà Vinh Mỗi năm, ngày giỗ Ông có hàng triệu lượt người từ trong nước, ngoài nước đến Rạch Giá, nơi Ông bị thực dân hành hình cũng như các đình có thờ cúng Ông

ở Nam Bộ tham dự và hành lễ để tỏ lòng tôn kính, ngưỡng vọng

Nghiên cứu về Nguyễn Trung Trực đã được quan tâm từ trước những năm 1975

Năm 1968, nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của Nguyễn Trung Trực, Tập san Sử Địa tại Sài Gòn đã thực hiện Đặc khảo về Nguyễn Trung Trực (số 12, tháng 10,11,12 năm 1968), trong khi Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử ở Hà Nội đã công bố một số bài viết về

Nguyễn Trung Trực Sau năm 1975, tỉnh Kiên Giang đã tổ chức hai hội thảo khoa học

về AHDT Nguyễn Trung Trực gồm Nguyễn Trung Trực - Thân thế và sự nghiệp năm 1986; Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa lễ hội anh hùng dân tộc Nguyễn Trung

Trực năm 2009 Những hoạt động nghiên cứu cũng như tôn vinh anh hùng dân tộc

(AHDT) Nguyễn Trung Trực thời gian qua đã góp phần làm sáng tỏ hơn tiểu sử, những chiến công và giai thoại về Ông; đề cao những phẩm chất khí phách, đạo lý làm người của Nguyễn Trung Trực đối với dân với nước là việc làm có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu những vấn đề liên quan đến con người Nam Bộ và trong hoạt động quản lý văn hóa – xã hội Tuy nhiên xét trong bối cảnh đời sống văn hóa, những vấn đề về lễ hội, việc thờ cúng và tín ngưỡng ở các tỉnh thành Nam Bộ có liên quan đến Nguyễn Trung Trực vẫn cần thêm những nghiên cứu có tính hệ thống, toàn diện và sâu sắc hơn để nhận diện những đặc điểm và ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Ông trong đời sống văn hóa cư dân Nam Bộ

Vì vậy, nghiên cứu sinh (NCS) chọn đề tài Tín ngưỡng thờ anh hùng Nguyễn

Trung Trực trong đời sống văn hóa cư dân Nam Bộ là một tài liệu cần thiết cho vấn đề

còn chưa được nghiên cứu thấu đáo trong bối cảnh hiện nay

Trang 17

2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

2.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực xuất hiện và phát triển như thế nào trong suốt chiều dài lịch sử văn hóa Nam Bộ?

- Tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực hiện diện, thực hành và ảnh hưởng như thế nào đến đời sống văn hóa tâm linh của người Nam Bộ?

- Tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực đã, đang thay đổi và sẽ thay đổi theo hướng nào trong hiện tại và tương lai?

- Làm cách nào để tín ngưỡng này vẫn được lưu truyền và giữ được những giá trị nhân văn cao cả trong đời sống văn hóa cư dân Nam Bộ?

2.2 Giả thuyết nghiên cứu

Tín ngưỡng thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực là một trong những tín ngưỡng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống văn hóa xã hội của cư dân Nam Bộ Tín ngưỡng này

đã và đang được tích hợp mạnh mẽ vào tôn giáo, các tín ngưỡng dân gian khác ở Nam

Bộ để mang một diện mạo mới, sắc thái mới

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Mục tiêu tổng quát: Luận án tập trung khảo sát, nghiên cứu không gian thờ tự, các nghi thức tế lễ, tổ chức hội của các đình Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ, từ đó, xác định bản chất, giá trị và những ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực trong đời sống văn hóa của cư dân Nam Bộ

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của luận án là Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Luận án tập trung nghiên cứu ở các tỉnh Nam Bộ, cụ thể:

Trang 18

Phạm vi về nội dung: Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ

Phạm vi về không gian: phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trên địa bàn các tỉnh Nam Bộ, nơi có các cơ sở thờ tự và thực hành tín ngưỡng có liên quan đến quá trình tổ chức lực lượng, chiến công trong buổi đầu kháng Pháp của vị dũng tướng xứ Tân An, cụ thể là 37 di tích, đình thờ Nguyễn Trung Trực trên địa bàn các tỉnh Nam Bộ Ngoài các địa điểm thờ phụng Ông vốn rất nổi tiềng như Long An, Kiên Giang, luận án

sẽ triển khai nghiên cứu sâu tại các tỉnh miền Nam sông Hậu, như: An Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hậu Giang Địa bàn này chưa được các nghiên cứu trước đây quan tâm, phân tích đầy đủ và đây cũng chính là những đóng góp mới của luận án

Phạm vi về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu sinh hoạt tín ngưỡng trong thờ cúng vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực trước và sau năm 1975, đặc biệt là từ năm 1989 đến nay, thời điểm đền và mộ Nguyễn Trung Trực đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và thời điểm tín ngưỡng này đã đi vào chiều sâu

6 HƯỚNG TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Hướng tiếp cận liên ngành

Tiếp cận liên ngành là một hướng nghiên cứu mới của khoa học về văn hóa, là tiếp cận một đối tượng bằng nhiều cách thức, dựa trên cứ liệu của nhiều chuyên ngành

Có ba mức độ liên ngành: dùng phương pháp của một ngành ứng dụng vào các ngành khác; dùng lý thuyết của một ngành áp dụng vào các ngành để xem xét hiệu quả, nếu thấy đúng thì lý thuyết ấy có giá trị phổ biến, có thể tin cậy được; các ngành khoa học thường có điểm chung giao thoa với nhau, tìm những điểm nổi trội giữa các ngành khoa học Trong luận án, NCS hệ thống lại các thông tin liên quan đến khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ dựa trên cứ liệu, sử liệu, truyền thuyết, hiện vật của các ngành văn học, sử học, dân tộc học, xã hội học dưới cái nhìn văn hóa học nhằm nhận diện những ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực trong đời sống văn hóa của cư dân Nam Bộ

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực trong bối cảnh của tín ngưỡng thờ nhân thần ở Nam Bộ nói riêng, Việt Nam nói chung Do đó, luận án sẽ tiếp cận tín ngưỡng này theo các phương pháp sau

Trang 19

6.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu

Việc nghiên cứu tư liệu đã xuất bản liên quan đến đề tài rất quan trọng Trước khi tiến hành nghiên cứu thực tế các địa điểm có thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, NCS đã tiến hành tìm kiếm tài liệu, công trình đã công bố, sau đó thống kê, thu thập thông tin, phân loại và phân tích các kết quả nghiên cứu Các tài liệu này bao gồm những

tư liệu, tài liệu, sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được in ấn, xuất bản được lưu giữ tại các thư viện, trung tâm học liệu như các tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trung Trực; các tài liệu nghiên cứu, truyền thuyết, giai thoại; các số liệu khảo sát, các tư liệu phỏng vấn…Những tài liệu này giúp NCS có cái nhìn tổng quan về tín ngưỡng, cuộc đời và nghiệp Nguyễn Trung Trực, về các địa điểm thờ tự, về quan điểm của các nhà nghiên cứu, cảm nhận của người dân đối với AHDT, với Nguyễn Trung Trực

6.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học

Đối tượng điều tra xã hội học trong phạm vi luận án này là tín ngưỡng thờ phụng Nguyễn Trung Trực Bảng điều tra bao gồm hệ thống câu hỏi đa dạng về nội dung thực hành tín ngưỡng, cơ sở vật chất, tình hình an ninh trật tự, về dịch vụ phục vụ, về xu hướng biến đổi và công tác tổ chức quản lí lễ hội Thông qua bảng hỏi, người viết thu thập thông tin về những người phục vụ lễ, những người đi lễ, những người trong ban quản lí di tích, cộng đồng làng nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của luận án NCS

đã tiến hành điều tra khảo sát tại các đình, di tích thờ Nguyễn Trung Trực với 330 phiếu khảo sát và tiến hành xử lý dữ liệu trên phần mềm SPSS

6.2.3 Phương pháp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu

Cùng với việc điều tra xã hội học, người viết điều tra tiếp cận không gian văn hóa

và thành tố văn hóa…với ghi chép, khảo sát về các thành tố lịch sử, văn hóa dân gian, truyền thuyết dân gian, thu thập thông tin từ địa bàn để phân tích, mô tả về thực hành tín ngưỡng, hoạt động lễ hội Trong quá trình tham dự, người viết tiến hành gặp gỡ, trao đổi, phỏng vấn với người dân, phỏng vấn những người trong Ban quản lí di tích, những người thực hành tín ngưỡng, những người tham gia lễ hội Những cuộc phỏng vấn sâu

là nguồn tư liệu hữu ích giúp người viết nhận dạng rõ hơn về quá trình hình thành di tích, về niềm tin tín ngưỡng và những thực hành, sáng tạo, biến đổi của tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực Sử dụng phương pháp này, NCS trực tiếp quan sát, ghi nhận sự việc qua lời kể, những lời của người trong cuộc, nhất là lời của những người trong thân

Trang 20

tộc Nguyễn Trung Trực Đây là phương pháp khai thác thông tin có giá trị cao, vì những thông tin này nằm trong trí nhớ của nhiều người mà sử sách chưa ghi nhận Nguồn thông tin khách quan này làm cho dữ liệu thêm xác thực, sinh động, từ đó, NCS có cái nhìn mới hơn trong nội dung nghiên cứu Dựa vào những thông tin thu thập từ nghiên cứu điền dã, quan sát, NCS tiến hành gỡ băng các cuộc phỏng vấn sâu

6.2.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Việc lí giải, phân tích quá trình hình thành, biến đổi của tín ngưỡng thờ phụng Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ dựa trên nhiều nguồn thông tin khác nhau Thứ nhất, phân tích những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, lễ hội từ năm 1986 đến nay Thứ hai, phân tích những quan điểm học thuật của các nhà khoa học

về biến đổi tín ngưỡng, lễ hội trong xã hội đương đại Thứ ba, phân tích những luận điểm khoa học và lý thuyết của đề tài Thứ tư, tìm hiểu, phân tích, lý giải tâm lý của người đi lễ Thứ năm, dựa trên những thông tin về phiều điều tra, các biên bản phỏng vấn sâu để phân tích thực trạng tín ngưỡng Sự kết hợp giữa số liệu điền dã, những thông tin từ phỏng vấn sâu với các quan điểm học thuật giúp cho so sánh, nhận diện tín ngưỡng này theo suốt chiều dọc của lịch sử, từ đó đưa ra những kết quả nghiên cứu mới

6.2.5 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh có vị trí quan trọng trong tiếp cận và phân tích nguồn tư liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu để thực hiện các mục tiêu của đề tài Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu các đề tài về văn hóa, gồm

có khuynh hướng tích hợp, giao thoa giữa tín ngưỡng dân gian với tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực

Ngoài hướng tiếp cận và những phương pháp trên, NCS còn quan tâm đến việc

hệ thống hóa, phân tích các chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý tín ngưỡng, lễ

Trang 21

hội; các chính sách cụ thể của các địa phương về bảo tồn, phát huy tín ngưỡng, lễ hội thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực để làm sáng tỏ sự tác động của các cơ quan quản lý nhà nước đối với việc bảo tồn và pháp huy các giá trị văn hóa tinh thần, tâm linh truyền thống trong tín ngưỡng và lễ hội dân gian liên quan đến đối tượng nghiên cứu

7 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Luận án là tài liệu khoa học, lần đầu tiên thống kê, hệ thống lại các cơ sở thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ, cùng các thực hành tế lễ, tổ chức hoạt động hội; nhận diện đặc điểm của tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực trong tương quan với tín ngưỡng thờ các anh hùng dân tộc khác ở Nam Bộ

Luận án làm sáng tỏ vai trò, vị trí quan trọng, đặc điểm của tín ngưỡng thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực trong đời sống văn hóa cư dân Nam Bộ, đặc biệt là cư dân vùng Nam sông Hậu (Sóc Trăng, An Giang, Bạc Liêu, Hậu Giang) và cư dân là tín đồ của hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật Giáo Hòa Hảo

Luận án nhận diện những biến đổi trong tín ngưỡng thờ cúng Nguyễn Trung Trực

ở thời điểm nghiên cứu và hướng đến bàn luận một số vấn đề, đề xuất các giải pháp mang tính khoa học, thực tiễn cho việc thờ phụng, tổ chức lễ hội Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ

Chương 3 Khảo sát việc thờ phụng Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ

Chương 4 Đặc điểm, vai trò, giá trị của tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ và một số bàn luận

Trang 22

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Sau sự hy sinh anh dũng của Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá, phong trào kháng Pháp còn tiếp tục diễn ra ở Nam Kỳ và các vùng khác, nhưng dần dần lắng xuống Đến năm 1884, sau Hiệp ước Pa-tơ-nốt, nhà Nguyễn đã từng bước tiến tới đầu hàng toàn bộ

và thừa nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam Từ đó, thực dân Pháp bắt đầu

thi hành nhiều chính sách thâm độc như ngu dân, chia để trị nhằm đầu độc, chia rẽ nội

bộ cũng như khơi sâu thù hằn giữa các sắc tộc trong nước Mặc dù, chúng có mở một số trường học nhưng mục đích chủ yếu cũng chỉ đào tạo những người sau này làm tay sai, phục vụ cho thực dân Pháp, đến năm 1919 việc thi cử theo lối Nho học của Việt Nam bị bãi bỏ hoàn toàn

1.1.1 Trước năm 1975

Trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược, thực dân Pháp đàn áp những cuộc khởi nghĩa, bắt bớ những người yêu nước, việc nghiên cứu và công bố công khai những tư liệu, công trình về các anh hùng kháng Pháp nói chung, Nguyễn Trung Trực nói riêng

là một điều khó khăn và hạn chế Tuy nhiên, mến mộ đức độ, khí phách của người anh hùng, các nhà nghiên cứu có một số bài viết về Nguyễn Trung Trực Năm 1909, Nguyễn

Liên Phong có nhắc đến Nguyễn Trung Trực trong Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca

(Nguyễn Quang Thắng chú dịch và giới thiệu, nhà xuất bản (Nxb) Văn học, 2012), phần

về Hà Tiên phong cảnh thi viết:

Nhớ xưa đang cuộc cạnh tranh Ông Nguyễn Trung Trực tung hoành đã lâu Trước nơi Nhựt Tảo đốt tàu

Sau nơi Rạch Giá đánh nhầu hoảng kinh Thương thay mấy lúc tan tành

Rồi ra Phú Quốc ẩn danh tiềm tàng

Năm 1959, Sơn Nam - Ngọc Linh công bố một bài viết về Nguyễn Trung Trực, người anh hùng làng chài tại Sài Gòn nhưng cũng chỉ dừng lại ở nội dung một bài báo đăng trên một tạp chí xoay quanh thân thế, sự nghiệp của người anh hùng họ Nguyễn Đến nay, trong phạm vi tư liệu hiện có, NCS nhận thấy việc nghiên cứu bài bản,

công khai về anh hùng Nguyễn Trung Trực chỉ thực sự bắt đầu từ Tập san Sử Địa xuất

Trang 23

bản năm 1968 Trong Tập san Sử Địa, nhóm nghiên cứu đã dành số 12 (tháng 10,11,12

- 1968) để viết về vị anh hùng này với đề mục: Đặc khảo về Nguyễn Trung Trực Nội

dung của đặc khảo bao gồm các bài viết về thân thế, sự nghiệp, các truyền thuyết, giai thoại xung quanh vị anh hùng này, có thể kể:

Phù Lang Trương Bá Phát (1968, từ tr.9 đến tr.45) với Nén hoài cố hương:

Nguyễn Trung Trực, dõng tướng Tân An Phủ chủ yếu miêu thuật thân thế, sự nghiệp,

chiến công của Nguyễn Trung Trực cùng diễn biến tình hình cuộc chiến kháng Pháp của ông Nguyễn Bài viết cung cấp phần dịch thuật về bản khảo cung của Pháp với Nguyễn Trung Trực trong ngục với 19 câu hỏi về các hoạt động của Ông, từ việc chuẩn bị đốt tàu Pháp ở vàm Nhật Tảo cho đến cuộc tấn công và chiếm Thành Sơn Đá, Rạch Giá Qua lời đối thoại của Nguyễn Trung Trực, chúng tôi thấy toát lên tinh thần anh hùng mã thượng của Ông Khí chất ấy khiến quân thù e dè, nể sợ và có phần kính phục, khí chất

của người sinh vi tướng, tử vi thần

Lê Thọ Xuân ( 1968, từ tr.46 đến tr.64), Tài liệu về cụ Nguyễn Trung Trực viết

theo lối du ký và tự truyện về quá trình tiếp cận và nghiên cứu các tư liệu, truyền thuyết, truyện kể về Nguyễn Trung Trực Bài viết cung cấp một chi tiết khác với các điều ghi chép trong lịch sử cũng như truyền thuyết về việc đốt tàu Espérance trên vàm Nhật Tảo: Nguyễn Trung Trực sử dụng đoản kiếm chứ không phải giáo hay trường kiếm, đồng thời dẫn hai câu liễn dị bản bằng tiếng Việt được treo ở đình từ trước năm 1989

“Hỏa phần Nhựt Tảo kinh thiên địa Kiếm phạt Kiên Giang khốc quỷ thần”

Cũng qua tư liệu bài viết này, chúng tôi nhận ra tinh thần nhân, nghĩa, hiếu, trung, dũng của Nguyễn Trung Trực khi tự mình nộp mình cho giặc để bảo toàn mạng sống cho binh sĩ, người dân, để cứu với mẹ thái độ thản nhiên cũng như khí phách hiên ngang khi đối diện với kẻ thù

Phạm Văn Sơn, (1968, từ tr.65 đến tr.72), Nguyễn Trung Trực, Một Kinh Kha

của miền Nam, cung cấp thêm tư liệu về bối cảnh lịch sử của cuộc khởi nghĩa Nguyễn

Trung Trực; về thái độ và lựa chọn của triều đình Huế trong cuộc xâm lăng của Pháp;

về các cuộc dấy nghĩa của các lãnh tụ nghĩa quân kháng Pháp như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Trần Văn Thành…Trong đó, việc Nguyễn Trung Trực đốt tàu Espérance cũng có chi tiết khác với các bản khác khi: khi thuyền cưới tới gần thuyền của Pháp, một người vờ lên trình thẻ bài, quân Pháp không ngờ, tức thì ông và

Trang 24

bọn thủ hạ nhảy lên đánh chém lung tung và ngay lúc đó có nhiều thuyền chở rơm và bổi của nghĩa quân cũng nhàu tới, nổi lửa đốt tàu Pháp Bên cạnh đó, bài viết còn chi tiết dị bản so với các bài viết khác như: lãnh binh Tấn xin Pháp tha cho Nguyễn Trung Trực; chi tiết sau khi chém xong, người Pháp ráp đầu vào thân, tẫn liệm và đem chốn cất tử tế

Đông Hồ (1968, từ tr.73 đến tr.82), Cải chính một điều lầm tài liệu về Nguyễn

Trung Trực đăng trên Tạp chí Nam Phong số 124 tháng 12 năm 1927 Trong bài viết

này, thi sĩ Đông Hồ đã cải chính dòng dưới đây về Nguyễn Trung Trực tin cụ mất truyền

đến triều đình Huế, vua Tự Đức sai làm lễ truy điệu Cụ, có bài văn, thể trường thiên cổ thi rằng… Vì thực tế thì không có chuyện này, mãi mấy năm sau khi Nguyễn Trung

Trực bị Pháp hành hình ở Rạch Giá, vua Tự Đức mới biết và cho truy xét sự việc Qua bài viết này, NCS còn tìm thấy một thông tin quý giá về thái độ tôn kính của các nho sĩ trí thức miền Nam đối với các anh hùng kháng Pháp Trương Gia Mô - Cúc nông Tiên

sinh - chủ biên tác phẩm bằng Hán văn Gia Định tam tiên liệt truyện, đã chép tiểu sử và

sự nghiệp kháng Pháp của ba vị tiên liệt đất Gia Định (ngày trước là toàn cõi Nam Kỳ Lục tỉnh), ba vị đó là: Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Hồ Huân Nghiệp Qua việc xếp thứ tự ba vị tiên liệt, theo thứ tự tôn kính vốn là mô – típ của thể loại liệt truyện,

ta thấy được vai trò, vị trí của Nguyễn Trung Trực luôn ở vị trí tiên khởi

Ngoài ra, trong Tập san còn một số NCS nêu bật một số vấn đề xoay quanh cuộc

đời, các giai thoại về Nguyễn Trung Trực: Sơn Nam, (1968, từ tr.83 đến tr.99) Đất khởi

nghĩa và vài giai thoại về Nguyễn Trung Trực; Các giáo sĩ - nguyên bản Nguyễn Xuân

Thọ, bản dịch của Nguyễn Huy, (1968, từ tr.100 đến tr.122) Tình hình chính trị Việt

Nam thời kỳ Nguyễn Trung Trực khởi nghĩa: Quan điểm của Ba Lê, Madrid và Huế về hòa ước Saigon 1862 ; Vương Hồng Sển (1968, từ tr.65 đến tr.137), Phản ứng của nhân dân Việt Nam

Nhìn chung, đặc khảo này chủ yếu miêu thuật bối cảnh lịch sử, thân thế, sự nghiệp Nguyễn Trung Trực, cuộc khởi nghĩa của các lãnh tụ nghĩa quân kháng Pháp ở Nam Bộ, chưa nhận diện được một cách tổng thể phạm vi phổ biến và thực hành tín ngưỡng của nhân dân với vị anh hùng dân tộc trong thờ cúng và sinh hoạt thường ngày Song, đây

là tài liệu tham khảo có giá trị nhất trong việc mở đầu cho nghiên cứu về Nguyễn Trung Trực cũng như làm cơ sở so sánh với các tư liệu công bố sau để thấy được quá trình nghiên cứu, ảnh hưởng của nhân thần Nguyễn Trung Trực trong đời sống văn hóa cư

Trang 25

dân Nam Bộ nói riêng, Việt Nam nói chung

Đào Văn Hội (1972), Tân An ngày xưa, phủ Quốc Vụ khanh đặc trách văn hóa

xuất bản (Sài Gòn) là công trình viết theo thể địa phương chí, có đề cập đến chiến công của Nguyễn Trung Trực trên sông Nhật Tảo và nhận định đây là trận đánh thắng lợi gây nhiều tiếng vang nhất trong số các cuộc khởi nghĩa kháng Pháp trên đất Long An Công trình là tư liệu tham khảo cần thiết cho luận án làm cơ sở để đối chiếu với các tài liệu cùng loại xuất bản sau này

1.1.2 Sau năm 1975

Sau năm 1975, việc nghiên cứu về Nam Bộ nói chung, các danh nhân, lễ hội và những địa phương có liên quan đến thân thế sự nghiệp của Nguyễn Trung Trực được đẩy mạnh, chúng tôi trích dưới đây và đánh giá sơ bộ các công trình này theo nhóm nghiên cứu và thứ tự thời gian như sau:

Đối với chủ đề nghiên cứu của luận án, NCS nhận thấy có hai nhóm công trình

có liên quan: nhóm nghiên cứu các vấn đề chung về lý thuyết tiếp biến văn hóa, biến đổi văn hóa, lý thuyết văn hóa vùng, những vấn đề về tín ngưỡng, lễ hội và nhóm các công trình liên quan trực tiếp đến đề tài của luận án

Nhóm các công trình nghiên cứu chung về lý thuyết, về tín ngưỡng, lễ hội

Ngô Đức Thịnh (2001), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam đã khẳng

định việc tôn thờ những người có công với dân với nước và việc tổ chức những lễ hội gắn liền với đối tượng thờ phụng là một truyền thống có từ lâu đời Công trình này cũng chỉ

ra rằng việc tôn thờ các anh hùng có công với dân với nước là một truyền thống lâu đời của văn hóa Việt, từ quá trình tôn kính, phụng thờ các nhân thần này đến lễ hội tưởng nhớ

là con đường đi tất yếu của tín ngưỡng Đồng thời, công trình cũng đưa ra một số minh họa điển hình về quá trình phát triển của một tín ngưỡng - lễ hội từ quy mô nhỏ là một địa phương, nơi có di tích, đến quy mô vùng, quốc gia như tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần

Nguyễn Tri Nguyên (2004), trong bài viết Bản chất và đặc trưng tín ngưỡng

dân gian trong lễ hội cổ truyền Việt Nam, Tạp chí di sản số 7, đã cung cấp cơ sở lý

thuyết cho luận án trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tín ngưỡng và lễ hội

Lê Hồng Lý (chủ biên (cb), 2008), Sự biến đổi của tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt

Nam hiện nay, Nxb Thế Giới đã tập hợp những bài viết về sự biến đổi của tôn giáo, tín

ngưỡng ở thời điểm nghiên cứu, cung cấp khung lý thuyết căn bản và chỉ dẫn thực địa

cụ thể để luận án làm cơ sở so sánh nhằm tìm ra nguyên nhân căn bản dẫn đến những

Trang 26

sự biến đổi cũng như nhận diện thực tế phổ văn hóa của tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ

Nguyễn Thị Bích Thủy (2015), Sự biến đổi của làng nghề truyền thống ở Hà Nội

hiện nay, luận án Tiến sĩ Văn hóa học, Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã gợi dẫn

nhiều lý thuyết nghiên cứu về sự biến đổi của văn hóa mà cụ thể là của các làng nghề truyền thống ở Hà Nội Điều đó làm cơ sở cho việc áp dụng lý thuyết để nghiên cứu, vận dụng vào trường hợp tín ngưỡng thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ

Nguyễn Thị Phương Châm, Đỗ Lan Phương (2016), Làng ven đô và sự biến đổi

văn hóa (trường hợp làng Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội), Nxb KHXH

Hà Nội, đã cung cấp một khung lý thuyết và dẫn chứng một sự biến đổi tại một địa bàn

cụ thể là làng Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong đó có các biến đổi

về tín ngưỡng, lễ hội Công trình là tài liệu tham khảo quan trọng cho luận án so sánh, đối chiếu, vận dụng vào nghiên cứu để tìm sự biến đổi ở một địa bàn có di tích thờ Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ

Nguyễn Thừa Hỷ (2016), Một góc nhìn về lịch sử, văn hóa và con người Việt

Nam, Nxb Thông tin Truyền thông, phần 3: giao lưu tiếp biến và hỗn dung văn hóa đã

cung cấp một số lý thuyết về quá trình tiếp biến văn hóa cũng như gợi mở cho luận án nhiều góc nhìn về sự biến đổi của một hiện tượng văn hóa

Nhóm các công trình liên quan trực tiếp về Nguyễn Trung Trực

Thạch Phương - Lưu Quang Tuyến, cb (1989), Địa chí Long An, Nxb KHXH đã

miêu thuật chi tiết chiến công đốt tàu giặc trên sông Nhật Tảo của Nguyễn Trung Trực

từ việc chuẩn bị lên kế hoạch, địa điểm tập kết lực lượng của nghĩa binh đến diễn biến

và kết cục của trận chiến Đây là tài liệu tham khảo và là chỉ dẫn địa lý cần thiết cho luận án trong quá trình thực địa

Giang Minh Đoán (1991), Nguyễn Trung Trực, anh hùng kháng chiến chống

Pháp, Nxb TP.HCM trình bày chi tiết về thân thế sự nghiệp, chiến công của Nguyễn

Trung Trực từ khi còn ở Xóm Nghề (Bến Lức, Long An) cho đến lúc tham gia nghĩa quân Trương Định; khởi nghĩa đốt tàu giặc, chiếm đồn Kiên Giang, bôn tẩu ra Phú Quốc

và cuối cùng chịu thọ hình ở Rạch Giá Công trình thể hiện theo cách viết lịch sử nhưng

là chỉ dẫn cần thiết cho luận án khi so sánh với các công trình khác cùng thể loại về cuộc đời và sự nghiệp của người anh hùng

Trương Minh Đạt (1992), Điều lầm khó thay đổi về Nguyễn Trung Trực, Tạp chí

Trang 27

KHXH (TPHCM số 14) nêu bật một số nghi vấn xoay quanh cuộc đời, sự nghiệp của người anh hùng làng chài: về trận đánh nổi tiếng ở vàm sông Nhật Tảo, về những vấn

đề ít được các tài liệu khác đề cập đến như thời gian nghĩa quân lui về An Giang chuẩn

bị thời cơ khởi nghĩa hay thời gian ở Phú Quốc Đây là công trình NCS cải chính cho những tài liệu trước cùng loại công bố về Nguyễn Trung Trực

Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Hứa, Nguyễn Quang Vinh (1992), Văn hóa dân

gian người Việt ở Nam Bộ, Nxb Khoa học xã hội trình bày về vai trò, vị trí của các đình

trong văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, trong đó đề cập đến các đình do nhân dân lập nên để thờ phụng các anh hùng kháng Pháp như Trương Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực Trong đó, lễ hội Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá được đánh giá là

lễ hội có quy mô rộng lớn thu hút số người tham dự nhiều nhất trong các lễ hội cùng loại ở Nam Bộ

Trương Ngọc Tường, Huỳnh Ngọc Trảng (1992), Nghìn năm bia miệng, tập 1 -

Sự tích và giai thoại dân gian Nam Bộ, Nxb TPHCM đã cung cấp thêm cho luận án những truyện kể mang tính giai thoại, truyền thuyết về người anh hùng Nguyễn Trung Trực trong thời gian hoạt động ở Kiên Giang làm cơ sở so sánh với các truyền thuyết dân gian về Nguyễn Trung Trực được các công trình trước và sau này công bố

Vĩnh Xuyên (1995), Nguyễn Trung Trực - thân thế và sự nghiệp, Hội Văn học

Nghệ thuật Kiên Giang đã cung cấp thêm tư liệu về vấn đề Nguyễn Trung Trực trong thời gian hoạt động ở Kiên Giang

Nguyễn Phương Thảo (1997), Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo, Nxb

Khoa học Xã hội đã thống kê các lễ hội dân gian thờ vị anh hùng, trong đó Nguyễn Trung Trực hy sinh vì nước không được triều đình sắc phong, nhưng đã được nhân dân tôn thần

Vĩnh Xuyên (1998), Nguyễn Trung Trực (chuyện kể dân gian), Nxb Mũi Cà Mau,

là các câu chuyện kể, các giai thoại về cuộc đời, sự hy sinh của Nguyễn Trung Trực Đó

là các câu chuyện về sự mưu trí, dũng cảm, võ nghệ cao cường và sự hy sinh đã trở thành bất tử của Ông Các câu chuyện này có nhiều tình tiết khác so với các công trình được công bố trước đó, là cơ sở so sánh với những câu chuyện thu thập được trong quá trình điền dã tại thực địa

Vĩnh Xuyên (1999), Nguyễn Trung Trực (diễn ca), Nxb Mũi Cà Mau, kể về cuộc

đời, sự nghiệp của Nguyễn Trung Trực theo thể loại diễn ca gần gũi với người dân Nam

Trang 28

Bộ Trong công trình này, trận Nhật Tảo, trận đánh tàu giặc ở Vàm Răng hay trận công đồn Kiên Giang được miêu tả sinh động, riêng cái chết của người anh hùng được nâng lên thành khúc ca bi tráng trong cảm thức của người dân Nam Bộ

Trương Ngọc Tường, Huỳnh Ngọc Trảng (1999), Đình Nam Bộ xưa và nay là

công trình chuyên sâu về một dạng thức văn hóa quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội người Việt ở Nam Bộ là cái đình; nêu một số nguyên nhân dẫn đến quá trình hình thành biến đổi, các sắc phong và nghi thức cúng tế của một số đình tiêu biểu Tài liệu cung cấp thông tin thiết thực tất cả các đình ở Nam Bộ không nhất thiết phải cúng tế cùng một ngày mà tùy hoàn cảnh và điều kiện của địa phương

Nguyễn Văn Khoa (2001), Anh hùng kháng Pháp Nguyễn Trung Trực, Nxb Trẻ,

cung cấp thêm tư liệu thân thế sự nghiệp của người anh hùng Trong đó, công trình có phần viết về phả hệ dòng họ Nguyễn, các chiến công ở Nhật Tảo, Thủ Thừa, Hòn Chông, Rạch Giá, các hoạt động của ông Nguyễn tại Phú Quốc, các tài liệu phụ khảo về vùng

Tà Niên, về những giây phút cuối cùng của người anh hùng Công trình đã tập hợp khá đầy đủ các câu chuyện lịch sử và những giai thoại dân gian về Nguyễn Trung Trực có thể xem là tài liệu tham khảo căn bản cho luận án trong quá trình nghiên cứu

Huỳnh Minh (2001), Gò Công xưa, Nxb Thanh Niên tái bản (tb) nhắc đến chiến

công của Nguyễn Trung Trực trên sông Nhật Tảo mở đầu cho việc kháng Pháp ở Nam

Bộ nói chung vùng đất Gò Công xưa nói riêng

Huỳnh Minh (2002), Vĩnh Long xưa, Nxb Thanh niên (tb) đã sơ lược cuộc chiến

chống Pháp ở Nam Kỳ, trong đó có nhắc đến anh hùng Nguyễn Trung Trực Đây là tài liệu làm cơ sở để lần tìm, nhận diện quá trình hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực trên vùng đất Vĩnh Long xưa

Ban Bảo vệ di tích Đình Nguyễn Trung Trực (2004), Nguyễn Trung Trực, Sở

Văn hóa Thể thao Kiên Giang miêu thuật thân thế, sự nghiệp, các nghi thức cúng tế trong đình được xem là nơi ngự của Nguyễn Trung Trực khi được nhân dân tôn vinh làm thần Tài liệu này là căn cứ để nghiên cứu các nghi thức, cách cúng tế ở các đình Nguyễn Trung Trực trong vùng

Sơn Nam (biên khảo, 2007), Nói về Miền Nam, cá tính Miền Nam Thuần phong

mỹ tục Việt Nam, Nxb Trẻ (tb), đã cung cấp cho luận án cái nhìn về sự linh ứng của các

thần theo quan niệm của người Nam Bộ Cùng một vị thần nhưng được thờ hay tòng tự

ở những điểm khác nhau thì mức độ linh ứng cũng khác nhau, điều này thể hiện rõ bằng

Trang 29

số người đến cúng bái và cầu xin tại đình

Nhiều NCS (2008), Cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực, Nxb Quân đội nhân

dân, tập trung miêu thuật dưới dạng hỏi – trả lời để làm nổi bật những chiến công oanh liệt của người anh hùng trong cuộc chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Ủy Ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang - Bộ VHTT DL Việt Nam (2009), Bảo tồn và

phát huy giá trị di sản văn hóa lễ hội anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, in thành kỷ

yếu 2011 đã tập hợp rất nhiều bài viết tham luận về thân thế sự nghiệp, các vấn đề xoay quanh công tác tổ chức, phục dựng và bảo tồn lễ hội Nguyễn Trung Trực Có thể kể, các bài viết quan trọng đăng trong kỷ yếu này liên quan trực tiếp đến vấn đề mà luận án quan tâm, cụ thể:

Nguyễn Nghị, (tb 2014, từ tr.35 đến tr.50), Nguyễn Trung Trực dưới ngòi bút của

Pháp, bài viết chủ yếu miêu thuật tỉ mỉ các chiến công và tương quan lực lượng giữa hai

bên, trong đó nổi bật là trận Nhật Tảo, trận Rạch Giá, việc Pháp tái chiếm Rạch Giá và Bản khảo cung của Pháp sau khi Nguyễn Trung Trực tự nộp mình Nguyễn Nghị trích dẫn nhiều tài liệu của Pháp như tài liệu của Paulin Vial, Lhegoualc, Alfred Scheiner là những người trực tiếp khảo cung hoặc trực tiếp tiếp xúc với các Bản khảo cung sau này Qua tư liệu của Pháp mà trực tiếp là của Alfred Scheiner, Nguyễn Trung Trực hiện lên trong mắt kẻ thù “suốt thời kỳ bị giam cầm, ông không có lúc nào yếu đuối cả Một cách thẳng thắn và đường hoàng, ông công nhận các chiến công của ông, cũng công nhận là

đã khinh thường sức mạnh của Pháp Ngoài ra, ông chỉ yêu cầu ban cho ông mộ ơn huệ là: được xử tử ngay tức khắc” Tuy nhiên, phạm vi tư liệu còn hạn chế, NCS luận án chưa tiếp cận được tư liệu gốc của Bản khảo cung này, song thông qua các bản dịch được công bố, chúng ta hoàn toàn có thể tin cậy và đánh giá được khí phách anh hùng, trượng nghĩa của Nguyễn Trung Trực

Trương Minh Đạt (2011, từ tr.54 đến tr.65), Lễ hội anh hùng Nguyễn Trung Trực,

cung cấp thêm tư liệu về nguồn gốc, đặc điểm, sự thay đổi qua các thời kỳ, đối tượng thờ cúng, các bước tiến hành lễ hội anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực từ trước đến năm 2011 (năm tổ chức Hội thảo) đặc biệt là các mốc trước năm 1975, 1988, 1991 Qua bài viết này, Trương Minh Đạt đề nghị tỉnh Kiên Giang tổ chức ngày giỗ Nguyễn Trung Trực đúng ngày 12 tháng 09 âm lịch hàng năm thay vì tổ chức như ngày nay; về nghi thức thờ cúng, NCS cũng đề nghị giữ theo cổ lệ, cúng rập theo cách cúng Thành Hoàng bổn cảnh Lễ gồm 3 ngày:

Trang 30

- Ngày thứ nhất : lễ Túc Yết vào buổi chiều hay tối;

- Ngày thứ hai, lễ Tế (lễ Đàn Cả) lúc 0 giờ, hoặc 4 giờ sáng

- Ngày thứ 3 là ngày cuối, cúng Tiền Hiền, Hậu Hiền

Qua nghiên cứu điền dã từ Long An đến Kiên Giang cũng như các tỉnh Nam Bộ, chúng tôi thấy việc nhân dân cúng giỗ Nguyễn Trung Trực không thống nhất ngày tháng Nơi thì tổ chức đúng ngày Ông bị hành hình, nơi tích hợp vào các lễ Kỳ yên cúng Thành hoàng Bổn cảnh Việc này, thiết nghĩ không nên tranh cãi, vì trong văn hóa, việc phong thần và cúng vọng cho một anh hùng dân tộc vào ngày nào là do dân gian quyết định Hơn ai hết, nhân dân là người trực tiếp thực hành các nghi thức, nghi lễ nhằm bày tỏ sự ngưỡng mộ và tin tưởng của dân gian đối với anh hùng dân tộc Tín ngưỡng thờ phụng Nguyễn Trung Trực cũng không ngoại lệ

Nguyễn Hữu Hiệp (2011, từ tr.141 đến tr.145) Nguyễn Trung Trực trong tâm

tưởng người An Giang, đã viết: Cũng như tất cả những người Việt Nam yêu nước, nhân

dân An Giang, đặc biệt là bà con tại gia cư sĩ, tu theo giáo lý Tứ ân (lấy ân đất nước làm trọng) đều rất ngưỡng mộ và tôn kính vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực Điều đó được thể hiện qua sự tham dự đông đảo và đóng góp tài vật cho lễ giỗ Ông hàng năm ở khắp nơi, nhất là tại Đình thờ Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá Không chỉ thế, nhân dân

An Giang đã dựng lên nhiều cơ sở thờ tự Ông rất trang nghiêm, và đang có khuynh hướng mở rộng

Lê Công Lý (2011, từ tr.165 đến tr.170), Nguyễn Trung Trực trên đất Long An

đã cung cấp đến độc giả các hoạt động tưởng niệm Nguyễn Trung Trực trên đất Long

An, nhất là các hoạt động liên quan đến việc cúng giỗ ông Nguyễn tại gia tộc và do chính quyền địa phương Một chi tiết lưu ý là lễ cúng Nguyễn Trung Trực dù tổ chức ở đâu và khi nào thì lễ vật ở bàn thờ chính vẫn là đồ chay cùng với hoa quả, trà rượu Các món mặn như heo, gà chỉ dùng để cúng binh gia ở bàn ngoài

Nhà văn Anh Động (2011, từ tr.181 đến tr.184), Nguyễn Trung Trực một di sản

văn hóa, đã tập hợp các câu chuyện về Nguyễn Trung Trực là tư liệu tham khảo cần

thiết cho luận án trong quá trình giải mã hiện tượng nhân dân phong thần cho ông Nguyễn

UBND TP Rạch Giá (2011, từ tr.216 đến tr.226), Bảo tồn di sản văn hóa đình

thờ và lễ hội anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, đã miêu thuật cụ thể về thần phả,

thần tích, nghi thức, lễ vật dâng cúng và nghi thức tế lễ trong ngày giỗ Nguyễn Trung

Trang 31

Trực tại Rạch Giá vào ngày 26, 27, 28 tháng 08 Âm lịch Đây là tài liệu tham khảo quý cho luận án dùng làm cơ sở so sánh, đối chiếu lễ hội Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá với các nơi khác để nhận diện, lần tìm các giá trị văn hóa đặc sắc mang tính vùng miền của cư dân từng địa phương ở Nam Bộ trong việc thực hành tín ngưỡng về vị anh hùng dân tộc

Nguyễn Văn Thiện (2011, từ tr.285 đến tr.288), Bảo tồn phát huy giá trị di sản

văn hóa về anh hùng Nguyễn Trung Trực ở Long An, cung cấp thêm một truyền thuyết

lịch sử về trận Nhật Tảo, những sáng tác bằng vè về trận đánh này, xin lược ghi:

Ai trung cho bằng Ông Định

Ai nịnh cho bằng thằng Tấn Giặc Tây xâm lấn nó vác súng theo hầu Dưới sông Ông Lịch đốt tàu

Trên bờ lấy củi đập đầu thằng Tây

Võ Thanh Hùng (2011, từ tr.330 đến tr.336), Lòng dân Sóc Trăng với liệt thần

Nguyễn Trung Trực, cung cấp các thông tin liên quan về việc thờ tự Nguyễn Trung Trực

ở địa bàn Sóc Trăng, trong đó nổi bật là đình Đại Hữu với lịch sử 135 năm; quá trình tiếp biến và giao lưu văn hóa của tín ngưỡng này với các tín ngưỡng dân gian địa phương

Tiền Văn Triệu (2011, từ tr.344 đến tr.350), Nguyễn Trung Trực từ góc nhìn

truyền thuyết, kể về Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá, những chiến công, kỳ tích cũng

như phẩm chất được nhân dân vùng này kể lại khá chi tiết, rõ nét thể hiện khả năng đánh giặc phi thường của Ông Đó là những chiến công hiển hách, pha lẫn yếu tố kỳ ảo cho thấy tấm lòng của nhân dân yêu mến, kính trọng với anh hùng Nguyễn Trung Trực Bài viết còn đề cập đến chi tiết, trong mười năm, nhân dân không ngừng tìm kiếm đầu ông

để hàn gắn với thi thể như tìm kiếm sự trọn vẹn về phẩm chất, chiến công cũng như kỳ

tích của Ông

Trần Văn Nam - Trần Văn Giữ (chủ biên, 2010), Văn hóa dân gian Bình Tân,

Nxb Đại học Cần Thơ, khái quát về quá trình dân Bình Tân lập đình thờ thần hoàng bổn cảnh thời mới khai khẩn và quá trình tòng tự Nguyễn Trung Trực trong các đình tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

Võ Phúc Châu (2011), Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống

Pháp ở Nam Bộ (1858-1918), Nxb Thời Đại đã sưu tầm, ghi lại những truyền thuyết,

Trang 32

giai thoại dân gian xung quanh cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trung Trực Công trình này đã cung cấp cho luận án tài liệu tham khảo để so sánh, nhận diện những tương đồng, khác biệt về truyền thuyết Nguyễn Trung Trực trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Nam Bộ

Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa Hảo, Ban Phổ truyền giáo lý (2011), Tôn

chỉ hành đạo Phật giáo Hòa Hảo của Đức Huỳnh Giáo chủ, tái bản lần VI, Nxb Tôn

giáo là sách nói về cách hành đạo, nhưng cũng cung cấp cho luận án những tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu quá trình thiêng hóa anh hùng Nguyễn Trung Trực thành quan Thượng đẳng đại thần của tôn giáo bản địa

Đoàn Nô (2014), Du lịch lễ hội vùng đất Tây Nam Bộ, Nxb Chính trị Quốc Gia,

miêu thuật về lễ hội Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá tại thời điểm xuất bản, công trình

là tài liệu tham khảo quan trọng cho việc so sánh, đối chiếu để thấy mức độ, quy mô của

lễ hội qua các thời kỳ

Nguyễn Nghị (2014), Nguyễn Trung Trực qua một số tư liệu của Pháp, in trong

Nam Bộ xưa và nay, Nxb Thời Đại - Tạp chí Xưa và Nay (tb), cung cấp thêm một số thông tin nhằm làm sáng tỏ khí phách họ Nguyễn trước nanh vuốt của thực dân Pháp

Võ Thanh Xuân (2014), Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội anh hùng

Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang hiện nay, luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị

Quốc gia TPHCM đã nhận diện quá trình hình thành, phát triển và biến đổi của lễ hội qua từng thời kỳ tính đến thời điểm nghiên cứu Luận văn cũng đưa ra nhiều giải pháp

cơ bản cho lễ hội anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực tại địa bàn được xem là trọng điểm của dạng thức văn hóa này

Phạm Văn Thức (2015), Lễ hội Đình Tà Niên xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu

Thành, tỉnh Kiên Giang, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Trà Vinh đã cung cấp thêm nhiều tư

liệu về lễ hội, nghi thức cúng tế ở đình Vĩnh Hòa Hiệp, Châu Thành, Kiên Giang; đây cũng là nơi gắn bó trực tiếp đến quá trình hoạt động kháng Pháp của Nguyễn Trung Trực tại Kiên Giang

Nguyễn Bình Phương Thảo - Nguyễn Thanh Lợi (2016), Tín ngưỡng dân gian

Phú Quốc, Nxb Tổng hợp TPHCM, dành một phần viết về tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung

Trực của cư dân Phú Quốc và thông tin thêm đình Nguyễn Trung Trực luôn là một địa chỉ du lịch văn hóa tâm linh số một của đảo ngọc này

Trang 33

Đỗ Thị Hà Thơ (2018), Tín ngưỡng thờ thần đình ở Đồng Tháp, Tạp chí Khoa

học số 10, Đại học Cần Thơ đã hệ thống lại các dạng thức thờ thần ở các đình tại một địa phương là Đồng Tháp trong sự so sánh với các dạng thức cùng loại ở các địa phương khác trong khu vực Nam Bộ như Hậu Giang, Trà Vinh Bài viết có cung cấp về số lượng đình thần thờ Nguyễn Trung Trực là chính thần tại các địa phương nói chung và tại Đồng Tháp nói riêng

Sở VHTTDL Kiên Giang (2018), Huyền thoại anh hùng dân tộc Nguyễn Trung

Trực đã cung cấp thêm một số huyền thoại liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của vị

anh hùng, tài liệu cũng tập hợp được một số đình thờ Nguyễn Trung Trực tại Kiên Giang

và một số địa phương khác tại Nam Bộ như An Giang, Sóc Trăng…Tuy nhiên, phần di tích đình Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Trà Vinh chưa thấy nhắc tới

Sở VHTTDL Sóc Trăng, Bảo tàng Tỉnh (2018), Lý lịch di tích lịch sử văn hóa

Cổ đình thần Nguyễn Trung Trực, Tài liệu lưu hành nội bộ, đã cung cấp một cách chi

tiết về quá trình hình thành, phát triển, các nghi thức thờ phụng cúng tế tại một trong những ngôi đình thờ Nguyễn Trung Trực sớm nhất ở Nam Bộ sau khi Ông bị Pháp hành hình ở Rạch Giá

Vũ Minh Giang (2019), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb Đại học Quốc

gia TP Hồ Chí Minh đã cung cấp những dữ liệu, cứ liệu cần thiết cho luận án về quá trình Nam tiến của người Việt Các cột mốc quan trọng trong quá trình định cư, như đặt các trạm quản lý hành chính của Chúa Nguyễn, các cuộc kháng Pháp ở Nam Bộ, trong

đó có đề cập đến khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực

Sở VHTTDL Kiên Giang Báo cáo tổng kết về lễ hội Nguyễn Trung Trực từ năm

2014 đến nay là tài liệu tham khảo quan trọng cho luận án trong việc đi tìm những sự thay đổi về nghi thức và các dạng thức xung quanh lễ hội qua từng năm cúng tế Nguyễn Trung Trực

Ngoài ra, các bài báo đăng trên báo Cần Thơ của Trần Phỏng Điều, Nguyễn Minh Thảo và của các nhà báo, nhà biên khảo khác cũng là tư liệu tham khảo có giá trị cho người viết trong quá trình thực hiện luận án

Qua xử lý các tư liệu, tài liệu thu thập được đã công bố hay dạng tư liệu cá nhân (về sau gọi chung là tài liệu), NCS nhận thấy hầu hết các công trình trên chủ yếu viết dưới dạng sử học, diễn ca, quảng bá du lịch, báo chí, chưa đi sâu vào nghiên cứu những biểu hiện cụ thể, những giá trị đặc sắc mang đậm tính nhân văn của tín ngưỡng thờ anh

Trang 34

hùng Nguyễn Trung Trực trong đời sống sinh hoạt tâm linh của cư dân vùng Nam Bộ

Về nội dung, một số công trình thiên về khái quát thân thế, sự nghiệp Nguyễn Trung Trực; miêu tả cơ sở thờ tự, lễ hội Nguyễn Trung Trực; hoặc là chưa đi sâu vào việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của đối tượng thờ trong đời sống văn hóa xã hội Về địa lý, đa phần các công trình chỉ giới hạn tại địa bàn một tỉnh, một huyện chưa cung cấp được cái nhìn khoa học mang tính hệ thống về đối tượng thờ cúng AHDT trong bối cảnh văn hóa vùng Nam Bộ Do đó, luận án có thể xem là một công trình khoa học, chuyên khảo về Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực trong đời sống văn hóa cư dân Nam Bộ

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.2.1 Một số khái niệm liên quan

1.2.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rất rộng, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất tinh thần của con người Chính vì thế, văn hóa có nhiều nghĩa và nhiều cách hiểu khác nhau Trong phạm vi luận án này, chúng tôi giới thiệu một số định nghĩa tiêu biểu:

E.B.Tylor (1832-1917) trong công trình Văn hóa nguyên thủy xuất bản năm 1871

ở London định nghĩa văn hóa như sau: “từ văn hóa hay văn minh theo nghĩa rộng về tộc

người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực vào thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên xã hội.” (E.B.Tylor, 2000, tr.13)

B.K.Malinowski (1884-1942) văn hóa bao gồm các quá trình kế thừa về kĩ thuật,

tư tưởng, tập quán và giá trị Trong khi đó, theo E Sapir (1884-1939) “văn hóa là tổ hợp những phương thức hoạt động và niềm tin tạo thành trụ cột của cuộc sống chúng

ta, được kế thừa về mặt xã hội; Edouard Herriot xem Văn hóa là cái còn lại khi người

ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả” (A.A Belik , 2000, Đỗ

Lai Thuý, Hoàng Vinh, Huyền Giang dịch, NCS lược trích)

Theo cách hiểu thông thường, văn hóa là học thức, trình độ học vấn và lối sống lành mạnh Còn trong học thuật, văn hoá được các nhà nghiên cứu Việt Nam hiểu theo

một nghĩa khác, Đào Duy Anh xem văn hoá là sinh hoạt (Đào Duy Anh, 1938, tr.13)

Hồ Chí Minh, định nghĩa văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của

cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày

Trang 35

về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá” (60, 1995, tr.453)

Phan Ngọc xem “văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một

cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tạí ít nhiều đã bị cá nhân hay tộc người này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng

tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân hay tộc người khác” (75, 1998, tr.17)

Theo Đại Từ điển tiếng Việt, văn hóa là 1 những giá trị vật chất, tinh thần do

con người sáng tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc, kho tàng văn hóa dân tộc

2 Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa, chú ý đời sống văn

hóa của nhân dân, 3 Tri thức khoa học, trình độ học vấn: Trình độ văn hóa, học các môn văn hóa 4 Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới 5 Nền văn hóa có thời kỳ lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di

vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn, văn hóa rìu hai vai (156,

1999, tr.1796)

Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật

chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn

và trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”

Trang 36

1.2.1.2 Khái niệm tín ngưỡng

Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng mộ, sùng bái của con người vào lực lượng siêu nhiên, ảnh hưởng đến đời sống và đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người Từ niềm tin ấy, con người lập nên các cơ sở thờ tự, tiến hành các nghi thức thờ cúng với

niềm ngưỡng mộ sâu sắc Ở Việt Nam, khái niệm này đã được đưa vào luật: “Tín ngưỡng

là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.”

“Hoạt động của tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng;

tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” (Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, 2016, tr.1)

- Tín ngưỡng và tôn giáo

Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức Quan niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới về hai khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo cũng có một số cách hiểu khác nhau Ngô Đức Thịnh đã trích dẫn ý kiến của Patrick.B.Mullen, xác định tín ngưỡng dân gian có

một nội hàm rất phong phú: “Tín ngưỡng dân gian là một thể loại lớn bao gồm sự biểu

cảm và cách ứng xử mà ta gọi là mê tín, tín ngưỡng bình dân, làm phép, các hiện tượng siêu nhiên, các câu của bà nội trợ già, y học dân gian, tôn giáo dân gian, các biểu hiện của thời tiết, cây cỏ, các lời cầu khấn tụng niệm, những người hay vật mang đồ rủi, đồ làm từ rễ cây, những điềm tốt hay điềm xấu, các chuyện yêu ma và những điều cấm kị”

(123, 2005, tr.273)

Ở Việt Nam, theo Đào Duy Anh, “tín ngưỡng (Belief) là lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa, còn tôn giáo (Religion) là một thứ tổ chức lấy thần đạo làm trung tâm mà lập nên giới ước khiến người ta tín ngưỡng” (2, 1938, tr.91)

Theo Trần Quốc Vượng, “trong đời sống ngôn ngữ, xã hội, cả hai thuật ngữ tôn

giáo, tín ngưỡng đều tồn tại Sự phân biệt giữa hai thuật ngữ chủ yếu ở mức độ niềm tin

và cơ cấu tổ chức của hai hiện tượng xã hội Nói đến tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng hóa một nhân vật được gởi gắm vào niềm tin tưởng của con người Quá trình ấy,

có thể là quá trình huyền thoại hóa, lịch sử hóa nhân vật phụng thờ Mặt khác, giữa các tín ngưỡng đều có những đan xen và trong từng tín ngưỡng đều có nhiều lớp văn hóa lắng đọng” (150, 1998, tr.91)

Trang 37

Theo Ngô Đức Thịnh, trong công trình Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt

Nam do Nxb Khoa học xã hội ấn hành năm 2001, hiện nay, đang có rất nhiều ý kiến khác

nhau khi sử dụng khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng Theo quan điểm truyền thống, người

ta có ý thức phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng, thường coi tín ngưỡng ở trình độ thấp hơn

so với tôn giáo Loại quan điểm thứ hai là đồng nhất giữa tín ngưỡng và tôn giáo và đều

gọi chung là tôn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn

giáo thế giới (121, 2001, tr.17) Ông cho rằng tín ngưỡng với tư cách như một hình thức

thể hiện niềm tin vào cái thiêng liêng của con người, của một cộng đồng người nào đó ở một trình độ phát triển xã hội cụ thể Từ cơ sở đó, trong luận án này, NCS dựa vào bảng

phân loại tín ngưỡng của Ngô Đức Thịnh trong công trình Tín ngưỡng và văn hóa tín

ngưỡng ở Việt Nam làm cơ sở cho nghiên cứu tín ngưỡng thờ phụng Nguyễn Trung

Trực ở Nam Bộ

- Tín ngưỡng và mê tín dị đoan

Mê tín dị đoan là một thuật ngữ có nguồn gốc từ Công giáo Đây là từ mà các giáo sĩ và giáo dân dùng để chỉ những niềm tin dân gian ngoài niềm tin vào một đấng cứu thế duy nhất là Chúa Như vậy, ngoại diên của thuật ngữ mê tín dị đoan rất rộng và trải dài trên nhiều lĩnh vực của đời sống văn hóa xã hội, nhưng điểm chung nhất là những niềm tin ngoài chính thống và thường mang một ý nghĩa tiêu cực

Như vậy, nội hàm của tín ngưỡng và mê tín dị đoan có những điểm trùng lắp lên nhau, trong nhiều trường hợp chúng tiến sát lại rất gần nhau nhưng không bao giờ đồng nhất với nhau Tín ngưỡng thường rộng và mang ý nghĩa tích cực hơn là mê tín dị đoan Tín ngưỡng thường tồn tại qua lăng kính xã hội trong khi đó mê tín dị đoan thường bảo thủ và tồn tại trong một nhóm nhỏ những người chậm tiến

1.2.1.3 Khái niệm văn hóa tín ngưỡng

Văn hoá tín ngưỡng là sự gắn kết từ một hình thức tín ngưỡng nào đó, rồi tích hợp vào các giá trị văn hoá khác như: di tích, lễ hội, truyền thuyết, diễn xướng nghệ thuật…

có liên quan Tín ngưỡng mang tính nguyên hợp chính là sự tích hợp nhiều giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể cùng tồn tại như một tổng thể văn hoá Do đó, văn hóa tín ngưỡng

là hệ thống giá trị về những phương cách ứng xử của con người đối với thế giới siêu nhiên hay xã hội có liên quan đến đời sống của mình Những phương cách ứng xử đó phản ánh các điều kiện vật chất và tinh thần tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội của một cộng đồng cư dân

Trang 38

Theo Patrick B Mullen, tín ngưỡng dân gian không chỉ tồn tại ở dạng trừu tượng

mà còn tồn tại trong thực tiễn, do đó, văn hóa dân gian không chỉ phản ánh cách nhìn nhận văn hóa chung chung mà nó tồn tại trong cuộc sống hàng ngày Bởi vì, bản thân tín ngưỡng

là một hình thức văn hóa đặc thù; tích hợp với nhiều hình thức văn hóa khác nhằm thể hiện hành vi của con người Con người muốn đưa nguyện ước của mình đến với thần linh thì phải có phương tiện, đó là: nơi thờ cúng, đối tượng thờ, nghi lễ, phẩm vật…Trong

công trình Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, Ngô Đức Thịnh đã xác định “Từ

nhân lõi tôn giáo tín ngưỡng này, đạo Mẫu đã sản sinh ra và tích hợp nhiều yếu tố giá trị văn hóa: văn học đạo Mẫu, diễn xướng đạo Mẫu (âm nhạc, múa, hát chầu văn, sân khấu), kiến trúc và nghệ thuật trang trí, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng gắn với đạo Mẫu” (121,

2001, tr.765) Từ nhận định đó, NCS nhận thấy việc tôn thờ những người có công với dân với nước và việc tổ chức những lễ hội gắn liền với đối tượng thờ phụng là một truyền thống có từ lâu đời của người Việt Đây là một nhu cầu tâm linh tất yếu của nhân dân

1.2.1.4 Khái niệm đời sống văn hóa

Đời sống văn hóa là tất cả những hoạt động của con người tác động vào đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội để hướng con người vươn lên theo qui luật của cái đúng, cái đẹp, cái tốt, của chuẩn mực giá trị chân thiện mĩ, đào thải những biểu hiện tiêu cực tha hoá con người Đời sống văn hóa là quá trình diễn ra sự trao đổi thông qua các hoạt động văn hóa nhằm nâng cao chất lượng sống của con người Ở những góc

độ khác nhau, các nhà nghiên cứu cho rằng, đời sống văn hóa gắn liền với nhu cầu cơ bản của con người, có NCS nhấn mạnh đến những hoạt động của con người trong môi trường để nâng cao chất lượng sống hoặc hẹp hơn có NCS cho rằng, đời sống văn hóa

là tổng thể những hoạt động tinh thần của con người trong quá trình sáng tạo, truyền bá, thưởng thức những sản phẩm văn hóa Đời sống văn hóa có phạm vi hẹp hơn đời sống

xã hội Đời sống văn hóa thường nhấn mạnh đến những giá trị, chuẩn mực, gạn lọc dần những yếu tố chậm tiến bộ của đời sống để hướng con người đến những điều tốt đẹp, những giá trị mới trong quá trình phát triển của đời sống xã hội Đời sống văn hóa bao gồm những yếu tố hoạt động văn hóa vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người Đời sống văn hóa bao gồm những nội dung của các lĩnh vực đời sống xã hội và các yếu tố cơ bản tạo nên văn hóa

Với cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã có những phát biểu, những

Trang 39

cách hiểu rộng, hẹp không giống nhau về khái niệm đời sống văn hóa, song hầu hết các

ý kiến đều thống nhất: Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, có thể hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp Nghĩa rộng của đời sống văn hóa bao hàm đời sống vật chất và đời sống tinh thần; theo nghĩa hẹp, đời sống văn hóa chỉ bao hàm đời sống tinh thần, kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của cha ông, tiếp thu cái mới thực tế cuộc sống để đáp ứng nhu cầu văn hóa của con người Kế thừa quan điểm của các NCS đi trước, NCS nhận thấy, đời sống văn hóa là quá trình sáng tạo ra các giá trị văn hóa và thực hiện, ứng dụng các giá trị văn hóa đã được sáng tạo ra vào thực tế cuộc sống Trong luận án, đời sống văn hóa được xem xét chủ yếu là đời sống tinh thần Đó là đời sống văn hóa tín ngưỡng, nơi diễn ra các hoạt động tín ngưỡng như: xây dựng các cơ sở thờ

tự, thờ cúng, thực hành các nghi thức thờ cúng song song đó là kết hợp hài hòa lĩnh vực vật chất như: nơi thực hành hoạt động tín ngưỡng, cảnh quan, môi trường

- Chủ thể văn hóa

Chủ thể văn hóa là cá nhân, nhóm người, cộng đồng, tộc người, cùng cư trú trên một địa bàn nhất định, có vai trò quyết định trong các yếu tố cấu thành đời sống văn hóa Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, sử dụng văn hóa như một phương tiện để thỏa mãn đời sống vật chất lẫn tinh thần Đặc điểm cơ bản của chủ thể văn hóa là nhận thức, nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa, ứng xử văn hóa, lối sống văn hóa, Trong thờ phụng Nguyễn Trung Trực, chủ thể văn hóa là cộng đồng cư dân Nam Bộ, là những người cùng cư trú vùng ĐBSCL và hạ lưu sông Đồng Nai

- Hoạt động văn hóa

Văn hóa bao gồm các hoạt động: sáng tác nghệ thuật, sân khấu, điện ảnh, thể dục thể thao, quảng bá các giá trị văn hóa, tiêu dùng- lưu giữ các giá trị văn hóa, tín ngưỡng,

lễ hội Hoạt động văn hóa là thực hành những sản phẩm văn hóa nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người Từ nhu cầu văn hóa tối thiểu đến nhu cầu được sáng tạo, từ nhu cầu về văn hóa vật chất đến nhu cầu văn hóa tinh thần luôn là mong muốn của con người trong đời sống văn hóa Tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực là hình thức hoạt động văn hóa nhằm thể hiện sự biết ơn, sự thành tâm của nhân dân cầu xin anh linh người AHDT phù trợ đất nước Việc thờ phụng Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ đáp ứng được nhu cầu của đời sống cư dân vùng này

- Sản phẩm văn hóa

Sản phẩm văn hóa là kết quả quá trình sáng tạo của con người trong thực tế đời

Trang 40

sống Trong quá trình phát triển, con người không ngừng sáng tạo để làm nên các giá trị văn hóa, con người đồng thời cũng là sản phẩm văn hóa Sản phẩm văn hóa có thể do một cá nhân hay cộng đồng sáng tạo ra Do mang dấu ấn của cá nhân hay cộng đồng nên sản phẩm văn hóa biểu hiện tính địa phương, vùng miền rõ nét Đối với cộng đồng người, sản phẩm văn hóa biểu hiện dấu ấn của thời đại, được lưu giữ, truyền lại cho các thế hệ sau Sản phẩm văn hóa bao gồm: sản phẩm văn hóa vật thể và sản phẩm văn hóa phi vật thể

1.2.2 Các lý thuyết tiếp cận

Nghiên cứu dựa vào những quan điểm của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng (đặc biệt là Luật Tôn giáo, Tín ngưỡng mới ban hành), đồng thời, chúng tôi cũng dựa vào các lý thuyết kinh điển trong nghiên cứu văn hóa

1.2.2.1 Lý thuyết cấu trúc - chức năng

Sự xuất hiện của chức năng luận như một phương pháp nghiên cứu văn hóa gắn liền với các công trình của B.Malinowski, A Radcliff Brown, G Spencer và E Durkheim đã có ảnh hưởng to lớn đến việc nghiên cứu văn hóa khi họ quan niệm văn hóa như một cơ chế toàn vẹn, được tạo ra bằng các yếu tố trong đó có tín ngưỡng Bronislav Malinowski (1884 - 1942) là nhà nhân học người Anh gốc Ba Lan, là người đặt nền móng cho các tiếp cận chức năng Khái niệm chức năng, với Malinowski, giống như một công cụ để khám phá và giải thích các hiện tượng văn hóa cụ thể Ông cho rằng, văn hóa là tổng thể những đáp ứng đối với các nhu cầu sống cơ bản và nhu cầu sản xuất của con người, trong đó bao gồm từ sản vật tiêu dùng đến việc tổ chức nhóm họp xã hội, từ tư tưởng và nghệ thuật đến tín ngưỡng phong tục, đạo đức, v.v… Đó là một hệ thống cân bằng, trong đó mỗi yếu tố hoặc bộ phận đều thực hiện chức năng của

nó Theo B Malinowski, trong bất cứ dạng văn minh hay bất cứ tập quán nào, các đối tượng vật chất và các tín ngưỡng thực hiện chức năng, xử lý nhiệm vụ nào đó đều là bộ phận cần thiết ở bên trong một chỉnh thể hoạt động (160, 1948, tr.61) Trong chỉnh thể

đó, nếu triệt tiêu đi bất cứ một yếu tố nào (như cấm đoán một nghi lễ hay một chuẩn mực đạo đức) thì toàn bộ hệ thống xã hội sẽ không vận hành được, nó sẽ bị suy thoái và hủy diệt Nói cách khác, mỗi yếu tố hay thể chế xã hội đều tạo ra sự thống nhất chức năng với các yếu tố hay thể chế khác, do đó, chúng đều có những đóng góp nhất định vào sự tồn tại của nền văn hóa mà chúng xuất hiện Như vậy, theo Malinowski, mỗi yếu

Ngày đăng: 28/11/2020, 14:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w