LỜI CẢM ƠN Với tất cả tình cảm chân thành của mình, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Khoa Toán – Tin, Bộ môn LL & PPDH toán thuộc tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
DONE SOUPHIDA
THIÕT KÕ Vµ Sö DôNG TµI LIÖU THEO M¤§UN TRONG D¹Y HäC M¤N PH¦¥NG PH¸P D¹Y HäC TO¸N CHO SINH VI£N CAO §¼NG S¦ PH¹M N¦íC CéNG HßA D¢N CHñ NH¢N D¢N LµO
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
DONE SOUPHIDA
THIÕT KÕ Vµ Sö DôNG TµI LIÖU THEO M¤§UN TRONG D¹Y HäC M¤N PH¦¥NG PH¸P D¹Y HäC TO¸N CHO SINH VI£N CAO §¼NG S¦ PH¹M N¦íC CéNG HßA D¢N CHñ NH¢N D¢N LµO
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Toán
Mã số: 9.14.01.11
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Trần Trung
2 TS Hoàng Ngọc Anh
HÀ NỘI, 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu
do tôi thực hiện Các kết quả trình bày trong luận án trung thực, có nguồn trích dẫn Các kết quả công bố chung đồng nghiệp cho phép sử dụng đƣa vào luận án
Tác giả luận án
Done Souphida
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tất cả tình cảm chân thành của mình, tôi xin được bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Khoa Toán – Tin,
Bộ môn LL & PPDH toán thuộc trường Đại học Sư phạm Hà Nội; xin cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận án
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Trần Trung và TS Hoàng Ngọc Anh, người hướng dẫn khoa học đã tận tâm truyền đạt những kiến thức
về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án
Cũng nhân dịp này, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo hai nước Lào – Việt Nam đã hỗ trợ, quan tâm tới đời sống, tình thần, động viên khuyến khích tôi tôi trong suốt quá trình tham gia học tập, nghiên cứu tại Việt Nam; xin cảm ơn lãnh đạo Sở Giáo dục & Thể thao tỉnh Viêng Chăn và Sa Văn Na Khệt đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình tôi thực hiện điều tra khảo sát Xin cảm ơn ban lãnh đạo, đội ngũ giáo viên và sinh viên các trường CĐSP tỉnh Viêng Chăn và Sa Văn Na Khệt đã tạo điều kiện thuận lợi trong cung cấp các số liệu trong quá trình tôi thực hiện luận án, cũng như tạo điều kiện cho tôi tiến hành thực nghiệm kết quả nghiên cứu của bản thân
Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng luận án của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong sự giúp đỡ, chỉ dẫn của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận án hoàn thiện hơn
Tác giả luận án
Done Souphida
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 4
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Những đóng góp của luận án 5
9 Các luận điểm đưa ra bảo vệ 6
10 Cấu trúc của luận án 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.1.3 Những nghiên cứu ở nước CHDCND Lào 16
1.1.4 Một số nhận định 19
1.2 Chương trình đào tạo sinh viên Sư phạm Toán ở các trường CĐSP nước CHDCND Lào 20
1.2.1 Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo CĐSP Toán nước CHDCND Lào 20
1.2.2 Chương trình đào tạo giáo viên Toán ở trường CĐSP nước CHDCND Lào 22
1.3 Tài liệu theo môđun trong dạy học PPDH Toán ở trường CĐSP 29
1.3.1 Tài liệu theo môđun 29
1.3.2 Nguyên tắc thiết kế tài liệu theo môđun cho sinh viên 33
Trang 61.3.3 Quy trình thiết kế tài liệu theo môđun trong dạy học PPDH Toán 34
1.3.5 Phương pháp và tiêu chí đánh giá tài liệu theo môđun 37
1.4 Thực trạng về dạy học về PPDH Toán trong đào tạo giáo viên ở Trường CĐSP nước CHDCND Lào 40
1.5 Kết luận chương 1 46
Chương 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU THEO MÔĐUN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TOÁN TRUNG HỌC CƠ SỞ CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NƯỚC CỘNG HÕA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 47
2.1 Khái quát về môn Toán học THCS trong chương trình đào tạo giáo viên Toán ở Trường CĐSP nước CHDCND Lào 47
2.2.Thiết kế tài liệu theo môđun phương pháp môn Toán THCS ở Trường CĐSP nước CHDCND Lào 50
2.2.1 Cấu trúc tài liệu theo môđun Phương pháp dạy học môn Toán học THCS ở Trường CĐSP nước CHDCND Lào 50
2.2.2 Thiết kế tài liệu theo môđun Phương pháp dạy học môn Toán học THCS ở Trường CĐSP nước CHDCND Lào 53
2.3 Sử dụng tài liệu theo môđun môn Toán học THCS trong dạy học môn PPDH Toán ở trường CĐSP nước CHDCND Lào 100
2.3.1 Đối với sinh viên 100
2.3.2 Đối với giảng viên 102
2.4 Kết luận chương 2 104
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 105
3.1 Mục đích thực nghiệm 105
3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực hiện 105
3.3 Nội dung thực nghiệm 106
3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 106
Trang 73.5 Kết quả thực nghiệm 108
3.5.1 Kết quả TNSP vòng 1 (học kỳ 1, năm học 2017 – 2018) 108
3.5.2 Kết quả TNSP vòng 2 (học kỳ 1, năm học 2018 – 2019) 113
3.6 Kết quả nghiên cứu trường hợp 118
3.7 Kết quả xin ý kiến chuyên gia về tài liệu theo môđun PPDH môn Toán học THCS 124
3.8 Kết luận chương 3 127
KẾT LUẬN 128
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO 131 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
1 CHDCND Lào Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
2 CTĐTGV Chương trình đào tạo giáo viên
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Lớp TN và ĐC vòng 1 109
Bảng 3.2 Thống kê kết quả học tập của SV trước khi TNSP vòng 1 109
Bảng 3.3 Phân bố điểm của nhóm TN và nhóm ĐC sau khi TNSP vòng 1 111
Bảng 3.4 Phân bố tần suất lũy tích hội tụ lùi sau khi TN vòng 1 111
Bảng 3.5 Lớp TN và ĐC vòng 2 113
Bảng 3.6 Kết quả học tập của SV nhóm TN,ĐC trước khi TNSP vòng 2 113 Bảng 3.8 Bảng kiểm nghiệm giả thiết 114
Bảng 3.9 Bảng kiểm nghiệm giả thiết 114
Bảng 3.10 Phân bố điểm của nhóm lớp TN và nhóm lớp ĐC sau khi TN vòng 2 116
Bảng 3.11 Phân bố tần suất lũy tích hội tự lùi của nhóm TN,ĐC sau TN vòng 2 116
Bảng 3.12 Bảng tính điểm trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn sau TNSP vòng 2 117
Bảng 3.13 Bảng thống kê với phép thử t – student 118
Bảng 3.14 Bảng kiểm nghiệm giả thiết 118
Bảng 3.15 Bảng kiểm nghiệm giả thiết 118
Bảng 3.16 Bảng kết quả theo dõi hoạt động tự học của SV Ma Ni Sanh 120 Bảng 3.17 Bảng kết quả theo dõi hoạt động tự học của SV Chăn Chi La 121
Bảng 3.18 Bảng kết quả theo dõi hoạt động tự học của SV Phon Tịp 122
Bảng 3.19 Bảng kết quả theo dõi hoạt động tự học của SV Phim Ma Chăn 123 Bảng 3.20 Kết quả xin ý kiến chuyên gia là GV về tài liệu đã xây dựng 124
Bảng 3.21 Kết quả đánh giá tài liệu theo môđun PPDH môn Toán THCS của SV nhóm TN 126
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Cấu trúc của môđun dạy học 32 Biểu đồ 3.1 Đa giác đồ tần số về chất lượng học tập của nhóm TN và ĐC 110 Biểu đồ 3.2 Đường biểu diễn tần suất lũy tích hội tụ lùi sau khi TN vòng 1 112 Biểu đồ 3.3 Đường biểu diễn tần suất lũy tích hội tự lùi của nhóm TN và
ĐC trong đợt TNSP vòng 2 117
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Triết lý về giáo dục cho thế kỷ XXI thể hiện tư tưởng chủ đạo là lấy
“học tập suốt đời” làm nền móng, dựa trên các mục tiêu tổng quát của việc
học là: học để biết, học để làm việc, học để chung sống và học để làm người,
(Learning to know, learning to do, learning to live together, learning to be),
hướng tới xây dựng một xã hội học tập (UNESCO,1996) nước CHDCND Lào đang trong thời kỳ đẩy mạnh đổi mới phát triển, đòi hỏi xã hội phải tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao Nghị quyết Đại hội Đảng Nhân dân cách mạng Lào lần thứ IX năm 2006 đã định hướng tiến hành phát triển nền giáo dục của Lào ngày càng nâng cao, bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Lào nhằm từng bước đưa đất nước Lào phát triển, của từng vùng, từng địa phương hướng tới một xã hội học tập Phấn đấu nền giáo dục của Lào thoát khỏi tình trạng tụt hậu trên một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Năm 2015 Bộ Giáo dục và Thể thao Lào đã xác định ưu tiên hàng đầu tập trung nâng cao chất lượng giáo dục Muốn làm được điều đó, rất cần thiết tập trung đổi mới từ chương trình đào tạo, nội dung, phương tiện, phương pháp dạy học đồng thời bồi dưỡng chất lượng GV đồng thời đầu tư trang bị thêm thiết bị dạy học của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên
Từ định hướng trên, nước CHDCNDLào đã đề ra kế hoạch đào tạo
nguồn nhân lực từ 2006 - 2015 theo 4 hướng: (i) Tăng cường nâng cao chất
lượng dạy học phổ thông ở nước CHDCND Lào, giáo dục phổ thông kéo dài
12 năm; (ii) khuyến khích và mở rộng cơ hội của người đến tuổi được học, cải thiện chất lượng và liên kết giáo dục; (iii) Tổ chức chiến lược khoa học giáo dục và kế hoạch hành động của khoa học giáo dục; (iv) Chú ý mở rộng các
trường kỹ thuật và đào tạo dạy nghề Hệ thống giáo dục và đào tạo của Lào ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học công nghệ có trình độ cao cho cán bộ quản lý, các nhà kinh doanh
Trang 12giỏi, công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanh tiến độ thực hiện phổ cập cơ sở Đổi mới phương pháp và chương trình dạy học tất cả các cấp bậc học và trình độ đào tạo; phát triển đổi ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăng qui mô vừa nâng cao chất lượng hiệu quả và đổi mới PPDH, đổi mới quản lý giáo dục, tạo cơ sở pháp lý
và phát huy nội lực để phát triển giáo dục
Để nâng cao chất lượng dạy học, vấn đề đặt ra cần bồi dưỡng cho SV sư phạm các năng lực cần thiết ngay từ khi còn học ở các trường đại học, phải dạy cho sinh viên các phương pháp dạy học cũng như thực hiện học tập trong hoạt động và bằng hoạt động Theo lối dạy học cũ thì học trò hoàn toàn lệ thuộc vào người thầy Mâu thuẫn trên làm nảy sinh và thúc đẩy một cuộc vận động đổi mới PPDH ở tất cả các cấp, ngành theo định hướng phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng
năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên Tuy nhiên hiện nay, việc
đổi mới giảng dạy PPDH Toán cho SV ở Trường CĐSP nước CHDCND Lào vẫn còn những khó khăn tồn tại, nặng về truyền đạt kiến thức từ thầy sang trò theo một chiều thuyết trình, giảng giải SV lĩnh hội kiến thức thụ động, chủ yếu nhờ vào GV, giao lưu giữa SV với GV chưa được coi trọng Thói quen và khả năng của SV giúp đỡ nhau trong việc lĩnh hội các khiến thức còn hạn chế Còn nặng về cung cấp tri thức dưới dạng có sẵn, chưa khơi dậy tính tích cực học tập của SV; giảng dạy PPDH Toán học còn chủ yếu theo hướng truyền thụ một chiều, không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của SV Môn học này giúp cho SV phát triển tư duy, phát triển năng lực trí tuệ, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn của xã hội Mặt khác, Toán học cũng là một môn học trừu tượng cao Nhiệm
vụ của GV là tổ chức các hoạt động học tập như thế nào để giúp SV có thể tự khám phá, tìm tòi, chiếm lĩnh tri thức bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của mình Một trong những biện pháp để thực hiện điều đó là GV tổ chức cho SV tự thảo luận, hợp tác với nhau để giải quyết các vấn đề đặt ra
Hiện nay một trong những cách tiếp cận đang được quan tâm là tổ chức dạy học theo môđun Trong giáo dục, tiếp cận môđun gắn với tư
Trang 13tưởng công nghệ dạy học, nó là cách thức hiện đại của việc cấu trúc hay tổ chức biên soạn nội dung dạy học sao cho chương trình đào tạo trở nên mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, dễ dàng thích hợp với việc tổ chức học tập đa dạng Môđun dạy học là một đơn vị chương trình tương đối độc lập, được cấu trúc một cách đặc biệt nhằm phục vụ cho người học Nó chứa đựng cả mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, PPDH và hệ thống công cụ đánh giá kết quả lĩnh hội, gắn bó chặt chẽ với nhau thành một thể hoàn chỉnh Có nhiều loại môđun dạy học như: Môđun lớn; môđun thứ cấp và môđun nhỏ, các môđun bao hàm nhau, trong môđun lớn chứa nhiều môđun thứ cấp; trong mỗi môđun thứ cấp chứa một số môđun nhỏ, chúng quan hệ với nhau chặt chẽ, không đứng độc lập nhau Trong quá trình dạy học môn Toán ở trường CĐSP cần hướng đến việc dạy tự học cho SV, với cách dạy này sẽ mang lại hiệu quả hơn khi tổ chức cho SV tự học với tài liệu có hướng dẫn theo môđun Tài liệu dạy học theo Môđun dạy học được coi như một phương tiện hỗ trợ quá trình tự học cho SV giúp nâng cao chất lượng dạy học Tài liệu dạy học theo môđun được coi như một cẩm nang hướng dẫn tự học cho sinh viên, mỗi mô đun tương ứng với một chủ đề dạy học xác định, được phân chia thành từng tiểu mô đun nhỏ có đầy đủ thành tố của quá trình tự học Với tài liệu dạy học theo môđun có thể giúp GV tổ chức dạy học theo
cá thể hóa, có thể lắp ghép, tích hợp trong quá trình dạy học trên lớp giúp
SV lĩnh hội kiến thức tốt hơn đồng thời phát triển khả năng tự học của SV
Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của luận án
là: “Thiết kế và sử dụng tài liệu theo môđun trong dạy học môn PPDH
Toán cho sinh viên CĐSP nước CHDCND Lào”
2 Mục đích nghiên cứu
Thiết kế được tài liệu theo môđun PPDH Toán trong môn học Toán THCS và đề xuất được phương pháp sử dụng các môđun đó trong quá trình đào tạo GV ở trường CĐSP nước CHDCND Lào, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên ngành
sư phạm Toán
Trang 144 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Tài liệu theo môđun dạy học về Phương pháp dạy học Toán trong môn Toán học THCS thuộc các học phần toán cho
SV CĐSP nước CHDCND Lào
4.2 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Toán học THCS thuộc các học phần Toán cho SV sư phạm Toán tại trường CĐSP nước CHDCND Lào
5 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế được những tài liệu theo môđun về PPDH Toán và sử dụng trong đào tạo GV Toán ở trường CĐSP nước CHDCND Lào thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học PPDH Toán trong đào tạo GV ở nước CHDCND Lào, đồng thời góp phần phát triển năng lực tự học cho SV
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về thiết kế và sử dụng tài liệu theo môđun trong dạy học PPDH toán cho SV CĐSP nước CHDCND Lào
6.2 Khảo sát thực trạng về thiết kế và sử dụng tài liệu theo môđun trong dạy học môn Toán học THCS cho SV CĐSP nước CHDCND Lào
6.3 Thiết kế, biên soạn tài liệu theo môđun trong dạy học môn Toán học THCS cho SV CĐSP nước CHDCND Lào
6.4 Tổ chức dạy học môn Toán học THCS và sử dụng tài liệu theo môdun về PPDH trong đào tạo cho SV CĐSP nước CHDCND Lào
6.5 TNSP để kiểm định tính khả thi và tính hiệu quả của các đề xuất trong luận án
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu lý thuyết có
Trang 15liên quan đến thiết kế và sử dụng tài liệu theo môđun trong dạy học môn PPDH nói chung Nghiên cứu chương trình nội dung sử dụng tài liệu theo môđun trong dạy học môn PPDH ở trường CĐSP nước CHDCND Lào nói riêng
7.2.Phương pháp điều tra và quan sát: Sử dụng phiếu hỏi, trao đổi với
các chuyên gia để điều tra tìm hiểu tình hình thực tiễn dạy và học có thiết kế
và sử dụng tài liệu theo môđun trong dạy học môn Toán học THCS ở Trường CĐSP Lào
7.3 Phương pháp TNSP: Tổ chức thực nghiệm các nội dung thiết kế và
sử dụng tài liệu theo môđun trong dạy học môn Toán học THCS tại Trường CĐSP Ban Keun, CĐSP Sa Văn Na Khệt thuộc nước CHDCND Lào nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả đề tài
7.4 Phương pháp thống kê toán học: Luận án sử dụng phương pháp
phân tích định tính, phân tích định lượng nhằm rút ra những kết luận liên quan đến các nội dung được xem xét Đánh giá kết quả bằng phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
7.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Theo dõi, phân tích và đánh
giá kết quả tự học của một số sinh viên tham gia thực nghiệm sư phạm để thấy tác động của các tác động sư phạm đối với các đối tượng sinh viên yếu, trung bình, khả và giỏi
8 Những đóng góp của luận án
8.1 Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm một số cơ sở lý luận
về thiết kế và sử dụng tài liệu theo môđun trong dạy học của SV ở Trường CĐSP nước CHDCND Lào
8.2 Luận án bổ sung thêm tài liệu theo môđun về PPDH Toán trong học phần “Toán học THCS” giúp sinh viên tự học học phần Toán học THCS Khẳng định thêm tính khả thi và hiệu quả việc thiết kế và sử dụng tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun hỗ trợ sinh viên sư phạm Toán tự học môn Toán học THCS
8.3 Đã thiết kế và đề xuất phương án sử dụng tài liệu theo môđun nhằm nâng cao hiệu quả dạy học về PPDH trong môn Toán học THCS ở Trường CĐSP nước CHDCND Lào
Trang 168.4 Tạo điều kiện cho giảng viên môn Toán học THCS (và các môn học khác) có tư liệu tham khảo để thiết kế và sử dụng học liệu theo môđun trong dạy học ở các trường Cao đẳng
9 Các luận điểm đưa ra bảo vệ
9.1 Việc thiết kế và sử dụng tài liệu theo môđun về PPDH Toán trong đạo tạo GV Toán ở Trường CĐSP nước CHDCND Lào là cần thiết
9.2 Những tài liệu theo môđun về PPDH Toán đã được thiết kế được
và cách thức sử dụng trong đào tạo GV Toán ở Trường CĐSP nước CHDCND Lào có tính khả thi và hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo GV và góp phần phát triển năng lực tự học cho GV
10 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận án gồm ba chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Chương 2 Thiết kế và sử dụng tài liệu theo môđun PPDH môn Toán THCS cho sinh viên CĐSP nước CHDCND Lào
- Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Luận án có danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục kèm theo
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Môđun xuất hiện đầu tiên tại Mỹ, vào đầu thế kỉ thứ XX, nó được xuất hiện trong chương trình đào tạo bổ túc tức thời trong các nhà máy sản xuất ô tô giúp công nhân có thể tự học hoặc tự học dưới sự hướng dẫn của các kĩ sư (điển hình là hãng sản xuất ôtô General motor và ô tô Ford) Sự ra đời của khoa học công nghệ, yêu cầu các công nhân phải làm quen với mục tiêu công việc nên bắt buộc các công nhân phải làm sao có thể làm việc, thích ứng nhanh và hiệu quả với các quy trình sản xuất về lí thuyết và cả thực hành trong một thời gian ngắn (có những giai đoạn cao điểm từ 2 - 3 ngày) Và phương thức đào tạo phải thực sự linh hoạt để công nhân có thể đáp ứng sự luân chuyển công việc trong thời gian ngắn, điều này bắt buộc người ta phải xây dựng tài liệu hướng dẫn thành các môđun độc lập để người học có thể tự học, tiếp cận công việc, do
đó chương trình đào tạo theo môđun được áp dụng Do mô hình đào tạo tiện lợi, mang lại chất lượng và hiệu quả cao nên đào tạo theo môđun nhanh chóng được các nước tiên tiến trên thế giới áp dụng như Anh, Pháp, Đức Rất dễ nhận
thấy đây là một kiểu đào tạo môđun đúng theo phong cách Mỹ “thực chất, trực
diện và hiệu quả” [59] Đã có những giai đoạn tại Mỹ có những chương trình
bổ túc “năng lực cho GV” do Trung tâm giáo dục nghề nghiệp ở Viện Đại học Ohio của Mỹ tổ chức đào tạo được cấu trúc từ 12 môđun đến 100 môđun, chương trình này mục đích nhằm phát triển bồi dưỡng giáo viên Đặc biệt, các môđun này được cầu trúc logic, phân thành các tầng, lớp chặt chẽ bao gồm các môđun sơ cấp (cung cấp kiến thức cơ bản) và các môđun thứ cấp (là các đơn vị thành phần là môđun bổ trợ) 62
Ở Pháp, những khóa học có cấu trúc môđun được tổ chức trong thời gian sau chiến tranh thế giới lần thứ II tại các vùng mỏ than Nhưng nó khác
ở chỗ công nhân Mỹ được đào tạo nhằm đáp ứng cho dây chuyền sản xuất,
Trang 18còn ở Pháp nhằm giải quyết công ăn việc làm cho công nhân mỏ, do tình trạng thất nghiệp tại các mỏ than, nhưng trong cả 2 trường hợp các khóa học
đều mang tính “trọn vẹn” và “tích hợp” rất cao [23]
Ở Thụy Điển, chương trình đào tạo công nhân khai thác gỗ được cấu trúc theo trình tự và nội dung cơ bản qua các môđun đào tạo Hệ thống đào tạo ở Thụy Điển được đưa vào sử dụng từ những năm 50 của thế kỷ XX, nhưng cho đến nay vẫn chưa hoàn thiện Điều này cũng nói lên việc phân định giới hạn, và nội dung các môđun là công việc rất phức tạp, nó quyết định hiệu quả của việc đào tạo theo môđun [60] Bên cạnh đó, phương thức đào tạo theo môđun cũng được triển khai ở Liên Xô (cũ) do Viện khoa học dạy nghề nghiên cứu áp dụng trong quá trình thực tập sản xuất kĩ thuật Môđun trienr khai ở Liên xô được thực hiện thông qua việc nghiên cứu xây dựng các
môđun theo các đơn vị kiến thức [14]
Đào tạo môđun không chỉ dừng lại ở châu Mĩ và châu Âu mà còn được phát triển ở châu Úc, điển hình mô hình đào tạo theo mô được Australia phát triển rộng rãi Australia phát triển chương trình đào tạo sau các nước châu Mĩ
và châu Âu nhưng thực sự nước này đã kế thừa, kết hợp giữa chương trình đào tạo truyền thống và các chương trình đào tạo theo môđun khá nhuần nhuyễn và linh hoạt, đồng thời đưa ra các cách tổ chức đánh giá các chương trình đào tạo theo môđun hiệu quả Ngoài ra, trong quá trình xây dựng chương trình đào tạo theo môđun, Australia chú trọng chương trình mang tính chất đặc thù đối với mỗi bang khác nhau hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm của từng bang, ví dụ như M.O.Donnell và R.Meyer sống tại bang Victoria đã công
bố công trình về xây dựng chương trình đào tạo theo môđun thực sự khác biệt
so với chương trình của các bang khác, nhóm tác giả này đã nghiên cứu đề xuất ra các khái niệm và kiến nghị, lí thuyết về chương trình đào tạo hỗn hợp giữa môđun và truyền thống, giúp hai mô hình này bù lấp những điểm bất hợp
lí của nhau tạo nên một mô hình đào tạo phù hợp và hiểu quả M.O.Donnell
đã đề cập đến dấu hiệu bản chất của môđun đào tạo là tính “trọn vẹn”, tính
“trọn vẹn” là “phần cốt lõi” của một môđun[57], [58]
Trang 19Đào tạo theo môđun cũng được sử dụng nhiều ở nhiều nước châu Á, bao gômg Nam Triều Tiên, Thái Lan, Philippin nhưng vẫn dừng lại ở đào tạo nghề và đào tạo đại học Việc đào tạo theo môđun được đưa vào trường THPT bắt đầu từ các nước Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan,…trong đó có một số nước đã đưa các chương trình đào tạo theo môđun vào kế hoạch dạy học chính khóa ở các trường THPT
Việc tổ chức dạy học theo môđun được triển khai đại trà khắp các nơi trên thế giới, đặc biệt là Tổ chức lao động quốc tế ILO (International Labour Organization) đã thực hiện xây dựng chương trình đào tạo theo môđun hoàn chỉnh, hiệu quả và thiết thực Hệ thống này của ILO được hoàn thành có tầm ảnh hưởng lớn đến chương trình đào tạo nghề và đào tạo học sinh THPT, đại học, cao đẳng của nhiều quốc gia và Việt Nam cũng nằm trong nhóm các nước chịu tác động Sự chuyển đổi đào tạo từ niên chế sang tín chỉ đã thách thức các trường đại học, cao đẳng, tuy nhiên, khi chương trình đào tạo theo môđun ra đời lại hoàn toàn phù hợp với hình thức đào tạo tín chỉ, giúp sinh viên chủ động trong học tập, nâng cao khả năng, ý thức tự học cho sinh viên đồng thời phân hóa được sinh viên Tuy nhiên để chương trình đào tạo theo môđun hiệu quả, đòi hỏi phải bỏ ra nhiều công sức, tìm tòi sáng tạo, xây dựng nên các môđun phù hợp với từng đối tượng và mục tiêu đào tạo của từng loại
hình[61]
Hệ thống tín chỉ học tập xuất phát từ Viện ĐH Harvard, được Viện trưởng Eliot thực hiện vào năm 1872 Chương trình đào tạo cổ điển cứng nhắc được thay thế bởi sự lựa chọn rộng rãi các chương trình, các môn học đối với
SV Đào tạo theo hệ thống tín chỉ đã phát triển rộng khắp, đặc biệt ở Mỹ Thực tiễn thực hiện mô hình đào tạo này cũng có những ưu điểm và hạn chế nhất định Đào tạo theo hệ thống tín chỉ có ưu điểm là: Mang lại hiệu quả cao
về phương diện quản lý, giảm giá thành đào tạo, hiệu quả học tập cao và tạo
ra tính mềm dẻo, khả năng thích ứng cao của các chương trình đào tạo Bên cạnh đó, hệ thống tín chỉ cũng bộc lộ những nhược điểm: Kiến thức bị cắt vụn làm ảnh hưởng đến động cơ học tập của SV, SV nhìn mức độ học vấn quy
Trang 20định cho một văn bằng như là sự tích lũy các tín chỉ học tập hơn là việc học tập vì lợi ích cuối cùng của họ Hạn chế này đã được khắc phục bằng sự khởi xướng hệ thống “tín chỉ theo môđun” của Khoa Giáo dục - Viện Đại học Massachusetts (Mỹ) Hệ thống tín chỉ theo môđun, cho phép SV đạt được văn bằng đại học qua việc tích lũy các loại tri thức giáo dục khác nhau, được đo lường bằng một đơn vị xác định Tín chỉ theo môđun được cấp cho SV thực hiện hoạt động học tập dưới sự điều khiển của GV, nhưng cũng có thể cấp cho các SV làm việc độc lập khi đã ký kết một “hợp đồng học tập cá nhân” với GV Những nghiên cứu về hệ thống tín chỉ, hay tín chỉ theo môđun tập trung chủ yếu vào phương diện quản lý, và xây dựng chương trình đào tạo
Do đó, nó thiếu những chỉ dẫn đối với GV khi họ tham gia vào quá trình phát triển chương trình đào tạo Mặc dù vậy, hệ thống tín chỉ đã rất phổ biến, và được áp dụng rộng rãi nhờ những ưu điểm có hiệu quả đào tạo cao, có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao, đạt hiệu quả về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo
Một số nước Đông Nam Á như Thái Lan, Việt Nam, Singapore triển khai dạy học môđun đại trà, có thể sử dụng cho mọi đối tượng Hội nghị Quốc
tế về “Triển khai áp dụng môđun trong đào tạo” được tổ chức hai lần ( lần 1 vào năm 1977 tại Thái Lan và lần 2 vào năm 1985 tại Pháp) đã có khuyến nghị “Sử dụng môđun là thích hợp và cần thiết cho mọi đối tượng đào tạo Các nước không có nền kinh tế phát triển, đầu tư tổng thể cho giáo dục bị hạn chế nên quan tâm tới đào tạo theo môđun Không nên sa đà vào tranh cãi, duy danh thuật ngữ, mà nên triển khai áp dụng và từ đó rút kinh nghiệm” [21] Đã
có nhiều tài liệu biên soạn theo môđun như: “Khái niệm về môđun đào tạo kỹ năng cần thiết” của Ban đào tạo nghề thuộc Văn phòng lao động quốc tế;
“Cẩm nang cho GV về quản lý giáo dục” của tổ chức UNESCO khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương và một số sách, giáo trình Vật lý đại cương ở Mỹ cũng
đã biện soạn theo môđun [29]
Bước vào thế kỉ XXI là kỉ nguyên của khoa học, công nghệ, thông tin
và truyền thông, sự biến đổi nhanh chóng của nền kinh tế thị trường và một
Trang 21tất yếu là nền kinh tế tri thức đã mở ra Sự giao lưu quốc tế rộng lớn đòi hỏi phải thiết kế một hệ dạy học mềm dẻo, linh hoạt cho phép người học dễ thích ứng với cơ chế thị trường và có tính hiệu quả cao Đó là hệ dạy học cá thể hóa (Personalized System of Instruction – PSL) hay kế hoạch (Keller Lan) Hệ dạy học này do Fred S.Keller và những cộng sự của ông sáng tạo ra Từ đó đến nay hệ dạy học này phát triển mạnh mẽ ở các nước phương Tây và lan ra toàn thế giới Bản chất của hệ dạy học này là “tự học – cá thể hóa – có hướng
dẫn” (selflearning - personalized - assisted) Vai trò hướng dẫn chính ở đây là
do tài liệu biên soạn theo Mođun, các tài liệu tham khảo khác và các phương tiện kỹ thuật dạy học Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập được tiến hành cuối mỗi học phần GV là người biên soạn tài liệu dạy học, thiết kế nội dung học tập, tổ chức, điều khiển quá trình học tập của SV, kiểm tra đánh giá khi cần thiết SV sẽ học theo tốc độ và nhịp độ riêng phù hợp với cá nhân mình theo hướng dẫn của tài liệu là chủ yếu và của người hướng dẫn khi cần thiết Các phương tiện dạy học được sử dụng trong hệ thống dạy học này rất phong phú và hiện đại, chúng tiếp nhận được những tiến bộ của khoa học và công nghệ thời đại Hệ dạy học cá thể hóa này tương ứng với nền giáo dục có qui
mô lớn và trình độ phát triển rất cao Cùng với hệ thống ngành, chuyên ngành đào tạo phong phú, đa dạng và luôn biến động, với những hình thức tổ chức đào tạo linh hoạt đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người [31], [34]
Tóm lại, đào tạo theo môđun là chương trình thiết thực, được triển khai nhiều nước trên thế giới và mang lại hiệu quả cao trong đào tạo đồng thời tạo
ra mô hình dạy học mới nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và tự học của học sinh, sinh viên Việc triển khai dạy học theo môđun là cần thiết và cần triển khai rộng áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau trong quá trình giáo dục
đào tạo tại mỗi nước
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Chương trình đào tạo theo môđun đã có mặt từ những năm 70 của thế
kỷ XX trong các chương trình của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam Ở miền Bắc Việt Nam chương trình đào tạo theo môđun du nhập muộn hơn một chút
Trang 22cùng với các kỹ thuật và công nghệ mới chủ yếu từ các nước Đông Âu Theo
Vũ Quốc Chung (2018), trong quá trình đào tạo giáo viên của miền Bắc Việt Nam từ những năm 1970 đã thành lập các trạm đào tạo đại học, chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng môđun hóa để phù hợp với điều kiện kinh tế
- xã hội trong bối cảnh chiến tranh; đến những năm 1990 mô hình đào tạo tại chức theo hình thức từ xa phát triển mạnh, các trường đại học tiếp tục khai thác các môđun tài liệu giảng dạy để thuận lợi trong tổ chức hoạt động đào tạo giáo viên; gần đây thông qua Dự án Việt - Bỉ và các Dự án phát triển giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức biên soạn nhiều tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên phổ thông bằng tài liệu theo môđun
Việt Nam phát triển chương trình đào tạo theo môđun từ năm 1988
thông qua đề tài “Thí sinh tự học” của Viện Nghiên cứu đại học và Giáo dục
chuyên nghiệp về khả năng, điều kiện áp dụng dạy học theo môđun cho hiệu quả Tuy nhiên đề tài được báo cáo thông qua năm 1989 nhưng chỉ mới dừng lại ở việc đề xuất điều kiện, nội dung áp dụng dạy học theo môđun [29] Trong ngành Y tế có một vài tài liệu đề cập sơ bộ lý luận về dạy học theo
môđun và thiết kế dạy học theo môđun như: “Sư phạm y học” NXB Y học - 1990; “Học theo môđun” NXB Y học - 1992; Bệnh học đại cương - NXB Y
học 1993, [29]
Nghiên cứu về môđun, tác giả Nguyễn Ngọc Quang và cộng sự đã công
bố công trình "Vận dụng tiếp cận môđun vào việc đào tạo SV Trường ĐHSP
Hà Nội”, trong đó đề xuất các quan niệm về xây dựng và sử dụng môđun
trong dạy học, những lí luận về quy trình xây dựng và tổ chức dạy học với môđun Đồng thời, tác giả và cộng sự của mình đã nghiên cứu và công bố về biên soạn môđun dạy học theo hướng tiếp cận hành vi giúp rèn luyện kĩ năng
tự học của học sinh[34],[37]
Tác giả Nguyễn Minh Đường trong công trình “Môđun kỹ năng hành
nghề - phương pháp tiếp cận và biên soạn” đã đưa ra cơ sở lí luận về môđun
dạy học; cách thức biên soạn môđun, tổ chức dạy học theo môđun trong đào tạo nghề cùng nhiều những kĩ thuật dạy học với môđun Tác giả đã khái quát
Trang 23hóa về dạy học môđun đến hướng dẫn chi tiết kĩ thuật dạy học môđun, đầy có thể coi là công trình hoàn thiện về mặt lí luận về xây dựng và sử dụng môđun trong dạy học nghề [12]
Nối tiếp Nguyễn Minh Đường, tác giả Đỗ Huân đã xây dựng được cấu trúc chương trình đào tạo nghệ theo cấu trúc môđun, sản phẩm của luận án
“Tiếp cận môđun trong xây dựng cấu trúc chương trình đào tạo nghề” đã hệ
thống hóa được cơ sở lí luận về chương trình học nghề theo tiếp cận môđun, dựa trên các quan điểm về triết học, về tâm lí học, về giáo dục học Tác giả đã chỉ ra những nội dung cơ bản của định hướng xây dựng cấu trúc chương trình đào tạo nghề theo môđun và đề xuất quy trình xây dựng chương trình có cấu tạo môđun trong lĩnh vực đào tạo nghề ở Việt Nam bao gồm 5 thành phần: xác định nhu cầu làm việc; phân tích việc làm thành các nhiệm vụ, các kỹ năng thực hiện cần thiết; xây dựng khả năng học tập của học sinh; xây dựng cấu trúc chương trình môđun; biên soạn nội dung môđun, từ đó đi đến kết luận “vấn đề tiếp cận môđun trong xây dựng cấu trúc chương trình là vấn đề nghiên cứu có thực và cần thiết” Như vậy, dạy học theo môđun là một tiếp cận mới, mặc dù có nhiều triển vọng, song chưa có nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm trong lĩnh vực này [24]
Tác giả Đặng Thị Oanh tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu của mình
trong luận án “Dùng bài toán tình huống mô phỏng rèn luyện kỹ năng thiết kế
công nghệ bài nghiên cứu tài liệu mới cho SV khoa hóa học Đại học sư phạm", theo tác giả để triển khai được một hệ thống dạy học kiểu mới thì việc
biên soạn và tổ chức dạy học phải thực hiện theo tiếp cận môđun Từ những đặc trưng cơ bản của một môđun dạy học, cấu trúc của môđun dạy học, tác giả đã tiếp cận môđun để xây dựng hệ thống kỹ năng thiết kế công nghệ bài dạy và rèn luyện kỹ năng dạy học cho SV sư phạm hóa học Kết quả nghiên cứu TNSP cho thấy tài liệu biên soạn theo phương pháp môđun dùng cho SV
tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn cho phép SV phát huy các năng lực của bản thân Tuy nhiên luận án chưa đưa ra các phương hướng, nguyên tắc, quy
trình biên soạn tài liệu và các hình thức sử dụng tài liệu theo môđun [35]
Trang 24Cũng theo hướng nghiên cứu này, tác giả Phạm Văn Lâm đã thực hiện
luận án tiến sĩ với đề tài: “Nâng cao chất lượng thực tập vật lý đại cương ở
trường Đại học kỹ thuật bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun” [29] Trong luận án tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận như: Các hệ
thống dạy học; Các hình thức tổ chức dạy học ở đại học; Công nghệ dạy học hiện đại; Môđun dạy học; Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun Trong các hệ thống dạy học tác giả đã tổng hợp và phân tích về hệ dạy học
“tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn” Còn trong các hình thức dạy học ở đại học (Bài giảng, Xêmina, ) tác giả đã quan tâm đến một hình thức mới đó là
“hình thức tự học có hướng dẫn”, hình thức dạy học lấy tự học là chính, với
sự hướng dẫn của GV và tài liệu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận về môđun, môđun dạy học, cấu trúc của môđun dạy học, phương pháp tự học có hướng theo môđun, nghiên cứu về mục tiêu, nội dung, PPDH vật lý đại cương nói chung và thực trạng dạy học thực tập vật lý đại cương nói riêng, từ đó tác giả đã đưa đến nhận định ứng dụng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun Từ nghiên cứu
cơ sở lý luận về môđun dạy học, phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun và thực tiễn dạy học thực tập, tác giả đã thiết kế nội dung thực tập vật
lý đại cương theo môđun, thiết kế PPDH và đưa ra những điều kiện cần thiết
để dạy học thực tập bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun Qua TNSP cho thấy: Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun có tính khả thi; SV chấp nhận và hứng thú học tập thực tập vật lý đại cươnghơn phương pháp cũ; Chất lượng thực tập được nâng lên; Khẳng định được khả năng ứng dụng mở rộng của PPDH này không những ở lĩnh vực thực tập vật lý đại cương mà còn có thể ứng dụng mở rộng ở một số lĩnh vực khác Tuy nhiên, ở nghiên cứu này tác giả đi sâu phân tích khả năng và triển vọng của việc ứng dụng tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun trong dạy học học phần thí nghiệm vật lý đại cương, còn bỏ ngỏ phần lý thuyết, bài tập Tác giả cũng chưa đi sâu nghiên cứu về NLTH, đặc điểm tự học của SV, đặc điểm hoạt động nhận thức của SV, tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun góp
Trang 25phần bồi dưỡng NLTH cho SV như thế nào, và chưa xây dựng bảng tiêu chí đánh giá NLTH của SV, chưa đưa ra phương hướng, nguyên tắc, quy trình chung để xây dựng tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun [29]
Vấn đề tự học, tự học tiếp cận theo môđun, các năm gần đây cũng có một số tác giả nghiên cứu và đề cập đến như:
Năm 2010, Dương Huy Cẩn trong luận án Tiến sĩ Giáo dục học với đề
tài: “Tăng cường NLTH cho SV hóa học ở trường Đại học sư phạm bằng
phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun” Luận án cũng đã nghiên cứu
thực trạng vấn đề tự học của SV, trên cơ sở đó đã đưa ra các biện pháp tăng cường NLTH cho SV Một trong những biện pháp mà tác giả sử dụng đó là
“Tự học bằng tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun” Qua kết quả TNSP cho phép khẳng định việc nghiên cứu thiết kế tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun và tổ chức dạy học bằng tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun là phù hợp, thiết thực góp phần vào việc đổi mới PPDH ở Đại học, đưa ra phương hướng, nguyên tắc, quy trình xây dựng tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun cũng như các hình thức sử dụng tài liệu sao cho hiệu quả [2]
Năm 2010, trong đề tài luận án Tiến sĩ Giáo dục học của Nguyễn Thị
Ngà với đề tài: “Xây dựng và sử dụng tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo
môđun phần kiến thức cơ sở hóa học chung - chương trình THPT chuyên hóa học góp phần nâng cao NLTH cho học sinh” [33] Tác giả cũng đã đi sâu
nghiên cứu hệ dạy học “Tự học - cá thể hóa - có hướng dẫn” là một hình thức dạy học hiện đại, đáp ứng được yêu cầu nâng cao NLTH của học sinh, trên cơ
sở đó đưa ra cơ sở lý luận để biên soạn, tổ chức nội dung dạy học theo tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun Tác giả đã đưa ra được nguyên tắc xây dựng tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun cho đối tượng là học sinh chuyên hóa Qua TNSP cho thấy tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun đã có tác dụng rõ rệt nâng cao hứng thú học tập, lòng tự tin của học sinh vào khả năng học tập của bản thân, rèn luyện cho học sinh những kỹ năng tự học cơ bản Tuy nhiên theo chúng tôi tác giả vẫn chưa đưa ra phương
Trang 26hướng, nguyên tắc, quy trình chung để xây dựng tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun
Năm 2017, Trần Đức Khoản đã thực hiện luận án Tiến sĩ về đề tài “Xây
dựng và sử dụng tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun học phần vật lý đại cương góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên đại học ngành kỹ thuật” Trong đó tác giả đã đề xuất quy trình và nguyên tắc xây dựng tài liệu
theo môđun; đề xuất các hình thức sử dụng tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun, để hỗ trợ sinh viên Đại học ngành kỹ thuật tự học học phần vật lý đại cương có hiệu quả, góp phần bồi dưỡng năng lực tự học, nâng cao chất lượng dạy học học phần Vật lý đại cương Luận án đã bổ sung thêm tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun phần “điện học”, giúp sinh viên tự học học phần Vật lý đại cương Khẳng định thêm tính khả thi và hiệu quả việc xây dựng và sử dụng tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun hỗ trợ sinh viên Đại học ngành kỹ thuật tự học học phần Vật lý đại cương
Tóm lại, nghiên cứu về môđun dạy học đã được nhiều nhà khoa học Việt Nam tìm hiểu dưới các góc độ khác nhau, các tác giả đều có chung một hướng khi nghiên cứu về môđun là làm rõ hơn bản chất, đặc trưng của môđun nhằm phát huy hiệu quả của môđun trong quá trình đào tạo
1.1.3 Những nghiên cứu ở nước CHDCND Lào
Muốn phát triển được đất nước, việc đầu tiên phải xác định phát triển nguồn nhân lực mà trong đó giáo dục là yếu tố then chốt quyết định đến nguồn nhân lực của nước CHDCND Lào Có một số công trình về nguồn nhân lực trong đó có nghiên cứu sâu sắc về phát triển giáo dục và đào tạo để
tạo ra nguồn nhân lực tốt như nghiên cứu về “Vai trò của chính sách xã hội
đối với việc phát huy nhân tố con người ở Lào hiện nay” – Xỉ Tha Lườn
Khăm Phu Vông (2005), [42], tác giả đã nghiên cứu và đưa ra cơ sở lí luận về nhân tố con người và phát huy nhân tố con người, đề xuất các chính sách xã hội nhằm đầu tư phát huy nhân tố con người, tác giả đã phân tích thực trạng
về nhân tố con người Lào, tìm hiểu thực trạng chính sách sử dụng đầu tư cho cong người như thế nào từ đó xây dựng chính sách phát triển nhân tốc con
Trang 27người, tuy nhiên công trình chưa thể hiện được khung lí thuyết phát triển nguồn nhân lực như thế nào ở Lào như thế nào, đặc biệt chưa làm rõ được vai trò của giáo dục và đào tạo đối với việc phát triển nhân tố con người mà tác giả chỉ mới đề xuất được các phương hướng và các giải pháp, các chính sách
xã hội đầu tư cho giáo dục và đào tạo nhằm phát huy hiệu quả nhân tố con người trong những năm tiếp theo
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở nước Lào đặc biệt được coi trọng nhất là trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Ban tổ chức Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào năm 2002 đã dự thảo một cách khá toàn diện, hệ thống về thực trạng nguồn nhân lực ở nước CHDCND
Lào trong “Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020”, đặc biệt,
trong chỉ đạo, Ban tổ chức Trung ương Đảng đã chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, kinh nghiệm trong công tác phát triển nhân lực có liên quan đến hoạt động đào tạo[43] Ở một báo cáo khác là kết quả của đề tài cấp Nhà nước giai
đoạn 2005-2008 “Công tác phát triển nguồn nhân lực đối với tám tỉnh miền
Bắc và chín tỉnh miền Trung, Nam nước CHDCND Lào” thuộc chương trình
Khoa học Ban tổ chức Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào (2007) chủ trì cũng đã phân tích, nhấn mạnh và làm rõ công tác phát triển nguồn nhân lực của CHDCND Lào trong thời gian trước 2008 nhưng vấn đề phát triển nhân lực thông qua đầu tư cho giáo dục đào tạo còn khá mờ nhạt [44]
Từ năm 2006, Nghị quyết Đại hội Đảng Nhân dân cách mạng Lào lần
thứ VIII đã khẳng định "Giáo dục phải có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng
nguồn nhân lực có đủ trình độ đáp ứng được sự phát triển của nước nhà so với các nước trong khu vực và trên thế giới” [48] Nghị quyết cho thầy nước
CHDCND Lào đã xác định vai trò của giáo dục đào tạo là yếu tố cốt lõi giúp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao giúp nước CHDCND Lào phát triển, bắt nhịp thế giới Để phát triển giáo dục và đào tạo, vấn đề quan trọng hàng đầu đó chính là bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên, trong đó cần phải nâng cao năng lực cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng giúp tạo ra những kiến thức, kĩ năng nền tảng, những thái độ đúng đắn và bồi dưỡng
Trang 28phẩm chất nhà giáo cho các sinh viên trước khi tốt nghiệp để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy sau khi tốt nghiệp đại học
Để nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên, có nhiều đề tài dự án về đổi mới phương pháp dạy học ở các trường đại học, cao đẳng và THPT như
cuốn sách về "Tài liệu bồi dưỡng GV Toán Trường THCS và THPT" do NXB
Giáo dục; Bộ Giáo dục Lào (1999) ấn hành đã đề cập đến về Bộ Giáo dục và Thể thao Lào đã có một số văn bản và đề tài nghiên cứu về PPDH Toán đề cập đến phương pháp và các kiến thức cần bồi dưỡng cho giáo viên Toán Bên cạnh đó, vấn đề bồi dưỡng giáo viên cho nước CHDCND Lào được thể
hiện qua các biện pháp được đề xuất trong kết quả nghiên cứu đề tài "Quản lý
phát triển đội ngũ cán bộ Toán học" do Bộ Giáo dục và Thể thao chủ trì năm
1997 Vấn đề đổi mới PPDH Toán ở trường THPT được các nhà khoa học Lào đặc biệt quan tâm công bố trong các báo cáo thuộc Kỷ yếu hội thảo khoa học "Đổi mới PPDH Toán học THPT" do UNICEF thực hiện vào năm 2006 Nghiên cứu về đổi mới PPDH nói chung và PPDH môn Toán nói riêng ở nước CHDCND Lào, có một số nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu như luận
án Tiến sĩ Khoa học giáo dục Jab Vongthavy (2014) về "Vận dụng một số PPDH
nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của SV trong dạy học Giải tích ở trường Cao đẳng Sư phạm nước CHDCND Lào", luận án đã nghiên cứu đề xuất tính
tích cực của sinh viên trường cao đẳng sư phạm cũng như đề xuất các biện pháp vận dụng các PPDH tích cực giúp tích cực hóa hoạt động học tập[23] Luận án
của Kham Khong SiBuna Kham (2010) về "Phương pháp dạy tích cực, khai
thác các PPDH nhằm tích cực hóa hoạt động học tập Đại số và Giải tích của học sinh THPT nước CHDCND Lào" cũng như luận án của Jab Vongthavy, đó
là nghiên cứu đề xuất các biện pháp dạy học tích cực để tích cực hóa hoạt động học tập nhưng là nghiên cứu dành cho đối tượng học sinh [24] Luận án của
Khambau Sangouantrichanh (1981) về “Vận dụng quan điểm hoạt động và
phân hóa đối tượng học sinh trong việc cải tiến phương pháp dạy học toán thông qua chủ đề phương trình ở lớp cuối cấp sơ, trung bậc phổ thông nước CHDCCH Lào” đã phân tích đặc điểm của học sinh cuối cấp và vận dụng quan
điểm hoạt động để tổ chức dạy học phân hóa cho học sinh phổ thông nước
Trang 29CHDCND Lào [25] Tương tự nghiên cứu của Khambau Sangouantrichanh , tác
giả Outhay Bannavong (2013) trong luận án về "Vận dụng quan điểm hoạt động
vào dạy học Số học và Đại số lớp 6 ở trường phổ thông nước CHDCND Lào" đã
nghiên cứu lí thuyết hoạt động và đề xuất các biện pháp vận dụng lí thuyết này
vào dạy học cho học sinh THCS [36]
Nhìn chung, các công trình khoa học trên đã tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản và tổng quát nhất về PPDH Toán thuộc Bộ Giáo dục Lào nhằm phát triển nguồn nhân lực nói chung, đối với các công trình có đề cập đến đội ngũ cán bộ giáo dục thì tập trung nhiều về tiêu chuẩn, yêu cầu của người cán bộ trong các trường học Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu về việc xây dựng các tài liệu theo môđun có hướng dẫn theo môđun trong dạy học cho SV sư phạm ở Lào; chưa có công trình nào trình bày đầy đủ và hệ thống về phát huy NLTH của SV trong việc sử dụng tài liệu môđun tại các Trường CĐSP ở nước CHDCND Lào Đây chính là vấn đề cần nghiên cứu để góp phần đào tạo SV khi tốt nghiệp sẽ đạt chuẩn tri thức có chất lượng cao, có năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội của nước CHDCND Lào hiện nay
- Mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong của việc thiết kế tài liệu trong quá trình dạy học theo môđun
- Thực trạng thiết kế tài liệu PPDH theo môđun hiện nay của một số
GV, SV còn nhiều hạn chế Hoạt động tự học chưa thường xuyên, phổ biến
Cơ sở vật chất giáo trình, tài liệu chưa đáp ứng Có công trình nghiên cứu đã chỉ ra các nguyên nhân của việc hạn chế tự học và cách khắc phục
- Một số tác giả đã chỉ ra biểu hiện của năng lực dạy học Toán của SV CĐSP Toán Có tác giả đã đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực
Trang 30dạy học Toán và PPDH một số học phần cụ thể như: học phần Toán sơ cấp, học phần Giáo dục học
Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, theo những công trình nghiên cứu về tài liệu theo môđun mà chúng tôi được tiếp xúc thì các tác giả chưa đề cập sâu sắc đến các vấn đề như:
- Chưa có tài liệu về nội dung các học phần PPDH Toán theo môđun giúp phát triển kỹ năng tự học Toán cho SV CĐSP nước CHDCND Lào
- Chưa có bộ công cụ để đánh giá mức độ kỹ năng tự học của SV CĐSP nước CHDCND Lào
- Chưa đề xuất biện pháp phát triển kỹ năng tự học, tự nghiên cứu của
SV CĐSP trong dạy học chương trình đào tạo
- Chưa có các tài liệu, phương tiện hỗ trợ SV CĐSP nước CHDCND Lào tự học các học phần PPDH Toán
Do đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu những vấn đề trên với đối tượng
SV sư phạm Toán học của nước CHDCND Lào
1.2 Chương trình đào tạo sinh viên Sư phạm Toán ở các trường CĐSP nước CHDCND Lào
1.2.1 Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo CĐSP Toán nước CHDCND Lào
Theo [39] chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo CĐSP Toán nước CHDCND Lào được Bộ GD&TT phê duyệt với 5 yêu cầu cơ bản sau:
- Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống: Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luận của Nhà nước Có đạo đức giáo dục, yêu nghề, gắn bó với giáo dục Chấp hành Luật giáo dục, điều lệ, quy định ngành, có ý thức tổ chức kỷ luật và tình thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín nhà giáo, sống trung thực, là tấm gương cho học sinh Ứng xử với đồng nghiệp đoàn kết, hợp tác, công tác với đồng nghiệp, bạn cùng lớp, có ý thức xây dựng tập thể tốt để cùng thực hiện giáo dục Có lối sống mạnh, văn minh, phù hợp với bản sắc dân tộc và môi trường giáo dục, có tác phong mẫu mực
- Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường: Có phương pháp thu nhập
và xử lý thông tin thường xuyên về nhu cầu và đặc điểm hiểu biết môn học
Trang 31của mình, sử dụng thông tin thu được vào dạy học giáo dục trong tương lai
Có phương pháp thu nhập và xử lý thông tin về điều kiện giáo dục trong nhà trường và tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, của địa phương Sử dụng các thông tin thu được vào dạy học giáo dục SV CĐSP Lào qua quá trình hoạt động học tập môn toán dần hình thành cho mình những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết và ngày càng phù hợp từ đó nảy sinh những khả năng mới với mức độ mới cao hơn
- Năng lực học Toán: Sinh viên CĐSP Toán cần phải là đảm bảo kiến thức môn học Làm chủ kiến thức, đảm bảo nội dung môn học chính xác, hệ thống, vận dụng hợp lý các kiến thức liên môn theo yêu cầu cơ bản, hiện đại, thực tiễn.Thực hiện nội dung môn học theo chuẩn, kỹ năng và yêu cầu về thái
độ được quy định chương trình môn học Mỗi SV phải biết sử dụng các phương pháp dạy học tích cực giúp nâng cao tính tích cực và sáng tạo của học sinh, phát triển năng lực của người học Hiểu và sử dụng thành thạo các phương tiện vào dạy học Toán giúp nâng cao chất lượng dạy học Tạo dựng môi trường học tập dân chủ, thân thiện, hợp tác, công tác, thuận lợi, an toàn
và lành mạnh Xây dựng, bảo quản sử dụng hồ sơ dạy học theo quy định Đánh giá kết quả học tập của sinh viên đảm bảo yêu cầu chính xác
- Năng lực giáo dục của môn học: Thực hiện nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ thông qua việc giáo dục học tập và tích hợp các nội dung theo kể hoạch đã xây dựng.Thực hiện giáo dục nhiệm vụ giáo dục cho các hoạt động giáo dục theo kế hoạch đã xây dựng
- Kỹ năng triển khai: Kỹ năng giải thích biểu hiện làm cho người khác hiểu được ý nghĩa, cảm xúc, thái độ của mình một cách chính xác, hiệu quả Khả năng sử dụng ngôn ngữ nhằm hỗ trợ ngôn ngữ thay thế ngôn ngữ nói khi diễn đạt Kỹ năng sử dụng thiết bị và phương tiện dạy học - giáo dục như sử dụng đúng lúc, đúng thời điểm, đúng kỹ thuật và phục vụ hiệu quả cho bài học
Để SV có thể đáp ứng được Chuẩn nghề nghiệp, bản thân các giáo viên tương lai cần rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp trong suốt thời gian học ở trường
Trang 32CĐSP, ở tất cả các môn học và quá trình học tập tích lũy kinh nghiệm sau này Xác định các kiến thức, kỹ năng cơ bản và thái độ cần có của SV
Chính vì vậy chuẩn đầu ra của SV sẽ phản ánh mặt mạnh - mặt yếu trong chương trình đào tạo bồi dưỡng hiện hành và tìm ra các vấn đề cần phải
bổ sung, hoàn thiện hoặc nâng cao và cũng là cơ sở quan trọng cung cấp các tiêu chuẩn cho các hình thức xét duyệt thì giúp người SV tự đánh giá và đặt mức phấn đấu nâng cao trình độ phát triển chuyên môn của bản thân
1.2.2 Chương trình đào tạo giáo viên Toán ở trường CĐSP nước CHDCND Lào
Đôi mới giáo dục tại CHDCND Lào hiện nay đang hướng vào phát triển năng lực người học Ở đây chúng tôi quan niệm năng lực học tập toán của SV là các đặc điểm tâm lý cá nhân đáp ứng yêu cầu hoạt động toán học và việc giúp cho nắm giáo trình toán một cách sáng tạo, giúp cho việc nắm một cách tương đối nhanh, dễ dàng và sâu sắc kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo toán học
Chúng tôi cũng thống nhất tiếp cận theo các năng lực trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Việt Nam nhằm vận dụng trong dạy học tại Trường CĐSP nước CHDCND Lào theo hướng đào tạo các giáo viên tương lai
có thể phát triển những năng lực chung cho học sinh phổ thông sau đây:
(8) Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)
Bắt đầu từ năm học 2013 - 2014 các trường CĐSP được Bộ Giáo dục
và Thể thao Lào giao nhiệm vụ đào tạo GV theo hình thức 12+4 (hệ 4 năm) với các học phần toán trong chương trình đào tạo như sau:
Trang 33Số tín chỉ Năm thứ 1 Học kỳ Năm thứ 2 Học kỳ Năm thứ 3 Học kỳ Năm thứ 4 Học kỳ
Trong chương trình đào tạo gồm 3 khối kiến thức toán:
- Các môn toán học cao cấp như Đại số, Giải tích, Thống kê, Hình học
- Môn "Phương pháp giảng dạy toán" gồm những kiến thức cơ bản về lý luận dạy học, phương pháp dạy học đại cương môn Toán và môn Lịch sử toán học
- Các môn Toán học THCS và Toán học THPT gồm những kiến thức toán học sơ cấp và các kiến thức toán ở trường phổ thông, tuy nhiên không có nội dung về phương pháp dạy học các chủ đề cụ thể môn toán ở trường phổ thông
Trang 34Trong đó môn Toán học THCS có 4 tín chỉ (65 tiết), trong đó bao gồm
1 tín chỉ lý thuyết và 3 tín chỉ thực hành Về phương pháp dạy học các nội dung cụ thể môn Toán học THCS
Các môn PPDH Toán trong chương trình đào tạo ở Trường CĐSP nước CHDCND Lào cũng chú trọng bồi dưỡng cho sinh viên một số năng lực đặc thù sau:
- Năng lực tư duy và sử dụng ngôn ngữ toán học, làm cho SV nắm vững hiểu đúng và sử dụng đúng những liên kết logic như: và, hoặc, nếu thì, không, tồn tại và khái quát quy tắc kết luận và quy tắc phản chứng Phát triển khả năng định nghĩa và làm việc các định nghĩa, phát triển khả năng hiểu chứng minh, trình bày chứng minh độc lập, tiến hành chứng minh Phát triển khả năng suy đoán và tưởng tượng,tập luyện cho SV biết và có ý thức sử dụng các quy tắc suy đoán như xét tương tự, khái quát hóa, quy lạ về quen, lật ngược vấn đề Khả năng tiến hành các hoạt động trí tuệ như phân tích, tổng hợp, tương tự, khái quát hóa, đặc biệt hóa, lật ngược vấn đề, hình thành cho
SV phẩm chất trí tuệ như tính tích cực, độc lập tính phê phán và tính sáng tạo
- Năng lực giải toán, khả năng áp dụng kiến thức, kỹ năng, phương pháp toán học giải quyết một bài toán cụ thể có tính hướng đích cao, đòi hỏi huy động khả năng tư duy tích cực và sáng tạo, nhằm đạt kết quả sau một số bước thực thiện Một số đặc điểm và cấu trúc của năng lực giải Toán như sau:(i) Khả năng lĩnh hội nhanh chóng quy trình giải một bài Toán và các yêu cầu một lời giải rõ ràng, đẹp đẽ (ii) Sự phát triển mạnh của tư duy logic, tư duy sáng tạo thể hiện ở khả năng lập luận, về quan hệ giữa các dữ kiện của bài toán; (iii) Có năng lực tư duy logic, phân tích và tổng hợp kiến thức; (iv) Có năng lực phán đoán và giải quyết vấn đề; (v) Có hứng thú, tích cực trong quá trình học tập (vi)
Có khả năng phát triển hệ thống bài tập từ những bài đã có sẵn (vii) Năng lực
dự đoán, năng lực chuyển đổi ngôn ngữ, năng lực quy lạ về quen nhờ biến đổi
về dạng tương tự, năng lực nhìn nhận bài toán dưới nhiều góc độ khác nhau, năng lực suy luận logic, năng lực khái quát hóa, năng lực diễn đạt theo những cách khác nhau
Trang 35- Năng lực giải quyết vấn đề: Đây là một trong những năng lực cốt lõi quan trọng với Sv nói chung và SV sư phạm toán nói riêng trong quá trình học ở trong trường Cao đẳng Năng lực giải quyết vấn đề giúp SV chủ động tìm tòi phát hiện, ra những kiến thức mới của Toán học sau một quá trình đòi hỏi SV phải quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận, khái quát hóa các tài liệu Toán học Nắm bắt những lí luận, kiến thức, kĩ năng đã có của mình,
SV có thể phát hiện ra những tồn tại, hạn chế để trau dồi bổ sung thêm kiến thức còn thiếu Các kiến thức Toán học muốn khám phá, làm sáng tỏ Đây là bước khởi đầu của sự nhận thức Toán học nhưng đòi hỏi nỗ lực trí tuệ cao Việc thường xuyên rèn luyện năng lực này tạo cho SV Toán học thói quen hoạt động trí tuệ, tìm tòi, nhìn nhận các kiến thức Toán học trong học tập,
thực hành thí nghiệm, nghiên cứu khoa học một cách sáng tạo
Trong học tập, phải biến quá trình học tập của SV ở trường và ngoài giờ lên lớp thành quá trình tự học, tự khám phá chiếm lĩnh tri thức nhằm tự lãnh hội kiến thức thông qua việc phát hiện các sai lầm và trực tiếp giải quyết các mâu thuẫn giữa nhu cầu hiểu biết kiến thức Toán học và kỹ năng của nghề nghiệp với năng lực tự học của SV Do đó, SV ngày càng tự tin và thích ứng hơn với việc học tập, xây dựng cho mình cách học thích hợp Vì vậy ở trường Cao đẳng, cần bồi dưỡng cho SV năng lực giải quyết vấn đề trong học tập, nghiên cứu Toán học để họ có khả năng xử lý tốt các tình huống, các vấn đề trong dạy học Toán học phổ thông sau này Việc giải quyết vấn đề có tác dụng tốt đến kích thích tư duy, vì tư duy con người chỉ hoạt động tích cực khi gặp phải một vấn đề cần phải giải quyết Kết quả nhận thức là sản phẩm của chính hoạt động tích cực, sáng tạo của SV Do vậy, thông qua việc giải quyết các vấn đề học tập SV sẽ nắm được kiến thức, các kỹ năng nghiên cứu Toán học vững chắc hơn
Năng lực giải quyết vấn đề Toán học bao gồm khả năng trình bày vấn đề; xác định cách thức và lập kế hoạch giải quyết vấn đề, thu thập và xử lý thông tin; đề xuất các giải pháp Thực tế cho thấy nhiều SV không biết hệ thống hóa và xử lý thông tin như thế nào Do đó vai trò hướng dẫn, giúp đỡ
Trang 36của GV ngay từ những hoạt động ban đầu giải quyết vấn đề của SV là rất cần thiết Trong dạy học học phần PPDH môn Toán việc bồi dưỡng cho SV năng lực giải quyết các vấn đề trong dạy học toán học phổ thông là rất quan trọng
Đó là vấn đề đổi mới PPDH, sử dụng PPDH phù hợp với nguyên tắc dạy học các loại bài học, chuẩn kiến thức, kỹ năng, những vấn đề khó, những kiến thức mở rộng, nâng cao trong chương trình phổ thông.Như vậy, khi hướng dẫn SV học phần PPDH môn Toán thì cần coi trọng dạy cho SV kĩ thuật giải quyết vấn đề để SV có thể vận dụng vào các loại bài, các kiến thức Toán học một cách sáng tạo trong dạy học Đó chính là công cụ nhận thức, nhưng đồng thời là mục tiêu của việc dạy cho SV phương pháp tự học
- Năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục toán học: Năng lực phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục - dạy học Nhờ có năng lực nghiên cứu khoa học mà người GV có điều kiện khả năng hướng dẫn, tập dượt SV nghiên cứu khoa học, dạy học sinh cách học chủ động, sáng tạo, phát huy tính tích cực của tư duy Điều này đòi hỏi SV Toán phải có các kỹ năng: Biết phát hiện; nhận dạng; phát biểu vấn đề cần giải quyết thành đề tài; xây dựng giả thuyết khoa học, đề cương nghiên cứu; bố trí điều tra cơ bản; thực nghiệm; xử lý các kết quả điều tra, thực nghiệm; viết báo cáo khoa học; triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm giáo dục - dạy học
- Năng lực vận dụng tri thức toán học vào thực tiễn SV Toán cần có khả năng quan sát, phân tích tình huống thực tiễn, khả năng nhận thức những yếu tố định lượng từ tình huống và khả năng nhận thức những yếu tố định tính
về hình dạng kích thước, vị trí của các đối tượng trong thực tiễn, trong không gian Khả năng xác định yếu tố trung tâm của tình huống, khả năng xác lập mối quan hệ giữa các yếu tố, khả năng đánh giá mức độ phụ thuộc giữa các yếu tố Khả năng loại bỏ những gì không bản chất, khả năng liên tưởng, kết nối các yếu tố thực tiễn, khả năng ước tính, dự đoán các kết quả Khả năng diễn đạt tình huống bằng ngôn ngữ tự học ngắn gọn, chính xác, khả năng sử dụng ngôn ngữ toán học, khả năng diễn đạt một vấn đề thực tiễn dưới nhiều
Trang 37hình thức khác nhau Khả năng phát hiện ra quy luật của tình huống, khả năng biểu diễn các yếu tố thực tế bằng ký hiệu khái niệm toán học, biểu đạt của mối quan hệ bằng các mệnh đề toán học, các biểu thức chứa biến, khả năng
mã hóa và giải mã các tình huống khác nhau của toán học Khả năng tổ chức lại các yếu tố trong bài toán thực tiễn nhằm phát biểu bài toán thực tiễn dưới dạng bài toán thuần túy
Học tập của SV Toán học cũng là quá trình rèn luyện tư duy biện chứng trong phát hiện vấn đề, vận dụng tư duy logic trong việc giải quyết vấn
đề Kết quả việc học tập của SV được thể hiện ngay trong thực tiễn quá trình học tập, thực hành, khả năng thu thập và lĩnh hội tri thức Trong học phần PPDH môn Toán SV vận dụng kiến thức đã học để dạy các bài Toán, rèn các
kỹ năng dạy học Như vậy, trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã thu nhận được, SV vận dụng thực hành để thể nghiệm khả năng vừa thu nhận thêm kiến thức mới từ thực hành Bằng cách đó năng lực vận dụng kiến thức của
SV được vững chắc và liên tục tăng lên Kết quả của vận dụng vừa làm cho vốn tri thức, hiểu sâu sắc của SV về Toán học phổ thông tăng lên, vừa soi sáng, giải thích, làm rõ thêm các kiến thức Toán học được học từ giáo trình PPDH, các tài liệu dạy học khác
- Năng lực tự học bao gồm 4 thành tố: Xác định mục tiêu, lập kế hoạch
tự học; thực hiện hoạt động tự học và tự đánh giá điểu chỉnh việc học của mình Để có năng lực SV phải tự tìm tòi khám phá và tiếp nhậnnhận thức, vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tình huống tương tự[39], năng lực tự học được thể hiện qua hoạt động học tập chuyên môn và nghiệp vụ môn Toán với chất lượng cao Quá trình đào tạo ở trường CĐSP chỉ là sự đào tạo ban đầu, đặt cơ sở cho quá trình đào tạo tiếp tục, trong đó việc tự học, tự đào tạo đóng vai trò quyết định sự thành đạt của mỗi SV Toán trong tương lai NLTH của SV sư phạm Toán được hình thành trên cơ sở nắm vững các kiến thức trong chương trình đào tạo và các kỹ năng tự học là tiềm lực cho tự học suốt đời NLTH là năng lực hết sức quan trọng mà SV cao đẳng phải có, vì tự học
là chìa khoá để học suốt đời, xã hội học tập Có NLTH mới có thể tự học suốt
Trang 38đời được Vì vậy, học tập ở trường Cao đẳng, quan trọng nhất là học cách học [23], [32]
- Năng lực đánh giá và tự đánh giá Đây là năng lực cao nhất trong thang nhận thức của Bloom Trong dạy học, GV cần thiết phải hướng bồi dưỡng cho Sv khả năng đánh giá và tự đánh giá được kết quả học tập của mình Muốn vậy, cần nâng cao vai trò tự chủ của SV, tạo các tình huống dạy học mang lại cơ hội và khuyến khích cũng như bắt buộc SV phải tham gia hoạt động đánh giá và tự đánh giá để từ đó SV biết chính xác mặt mạnh, yếu của bản thân mình nhằm giúp SV trở thành những người học có hiệu quả và
có trách nhiệm với bản thân mình và xã hội, những người có thể độc lập thực hiện các nhiệm vụ học tập dưới sự giúp đỡ của GV và nhà trường Trong học phần PPDH môn Toán, SV nghiên cứu PPDH, hình thức tổ chức dạy học; nghiên cứu chương trình và SGK phổ thông; phân tích và rèn kỹ năng dạy học các loại bài Toán học thì việc tự đánh giá và đánh giá là rất quan trọng Qua
đó giúp SV biết được kiến thức, kỹ năng nào đã nắm chắc, kiến thức, kỹ năng nào cần củng cố rèn luyện thêm Từ đó SV tự tin, tích cực tự học, trao đổi và
tự đánh giá
Như vậy, các năng lực đều quan trọng đối với mỗi SV, trong quá trình dạy học, GV cần tạo các hoạt động dạy học để giúp SV tác động hỗ trợ với nhau từ đó phát triển các NL cốt lõi của SV Việc rèn luyện được các năng lực
đó trong dạy học cho SV sư phạm Toán ở trường CĐSP là một thử thách đối với mỗi GV, GV phải là những người tạo cơ hội và dẫn dắt SV sư phạm Toán học tham gia nghiên cứu khoa họ và rèn luyện các kĩ năng sư phạm từ đó rèn luyện để phát triển NLTH cũng như các năng lực cốt lõi khác Chính cách học như vậy, đòi hỏi việc dạy ở đại học không truyền thụ kiến thức làm sẵn cho
SV mà GV phải là người hướng dẫn SV nghiên cứu Bài giảng ở CĐSP của Lào phải là một tài liệu nghiên cứu khoa học ở mức độ thích hợp Điều đó cũng phù hợp với một trong các khuyến nghị chủ yếu của Hội nghị thế giới về
“Giáo dục đại học trong thế kỉ XXI: Tầm nhìn và Hành động” (Paris 10/1998)
chú ý việc nâng cao kiến thức thông qua nghiên cứu, cần thiết phải có một cái
Trang 39nhìn mới và mô hình mới của giáo dục đại học, đó là giáo dục lấy SV làm trung tâm
1.3 Tài liệu theo môđun trong dạy học PPDH Toán ở trường CĐSP
1.3.1 Tài liệu theo môđun
Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã làm thay đổi cơ chế hoạt động của nhiều ngành nghề, trong đó có tác động trực tiếp đến giáo dục, làm cho giáo dục đổi mới toàn diện về nội dung, phương pháp, hình thức, kĩ thuật dạy học và kể cả kiểm tra đánh giá nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo đặt ra Giáo dục đang trong thời kì công nghệ số, sự chuyển đổi về phương tiện dạy học có ảnh hưởng nhiều đến các hình thức dạy học trong đó
có cả thay đổi về môđun dạy học, việc chuyển các chương trình đào tạo theo môđun thuộc lĩnh vực đào tạo nghề sang dạy học cho học sinh cũng là một bước chuyển quan trọng trong quá trình dạy học
Thuật ngữ môđun được sử dụng trong nhiều thuật ngữ của các ngành nghề kĩ thuật như kiến trúc, điện tử, kỹ thuật vũ khí, du hành vũ trụ tuy nhiên các thuật ngữ môđun dùng trong mỗi lĩnh vực kĩ thuật lại bao hàm các nội dung và ý nghĩa khác nhau phù hợp với đào tạo ngành nghề đó nhưng nó
có một đặc tính chung đó là tính thống nhất cao, được chia thành các tầng lớp khá logic đảm bảo cho các công đoạn của sản xuất kĩ thuật nhằm tăng năng suất lao động cho ngành nghề, mang lại chất lượng, hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh của nhân loại
Chuyển hóa các môđun đào tạo thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ sang lĩnh vực giáo dục – đào tạo là một bước ngoặt lớn và vì vậy nội dung, hình thức của môđun trong dạy học cũng khác với môđun trong chương trình đào tạo nghề Môđun trong dạy học tập trung vào vấn đề hướng dẫn tự học cho học sinh thông qua tài liệu, trước đây là tài liệu giấy, ngày này công nghệ phát triển có thể còn chuyển được từ tài liệu giấy sang tài liệu online giúp kết nối người học ở mọi nơi, từ đó giúp học sinh có thể tự học mọi lúc, mọi nơi
Tài liệu theo môđun sử dụng trong dạy học được thiết kế bao gồm các môđun dạy học, mỗi môđun có thể được phân thành các môđun nhỏ hơn gọi
Trang 40là môđun thứ cấp Môđun dạy học thường được cấu trúc là một đơn vị chương trình dạy học có tính tương đối độc lập và được cấu trúc đặc biệt giúp phục vụ cho người học trong đó có chứa đựng mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học cũng như hệ thống các công cụ đánh giá kết quả tạo thành một chỉnh thể
Mỗi môđun dạy học thuộc tài liệu theo môđun có những đặc điểm sau:
- Tính trọn vẹn của tài liệu:
Mỗi môđun dạy học đều mang chủ đề xác định giúp người học tự xác định mục tiêu, phương pháp, nội dung dạy học và quy trình dạy học, vì vậy môđun dạy học không phụ thuộc vào nội dung đã có
- Tính phát triển
Tài liệu theo môđun thiết kế theo hướng mở để hoàn toàn có thể thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm cá nhân người học và mô hình đào tạo của mỗi trương
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Môđun dạy học là một đơn vị
chương trình tương đối độc lập, được cấu trúc một cách đặc biệt nhằm phục
vụ cho người học Nó chứa đựng cả mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, PPDH và hệ thống công cụ đánh giá kết quả lĩnh hội, gắn bó chặt chẽ với nhau thành một thể hoàn chỉnh” [37]
Cần lưu ý môđun dạy học không phải là một giáo trình hay tài liệu