Phạm vi nghiên cứu Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ - Myanmar từ năm 1991 đến năm 2017, nghĩa là từ khi Ấn Độ điều chỉnh chính sách đối ngo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
PHAN THỊ CHÂU
QUAN HỆ CHÍNH TRỊ, KINH TẾ
ẤN ĐỘ - MYANMAR TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2017
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
NGHỆ AN, 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
PHAN THỊ CHÂU
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả được công bố trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong công trình nào khác Nếu có sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Nghiên cứu sinh
Phan Thị Châu
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.1.1 Các công trình nghiên cứu chính sách đối ngoại của Ấn Độ và Myanmar 7
1.1.2 Các công trình nghiên cứu đề cập đến quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ - Myanmar 9
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.2.1 Những công trình đề cập đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ và Myanmar 11
1.2.2 Những công trình đề cập trực tiếp đến quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ - Myanmar 15
1.3 Nhận xét về tình hình nghiên cứu và các vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 18
1.3.1 Những vấn đề đã được nghiên cứu 18
1.3.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 19
Chương 2 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ CHÍNH TRỊ, KINH TẾ ẤN ĐỘ - MYANMAR TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2017 21
2.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực 21
2.1.1 Bối cảnh quốc tế 21
2.1.2 Bối cảnh khu vực 23
2.1.3 Sự tác động của nhân tố Trung Quốc 29
2.2 Khái quát quan hệ Ấn Độ - Myanmar trước năm 1991 32
2.3 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Ấn Độ và vị trí của Myanmar trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ (1991 - 2017) 35
2.3.1 Khái quát tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Ấn Độ trước năm 2017 35
2.3.2 Myanmar trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ 38
Trang 52.4 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở Myanmar và vị trí của Ấn Độ
trong chính sách đối ngoại của Myanmar (1991-2017) 44
2.4.1 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở Myanmar trước năm 2017 44
2.4.2 Vị trí của Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của Myanmar 50
Chương 3 THỰC TRẠNG QUAN HỆ ẤN ĐỘ - MYANMAR TRÊN CÁC LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ, KINH TẾ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2017 58
3.1 Quan hệ chính trị, an ninh 58
3.1.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao 58
3.1.2 Quan hệ an ninh quốc phòng 76
3.2 Quan hệ kinh tế 85
3.2.1 Những chuyển biến về cơ chế hợp tác kinh tế 85
3.2.2 Quan hệ thương mại 87
3.2.3 Đầu tư 96
Chương 4 TÁC ĐỘNG, ĐẶC ĐIỂM QUAN HỆ CHÍNH TRỊ, KINH TẾ ẤN ĐỘ - MYANMAR TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2017 104
4.1 Tác động của quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ - Myanmar đối với mỗi nước, khu vực 104
4.1.1 Đối với Ấn Độ 104
4.1.2 Đối với Myanmar 115
4.1.3 Đối với khu vực 121
4.2 Những đặc điểm của quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ - Myanmar từ năm 1991 đến năm 2017 128
KẾT LUẬN 156
TÀI LIỆU THAM KHẢO 161
TÊN CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 180
PHỤ LỤC 1
1 PHỤ LỤC BẢNG BIỂU 1
2 PHỤ LỤC VĂN BẢN 5
3 PHỤ LỤC ẢNH 48
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Tiếng Anh
STT Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
1 ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn Khu vực ASEAN
2 ASEAN Association of Southeast Asian
Sáng kiến Vịnh Bengal về hợp tác kinh tế kỹ thuật đa ngành
5 BMIST-EC
Bangladesh India Myanmar Sri Lanka Thailand Economic Copperation
8 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
9 GMC Ganga - Mekong Cooperation Tổ chức Hợp tác sông Hằng -
sông Mêkong
10 ICC Indian Chamber of Commerce Phòng Thương mại Ấn Độ
11 IMCCI Indo-Myanmar Chamber of
Commerce and Industry
Phòng Thương mại và công nghiệp Ấn Độ-Myanmar
13 JTC Joint Trade Committee Uỷ ban Thương mại hỗn hợp
14 JCC Joint Consult Committee Uỷ ban Tư vấn chung
15 MGC Mekong-Ganga Cooperation Hợp tác Mekong-sông Hằng
16 MOU Memorandum of understanding Bản ghi nhớ
17 NER North Eastern Region Khu vực Đông Bắc (Ấn Độ)
18 NLD National League for Democracy Liên minh quốc gia vì dân chủ
19 NSCN National Socialist Council of Hội đồng Quốc gia xã hội chủ
nghĩa Nagaland
Trang 721 NSCN National Socialist Cuoncil of
25 SAARC South Asian Association for
29 UNLF United Nation Liberation Front Mặt trận thống nhất giải phóng
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Trang
Danh mục bảng
Bảng 3.1 Thương mại song phương Ấn Độ - Myanmar (1990 - 2017) 88
Bảng 3.2 Tỷ trọng thương mại song phương Ấn Độ - Myanmar trong tổng thương mại của Ấn Độ (2008 - 2017) 89
Bảng 3.3 Vị trí của thương mại Ấn Độ đối với Myanmar (2008 - 2017) 90
Bảng 3.4 Các mặt hàng Ấn Độ xuất khẩu đến Myanmar (2008 - 2014) 91
Bảng 3.5 Các mặt hàng chính Ấn Độ xuất khẩu đến Myanmar (2014 - 2017) 92
Bảng 3.6 Các mặt hàng Ấn Độ nhập khẩu từ Myanmar (2009 - 2014) (triệu USD) 93
Bảng 3.7 Thống kê thương mại biên giới giữa hai nước (2005-2017) 95
Bảng 3.8 Các công ty Ấn Độ đầu tư vào ngành dầu khí ở Myanmar 98
Bảng 3.9 Các nhà máy ở Myanmar được Ấn Độ xây dựng 100
Bảng 3.10 Các quốc gia có vốn đầu tư nước ngoài hàng đầu ở Myanmar (1988/89 - 2014/15) 101
Bảng 3.11 Dòng vốn đầu tư FDI từ các nước ASEAN sang Ấn Độ (2000-2017) 102
Danh mục biểu đồ Biểu đồ 4.1 Sơ đồ biểu thị tăng trưởng xuất nhập khẩu Ấn Độ - Myanmar giai đoạn 1990 - 2017 142
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Ấn Độ và Myanmar là hai quốc gia láng giềng có mối quan hệ văn hóa, lịch sử, dân tộc từ lâu đời, có đường biên giới đất liền và trên biển ở Vịnh Bengal dài, mang tầm chiến lược đối với cả khu vực Đông - Nam Á Myanmar là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á nhưng có đường biên giới với cả hai nước lớn Ấn Độ và Trung Quốc, án ngữ trên con đường bộ quan trọng tiến về phía Đông của Ấn Độ và con đường tiến về phía Ấn Độ Dương của Trung Quốc Chính vì lẽ đó, lịch sử quốc gia này chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi sự cạnh tranh chiến lược của các nước lớn Nhìn nhận mối quan hệ Ấn Độ - Myanmar dưới góc độ một mối quan hệ có bề dày lịch sử văn hóa lâu đời, nhưng lại là quan hệ bất đối xứng giữa một nước lớn với một nước nhỏ, đan xen nhiều yếu tố lợi ích khác nhau thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
về lịch sử quan hệ quốc tế
Mối quan hệ của Ấn Độ và Myanmar chính thức được thiết lập khi Hiệp ước hữu nghị được ký kết năm 1951 Đến năm 1991, trải qua 40 năm, quan hệ Ấn Độ - Myanmar dù trải qua nhiều thăng trầm nhưng cũng đã để lại nhiều dấu ấn trong sự phát triển của hai nước Nghiên cứu mối quan hệ Ấn Độ - Myanmar từ năm 1991 đến năm 2017 nhằm tiếp tục tìm hiểu sâu hơn về một mối quan hệ láng giềng truyền thống, giữa một nước lớn với một nước nhỏ, phản ánh rõ nét sự đan xen giữa lợi ích quốc gia
và các giá trị dân chủ nhân quyền… có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc
Chính sách đối với Myanmar của Ấn Độ đã có những thay đổi cơ bản kể từ sau cuộc đảo chính và thiết lập chế độ quân sự ở Myanmar ngày 8/8/1988 Ấn Độ cùng với các nước phương Tây lên án chế độ quân sự và thực hiện chính sách cấm vận đối với Myanmar Tình hình chính trị xã hội ở Myanmar luôn bất ổn, chính sách đóng cửa cùng với tình trạng bị Mỹ và phương Tây cấm vận, trừng phạt khiến Myanmar tách biệt với thế giới, kể cả khi Myanmar được công nhận là thành viên của ASEAN năm
1997 Từ năm 2003, Myanmar bước vào quá trình cải cách dân chủ theo Lộ trình 7 bước và bước đầu đạt được những kết quả khả quan Cộng đồng quốc tế đã bắt đầu chuyển sang ủng hộ Myanmar, tạo nên một cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các nước
Trang 10lớn ở đất nước này Nghiên cứu quan hệ Ấn Độ - Myanmar trong bối cảnh những chuyển biến sâu rộng ở Myanmar và chính sách của Ấn Độ với tư cách là một cường quốc khu vực đối với Myanmar có ý nghĩa khoa học sâu sắc
Ảnh hưởng của Trung Quốc gia tăng tại Myanmar, đặc biệt là sau năm 1988, tạo nên mối lo ngại chiến lược đối với Ấn Độ Do vậy, Chính phủ Ấn Độ qua các thời kỳ
đã nỗ lực từng bước thay đổi chính sách với Myanmar từ sau năm 1991, xây dựng mối quan hệ toàn diện với Myanmar, trong đó có chính trị và kinh tế Đối với Myanmar, quá trình cải cách dân chủ và phát triển đất nước rất cần sự ủng hộ của một nước lớn láng giềng quan trọng như Ấn Độ Sự phụ thuộc ngày càng sâu vào Trung Quốc đòi hỏi giới cầm quyền Myanmar tìm kiếm một sự cân bằng trong quan hệ với các nước lớn Nghiên cứu mối quan hệ này trên lĩnh vực chính trị, kinh tế nhằm hiểu rõ bản chất, nhu cầu lợi ích từ cả hai phía Ấn Độ và Myanmar, đặt trong bối cảnh sự trỗi dậy không hòa bình của Trung Quốc là hết sức cần thiết
Từ năm 1991, Ấn Độ chuyển hướng chính sách đối ngoại với những toan tính chiến lược mới với trọng tâm là Chính sách Hướng Đông, sau đó là Hành động phía Đông Myanmar là một nước láng giềng có vị trí chiến lược quan trọng trên con đường tiến về phía Đông của Ấn Độ Là thành viên ASEAN năm 1997 và gia nhập hầu hết các cơ chế hợp tác trong khu vực, Myanmar trở thành quốc gia cửa ngõ trên con đường tiến về khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương - khu vực phát triển năng động nhất thế giới trong thế kỷ XXI của Ấn Độ Nghiên cứu mối quan hệ này từ năm 1991 đến năm 2017 nhằm hiểu rõ hơn về biểu hiện của Chính sách Hướng Đông/Hành động phía Đông của Ấn Độ trên một quốc gia cụ thể
Mặt khác, Myanmar có chung biên giới với các bang Đông Bắc nhạy cảm của Ấn
Độ Myanmar có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, Ấn Độ tạo ra một ngã ba luôn bất ổn về chính trị, an ninh Mối quan hệ hai nước từ nhiều năm luôn luôn tiềm ẩn các nhân tố bất ổn liên quan đến các lực lượng chính trị phản động, tranh chấp biên giới, tội phạm ma túy… Nghiên cứu mối quan hệ Ấn Độ -Myanmar nhằm làm sáng rõ
sự phát triển của quan hệ hai nước và cách thức giải quyết những những bất đồng để phát triển có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao Trên cơ sở đó, nghiên cứu mối quan hệ giữa Ấn Độ và Myanmar từ 1991 đến 2017 nhằm rút ra được những bài học mang tính
Trang 11gợi mở cho Việt Nam trong mối quan hệ giữa nước lớn
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của luận án là
“Quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ - Myanmar từ năm 1991 đến năm 2017”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tái hiện một cách hệ thống và khách quan tiến trình quan hệ chính trị, kinh tế của Ấn Độ với Myanmar trong giai đoạn 1991 - 2017, qua đó rút ra những đặc điểm của mối quan hệ này
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ -
Myanmar từ năm 1991 đến năm 2017, nghĩa là từ khi Ấn Độ điều chỉnh chính sách đối
ngoại, trong đó có Chính sách Hướng Đông và sự chuyển biến bước đầu trong chính sách đối với Myanmar; đến chuyến thăm Myanmar của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi vào tháng 9/2017 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ trong quan hệ hai nước trên nhiều lĩnh vực
Về không gian: Không gian nghiên cứu của luận án chủ yếu là hai chủ thể Ấn Độ
và Myanmar Tuy nhiên, do quan hệ chính trị, kinh tế của Ấn Độ - Myanmar giai đoạn
1991 - 2017 còn chịu tác động nhất định từ các chủ thể khác nên không gian nghiên cứu được đề cập đến là bối cảnh khu vực châu Á - Thái Bình Dương (được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các nước châu Á và các nước ven bờ Thái Bình Dương)
Về nội dung: Luận án nghiên cứu quan hệ Ấn Độ - Myanmar từ năm 1991 đến
năm 2017, trong đó chủ yếu tập trung nghiên cứu quan hệ song phương hai nước trên lĩnh vực chủ yếu là chính trị (chính trị ngoại giao, chính trị an ninh quốc phòng) và kinh tế (tập trung vào hai lĩnh vực chính: thương mại hàng hóa, đầu tư) Quan hệ hai nước trong các diễn đàn đa phương và quan hệ trên các lĩnh vực khác như xã hội, văn hóa… được đề cập dưới góc độ tham chiếu nhằm làm sáng rõ hơn các nhiệm vụ mà luận án đặt ra
Về sử dụng tên gọi “Myanmar” trong luận án: Năm 1989, Hội đồng quân sự nắm
quyền đã đổi tên nước bằng tiếng Anh từ “Burma” (Miến Điện) thành “Myanmar” Sự
thay đổi này đến hiện nay vẫn không được nhiều nhóm người Myanmar chấp nhận vì
Trang 12họ không chấp nhận tính hợp pháp của chính quyền quân sự Hoa Kỳ, Australia,
Ireland và Anh tiếp tục sử dụng tên "Burma", trong khi Liên minh châu Âu sử dụng cả hai Liên Hợp Quốc sử dụng tên "Myanmar" Nhằm đảm bảo tính thống nhất, không
mang ý nghĩa chính trị trong sử dụng tên gọi, Luận án sẽ sử dụng tên chính thức là
Myanmar trong văn bản Thuật ngữ Miến Điện (Burma) sẽ chỉ được viết trong một số
bối cảnh lịch sử trước năm 1988 hoặc trong các trích dẫn
Ngoài đối tượng nghiên cứu, giới hạn về thời gian, không gian, nội dung nêu trên, những vấn đề khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận án được thực hiện để làm rõ những chuyển biến trong quan hệ Ấn Độ - Myanmar trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế từ năm 1991 đến năm 2017 Trên cơ sở
đó, luận án phân tích tác động của mối quan hệ này đối với mỗi nước, khu vực và rút
ra các các đặc điểm của mối quan hệ Ấn Độ - Myanmar trong giai đoạn này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Rút ra nhận xét về đặc điểm của quan hệ hai nước và tác động của nó đối với
Ấn Độ, Myanmar nói riêng và khu vực nói chung
4 Nguồn tài liệu sử dụng trong luận án
Trong giới hạn và khả năng cho phép, luận án được nghiên cứu trên cơ sở nguồn tài liệu khách quan và tin cậy gồm:
- Các tài liệu gốc gồm: các hiệp định, nghị định thư, tuyên bố chung, hiệp ước, hiệp định ký kết giữa Chính phủ, Bộ Ngoại giao Ấn Độ với Myanmar; các báo cáo thống kê, các báo cáo thường niên của Bộ Ngoại giao Ấn Độ, bài phát biểu, diễn văn của các nhà lãnh đạo cấp cao của Ấn Độ và Myanmar về quan hệ Ấn Độ - Myanmar đăng trên các website chính thức của Chính phủ Ấn Độ, Chính phủ Myanmar
Trang 13- Các tài liệu tham khảo đặc biệt, trang tin của website chính thức của Bộ ngoại giao Ấn Độ và Myanmar, Đại sứ quán và lãnh sự quán hai nước, Thông tấn xã Việt Nam, các trang tin chính thức của Chính phủ Việt Nam,…
- Các sách chuyên khảo và tham khảo nghiên cứu trong và ngoài nước về khu vực Đông Nam Á, Myanmar, Ấn Độ và quan hệ Ấn Độ - Myanmar đã được công bố
- Các công trình khoa học, các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành; kỷ yếu hội thảo khoa học; các luận án, luận văn có liên quan đến quan hệ Ấn Độ và Myanmar đã được công bố
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về đường lối đối ngoại của Việt Nam Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic trên cơ sở cách tiếp cận từ phía Ấn Độ Với các phương pháp này, quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ - Myanmar sẽ được tái hiện thông qua việc phân tích các sự kiện cụ thể, qua từng thời kỳ một cách logic và có tính liên kết
Ngoài ra, đây là một đề tài vừa mang tính lịch sử vừa là nghiên cứu về quan hệ quốc tế, cho nên trong quá trình thực hiện, tác giả luận án còn vận dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành như: phương pháp tổng hợp, phân tích, đối chiếu, so sánh và các phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế nhằm tái hiện một cách khách quan, khoa học về mối quan hệ Ấn Độ - Myanmar từ năm 1991 đến năm 2017 và những đánh giá đa chiều và toàn diện về đối tượng nghiên cứu
6 Đóng góp của luận án
Luận án là công trình đi sâu nghiên cứu và phân tích một cách hệ thống quan hệ kinh tế, chính trị Ấn Độ - Myanmar từ năm 1991 đến 2017 theo các vấn đề trọng tâm: những nhân tố tác động; nội dung và diễn trình của quan hệ hai nước trên lĩnh vực kinh tế, chính trị; qua đó rút ra đặc trưng của quan hệ hai nước và tác động của nó đối với Ấn Độ, Myanmar nói riêng và khu vực nói chung
Trong bối cảnh hiện nay, Myanmar đang nắm giữ vị trí quan trọng trong quá trình thực hiện Chính sách Hướng Đông và Hành động phía Đông của Ấn Độ Do vậy, việc tìm hiểu và phục dựng mối quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ - Myanmar từ năm
Trang 141991 đến năm 2017 nhìn nhận rõ hơn chính sách và xu hướng đối ngoại, vị thế của Ấn
Độ và Myanmar trong quan hệ quốc tế, bản chất của mối quan hệ này Từ đó góp phần cung cấp cứ liệu khoa học cho thực tiễn đối ngoại của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh biến động phức tạp của môi trường địa chính trị, kinh tế khu vực và thế giới Luận án là tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu về quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại có liên quan đến Ấn Độ và Myanmar
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án được chia làm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Những nhân tố tác động đến quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ -
Myanmar từ năm 1991 đến năm 2017 Chương 3 Quan hệ Ấn Độ - Myanmar trên lĩnh vực chính trị, kinh tế từ năm
1991 đến năm 2017 Chương 4 Tác động, đặc điểm của quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ - Myanmar
từ năm 1991 đến năm 2017
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ - Myanmar đã được các nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước quan tâm ở những mức độ khác nhau Trên cơ sở những công trình và tài liệu tiếp cận được, chúng tôi nhận thấy vấn đề này đã được đề cập đến ở một số góc
độ như sau:
1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Ở nước ngoài, trên cơ sở nguồn tài liệu chúng tôi tiếp cận được, luận án bước đầu nhìn nhận một số vấn đề liên quan với hai nhóm nội dung sau:
1.1.1 Các công trình nghiên cứu chính sách đối ngoại của Ấn Độ và Myanmar
Là một nước lớn, có vai trò quan trọng ở châu Á và thế giới, từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, chính sách đối ngoại của Ấn Độ, đặc biệt là Chính sách Hướng Đông
đã thu hút sự quan tâm của các học giả nước ngoài Trong những bài viết: India’s
‘Look East’ Policy - the Emerging Discourse (FPRC Journal, No.8, Foreign Policy
Research Centre, New Delhi, India, 2011) của tác giả Khriezo Yhome; Look East
Policy (International Journal of Advancements in Research and Technology Volume 2,
Issue 5, 2013) của tác giả A.Sundaram; Some New Thoughts on India’s Look East
Policy (IPCS Issue Brief, No.54, Institute of Peace and Conflict Studies, New Delhi,
India, 2007) của tác giả Baladas Ghoshal, các nội dung của Chính sách Hướng Đông
từ mục tiêu, đối tượng, chính sách và tác động, đã được đề cập khá chi tiết Ở một số góc độ nghiên cứu, Myanmar được đề cập là một trong những quốc gia đóng vai trò quan trọng trong Chính sách Hướng Đông Đây là nguồn tài liệu quan trọng cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với Myanmar
Về Myanmar trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ, có bài viết India’s Myanmar
Policy: A Dilemma between Realism and Idealism (IPCS Speccial Report No.37,
Institute of Peace and Conflict Studies, 2007) của học giả Yogendra Singh Bài viết đã phân tích vị trí nước đệm của Myanmar giữa hai cường quốc châu Á là Ấn Độ và Trung Quốc; là đất nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đặc biệt là tài nguyên năng lượng Đó là những nhân tố khiến Ấn Độ cân nhắc, lựa chọn trong việc
Trang 16thiết lập quan hệ với Myanmar Một bài viết khác của tác giả Grareth Price, India’s
Policy towards Burma (Asia ASP 2013/02, Chatham House, London, 2013) đã phân
tích những lợi ích của Ấn Độ trong quan hệ với Myanmar và chính sách của Ấn Độ để phát triển mối quan hệ đó Những bài viết này có góc nhìn đa dạng, nhấn mạnh nhân tố tác động và vị trí chiến lược của Myanmar trong quá trình thực thi Chính sách Hướng Đông của Ấn Độ Đây là những yếu tố quan trọng, nhưng không phản ánh toàn diện bản chất của chính sách đối ngoại Ấn Độ đối với Myanmar và mối quan hệ song phương giữa hai nước
Cuốn sách Chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong quan hệ với các nước láng
giềng của tác giả J.N Dixit được Nhà xuất bản Lý luận chính trị xuất bản năm 2015,
đã phân tích chính sách đối ngoại của Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh và mối quan hệ giữa
Ấn Độ với các nước láng giềng Tác giả đã phân tích, luận giải các nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa Ấn Độ với các nước láng giềng, trong đó có Myanmar Nội dung quan hệ Ấn Độ - Myanmar trình bày hết sức ngắn gọn, chủ yếu là chính sách của Ấn
Độ đối với Myanmar đến năm 2012
Chính sách đối ngoại của Myanmar có liên quan đến quan hệ với Ấn Độ cũng đã
được đề cập trong một số công trình Công trình Burmar and Its Neighbours, (1998),
các tác giả Lintner, Bertil đã trình bày chính sách đối ngoại của Miến Điện từ sau ngày độc lập, đồng thời nhấn mạnh cơ sở cho mối quan hệ Miến Điện với Ấn Độ là những tương đồng về văn hóa, lịch sử giữa hai nước Chính sách của Myanmar đối với Ấn Độ trước năm 1998 được đề cập ngắn gọn, chưa phản ánh những chuyển biến về chất trong quan hệ hai nước
Cuốn sách Challenges to Democratization in Burma: Perspectives on
Multilateral and Bilateral Responses, International Institute for Democracy and
Electoral Assistance, Sweden, 2001 viết về chính sách đối ngoại của Myanmar Cuốn sách đã phân tích quá trình dân chủ hóa ở Myanmar và chính sách của Myanmar đối với các nước láng giềng như Bangladesh, Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ; các nước ASEAN; chính sách của Mỹ, Nhật Bản, EU… đối với nước này Trong đó, quan hệ Myanmar - Ấn Độ cũng được đề cập khái lược trên một số lĩnh vực chủ yếu từ năm
Trang 17Công trình India - Myanmar Relations: Changing Contours (Routledge Taylor
and Francis Group, India, 2006) của tác giả R Bhatia đã trình bày mối quan hệ giữa
Ấn Độ với Myanmar từ những năm 90 của thế kỷ XX đến năm 2006, đồng thời phân tích và nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ này như là một trong những động lực phát triển của khu vực
Công trình India - Myanmar Relations (2012) của tác giả Ashraf Fahmida
(Institute of Strategic Studies, Islamabad) đã phân tích những nhân tố tác động, các giai đoạn phát triển của mối quan hệ giữa hai nước từ sau khi Myanmar giành được độc lập từ năm 1948 đến năm 2012 Công trình là một bức tranh khá toàn diện về mối quan hệ hai nước trong những năm sau khi hai nước giành được độc lập, nhưng chưa
đi sâu vào quan hệ chính trị, kinh tế của hai nước từ sau năm 1991, chưa đề cập đến giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ sau năm 2012
Công trình India - Myanmar Connectivity: Current Status and Future Prospects
(KW Publishers Pvt Ltd New Delhi, 2013) của tác giả Prabir De và Jayanta Kumar Ray phác họa mối quan hệ của hai nước trên các lĩnh vực thương mại và đầu tư trong giai đoạn 2000 - 2011 Với cách tiếp cận mang tính dự báo của chính trị học, công trình này phác thảo một bức tranh với những tồn tại, thách thức và triển vọng của mối quan hệ này trong giai đoạn chuyển đổi của Myanmar và sự điều chỉnh chính sách của
Ấn Độ đến năm 2011
Quan hệ Ấn Độ - Myanmar cũng được đề cập trong các luận án tiến sĩ của nhiều
học giả như: “India-Myanmar strategic relations: since independence” (Department
of defence and Strategic Studies, University of Allahabad, 2017) của Yasharth
Gautam; “Geo-Strategic importance of Myanmar and India’s Security” (Department
of defence and Strategic Studies Maharshi Dayanand University of Haryana, 2016) của
Trang 18tác giả Ruchika Singla; “India-Myanmar relations in the context of Emerging Asian
Geo-Politcs” (Department of Political Science University of Allahabad, 2017) là
nghiên cứu của tác giả Vinai Kumar… Vị trí chiến lược của Myanmar đối với Ấn Độ,
vị trí của mối quan hệ này trong bàn cờ địa chính trị châu Á được nhìn nhận dưới góc
độ chính trị học được phân tích tương đối chi tiết
Ngoài ra, quan hệ Ấn Độ - Myanmar còn được đề cập trong các bài viết như:
India - Myanmar Relations (1998-2008): A Decade of Redefining Bilateral Ties (2009)
của Khriezo Yhome trình bày mối quan hệ giữa Ấn Độ và Myanmar giai đoạn 1998 -
2008, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, đầu tư…; India - Myanmar
Relations: Triumph of Pragmatism (2011) của tác giả Bibhu Prasad Routray đã phân
tích mối quan hệ hai nước trên cơ sở sự tính toán trong chính sách đối ngoại của Ấn
Độ giữa chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa thực dụng Đồng thời tác giả cũng nêu lên năm lý do thúc đẩy Ấn Độ thiết lập quan hệ trở lại với Myanmar Một số bài viết đi sâu vào nghiên cứu một số lĩnh vực riêng biệt trong quan hệ hai nước như:
“Myanmar’s Security Cooperation with Myanmar: Prospect and Retrospect” (2013) của C.Raja Mohan; “India-Myanmar Economic Relations” (2013) của C.S Kuppuswanmy; India and Myanmar: “Choices for Military Cooperation” (2012) của
tác giả V.Sakhuja… Các bài viết trên hoặc là chú trọng phân tích vị trí của Myanmar trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ năm 1991 đến trước năm 2012; hoặc là đi sâu nghiên cứu quan hệ hai nước trong các lĩnh vực kinh tế, an ninh - quốc phòng…
Bên cạnh các công trình nghiên cứu trực tiếp, quan hệ Ấn Độ - Myanmar cũng được đề cập trong các công trình nghiên cứu quan hệ Ấn Độ - ASEAN Ayoob
Mohammed trong công trình India and Southeast Asia: Indian Perception and Policies
(1990) đã phân tích cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Ấn Độ, tầm quan trọng của khu vực Đông Nam Á trong chính sách đối ngoại của New Delhi Đặc biệt tác giả
đã tập trung phân tích mối liên kết mang tính lợi ích của Ấn Độ với Đông Nam Á, về
chiến lược cũng như kinh tế và an ninh khu vực Các bài viết khác như: India - ASEAN
relations: Analysing Regional Implications (2009) của Mohit Anand; Economic and Political Cooperation between India and East Asia: The Emerging Perspective (2017)
của A.Chakraborty và D.Chakraborty đã trình bày quan hệ Ấn Độ với khu vực Đông
Trang 19Nam Á về kinh tế, chính trị và tác động của mối quan hệ này trong sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ, trong đó có đề cập tới quan hệ Ấn Độ - Myanmar
Sự cạnh tranh chiến lược giữa Ấn Độ và Trung Quốc tại Myanmar, mối quan hệ Myanmar với Trung Quốc và tác động của nó đối với Ấn Độ là chủ đề hấp dẫn thu hút
sự quan tâm của các nhà nghiên cứu
Trong bài viết “India - Myanmar - China Relations” (2014) tác giả R Hariharan
đã phân tích vị trí chiến lược của Myanmar trong sự trỗi dậy của hai cường quốc lớn là
Ấn Độ và Trung Quốc, cho rằng trong khi quan hệ Trung Quốc - Myanmar đã gắn bó chặt chẽ thì quan hệ Ấn Độ - Myanmar còn khá mờ nhạt Bài viết cũng chỉ ra các phương cách mà Ấn Độ cần tiến hành để thắt chặt quan hệ với Myanmar trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc
Trong bài viết China and India's competitive relations with Myanmar (2008), tác
giả Hong Zhao đã đề cập cạnh tranh giữa Trung Quốc và Ấn Độ trong quan hệ với Myanmar trên tất cả các lĩnh vực Đây là những tư liệu cần thiết cho luận án khi nghiên cứu tác động, vị trí của nhân tố Trung Quốc trong quan hệ Ấn Độ - Myanmar,
lý giải các ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mỗi nước trước nhân tố Trung Quốc
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về quan hệ của Ấn Độ với Myanmar cũng đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu với nhiều sách tham khảo, luận án và các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành Trên cơ sở nguồn tài liệu tiếng Việt tập hợp được, chúng tôi chia thành các nhóm như sau:
1.2.1 Những công trình đề cập đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ và Myanmar
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Ấn Độ
Một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu công phu về chính sách đối
ngoại của Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh là công trình Sự điều chỉnh chính sách của
Cộng hòa Ấn Độ từ 1991 đến 2000 của tác giả Trần Thị Lý (Nxb Khoa học xã hội,
2002) Cuốn sách đã chỉ ra những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với khu vực, đối với các nước láng giềng và các nước lớn bắt đầu từ năm 1991; những thành tựu Ấn Độ đã đạt được sau 10 năm điều chỉnh chính sách đối ngoại Đây
là công trình nghiên cứu tổng thể về chính sách đối ngoại Ấn Độ đến trước năm 2000,
Trang 20quan hệ Ấn Độ - Myanmar được đề cập rất ít, mờ nhạt
Cuốn Chính sách đối ngoại của Ấn Độ những năm đầu thế kỷ XXI của tác giả
Nguyễn Thị Quế và Đặng Đình Tiến (Nxb Lý luận chính trị, 2017) tập trung vào ba nội dung chính: Cơ sở hình thành và nội dung chính chính sách đối ngoại của Ấn Độ những năm đầu thế kỷ XXI; Quá trình triển khai chính sách đối ngoại của Ấn Độ những năm đầu thế kỷ XXI; Những tác động chính sách đối ngoại của Ấn Độ đầu thế
kỷ XXI đến quan hệ quốc tế và Việt Nam Quan hệ Ấn Độ - Myanmar được đề cập ngắn gọn trong mối quan hệ Ấn Độ với khu vực Đông Nam Á Dù vậy, chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong công trình này là cơ sở để chúng tôi tiếp cận và xem xét trường hợp quan hệ Ấn Độ - Myanmar đầu thế kỷ XXI
Gần đây nhất là công trình Điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ dưới thời
Thủ tướng Modi, của tác giả Ngô Xuân Bình (Nxb Khoa học xã hội, 2019) Nội dung
chính của cuốn sách tập trung vào những vấn đề liên quan đến chính sách đối ngoại của Chính phủ Ấn Độ dưới thời cầm quyền của Thủ tướng N Modi Gồm ba vấn đề chính: Những yếu tố tác động đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ dưới thời Thủ tướng N Modi; Nội dung điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ; Đánh giá và dự báo xu hướng phát triển chính sách đối ngoại của Ấn Độ đến năm 2030 Cuốn sách là tài liệu tham khảo quan trọng giúp chúng tôi phác họa một cách tổng thể những thay đổi chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ năm 2014, từ đó hiểu rõ hơn về những ưu tiên của Thủ tướng N Modi trong chính sách đối với các nước lớn và các nước láng giềng kề cận, trong đó có Myanmar
Công trình ASEAN trong Chính sách Hướng Đông của Ấn Độ (Nxb Khoa học xã
hội, 2013) của tác giả Võ Xuân Vinh trình bày về Chính sách Hướng Đông của Ấn Độ,
vị trí của ASEAN trong Chính sách Hướng Đông của Ấn Độ Trong đó, tác giả chú trọng những nội dung của Chính sách Hướng Đông như mục tiêu, phạm vi, các giai đoạn phát triển chính, những lĩnh vực triển khai, vị trí của ASEAN trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ đến năm 2012… Đây là công trình nghiên cứu công phu, có hệ thống về Chính sách Hướng Đông của Ấn Độ đến năm 2012, là cơ sở để xem xét mối quan hệ hai nước trong mối quan hệ tổng thể của Ấn Độ với ASEAN
Cùng viết về Chính sách Hướng Đông, không thể không nhắc đến ấn phẩm
Trang 21Hướng về phía Đông - Một chiến lược lớn của Ấn Độ (Nxb Chính trị quốc gia - Sự
thật, 2015) của tác giả Nguyễn Trường Sơn Công trình đã trình bày và phân tích về các khía cạnh của Chính sách Hướng Đông từ năm 1991 đến năm 2015 và đồng thời phác dựng những mối quan hệ truyền thống giữa Ấn Độ với Đông Á Qua đó, công trình cũng khẳng định vị trí quan trọng của ASEAN trong tư duy chính trị và chính sách đối ngoại của Ấn Độ
Cũng viết về chính sách đối ngoại của Ấn Độ với khu vực Đông Nam Á, trong
đó có Myanmar, tác giả Trần Nam Tiến đã xuất bản cuốn Ấn Độ với Đông Nam Á
trong bối cảnh quốc tế mới (Nxb Văn hóa - Văn nghệ, 2016) Công trình khẳng định vị
trí của Ấn Độ trong bối cảnh quốc tế mới đầu thế kỷ XXI, những chuyển đổi trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với khu vực Đông Nam Á từ Chính sách Hướng Đông sang Hành động phía Đông nhằm tăng cường can dự vào khu vực này một cách mạnh mẽ hơn Điều đó cũng cho thấy tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với sự trỗi dậy của Ấn Độ trong thế kỷ XXI
Tác giả Nguyễn Hoàng Giáp trong cuốn sách Cạnh tranh chiến lược ở khu vực
Đông Nam Á giữa một số nước lớn hiện nay (Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 2013),
cũng đã phân tích về vị trí và tầm quan trọng của khu vực Đông Nam Á trong chiến lược phát triển của các nước lớn, từ đó phác họa cuộc cạnh tranh giữa các nước Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật, Ấn Độ… trong khu vực này Cạnh tranh chiến lược ở Đông Nam Á nói chung và Myanmar nói riêng được đề cập trong công trình này tạo ra cách nhìn đa chiều cho chúng tôi trong nhìn nhận quan hệ Ấn Độ - Myanmar
Bên cạnh những cuốn sách trên, các bài viết về chính sách đối ngoại của Ấn Độ
đã được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: “10 năm điều chỉnh chính sách đối
ngoại của cộng hòa Ấn Độ (1991-2000): những thành tựu” của tác giả Trần Thị Lý
(Nghiên cứu Đông Nam Á, 6/2001); Tôn Sinh Thành với “Vài suy nghĩ về tư duy đối
ngoại của Ấn Độ” (Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6/2001); Chính sách đối ngoại của
Ấn Độ hiện nay và tác động đến an ninh, chính trị của Việt Nam (Tạp chí Lý luận
chính trị, số 11/2018), của tác giả Lê Văn Toàn; Hoàng Thị Minh Hoa, với bài viết
“Chính sách đối ngoại của Ấn Độ với Đông Nam Á giai đoạn 1991 - 2010 và tác động
của nó” (Tạp chí Lý luận chính trị, số 1/2012); “Sự nổi lên của Ấn Độ: Nhìn từ góc độ
Trang 22kinh tế đối thoại 2007” của tác giả Nguyễn Văn Lịch trên Tạp chí Nghiên cứu quốc tế,
số 71/2007; Hoàng Thị Minh Hoa, Nguyễn Thị Lan “Vai trò của Ấn Độ ở châu Á
những năm đầu thế kỷ XXI”, (Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế
giới, số 8/2011)… Những bài viết trên giúp chúng tôi có cái nhìn cụ thể hơn về tư duy đối ngoại của Ấn Độ, chính sách đối ngoại của Ấn Độ hiện nay và những thành tựu Ấn Độ đạt được trong quá trình triển khai chính sách đối ngoại đối với khu vực
Đông Nam Á, trong đó có Myanmar
Chính sách Hướng Đông cũng là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, đăng trên các tạp chí chuyên ngành uy tín như: Võ Xuân Vinh với các bài viết
“Chính sách Hướng Đông” của Ấn Độ: các nguyên nhân hình thành” (Nghiên cứu
Đông Nam Á, số 3/2005) và “Một số nội dung cơ bản trong Chính sách Hướng Đông
của Ấn Độ” (Nghiên cứu Đông Nam Á, số 10/2009); Nguyễn Thị Minh Thảo với “Ấn Độ: từ chính sách Hướng Đông sang chính sách ‘Hành động ở phía Đông’” (Tạp chí
Khoa học xã hội Việt Nam, số 11/2015); Bài viết “Chính sách Hướng Đông của Ấn
Độ và tác động của nó tới quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc”của tác giả Hoàng Thị Minh
Hoa (Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, số 1/2012);… Những bài viết này tập trung làm rõ nguyên nhân ra đời, nội dung cơ bản của Chính sách Hướng Đông, nhân
tố Trung Quốc trong chính sách này Đồng thời, một số bài viết cũng phân tích sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ Chính sách Hướng Đông sang Hành động phía Đông và quá trình triển khai chính sách đối ngoại đó đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Myanmar Đó là những nguồn tư liệu quan trọng tạo cơ
sở để tác giả tiếp tục nghiên cứu chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với Myanmar từ năm 1991 đến năm 2017
Thứ hai, những công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Myanmar So
với những công trình nghiên cứu chính sách đối ngoại của Ấn Độ, thì các công trình về chính sách đối ngoại của Myanmar ở trong nước còn khá hạn chế, chưa có sách chuyên khảo về vấn đề này Vấn đề chính sách đối ngoại của Myanmar chỉ được trình
bày rải rác trong một số cuốn sách như Lịch sử Myanmar của Vũ Quang Thiện (Nxb Khoa học xã hội, 2005), Myanmar Lịch sử và hiện tại (Nxb Chính trị quốc gia - sự thật, 2011) của tác giả Chu Công Phùng, Miến Điện mặt trời lên của Thích Thái Hòa,
Trang 23Nxb Phương Đông, 2013), Tìm hiểu lịch sử, văn hóa Myanmar (Nxb Văn hóa - Thông
tin) của Phạm Thanh Tịnh… và các bài viết đăng trên các tạp chí có uy tín Bài viết
“Chính sách đối ngoại trung lập của Miến Điện giai đoạn 1962 - 1988” của tác giả Đàm Thị Đào; bài viết của tác giả Văn Trung Hiếu “Cải cách và mở cửa ở Myanmar” (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5/2013); Mẫn Huyền Sâm với “Cải cách dân
chủ ở Myanmar: Nguyên nhân và tác động” (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số
1/2013); Đào Tuấn Thành với “Lộ trình dân chủ bảy bước”, (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11/2013); Vũ Quang Thiện, “Vị thế của Myanmar”, (Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam, 2007); Vũ Quang Thiện với bài viết “Myanma: Phát triển và
chính sách giá thời kỳ 1962 - 1998”, (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4/1994);
Bùi Hồng Cường với “Cải cách thể chế và chính sách đầu tư tại Myanma”, Tạp chí
Nghiên cứu Ấn Độ và châu Á, số 8/2013 Chính sách đối ngoại được trình bày trong các công trình trên là nguồn tài liệu quan trọng, giúp chúng tôi có cái nhìn bao quát nhất về chính sách đối ngoại của Myanmar và mối quan hệ của Myanmar đối với các nước lớn trong khu vực và thế giới
1.2.2 Những công trình đề cập trực tiếp đến quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ - Myanmar
Nhìn chung, quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ - Myanmar là vấn đề thu hút nhiều học giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu nhưng kết quả còn trong giai đoạn bước đầu
Tính đến nay, luận án tiến sĩ Lịch sử “Quan hệ Ấn Độ - Myanmar (1962 - 2011)”,
(2017) tại trường Đại học Sư phạm Huế của tác giả Nguyễn Tuấn Bình là công trình đầu tiên nghiên cứu mối quan hệ Ấn Độ - Myanmar giai đoạn 1962 - 2011 Công trình đã khái quát toàn diện sự phát triển của mối quan hệ này qua hai giai đoạn: 1962 - 1992 và
1992 - 2011, đưa ra những nhận xét, tác động của mối quan hệ này đối với khu vực và mỗi nước Thực tế, do thời gian nghiên cứu dài và dừng lại vào năm 2011 nên công trình chưa có điều kiện đi sâu vào quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ - Myanmar từ năm 1991, đặc biệt là giai đoạn chuyển biến mạnh mẽ của mối quan hệ này từ năm 2012 đến 2017 Một số bài viết liên quan đến mối quan hệ Ấn Độ - Myanmar như: Tác giả
Nguyễn Thị Dung với bài viết “Quan hệ chính trị Ấn Độ - Myanmar giai đoạn 1991
đến 2011” đăng trên Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, số 4/2012
Trang 24Trong bài viết tác giả đã khái quát quan hệ Ấn Độ - Myanmar trước năm 1991 và trình bày diễn trình quan hệ chính trị hai nước từ năm 1992 đến năm 2011, trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét về mối quan hệ hai nước Bài viết là nguồn tư liệu quan trọng cho luận án khi nghiên cứu về quan hệ chính trị của Ấn Độ và Myanmar Tuy nhiên,
do bài viết chỉ nghiên cứu quan hệ chính trị đến năm 2011, nên chưa làm rõ được những chuyển biến quan trọng của mối quan hệ này từ sau khi Myanmar tiến hành cải cách dân chủ và những thay đổi chính trị sau đó của Ấn Độ và Myanmar đến năm
2017 Bài viết “Quan hệ Ấn Độ - Myanmar trong lĩnh vực dầu khí những năm đầu thế
kỷ XXI” của Nguyễn Tuấn Bình (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3/2016), đã làm
rõ nhu cầu về nguồn năng lượng của Ấn Độ và đó là một trong những lý do thúc đẩy
Ấn Độ phát triển quan hệ với Myanmar vào những năm đầu thế kỷ XXI; Bài “Chính
sách đối ngoại của Ấn Độ đối với Myanmar giai đoạn 1962 1992: Từ Chủ nghĩa lý tưởng đến Chủ nghĩa hiện thực” của tác giả Đặng Văn Chương, Nguyễn Tuấn Bình
(Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11/2017), các tác giả đã phác họa những nét cơ bản trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với Myanmar từ 1962 đến 1991 Sự thay đổi đó của Ấn Độ dựa trên những cân nhắc về lợi ích mà Ấn Độ có được tại
Myanmar; Bài viết “Bước phát triển mới của quan hệ Ấn Độ - Myanmar trong hai
thập niên sau chiến tranh lạnh: Cơ sở và thành tựu”, của Nguyễn Tuấn Bình (Tạp chí
phát triển Khoa học và Công nghệ - Khoa học Xã hội và Nhân văn, số 3 (1)/2019), tác giả đã phân tích những chuyển biến của quan hệ Ấn Độ - Myanmar hai thập niên sau chiến tranh lạnh trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, thương mại - đầu tư và an ninh
- quốc phòng Trên cơ sở của các nhân tố quốc tế và khu vực, quan trọng hơn là xuất phát từ nhu cầu bản thân của mỗi nước Do vậy, quan hệ Ấn Độ - Myanmar đã vượt qua thời kì nguội lạnh trong những năm 1962 đến 1991 và bước sang giai đoạn cải thiện, củng cố và phát triển từ 1992 đến 2011 Đó là những bài viết có nội dung gần nhất với luận án, bên cạnh việc tham khảo thì kế thừa có chọn lọc những kết quả của các công trình nói trên là cần thiết đối với tác giả luận án
Và đặc biệt là bài viết “Mối quan hệ của Ấn Độ với Myanmar dưới thời cầm
quyền của Thủ tướng Narendra Modi” của tác giả Phùng Thị Thảo, đăng trong Kỷ yếu
hội thảo quốc tế India’s Relations with its Neighboring cuontries in the new context
Trang 25(Viện Nghiên cứu Ấn Độ và Tây Nam Á, 10/2019) Trong bài viết, tác giả Phùng Thị Thảo đã nêu khái quát mối quan hệ giữa Ấn Độ và Myanmar từ năm 2014 đến năm
2019 và những thay đổi của mối quan hệ đó trong thời kì giữ chức của Thủ tướng Ấn
Độ N Modi Dù bài viết đề cập đến mối quan hệ của Ấn Độ và Myanmar một cách cụ thể, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, nên chưa thể phác họa được những đặc trưng
của mối quan hệ đó Bên cạnh đó, bài viết “Cạnh tranh chiến lược của Trung Quốc,
Mỹ và Ấn Độ ở Myanmar: thực trạng và triển vọng” tác giả Trần Khánh, cũng giúp tác
giả hiểu rõ hơn tầm quan trọng của Myanmar trong cuộc cạnh tranh giữa các nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ Từ đó, giúp tác giả luận án có cái nhìn đa chiều
và cụ thể hơn về vị trí của Myanmar trong quan hệ với các cường quốc
Mặc dù các công trình nêu trên chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ chính trị, kinh tế Ấn Độ - Myanmar trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm
2017, nhưng rải rác trong các công trình đó có đề cập đến mối quan hệ giữa Ấn Độ và Myanmar trên một số phương diện Đó là cơ sở quan trọng để luận án có thể phục dựng và lý giải sâu hơn về quan hệ của hai nước
Một số công trình đề cập một cách khái quát trong các tài liệu viết về mối quan
hệ giữa Ấn Độ với các nước Đông Nam Á, tổ chức ASEAN hoặc trong các công trình viết về lịch sử của mỗi nước, cụ thể như:
Cuốn sách Myanmar cuộc cải cách vẫn đang tiếp diễn (Nxb Từ điển Bách khoa,
2013) do tác giả Nguyễn Duy Dũng chủ biên Trong đó tác giả đã nêu những nét khái quát đặc điểm tự nhiên, con người của Myanmar, từ đó đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển của đất nước này Đồng thời tác giả cũng tập trung làm rõ những biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội của Myanmar từ 2008 đến 2013; sự cạnh tranh lợi ích của các nước lớn ở Myamar cũng tác động không nhỏ đến sự biến đổi của tình hình Myanmar Trong đó, tác giả có phân tích một cách khái quát lợi ích
và cạnh tranh của Ấn Độ ở Myanmar Mặc dù cuốn sách đề cập không nhiều đến mối quan hệ Ấn Độ - Myanmar, nhưng đây là tài liệu tham khảo hữu ích góp phần cung cấp cái nhìn bao quát cho tác giả trong quá trình nghiên cứu nội dung luận án
Võ Xuân Vinh với ấn phẩm sách chuyên khảo Biến đổi chính trị, kinh tế ở
Myanmar từ năm 2011 đến nay: bối cảnh, nội dung, tác động (Nxb Khoa học xã hội,
Trang 262015), tác giả đã phân tích những nhân tố tác động đến sự biến đổi chính trị, kinh tế ở Myanmar, những thuận lợi và khó khăn của công cuộc cải cách và dự báo tình hình Myanmar trong thời gian tới Đặc biệt, trong nội dung chương 3, tác giả đã phân tích tác động của sự biến đổi đó đến khu vực Đông Nam Á và đến những mối quan hệ quốc
tế Trong khi phân tích tác động đến những mối quan hệ quốc tế, tác giả đã đề khái quát mối quan hệ của Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ với Myanmar Cuốn sách là nguồn tư liệu quan trọng về Myanmar và công cuộc cải cách, cũng như mối quan hệ của Ấn Độ đối với Myanmar (dù được đề cập một cách khái quát)
Như vậy, có thể thấy trong thời gian gần đây đã có một số công trình nghiên cứu
về mối quan hệ của Ấn Độ với Myanmar Tuy nhiên, các công trình trên chủ yếu đề cập mối quan hệ đó một cách khái quát hoặc riêng lẻ, mà chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ chính trị, kinh tế của Ấn Độ và Myanmar trong những năm 1991 đến năm 2017
1.3 Nhận xét về tình hình nghiên cứu và các vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
1.3.1 Những vấn đề đã được nghiên cứu
Sau khi khảo sát các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài theo các nhóm vấn đề như trên, tác giả nhận thấy những vấn đề đã được các nhà khoa học trong
và ngoài nước nghiên cứu, gồm:
Về chính sách đối ngoại của Ấn Độ, nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ nói chung và đặc biệt quan tâm đến Chính sách Hướng Đông/Hành động phía Đông Trong các công trình này, vị trí Myanmar được nhìn nhận khái quát như là một quốc gia có vị trí quan trọng, là quốc gia láng giềng, cầu nối Ấn Độ với ASEAN trong tổng thể chính sách đối ngoại của Ấn Độ
Về chính sách đối ngoại của Myanmar, các công trình chủ yếu trình bày về quá trình dân chủ hóa và chính sách mở cửa của Myanmar, quan điểm và sự thâm nhập của các nước lớn vào Myanmar theo diễn trình của quá trình cải cách dân chủ Trong đó,
Ấn Độ cũng được đề cập với nhiều khía cạnh đơn lẻ, chủ yếu là lập trường và vị trí của
Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của Myanmar
Về mối quan hệ chính trị, kinh tế giữa Ấn Độ và Myanmar, có khá nhiều những công trình trong và ngoài nước nghiên cứu mối quan hệ của Ấn Độ với Myanmar và
Trang 27đạt được những kết quả bước đầu Theo đó, một số công trình đã phân tích các nhân tố tác động tạo nên sự biến chuyển trong quan hệ hai nước, diễn trình của mối quan hệ ấy trên một số lĩnh vực riêng lẻ như quan hệ chính trị, hợp tác phát triển vùng biên giới, kinh tế, quốc phòng… Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung ở giai đoạn sau khi hai nước giành được độc lập đến năm 1991 và giai đoạn 1991 đến trước năm 2012, khi quá trình cải cách dân chủ ở Myanmar cơ bản hoàn thành
Những thành tựu nghiên cứu về quan hệ Ấn Độ - Myanmar là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng giúp chúng tôi về tư liệu, định hình ý tưởng, xây dựng nội dung
và lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp Sự phong phú của các công trình nghiên cứu còn cung cấp cho tác giả các góc nhìn đa chiều với những quan điểm khác nhau khi nhìn nhận, đánh giá mối quan hệ Ấn Độ - Myanmar Từ đó, chúng tôi tiếp thu, tổng hợp và đưa ra những nhận định, đánh giá, nhận xét khách quan, khoa học phù hợp với vấn đề nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài quan hệ chính trị, kinh tế
Ấn Độ - Myanmar từ năm 1991 đến năm 2017
1.3.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
Trên cơ sở khảo sát các công trình nghiên cứu tại Việt Nam và nước ngoài theo nhóm các vấn đề liên quan đến đề tài như trên, có thể nhận thấy những tồn tại và vấn
đề đặt ra cần được tiếp tục tìm hiểu nghiên cứu, bổ sung như sau:
Thứ nhất, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ này nhưng còn
hoặc là mang tính khái quát; hoặc là đi sâu vào khía cạnh địa chính trị, địa chiến lược; hoặc là các góc nhìn chung chung và riêng lẻ theo từng nước; hoặc là nghiên cứu chủ yếu dừng lại trước năm 2012 Cơ bản chưa có công trình chuyên khảo nghiên cứu hệ thống mối quan hệ Ấn Độ - Myanmar trên lĩnh vực chính trị, kinh tế từ năm 1991 đến năm 2017 với tư cách là đối tượng nghiên cứu riêng biệt
Thứ hai, trong quá trình khảo sát các công trình nghiên cứu trong nước, chúng tôi
nhận thấy nghiên cứu quan hệ Ấn Độ - Myanmar giai đoạn 1991 đến 2017 của các học giả trong nước còn chưa nhiều Các tác phẩm sách, những bài viết của những tác giả nước ngoài được xem là nguồn tài liệu tham khảo chủ yếu của luận án Tuy nhiên, dù những ấn phẩm này rất phong phú về nội dung nhưng lại đến từ các tác giả nước ngoài, mỗi tác giả của mỗi nước lại có những quan điểm, cách nhìn nhận và đánh giá
Trang 28vấn đề khác nhau Do đó, khi kế thừa những kết quả nghiên cứu đó, cần có một cách nhìn có hệ thống, so sánh, đối chiếu, biết phê phán và chọn lọc tư liệu phù hợp với quan điểm nghiên cứu, đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của các vấn đề trong vấn đề nghiên cứu
Thứ ba, từ việc tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, chúng
tôi nhận thấy một số vấn đề của các công trình đã công bố trước đó vẫn chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo, tạo nên những khoảng trống để luận án tiếp tục tìm hiểu, trao đổi và làm rõ như: cần đánh giá vị trí của những nhân tố tác động đến quan
hệ chính trị, kinh tế của hai nước trong giai đoạn 1991 đến năm 2017; trong các nhân
tố đó vị trí, mục tiêu, chiến lược của hai bên đã tác động như thế nào đến quan hệ chung của hai nước; quan hệ chính trị, kinh tế của hai nước được thể hiện rõ trong lĩnh vực thương mại và đầu tư như thế nào?; đặc điểm của mối quan hệ chính trị, kinh tế của hai nước trong giai đoạn 1991 đến 2017 là gì?; mối quan hệ đó tác động như thế nào đối với sự phát triển của mỗi nước và khu vực Đông Nam Á
Trang 29Chương 2 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ CHÍNH TRỊ, KINH TẾ
ẤN ĐỘ - MYANMAR TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2017 2.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực
2.1.1 Bối cảnh quốc tế
Từ những thập niên cuối của thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều thay đổi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu lâm vào khủng hoảng sâu sắc rồi lần lượt tan rã, chấm dứt trật tự thế giới hai cực và Chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường Xô - Mỹ kéo dài hơn 40 năm Thế giới bước vào thời kì vận động để thiết lập một trật tự thế giới mới Đặc biệt vào thế kỷ XXI, xu thế thay đổi liên quan tới cục diện thế giới, đó là các nước lớn nhỏ đều có tiếng nói và sự tác động trong quan hệ quốc tế Những xu thế phát triển mới có tác động sâu rộng đến tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới
Trước hết, xu thế toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ với quy mô và nhịp
độ khác trước Toàn cầu hóa tạo nên sự tùy thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các nước, một mặt tạo ra xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển nhưng mặt khác cũng tạo nên
sự cạnh tranh khốc liệt trên phạm vi toàn cầu Cốt lõi của toàn cầu hóa là toàn cầu hóa
về kinh tế, việc mở cửa thị trường và tự do hóa thương mại tạo điều kiện cho các quốc gia nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Các quốc gia muốn phát triển phải thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các lợi ích quốc gia trong lợi ích khu vực để đưa đất nước phát triển, tránh bị tụt hậu Trong bối cảnh ấy, Ấn Độ đã chủ động điều chỉnh chiến lược đối ngoại lấy lợi ích quốc gia làm cơ sở phát triển mối quan hệ với tất cả các nước Ấn Độ xác định “Động lực cơ bản trong chính sách của chúng ta là thúc đẩy lợi thế quốc gia, đóng góp cho hòa bình, an ninh và hợp tác với tất
cả các nước và đặc biệt là đối với thế giới đang phát triển” [34, tr.113] Khi thế giới thay đổi theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, Myanmar cũng đã chủ động thu hút
sự quan tâm của quốc gia trên thế giới bằng cách thông qua luật đầu tư mới và tiến hành cải cách đất nước theo Lộ trình dân chủ bảy bước Như vậy, với xu thế toàn cầu hóa, tất cả các nước trên thế giới muốn tồn tại và phát triển đều phải tìm cho mình những hướng đi phù hợp Do vậy, việc thúc đẩy mối quan hệ giữa một nước lớn như
Trang 30Ấn Độ với một quốc gia láng giềng đang trong quá trình dân chủ hóa như Myanmar trở nên hết sức quan trọng, bởi lợi ích của cả hai nước, sự gắn kết để giải quyết những bất đồng, các bất ổn về an ninh biên giới là điều kiện cơ bản để hai nước thắt chặt quan hệ lẫn nhau và hội nhập sâu rộng vào dòng chảy của toàn cầu hóa
Bên cạnh đó, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và tác động sâu rộng tới mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội thế giới Khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin
và công nghệ sinh học có những bước tiến nhảy vọt và ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, từ đó làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội Đến đầu thế kỷ XXI, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với mũi nhọn là trí tuệ nhân tạo và tự động hóa thông minh đang làm thay đổi những nền tảng cốt lõi trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế và quốc phòng
an ninh Sự phát triển như vũ bão ấy đã phá vỡ những bức tường ngăn cách giữa Ấn Độ
và Myanmar, làm xuất hiện những yêu cầu bức thiết mang tính tự thân để giải quyết các tồn tại, thúc đẩy quan hệ kinh tế, chính trị giữa hai nước phát triển
Cuộc tranh giành các nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn tiếp tục diễn ra, trong đó dầu mỏ trở thành mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới Trung Quốc cần 67% nguồn dầu mỏ từ bên ngoài, Ấn Độ cũng phải nhập khẩu tới 70% dầu
mỏ [42, tr.40] Vì vậy, sự cạnh tranh trong việc tìm kiếm nguồn cung dầu mỏ cũng trở nên quyết liệt Điều này đã làm tăng tính cạnh tranh giữa các quốc gia ở những khu vực có trữ lượng dầu mỏ lớn như Trung Á, Trung Đông và châu Phi Myanmar là quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú, trữ lượng khí tự nhiên vào hàng thứ 13 - 14 trên thế giới và là nước có vị trí địa lý - chính trị khá quan trọng, do đó đã thu hút sự quan tâm của các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nhật Bản Trong bối cảnh đó, để không rơi vào tình trạng của một quốc gia nghèo khó và bị cô lập, quá trình dân chủ hóa của Myanmar để hòa vào dòng chảy chung của khu vực và thế giới, trước hết là ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á thu hút sự quan tâm của nhiều nước lớn, trong đó có Ấn Độ Ngoài ra, trong quan hệ quốc tế, cục diện đa cực với sự chi phối của các nước lớn, hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn Tuy nhiên, bên cạnh đó các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo, ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục đe dọa đến sự sống
Trang 31của con người, trong đó có Ấn Độ và Myanmar Ấn Độ vốn là một đất nước có nhiều chủng tộc và tôn giáo, do đó ở đây cũng luôn tiềm ẩn nguy cơ như tình hình chung của thế giới về vấn đề mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo Đặc biệt là vùng Đông Bắc tiếp giáp với Myanmar, nơi đây vốn là khu vực nghèo khó, lạc hậu và là nơi ấn náu của nhiều tổ chức chống chính phủ Do vậy, việc phối hợp giữa hai nước là điều kiện tiên quyết để giải quyết những vấn đề an ninh phi truyền thống trở nên hết sức cần thiết
Cùng với cục diện đa cực, thế giới cũng đang hiện diện xu thế vận động với ý đồ thiết lập một trật tự đơn cực, áp đặt những giá trị dân chủ theo kiểu phương Tây và
Mỹ Sự trừng phạt của Mỹ và phương Tây bằng hình thức cấm vận dưới ngọn cờ dân chủ đã đặt Myanmar trước tình thế cần phải tranh thủ phát triển và mở rộng các mối quan hệ với các quốc gia, các tổ chức trong khu vực như ASEAN, SAARC… Đó vừa
là điều kiện thuận lợi cho xu hướng dân chủ hóa lớn mạnh và thắng lợi ở Myanmar, đồng thời tác động sâu sắc đến lập trường của Ấn Độ Khi Myanmar thực hiện công cuộc cải cách dân chủ thì những rào cản cho sự phát triển và mở rộng các mối quan hệ với các nước, các tổ chức trong khu vực cũng thuận lợi hơn, trong đó bao gồm quan hệ
Ấn Độ và Myanmar
Những đặc điểm của tình hình thế giới đó làm cho bất kì một quốc gia nào cũng phải hoạch định, điều chỉnh chính sách của mình Ấn Độ và Myanmar phải nhanh chóng điều chỉnh chính sách đối ngoại, xích lại gần nhau, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Trong đó quá trình điều chỉnh ấy, nhân
tố lợi ích quốc gia nổi lên hàng đầu chi phối chính sách đối ngoại của mỗi nước, tạo nên những tác động to lớn đến diễn trình quan hệ Ấn Độ và Myanmar
Trang 32lớn Bước sang thế kỷ XXI, khu vực này đã có những bước tiến khá rõ nét được thể hiện bởi sức mạnh chính trị và tốc độ phát triển kinh tế tăng lên nhanh chóng so với các khu vực khác Xuất khẩu của khu vực này chiếm 30% tổng lượng xuất khẩu của thế giới, kim ngạch thương mại mỗi năm giữa khu vực này và Mỹ vượt 2/3 tổng sản lượng của thế giới
Tầm quan trọng về địa chiến lược và sự phát triển năng động đã biến châu Á - Thái Bình Dương trở thành khu vực có sự cạnh tranh chiến lược mạnh mẽ của các nước lớn Sự chuyển hướng chính sách đối ngoại của các nước lớn đều hướng về khu vực này như chính sách châu Á - Thái Bình Dương của Nga, chính sách hướng Nam của Nhật Bản, chính sách xoay trục của Mỹ Đó là những thuận lợi cho chiến lược phát triển kinh tế của các nước nhưng cũng đặt ra không ít thách thức cho các nước trong khu vực, trong đó có Ấn Độ và Myanmar Hai nước này phải không ngừng thay đổi để thích ứng
Bên cạnh những thuận lợi, châu Á - Thái Bình Dương còn gặp rất nhiều những khó khăn, thách thức như: Vấn đề tranh chấp biển đảo, sự căng thẳng trong các mối quan hệ song phương về an ninh, xung đột về sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa ly khai, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển đảo…, trong đó nhiều vấn đề có liên quan đến chủ quyền và an ninh quốc gia hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Ấn Độ và Myanmar Sự hợp tác chặt chẽ về kinh tế giữa các nước tạo nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng có nhiều thách thức khi sự cạnh tranh giữa các nước ngày càng quyết liệt
Dù vậy, xu thế chung vẫn là cùng tồn tại hòa bình, vừa hợp tác vừa đấu tranh nên khả năng xảy ra các cuộc chiến tranh lớn, đặc biệt là các cuộc chiến tranh hủy diệt khó có khả năng xảy ra
Sự trỗi dậy của Trung Quốc vào thập niên đầu của thế kỷ XXI đã thực sự gây ấn tượng mạnh cho cả thế giới Đến năm 2010, Trung Quốc đã có tổng GDP đạt 5.930 tỷ USD (Năm 2017, tổng GDP của Trung Quốc là 12,24 nghìn tỷ USD), vượt qua Nhật Bản, Đức, Pháp và Anh, vươn lên hàng thứ 2 thế giới sau Mỹ [163, tr.1] Sự phát triển
đó của Trung Quốc đã đưa nước này hướng đến một cách tiếp cận mới trong chính sách đối ngoại, với vị thế là một cường quốc thế giới mới Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 - 2008, Trung Quốc đã nhân cơ hội đó gia tăng ảnh hưởng, chiếm
Trang 33lĩnh nhiều “không gian chiến lược” mà Hoa Kỳ bỏ trống ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương Từ năm 2013, Tập Cận Bình trở thành lãnh đạo mới của Trung Quốc, “Giấc mộng Trung Hoa” được đẩy mạnh hơn thể hiện những khát vọng và thái độ của một cường quốc trong tham vọng đối với khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Với chiến lược chuỗi ngọc trai, Trung Quốc hiện đang đe dọa uy thế của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương trong đó đặc biệt là Đông Nam Á và Nam Á Nhân
tố Trung Quốc trở thành nhân tố tác động sâu sắc đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ với tư cách là một nước lớn ở Nam Á; tác động sâu sắc đến Myanmar với tư cách là một nước có quan hệ mật thiết lâu dài, thậm chí là phụ thuộc vào Trung Quốc sau Chiến tranh lạnh; và tác động sâu sắc đến quan hệ Ấn Độ - Myanmar với tư cách là một nước láng giềng lớn có chính sách “ngoại giao cường quyền” Cạnh tranh chiến lược Ấn - Trung tại Myanmar là nhân tố tác động sâu sắc đến quan hệ Ấn Độ - Myanmar
Ngược lại với Trung Quốc, vị thế của Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang có sự suy giảm nhất định Mặc dù vậy, với sức mạnh của một nền kinh tế với GDP đạt 19.485 tỷ USD năm 2017 [217], chi tiêu quốc phòng với 700 tỷ USD năm 2018, nước Mỹ vẫn là cường quốc mạnh nhất của thế giới trong nhiều thập niên tới Trong chiến lược quốc gia của thế kỷ XXI, Mỹ xác định khu vực châu Á - Thái Bình Dương là địa bàn quan trọng đối với an ninh quốc gia của Mỹ Chính quyền Mỹ vẫn luôn chú ý đến vị thế, vai trò của khu vực này đối với an ninh, kinh tế và chính trị của Hoa Kỳ Do vậy, Mỹ coi sự hiện diện thường xuyên ở khu vực này là đặc biệt quan trọng và phải giữ được “vai trò lãnh đạo chủ chốt” [31] để không có bất kì cường quốc nào nổi lên chống lại họ, đe dọa đến vị trí cường quốc thế giới của Mỹ Chính sách xoay trục, Tái cân bằng của Mỹ thời kỳ Tổng thống Barack Obama (2009 - 2016) và Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Tổng thống Mỹ Donald J.Trump cho thấy tầm quan trọng của khu vực này đối với sự tồn tại và phát triển của Hoa Kỳ trong tương lai Trong bối cảnh cạnh tranh với đối thủ tiềm tàng Trung Quốc đe dọa địa vị của Mỹ, mặc dù thực hiện chính sách “nước Mỹ trên hết, có đi có lại”, Mỹ cũng không từ bỏ mục tiêu lôi kéo các quốc gia Đông Nam Á, Nam Á hợp tác với Mỹ để bao vây, ngăn chặn Trung Quốc Trước hết
là việc duy trì và phát triển quan hệ với Ấn Độ đang trỗi dậy, sẽ giúp Hoa Kỳ đi sâu vào
Trang 34nội địa Nam Á, Ấn Độ Dương và châu Á Sự vươn lên của Ấn Độ sẽ tạo thành đối trọng với Trung Quốc ở châu Á - Thái Bình Dương Điều này sẽ có lợi cho Hoa Kỳ trong việc kìm chế Trung Quốc phục vụ cho vị thế, vai trò bá chủ của nước này ở đây Vì vậy, việc tăng cường quan hệ hợp tác với Ấn Độ là điều cấp thiết đối với Hoa Kỳ Thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ từng thừa nhận “Sự trỗi dậy của Ấn Độ dân chủ và ngày càng hùng mạnh đem lại cơ hội tích cực duy nhất để thúc đẩy những lợi ích toàn cầu của chúng ta” [101, tr.41] Do vậy, tính chiến lược của quan hệ Ấn - Mỹ có tác động thuận lợi cho quan hệ Ấn Độ - Myanmar trong cạnh tranh với Trung Quốc
Bên cạnh đó, khu vực Đông Nam Á cũng chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược
an ninh quốc gia Mỹ cho thế kỷ XXI Lợi ích chiến lược của Mỹ ở khu vực này được xác định là “Phát triển hợp tác khu vực và song phương, góp phần ngăn chặn và giải quyết xung đột và nâng cao mức tham gia của Mỹ trong nền kinh tế khu vực” [16, tr.56] Mục tiêu của Mỹ là nắm lại khu vực Đông Nam Á nhằm xây dựng vành đai liên kết an ninh từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á, thậm chí vươn sang Ấn Độ Dương, lập liên minh chiến lược châu Á Đồng thời lôi kéo các nước để đối phó với “mối đe dọa Trung Quốc” đảm bảo địa vị hàng đầu của Mỹ trong khu vực Đưa Đông Nam Á thành cứ điểm để cải thiện, phát triển quan hệ với Ấn Độ, liên kết với Ấn Độ trong quan hệ với Trung Quốc Từng bước chiếm lĩnh thị trường Đông Nam Á và mở rộng ra toàn bộ châu
Á - Thái Bình Dương Điều đó cho thấy tầm quan trọng của Đông Nam Á trong việc đảm bảo lợi ích chiến lược của Mỹ ở khu vực này và châu Á - Thái Bình Dương Do vậy, Mỹ không ngừng tăng cường sự hiện diện ở khu vực này
Với những tính toán mang tính chiến lược của Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và khu vực Đông Nam Á nói riêng, chúng ta có thể thấy đây là một địa bàn quan trọng đối với an ninh quốc gia Mỹ Trong đó, Ấn Độ và khu vực Đông Nam Á là những mắt xích quan trọng giúp Mỹ duy trì vị thế ở đây và tạo ra một đối trọng đối với Trung Quốc, đảm bảo “sự cân bằng chiến lược” cần thiết tại khu vực này
Do vậy, trong quan hệ giữa Ấn Độ - Myanmar, quan hệ Mỹ - Ấn Độ, Mỹ - Đông Nam
Á sẽ góp phần thuận lợi cho sự phát triển của mối quan hệ hai nước
Tầm quan trọng chiến lược của châu Á - Thái Bình Dương, không chỉ khiến Mỹ
“xoay trục” sang khu vực này, mà Nhật Bản trong bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh
Trang 35Lạnh cũng đã chủ trương quay trở lại châu Á để thực hiện “nhập Á nhập Âu” (Nhật Bản từng thực hiện chủ trương “thoát Á nhập Âu” dưới thời Minh Trị duy tân) Sự trỗi dậy đầy tham vọng của Trung Quốc với chiến lược hàng hải Con đường tơ lụa trên biển, kết hợp với việc triển khai sáng kiến “Vành đai và con đường” đã tạo nên thách thức lớn đối với Nhật Bản trong việc kiểm soát tuyến đường năng lượng đến Đông Á (Nhật Bản phải
“nhập khẩu gần 90% lượng dầu từ Trung Đông, khiến cho việc này dễ bị gián đoạn ở khu vực eo biển Hormuz hoặc trong các tuyến vận chuyển từ Trung Đông, cũng như eo biển Malacca và Biển Đông” [108, tr.123]) Do vậy, nỗ lực duy trì và đa dạng hóa các quan hệ đối tác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương là vấn đề quan trọng trong chiến lược của Nhật Bản trong việc đảm bảo cân bằng cán cân quyền lực ở châu Á Chiến lược trở lại châu Á của Nhật Bản, Ấn Độ và Đông Nam Á đều có vai trò quan trọng trong việc nâng cao vai trò và ảnh hưởng chính trị của Nhật trong khu vực Do vậy, trong chính sách của Nhật đối với mối quan hệ Ấn Độ - Myanmar sẽ có những tác động tích cực Bởi sự duy trì và phát triển quan hệ tốt đẹp với Ấn Độ và Đông Nam Á (trong đó có Myanmar) sẽ là điểm tựa cho Nhật Bản vươn lên ngôi vị cường quốc chính trị thế giới và tạo nên sự cân bằng quyền lực ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương Như vậy, với sự vận động và phát triển của khu vực châu Á - Thái bình Dương trong thế kỷ XXI, khu vực “sẽ trở thành trung tâm chiến lược quan trọng của thế giới” [212], các nước Mỹ, Nhật đều chuyển hướng trở lại đối với khu vực này Sự chuyển hướng của các nước nhìn chung có tác động quan trọng đến việc cân bằng quyền lực trong khu vực nói chung và ít nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ Ấn Độ - Myanmar trong những năm 1991 đến 2017
Khu vực Đông Nam Á án ngữ vị trí địa lý vô cùng quan trọng, với hệ thống cảng biển, eo biển và đường hàng hải thuận tiện nhất từ Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương Đông Nam Á còn là một khu vực có vị trí địa chiến lược - địa kinh tế quan trọng ở châu Á - Thái Bình Dương, bởi:
(1) Nằm trên tuyến đường biển nối liền các khu vực có tiềm lực kinh tế, chính trị
và quân sự Đông Bắc Á - Nam Á (Ấn Độ), Trung Đông - Đông Nam Á - Châu Đại Dương (Australia, New Zealand) và nhiều nước thuộc khu vực Thái Bình Dương (2) Có vị trí địa lý giáp Trung Quốc, Ấn Độ, có biển rộng lớn, nguồn tài nguyên
Trang 36thiên nhiên phong phú, có tuyến đường biển quan trọng với nhiều hoạt động vận tải lớn hàng đầu thế giới (khoảng 1/3 lượng vận chuyển hàng hóa thương mại và ½ lượng vận chuyển dầu lửa của thế giới qua eo biển Malacca), hàng năm có khoảng 50.000 tàu qua lại các loại (gấp đôi số lượng tàu qua kênh đào Suez và kênh đào Panama);
(3) Đông Nam Á còn là thị trường lao động đầy tiềm năng với hơn 500 triệu dân (số liệu năm 2000) [123], giá nhân công rẻ, có đội ngũ công nhân kỹ thuật trình độ chuyên môn hóa cao, đội ngũ nghiên cứu khoa học ở một số nước đạt tiêu chuẩn quốc
tế tạo ra sức thu hút hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài;
(4) Đông Nam Á là thị trường tiêu thụ đem lại lợi ích không nhỏ cho các hoạt động sản xuất, thương mại và dịch vụ Trên thực tế, Đông Nam Á đã trở thành bạn hàng lớn của Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) [44, tr.11]
Ngoài ra, Đông Nam Á còn là nơi giao thoa giữa các nền văn minh lớn, văn minh
Ấn Độ và văn minh Trung Quốc; nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi được xem là khu vực có nền kinh tế phát triển năng động nhất hiện nay; nằm trong vành đai sinh khoáng nên khu vực này giàu có về tài nguyên thiên nhiên… Với vị trí quan trọng trên con đường tiến về phía Đông của Ấn Độ, Myanmar trở thành một trong những điểm nút quan trọng trong quan hệ Ấn Độ - ASEAN
Bên cạnh những thuận lợi, các nước ASEAN cũng đang đứng trước những thách thức to lớn và đang có những nỗ lực nhằm duy trì vai trò trung tâm của các thể chế hợp tác đa khu vực Những vấn đề an ninh đe dọa tới sự ổn định của khu vực như là sự leo thang tranh chấp ở Biển Đông, tranh chấp chủ quyền trên biển giữa Trung Quốc với một
số quốc gia Đông Nam Á, mâu thuẫn, xung đột tôn giáo, sắc tộc xảy ra ở miền Tây Myanmar, miền Nam Philippines, miền Nam Thái Lan, Indonesia… Sự tranh giành ảnh hưởng giữa các cường quốc tại khu vực Đông Nam Á ngày càng diễn ra mạnh mẽ Với
vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế - chính trị, Đông Nam Á có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của nhiều nước lớn Trước bối cảnh trên, các nước ASEAN muốn giải quyết những vấn đề an ninh, giảm sức ép từ các nước lớn phải liên kết chặt chẽ với nhau Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 41 (AMM - 41), từ ngày
20 - 24/7/2008, tại Singapore đã thảo luận và thông qua một số nội dung chính trong đó
có nội dung quan trọng là thể hiện quyết tâm xây dựng “Cộng đồng ASEAN” trên cả 3
Trang 37trụ cột An ninh - Chính trị, Kinh tế và Văn hóa - Xã hội vào ngày 31 tháng 12 năm
2015 Quyết tâm này đã thành hiện thực, Cộng đồng ASEAN đã chính thức thành lập và ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng trong bàn cờ khu vực và thế giới
Ấn Độ là quốc gia thuộc khu vực Nam Á, tiếp giáp với đại dương lớn Ấn Độ Dương Trong thời kì Chiến tranh Lạnh, Ấn Độ là trụ cột của Phong trào Không liên kết Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, vai trò của Ấn Độ ngày càng giảm đi đáng kể Chính sách Hướng Đông (1991) và Hành động phía Đông (2014) của Ấn Độ đã nhanh chóng đưa nước này trở thành một đối tác mạnh mẽ với các nước ASEAN, từng bước khẳng định vị thế của một cường quốc khu vực Myanmar với tư cách là láng giềng phía Đông sẽ đảm nhiệm vai trò cầu nối quan trọng để nước này thâm nhập mạnh mẽ hơn vào khu vực Đông Nam Á và châu Á Thái Bình Dương
Myanmar là một quốc gia Đông Nam Á tiếp giáp với khu vực Nam Á, có lợi thế gia nhập vào các cơ chế hợp tác ở cả hai khu vực này Tuy nhiên, trong khuôn khổ của Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC), Myanmar mới chỉ là quan sát viên, đồng thời SAARC vẫn chưa thực sự hợp tác hiệu quả Hợp tác đa phương của Myanmar trong khuôn khổ nội khối ASEAN và giữa ASEAN với bên ngoài mới thực sự tạo cho Myanmar cơ hội hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Trên thực tế, trong 13 hiệp định thương mại tự do mà Myanmar tham gia cho đến nay đều trong khuôn khổ của ASEAN hoặc giữa ASEAN với tư cách là một khối với bên ngoài Quan hệ với Ấn Độ
cũng là con đường để mở rộng quan hệ của Myanmar với khu vực Nam Á
Như vậy, bối cảnh quốc tế, khu vực từ cuối thập niên cuối cùng của thế kỷ XX và thập niên đầu của thế kỷ XXI đã đưa đến những thay đổi lớn trong đời sống chính trị
và kinh tế của thế giới nói chung, của Ấn Độ và Myanmar nói riêng Môi trường hòa bình, ổn định và sự phát triển nhanh chóng, năng động của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, và của tổ chức ASEAN là nhân tố thúc đẩy mối quan hệ Ấn Độ - Myanmar phát triển mạnh mẽ sau Chiến tranh lạnh
2.1.3 Sự tác động của nhân tố Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia láng giềng có những mối liên hệ, gắn bó chặt chẽ về lợi ích với cả Ấn Độ và Myanmar Vì vậy trong mối quan hệ giữa Ấn Độ và Myanmar, Trung Quốc có những tác động không nhỏ đến diễn biến trong quan hệ chính trị, kinh
Trang 38tế giữa hai thực thể này trong thời gian từ 1991 đến 2017
Myanmar là quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, có chung biên giới với năm nước: Bangladesh 193 km, Trung Quốc 2.185 km, Ấn Độ 1.463 km, Lào 235 km và Thái Lan 1.800 km Với vị trí tiếp giáp như vậy, Myanmar trở thành chiếc cầu nối chiến lược giữa hai khu vực Nam và Đông Nam châu Á Trong số những quốc gia có đường biên giới chung với Myanmar, Trung Quốc là quốc gia có đường biên giới trên
bộ dài nhất, và Myanmar cũng là quốc gia láng giềng có vị trí địa - chính trị rất quan trọng đối với Trung Quốc Qua lãnh thổ Myanmar, sẽ cung cấp cho Trung Quốc tuyến đường bộ ngắn nhất, có thể dễ dàng có mặt ở khu vực Nam Á và Ấn Độ Dương Vì vậy, Myanmar sớm thu hút và nhanh chóng trở thành một mắt xích quan trọng cho những tham vọng của Trung Quốc đối với khu vực Ấn Độ Dương
Trung Quốc từng bước cải thiện và gia tăng quan hệ với Myanmar, nhất là từ năm 1988 Năm 1988, sau cuộc đảo chính quân sự ngày 18/9, chính quyền quân sự của Thủ tướng Saw Maung lên nắm quyền quản lý đất nước, trong bối cảnh kinh tế khủng hoảng, chính trị rối ren, chính trong thời điểm đó, Trung Quốc đã nhanh chóng thiết lập quan hệ tốt đẹp với chính phủ Myanmar và trở thành chỗ dựa tin cậy của chính quyền Myanmar
Trên thực tế, Trung Quốc đã lên tiếng bảo vệ Myanmar khi nước này bị Mỹ, phương Tây thi hành lệnh cấm vận, Thủ tướng Trung Quốc trong bài phát biểu của mình tại Thái Lan vào tháng 11/1988 đã khẳng định: “Trung Quốc nghiêm chỉnh tuân thủ chính sách không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, và Myanmar không phải là ngoại lệ Myanmar là một quốc gia láng giềng của Trung Quốc Chúng tôi mong rằng tình hình của Myanmar có thể được ổn định Mối quan hệ hiện có giữa Trung Quốc và Myanmar không bị dừng lại” [120, tr.44] Còn Myanmar cũng xem mối quan hệ với Trung Quốc là “quan hệ anh em” (Paul-Phaw relationship)
Bằng việc thiết lập mối “quan hệ anh em” với Myanmar, kể từ năm 2003 Trung Quốc là quốc gia nước ngoài duy nhất được phép xây dựng căn cứ quân sự tại đảo Coco của Myanmar ở Ấn Độ Dương [38, tr.181] Với việc độc quyền thuê quần đảo Coco và xây dựng các cơ sở ở đây, Trung Quốc không chỉ có thể theo dõi hoạt động hải quân tại bờ biển phía Đông của Ấn Độ, mà còn có thể do thám chương trình phóng
Trang 39tên lửa của New Delhi Ngoài ra, Trung Quốc còn đặt trạm nghe nhìn tại đảo Sittwe và đảo Zedetkyi Kyun để kiểm soát tuyến hàng hải qua eo biển Malacca Đồng thời, Trung Quốc còn xây dựng các quân cảng tại Gwada (Pakistan), Hambantota (Sri Lanka), Chitagong (Bangladesh) tạo thành chuỗi vòng cung (còn gọi là chuỗi ngọc trai) bao vây Ấn Độ Chưa hết, Trung Quốc còn giúp Myanmar xây dựng các căn cứ hải quân tại Sittwe, Hianggyi, Mergui và Zedetkyikyan thông qua việc xây dựng các trạm rada và cơ sở tái nạp nhiên liệu có thể hỗ trợ các hoạt động của tàu ngầm Trung Quốc qua vịnh Bengal
Ngoài ra, Trung Quốc còn cung cấp tài chính, hỗ trợ cho vay với lãi suất ưu đãi, giúp Myanmar khắc phục tình trạng khủng hoảng kinh tế trong nước Vì vậy, “Trung Quốc đã trở thành nhà cung cấp viện trợ phát triển chính cho Myanmar” [120, tr.45] Những động thái của Trung Quốc tại Myanmar không chỉ khiến Myanmar ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc mà thông qua việc phát triển mối quan hệ đó, Trung Quốc từng bước thực hiện những toan tính của mình đối với Ấn Độ, với khu vực Nam
và Đông Nam châu Á Điều đó đã tác động không nhỏ tới nhà cầm quyền của Ấn Độ trong việc hoạch định chính sách đối ngoại đối với nước láng giềng Myanmar Từ việc ủng hộ phong trào đấu tranh vì dân chủ một cách công khai và chủ động, cũng như lên tiếng phản đối những hành động của chính quyền quân sự Myanmar về vấn đề dân chủ, đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, Ấn Độ đã có những cân nhắc giữa lợi ích về kinh tế và lợi ích chiến lược, với vấn đề nhân quyền và dân chủ Và do đó, Ấn Độ đã thực thi Chính sách Hướng Đông, cải thiện quan hệ với Myanmar, và từng bước ngăn chặn những ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc ở Myanmar nói riêng và ở khu Nam và Đông Nam châu Á nói chung
Trong lúc đó, chính quyền Myanmar cũng nhận thấy việc duy trì mối quan hệ với Trung Quốc trong nhiều thập kỷ qua đã khiến cho Myanmar ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc, do đó, Myanmar quyết định phải có sự thay đổi Từ cuối thập niên
1990, Myanmar đã đa dạng hóa quan hệ với nhiều nước như Ấn Độ, Nga, Nhật Bản
và gia nhập tổ chức hợp tác khu vực ASEAN,… đồng thời từng bước giảm sự lệ thuộc vào Trung Quốc, như cho dừng một số dự án của Trung Quốc đang tiến hành ở Myanmar; quản lý chặt chẽ người Myanmar gốc Hoa; Và đồng thời “phủ nhận sự
Trang 40hiện diện của Trung Quốc ở Myanmar cũng như việc thiết lập một liên minh chiến lược với Trung Quốc” [8, tr.72]
Mặc dù vậy, Myanmar vẫn chưa thể tách rời với những ảnh hưởng của Trung Quốc, bởi Trung Quốc là nước có nền kinh tế và chính trị lớn mạnh hơn Ấn Độ, hơn nữa với những tham vọng của Bắc Kinh đối với khu vực Ấn Độ Dương, thì việc duy trì những lợi ích ở Myanmar là mang tính chiến lược Do đó, trong khi thúc đẩy quan
hệ với Myanmar, Ấn Độ cần có những bước đi khôn khéo để vừa có thể phát triển quan hệ với Myanmar vừa có thể hạn chế sự lớn mạnh của mối quan hệ Trung Quốc - Myanmar
Mặt khác, Ấn Độ nhận thấy những động thái chiến lược của Trung Quốc tại Myanmar là mối đe dọa trực tiếp đối với quyền lợi an ninh của mình tại khu vực Nam
Á và Đông Nam Á Điều đó đã khiến Ấn Độ thay đổi cách tư duy trong chính sách đối ngoại theo hướng thực dụng vì lợi ích quốc gia hơn là đề cao vấn đề dân chủ như trước Và đó cũng là vấn đề mà Myanmar muốn dựa vào Ấn Độ để đa dạng hóa các mối quan hệ, nhằm hạn chế những ảnh hưởng của Trung Quốc Do vậy, Trung Quốc là một nhân tố quan trọng để gắn kết mối quan hệ hai nước
Như vậy, trong quá trình phát triển quan hệ với Myanmar từ năm 1991 đến năm
2017, nhân tố Trung Quốc thường xuyên chi phối, tác động đến mối quan hệ này, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế Trung Quốc cũng được xem là đối thủ chính, thách thức Ấn Độ trong việc tăng cường và phát triển mối quan hệ với Myanmar
2.2 Khái quát quan hệ Ấn Độ - Myanmar trước năm 1991
Ấn Độ và Myanmar là hai nước láng giềng gần gũi, có nhiều điểm tương đồng về văn hóa, lịch sử Trong thời kỳ thuộc địa, Myanmar đã bị sáp nhập thành một bang của
Ấn Độ dưới sự cai quản của Toàn quyền Anh tại Ấn Độ
Ngày 04/1/1948, Miến Điện giành được độc lập Chào mừng sự kiện đó, Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru nhấn mạnh: “Trong quá khứ cũng như tương lai, người dân Ấn Độ sẽ kề vai sát cánh với người dân Miến Điện, cùng chia sẻ thuận lợi hay khó khăn Đây là một ngày tuyệt vời và long trọng không chỉ đối với Miến Điện, mà cả Ấn
Độ và cả châu Á” [131]