1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểu Truyện Hôn Nhân Người - Tiên Trong Truyện Cổ Việt Nam Và Đông Nam Á

310 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 310
Dung lượng 8,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên nền tảng lịch sử của sức mạnh giao lưu đó, người dân Việt Nam từ ngàn đời nay đã tiếp nhận và chuyển giao những yếu tố văn hóa, văn minh của bên ngoài vào truyền thống văn hóa, văn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN MINH THU

TRONG TRUYÖN Cæ VIÖT NAM Vµ §¤NG NAM ¸

Chuyên ngành: Văn học dân gian

Mã số: 9.22.01.25

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Phạm Thu Yến

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài Kiểu truyện hôn nhân người – tiên trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á là công trình nghiên cứu thực sự của cá

nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Thu Yến

Các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố dưới bất kì hình thức nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày… tháng … năm 2020

Tác giả

Nguyễn Minh Thu

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 5

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về kiểu truyện hôn nhân người - tiên ở Đông Bắc Á 7

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về kiểu truyện hôn nhân người - tiên ở Đông Nam Á 9

1.1.3 Lịch sử nghiên cứu về kiểu truyện hôn nhân người - tiên ở Việt Nam 13

1.2 GIỚI THUYẾT MỘT SỐ KHÁI NIỆM 16

1.2.1 Khái niệm nhân vật ―tiên‖ 16

1.2.2 Khái niệm ―hôn nhân‖ và hôn nhân ―người - tiên‖ 23

1.2.3 Khái niệm ―kiểu truyện‖ và ―kiểu truyện hôn nhân người – tiên‖ 23

1.2.4 Khái quát về Đông Nam Á 24

1.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 28

1.3.1 Lý thuyết loại hình học 28

1.3.2 Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa 32

1.3.3 Lý thuyết loại địa văn hóa 36

Tiểu kết chương 1 39

Chương 2: NHẬN DIỆN KIỂU TRUYỆN VÀ HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRONG KIỂU TRUYỆN HÔN NHÂN NGƯỜI - TIÊN CỦA VIỆT NAM VÀ ĐÔNG NAM Á 40

2.1 NHẬN DIỆN KIỂU TRUYỆN HÔN NHÂN NGƯỜI – TIÊN CỦA VIỆT NAM VÀ ĐÔNG NAM Á 40

2.1.1 Nhận diện kiểu truyện hôn nhân người - tiên của Việt Nam 40

2.1.2 Nhận diện kiểu truyện hôn nhân người - tiên của Đông Nam Á 47

Trang 4

TIÊN CỦA VIỆT NAM VÀ ĐÔNG NAM Á 52

2.2.1 Nhân vật trong kiểu truyện hôn nhân người - tiên của Việt Nam 53

2.2.2 Nhân vật trong kiểu truyện hôn nhân người - tiên của Đông Nam Á 62

2.2.3 Nhận xét 67

Tiểu kết chương 2 75

Chương 3: KẾT CẤU CỐT TRUYỆN VÀ HỆ THỐNG MÔ TÍP TRONG KIỂU TRUYỆN HÔN NHÂN NGƯỜI –TIÊN CỦA VIỆT NAM VÀ ĐÔNG NAM Á 77

3.1 CỐT TRUYỆN HÔN NHÂN NGƯỜI – TIÊN CỦA VIỆT NAM VÀ ĐÔNG NAM Á 77

3.1.1 Cốt truyện hôn nhân người - tiên trong truyện cổ Việt Nam 77

3.1.2 Cốt truyện hôn nhân người - tiên trong truyện cổ Đông Nam Á 81

3.1.3 Nhận xét 82

3.2 HỆ THỐNG CÁC MÔTÍP TRONG KIỂU TRUYỆN HÔN NHÂN NGƯỜI – TIÊN Ở VIỆT NAM VÀ ĐÔNG NAM Á 85

3.2.1 Hệ thống các môtíp trong kiểu truyện hôn nhân người - tiên ở Việt Nam 85

3.2.2 Hệ thống các môtíp trong kiểu truyện hôn nhân người - tiên ở Đông Nam Á 97

3.2.3 Nhận xét 105

Tiểu kết chương 3 116

Chương 4: LÝ GIẢI SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG KIỂU TRUYỆN HÔN NHÂN NGƯỜI – TIÊN Ở VIỆT NAM VÀ ĐÔNG NAM Á 117

4.1 LÝ GIẢI SỰ TƯƠNG ĐỒNG TRONG KIỂU TRUYỆN HÔN NHÂN NGƯỜI – TIÊN CỦA VIỆT NAM VÀ ĐÔNG NAM Á 117

4.1.1 Sự tương đồng nhìn từ góc độ địa văn hóa 117

4.1.2 Sự tương đồng nhìn từ góc độ tín ngưỡng tôn giáo 120

4.1.3 Sự tương đồng nhìn từ quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa 127

4.2 LÝ GIẢI SỰ KHÁC BIỆT TRONG KIỂU TRUYỆN HÔN NHÂN NGƯỜI – TIÊN CỦA VIỆT NAM VÀ ĐÔNG NAM Á 131

4.2.1 Sự khác biệt nhìn từ điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, lịch sử, văn hóa tộc người 131

Trang 5

4.2.3 Sự khác biệt dựa trên phương thức lưu truyền 144

4.2.4 Sự khác biệt dựa trên thiết chế về xã hội 147

Tiểu kết chương 4 148

KẾT LUẬN 149

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 152

TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 2.1.1 Thống kê nhóm truyện cổ Việt Nam 40Bảng 2.1.2 Thống kê nhóm truyện cổ Đông Nam Á 48Bảng 2.2.3.1 Thống kê điểm tương đồng về hệ thống các nhân vật trong 67Bảng 2.2.3.2 Thống kê điểm khác biệt về hệ thống các nhân vật trong truyện cổ của

Việt Nam và Đông Nam Á 71Bảng 3.1.3.2.2 So sánh cốt truyện Thi Thôn của Việt Nam và Đông Nam Á 84Bảng 3.2.3.1 Điểm tương đồng hệ thống các mô típ trong truyện cổ Việt Nam và Đông

Nam Á 106Bảng 3.2.3.2 Điểm khác biệt hệ thống các môtíp trong truyện cổ Việt Nam và Đông

Nam Á 111

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Việt Nam - một trong những quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, là nơi giao thoa, chịu ảnh hưởng khá sâu rộng của hai nền văn hóa cổ đại vĩ đại là Trung Hoa và Ấn Độ Trên nền tảng lịch sử của sức mạnh giao lưu đó, người dân Việt Nam

từ ngàn đời nay đã tiếp nhận và chuyển giao những yếu tố văn hóa, văn minh của bên ngoài vào truyền thống văn hóa, văn minh của dân tộc mình, đồng thời cũng phát huy ảnh hưởng của mình ra các nước khác,… Chính vì vậy, một bộ phận quan trọng của văn hóa Việt Nam là văn hóa dân gian với những tác phẩm sử thi, thần thoại, truyện cổ tích, thơ ca dân gian đã không tách rời nền văn hóa dân gian Đông Nam Á nói riêng và nền văn hóa châu Á nói chung mà luôn gắn bó, chứa đựng sâu sắc những nét tương đồng và dị biệt với nền văn hóa khu vực đó

1.2 Truyện kể dân gian được nảy sinh, phát triển trên cơ sở cuộc sống muôn hình muôn vẻ của các dân tộc và mang đậm tính chất dân tộc Nhưng nhiều truyện kể còn có tính chất quốc tế giống nhau cả về kết cấu, môtif, đề tài, nhân vật, hành động truyện… đó là tính lặp lại Vì vậy, khi nghiên cứu văn học dân gian theo phương pháp

so sánh - lịch sử, B N Putilốp đã xem ―tính lặp lại‖ như một đặc tính nổi bật của dòng văn học này [chuyển dẫn theo 47; 7]

Các nhà khoa học phát hiện ra ―tính lặp lại‖ nên xuất hiện nhiều khuynh hướng nghiên cứu truyện dân gian theo kiểu truyện (type) Thực tế nghiên cứu cho thấy rằng: không chỉ dừng lại ở biên giới một dân tộc, quốc gia, nhiều kiểu truyện còn mang các yếu tố tương đồng với các dân tộc rất xa nhau về địa lý, văn hóa Nhiều công trình đã thành công khi vận dụng các nguyên tắc này vào việc tìm hiểu các kiểu truyện như

kiểu truyện Thạch Sanh, kiểu truyện Cô tro bếp (Cinderella), kiểu truyện người em út, kiểu truyện người con riêng, kiểu truyện chàng ngốc, kiểu truyện người mang lốt,…Tiếp cận truyện kể theo hướng này sẽ giúp thấy được những nguyên tắc sáng tác

truyền thống của một thể loại qua cách xây dựng nhân vật, cách xây dựng cốt truyện, cách dẫn dắt, xâu chuỗi những tình tiết, motif trong truyện

1.3 Ở kho tàng truyện kể dân gian thế giới nói chung và các nước trong khu

vực Đông Nam Á nói riêng, kiểu truyện hôn nhân người - tiên là một trong những kiểu

truyện phổ biến quen thuộc lôi cuốn hấp dẫn Kiểu truyện này gắn bó chặt chẽ với đặc điểm tự nhiên, địa danh, phong tục tập quán, lễ hội,… liên quan đến đời sống văn hóa

dân tộc, quốc gia Nhận ra sức hấp dẫn của kiểu truyện hôn nhân người - tiên trong

kho tàng truyện kể dân gian nên đã có một số công trình nghiên cứu đạt thành tựu lớn

ở các nước Đông Bắc Á như “Kiểu truyện trinh nữ Thiên Nga”,“Nghiên cứu về kiểu truyện Chàng Ngưu và Nàng tiên dệt vải” Công trình ―Nghiên cứu so sánh văn hóa

Trang 8

dân gian của Nhật Bản và Inđônêsia‖, tác giả James Danandjaja đã so sánh kiểu truyện Chàng Ngưu và Nàng Tiên dệt vải hoặc công trình “Khảo sát và so sánh một số típ và môtíp truyện cổ dân gian Việt Nam - Nhật Bản”“Nghiên cứu so sánh một số type truyện cổ tích của Việt Nam và Hàn Quốc” tác giả Park yeon kwan cũng đã đề cập về type truyện người lấy vợ hoặc chồng tiên trong truyện cổ tích của Việt Nam, Hàn

Quốc, Nhật Bản,… Nhưng từ trước đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về

kiểu truyện hôn nhân người - tiên trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á

Việc nghiên cứu văn học ở các nước trong khu vực Đông Nam Á, còn có ý nghĩa làm thay đổi nhận thức của giới văn nghệ và văn học của Việt Nam chỉ ―quen thuộc những chủ nhân từ phương xa - vốn xa lạ với chúng ta trên nhiều phương diện, trong khi đó chúng ta lại rất lạ với người bà con ở ngay bên cạnh - vốn rất gần gũi, có quan hệ gắn bó về mọi mặt với chúng ta trong cộng đồng khu vực mà chúng ta là một thành viên‖ [80; 57]

1.4 Trong tình hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang xích lại gần nhau trong

xu thế hòa bình thì nhu cầu tìm hiểu, trao đổi và giao lưu về kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ngày càng mạnh mẽ, nó chính là động lực phát triển cho nghành du lịch Đông Nam Á là một trong những khu vực có ý nghĩa quan trọng trở thành ―ngã tư đường‖, cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản với khu vực Tây Á và Địa Trung Hải Không chỉ vậy, Đông Nam Á có điều kiện tự nhiên thuận lợi: Khí hậu tính chất gió mùa nóng và

ẩm tạo nên môi trường sinh thái đa dạng Các nước Đông Nam Á lục địa có nhiều dòng sông lớn: Sông Mêkông, sông Chao Phraya, sông Irawadi Còn các nước Đông Nam Á hải đảo – tập trung những ngọn núi lớn như dãy núi thiêng Penanggungan, Puncak Jaya hình ảnh những ngọn núi đã ảnh hưởng đến vũ trụ quan của những người dân nơi đây Chính những điều kiện tự nhiên ấy, tạo điều kiện cho ngành du lịch văn hóa ở các nước Đông Nam Á phát triển Có nhiều địa danh của Đông Nam Á được gắn

với câu chuyện hôn nhân người – tiên nên nghiên cứu kiểu truyện hôn nhân người – tiên trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo

tồn lưu giữ các địa danh, phong tục, tập quán tín ngưỡng, các điệu múa, của các tộc

người trong cuộc sống thực tại

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài với mong muốn tìm đến

những chứng cứ xác thực, minh chứng cho sự đặc sắc của kiểu truyện, qua đó có cái nhìn cơ bản, đa diện, đa chiều về kiểu truyện từ những nền văn hóa của các tộc người khác nhau trong cùng một khu vực

Trang 9

khu vực để có thể hiểu được những quy luật vận động của kiểu truyện trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể

Thứ hai, góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa tín ngưỡng, phong tục tập quán của các dân tộc trong khu vực, sự hiểu biết về văn hóa giữa các tộc người và đáp ứng

về nhu cầu du lịch văn hóa tâm linh

Thứ ba, xác lập một hệ thống các bản kể không chỉ làm tư liệu khảo sát phục vụ

đề tài mà còn làm nguồn tư tiệu tham khảo về lâu dài, nếu có điều kiện thuận lợi, có

thể bổ sung để cho ra đời một tuyển tập truyện cổ có nội dung hôn nhân người – tiên

của khu vực Đông Nam Á

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Để đạt được những mục đích trên, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ của luận án như sau: 3.1 Xác lập khung lý thuyết cơ bản và giới thuyết những khái niệm cơ bản liên

quan đến đề tài kiểu truyện hôn nhân người - tiên trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á

3.2 Tập hợp, thống kê số lượng, khảo sát kiểu truyện hôn nhân người - tiên trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á

3.3 Chỉ ra diện mạo và đặc điểm của kiểu truyện hôn nhân người - tiên trong truyện cổ Việt Nam

3.4 Từ các đặc điểm của kiểu truyện này trong kho tàng truyện kể Việt Nam nhìn ra đặc điểm của kiểu truyện trong kho tàng truyện kể Đông Nam Á

3.5 So sánh những điểm tương đồng và khác biệt của kiểu truyện ở Việt Nam và các nước trong khu vực trên phương diện nhân vật, motif, kết cấu… của kiểu truyện Lý giải những nét tương đồng và khác biệt trong truyện kể dân gian nói riêng, trong văn hóa của các quốc gia nói chung từ đặc điểm tự nhiên, địa danh, phong tục tập quán, lễ hội, tư duy nghệ thuật, tâm lý, tính cách của các tộc người trong khu vực…

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của luận án là kiểu truyện hôn nhân người - tiên trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á Chúng tôi tiến hành nghiên cứu chính trên 40

tổng tập, tuyển tập và tập truyện cổ của các dân tộc thiểu số, truyện cổ các nước thuộc

khu vực Đông Nam Á đã được sưu tầm, biên soạn và xuất bản

Phạm vi nghiên cứu:

Về phạm vi tư liệu của luận án, chúng tôi khảo sát được 59 truyện kể của Việt Nam và 47 truyện kể của một số nước khác thuộc khu vực Đông Nam Á từ các tổng

tập, tuyển tập và trang văn hóa dân gian của các nước trong khu vực Tuy nhiên, chúng

tôi gặp khó khăn lớn nhất là vấn đề nguồn tư liệu khảo sát truyện kể các quốc gia Đông Nam Á còn hạn chế, nhiều truyện của khu vực chưa được các nhà sưu tầm,

tuyển tập trong nước và nước ngoài dịch sang tiếng Việt, tiếng Anh

Trang 10

Nếu đặt việc so sánh ngang bằng truyện kể Việt Nam và các quốc gia khác thuộc Đông Nam Á, trong tình hình tư liệu không thể bao quát đầy đủ rất dễ sa vào tình trạng ―Thầy bói xem voi‖, ―Nhìn cây mà chẳng thấy rừng‖ Từ thực tế khó khăn

ấy, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu là đi sâu vào đặc điểm truyện kể hôn nhân người – tiên ở Việt Nam làm nhiệm vụ cơ bản và đặt nhóm truyện kể của Việt Nam

trong bối cảnh Đông Nam Á Ở một mức độ nhất định, luận án khảo sát đặc điểm nguồn truyện cổ của một số quốc gia Đông Nam Á, trên cơ sở đó so sánh, lý giải những tương đồng, khác biệt kiểu truyện này ở Việt Nam với truyện của các quốc gia khác ở Đông Nam Á

Trong phạm vi nghiên cứu kiểu truyện, chúng tôi không nghiên cứu về nhân vật

―tiên‖ mang lốt mà chúng tôi nghiên cứu về nhân vật ―tiên‖ (nữ, nam) xuất hiện trực tiếp ở dáng hình của con người ngay trong lần đầu gặp gỡ vì đã có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về kiểu nhân vật này Trong kho tàng truyện kể có số lượng lớn

những truyện kể về tình yêu người – tiên, không có yếu tố hôn nhân cũng không thuộc

đối tượng khảo sát của luận án vì chúng tôi sẽ rất khó bao quát được hết tư liệu ở một

số quốc gia ở Đông Nam Á

Việt Nam là Quốc gia đa dân tộc, chúng tôi sẽ xin phép đi sâu vào truyện của một số dân tộc có số lượng truyện chiếm ưu thế hơn, đại diện cho từng vùng văn hóa

và tiêu biểu cho một ngữ hệ

Trong số 11 quốc gia Đông Nam Á có lưu truyền kiểu truyện này, mỗi quốc gia

có số lượng nhiều, ít khác nhau Một số quốc gia chúng tôi chỉ tìm thấy một bản kể Luận án sẽ tập trung đi sâu vào một số quốc gia có số lượng truyện kể có ít nhất từ 3 truyện trở lên

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp thống kê - phân loại: được sử dụng trong việc khảo sát, phân

loại và so sánh đối chiếu Qua phương pháp thống kê, chúng tôi có được các số liệu để phân loại các truyện kể; cũng qua đấy thấy được sự phân bố của kiểu truyện ở các dân tộc, quốc gia, khu vực hay châu lục Đồng thời, qua phương pháp này, chúng tôi có những số liệu tin cậy, làm cơ sở để đưa ra những lý giải thích hợp, những kết luận,

khái quát khoa học

Phương pháp phân tích – tổng hợp

Sau khi đã hoàn thành bước thống kê tư liệu – phân loại, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích tư liệu Các truyện kể sẽ được phân tích tỉ mỉ từng chi tiết và đánh giá trên quan điểm phân tích một tác phẩm nghệ thuật dân gian hoàn chỉnh Trong quá trình khảo sát, chúng tôi chú ý phân tích nội dung các truyện, phân tích các nhân vật tham gia vào diễn tiến truyện và một số motif của kiểu truyện để từ đó tổng hợp, rút ra nhận xét, đánh giá bản chất, đặc trưng của kiểu truyện

Trang 11

Phương pháp hệ thống cấu trúc được sử dụng như là phương pháp nền tảng

để khai thác những thành tố cấu thành chỉnh thể nghệ thuật tác phẩm và mối quan hệ nội tại bên trong tác phẩm nghệ thuật Trong đó, thao tác phân lớp đối tượng, chia nhỏ các thành tố bộ phận, sắp xếp chúng vào cùng một hệ thống và thống kê, phân loại các đơn vị đã phân chia,… luôn hỗ trợ đắc lực trong quá trình khảo sát đối tượng

Phương pháp so sánh loại hình: Được sử dụng hiệu quả, giúp chúng tôi tiến

hành so sánh đối chiếu kiểu truyện hôn nhân người - tiên trong truyện cổ Việt Nam với kiểu truyện cùng loại trong nhóm truyện cổ ở các nước Đông Nam Á để thấy được

những tương đồng và dị biệt về nhân vật, kết cấu, motif,… của kiểu truyện ở các dân tộc, đất nước trong cùng một khu vực; so sánh kiểu truyện nhằm phát hiện và lý giải những vấn đề nguồn gốc xã hội, cội nguồn văn hóa, môi trường nảy sinh… của kiểu

truyện; so sánh để thấy được nét gặp gỡ, giao thoa trong kiểu truyện hôn nhân người – tiên của các dân tộc ở Đông Nam Á chịu (hoặc không chịu) ảnh hưởng về văn hóa, xã

hội, lịch sử,…

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Luận án sử dụng phương pháp và kết

quả nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau như văn hóa học, lịch sử, địa lý và đặc biệt dân tộc học, đặt cơ sở cho những kiến giải về các vấn đề về nội dung truyện kể của các tộc người trong khu vực Đông Nam Á

Phương pháp nghiên cứu điền dã: Phương pháp này được sử dụng trong quá

trình khảo sát, điền dã tại một số nơi sản sinh và lưu truyền ra các câu chuyện có nội dung

kể về hôn nhân Người – Tiên như xã Phật Tích, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh, chùa Âng thuộc tỉnh Trà Vinh và các địa danh khác trong khu vực như Thái Lan … Việc sưu tầm này, bước đầu cho chúng tôi một cái nhìn thực tế, toàn diện hơn về nhân vật ―tiên‖ trong

kiểu truyện hôn nhân người - tiên trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á

6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Về mặt đề tài:

+ Luận án là công trình đầu tiên tập hợp và nghiên cứu một cách hệ thống về kiểu

truyện hôn nhân người – tiên trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á

Về mặt tư liệu: chúng tôi đã chuyển dịch 37 truyện kể của Đông Nam Á có nội

dung hôn nhân người - tiên từ tiếng Anh sang Tiếng Việt mà chưa được xuất bản tại

Việt Nam giúp cho người đọc hiểu biết thêm về kiểu truyện này ở Đông Nam Á

+ Kết quả nghiên cứu về kiểu truyện sẽ làm rõ những đặc điểm của kiểu truyện này

ở Việt Nam và Đông Nam Á Chỉ ra nét tương đồng và khác biệt trên các bình diện thi pháp: cốt truyện, nhân vật, mô tif, không gian, thời gian nghệ thuật của kiểu truyện

+ Thông qua việc phân tích, so sánh, luận án tiến tới giải mã các mã văn hóa ẩn

chứa trong kiểu truyện Từ đó, kiểu truyện hôn nhân người - tiên trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á sẽ khơi dậy tình cảm thẩm mĩ và làm sáng tỏ bản sắc văn hóa

Trang 12

dân tộc độc đáo của các nước trong khu vực; đồng thời, giúp ta hiểu thêm về phong tục, tập quán, địa danh các quốc gia trong xã hội hiện đại, đặc biệt trong du lịch sinh thái, việc gìn giữ môi trường,

- Luận án còn là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích cho các giảng viên, giáo viên,

học sinh các trường học, những người có nhu cầu tìm hiểu về hôn nhân người - tiên trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á

Về mặt thực tiễn: Gắn địa danh với các câu chuyện có giá trị hiện hữu về mặt

du lịch, hiểu sâu bản sắc văn hóa, phong tục, tín ngưỡng, các điệu múa của các tộc người trong khu vực Đông Nam Á để bảo vệ nó trong cuộc sống thực tại

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án kết cấu thành

4 chương

Chương 1: Tổng quan lịch sử nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 2: Nhận diện kiểu truyện và hệ thống nhân vật trong kiểu truyện hôn

nhân người - tiên của Việt Nam và Đông Nam Á

Chương 3: Kết cấu cốt truyện và hệ thống motif trong kiểu truyện hôn nhân

người - tiên của Việt Nam và Đông Nam Á

Chương 4: Lý giải sự tương đồng và khác biệt trong kiểu truyện hôn nhân

người - tiên của Việt Nam và Đông Nam Á

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về kiểu truyện hôn nhân người - tiên ở Đông Bắc Á

Năm 1932, tác giả Chung Kính Văn đã bước đầu tìm hiểu về Kiểu truyện nàng tiên thiên Nga Trung Quốc Cho đến năm 1937, tác giả Holmstrom có dẫn chứng cụ thể để

chứng minh kiểu truyện Nàng tiên thiên nga phổ biến ở vùng Đông Á qua các nguồn tư liệu của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc [177; 57] Trong chương 2 với tiêu đề:

―Những câu chuyện cổ tích về hôn nhân của người vợ siêu nhiên biến mất qua hình tượng chim Thiên Nga‖, tác giả Holmstrom đã đưa ra định nghĩa để nhận diện về kiểu truyện nàng tiên thiên nga, đồng thời, ông cũng trình bày ngắn gọn về motif nàng tiên thiên nga

như sau: Một người đàn ông đánh cắp bộ áo lông vũ từ một nàng tiên thiên nga đang tắm sau đó buộc nàng phải kết hôn với anh ta Sống với nhau được một thời gian, người vợ này đã tìm lại được bộ áo lông vũ rồi ngay lập tức bay lên không trung Trong truyết thuyết, câu chuyện thường kết thúc ở đây; trong truyện cổ tích thường kết thúc có hậu kể

về hành trình gian khổ của người chồng trong quá trình tìm vợ [177; 55-86]

Năm 1987, tác giả Alan L Miller đã viết hai bài nghiên cứu: ở bài thứ nhất

"Cấu trúc và biểu tượng về nàng tiên dệt vải trong huyền thoại Nhật Bản‖ đã chỉ ra

cấu trúc của kiểu truyện nàng tiên hạc dệt vải và những điều cấm kị Từ việc phân tích cấu trúc nghệ thuật của kiểu truyện, tác giả đã lí giải đặc trưng văn hóa tôn giáo của

đất nước Nhật Bản [176; 309-327]; ở bài thứ hai “Bàn luận về Nàng Tiên Thiên Nga:

Ý nghĩa của truyện dân gian “Người vợ siêu nhiên” có liên quan đặc biệt đến tôn giáo của Nhật Bản”, tác giả Alan L Miller khái quát lại nội dung kiểu truyện, qua đó, chỉ ra

cấu trúc tôn giáo của kiểu truyện, rồi chứng minh lớp văn hóa đầu tiên hình thành nên kiểu truyện này là ở Nhật Bản được bắt nguồn từ tục thờ nữ thần

Năm 2001, luận văn ―Nghiên cứu về câu truyện Thiên Nga ở Trung Quốc‖ tác giả

Sơn Gun thuộc trường Đại học Tương Đàm đã chỉ ra nguồn gốc của các loại truyện trinh

nữ thiên nga ở Trung Quốc từ góc độ diachronic (lịch đại) Sau đó, phần tiếp theo của luận văn phân tích sự lặp lại qua các chi tiết: Các nàng tiên tắm trong các hồ nước cho đến chi tiết các nàng tiên bị cưỡng ép phải lấy chàng trai người trần, rồi chi tiết nuôi dạy con cái,

để tìm hiểu gốc văn hóa và niềm tin ban đầu về hình ảnh bà tiên trong kiểu truyện Nàng tiên Thiên Nga ở Trung Quốc [196]

Năm 2015, tác giả Jiang Guifang thuộc Viện Văn hóa và Ngôn ngữ Đông Nam Á,

viết luận văn nghiên cứu về đề tài “Nghiên cứu kiểu truyện Trinh nữ thiên nga của người Tày

ở miền Bắc Việt Nam‖ Trong chương đầu tiên, tác giả đã định nghĩa ngắn gọn câu chuyện về

―Trinh nữ thiên nga‖ của người Yue ở phía bắc đất nước Trung Quốc, và chọn 8 ví dụ điển

Trang 14

hình về kiểu truyện của người Tày ở miền Bắc Việt Nam (5 truyện ở phía Đông bắc, 3 truyện

ở phía Tây bắc) Trong chương thứ hai, tác giả đã phân tích và phân loại các mô típ của tám

bài tiểu luận khác nhau về câu chuyện "Trinh nữ thiên nga" điển hình của người Tày ở phía

bắc Việt Nam Qua phân tích mô típ, tác giả nhận thấy những câu chuyện như vậy của người Tày ở phía bắc đất nước có những mô típ độc đáo, như ăn gạo nếp năm màu, nguồn gốc của con gà trống (mòng biển đuôi đỏ, dế) Trong chương thứ ba, tác giả đã phân tích ý nghĩa văn

hóa của câu chuyện ―Trinh nữ thiên nga‖ của người người Tày ở phía Bắc Việt Nam, và thấy

rằng câu chuyện chứa đựng văn hóa truyền thống phong phú và độc đáo của người dân nơi đây [198] Ngoài ra, có một số những bài nghiên cứu về kiểu truyện nàng tiên thiên nga như

―Câu chuyện nàng tiên thiên nga – Người ngoài hành tinh” in trên tạp chí Hăc Long Giang vào năm 1988 (赫哲族天鹅处女型故事的异式 - 黑龙江民族丛刊》1988年04期); Nguồn gốc kiểu truyện nàng tiên thiên nga được in trên tạp chí Triết học số 5 năm 2003 và

nghiên cứu văn hóa dân gian số 2 năm 2006 Đây là những công trình nghiên cứu công phu, các nhà nghiên cứu đã tập hợp được 280 câu chuyện cùng với những dị bản về tình yêu và hôn nhân giữa con người và nàng tiên chim thiên nga với ba loại: Truyện về nàng tiên dệt vải, truyện công chúa chim công, nàng tiên lông vũ Truyện nàng tiên dệt vải được người ta tìm thấy đầu tiên trên thế giới trong truyện kể dân gian Virgin (Cô gái trinh nữ) Nội dung của câu chuyện đều kể về những nàng tiên trinh nữ vui đùa trong hồ nước thì bị các chàng trai lấy cắp chiếc áo choàng Sau đó, nàng tiên buộc phải lấy chàng trai làm chồng, sống hạnh phúc được một thời gian, rồi nàng tiên tìm được bộ váy của mình nên đã bay trở về trời Người nghiên cứu đã đi tìm hiểu về nguồn gốc của câu chuyện là được bắt nguồn từ địa phương sau đó tiếp thu những cốt truyện khác vào nội dung câu chuyện để tạo nên một kết cấu hấp dẫn

So sánh truyện trinh nữ thiên nga ở Trung Quốc và Ả Rập (中国与阿拉伯天鹅处女

型故事比较 _企业 导报 2016 13); văn hóa thờ Hổ cũng góp phần quan trọng vào kiểu truyện nàng tiên thiên nga (虎皮井‖故事的文化渊源及其对中国―天鹅处女型‖故事的基干情节 贡献của tác giả 李传江;) in trên tạp chí văn hóa số 6 năm 2013; Một số những lí giải về nền văn hóa của Trung Quốc ở thế kỉ 20 thông qua 4 truyện kể dân gian lớn: Rắn trắng, chàng trai chăn trâu và nàng Tiên dệt vải, Meng Jiangnu, Liang Shanbo and Zhu Yingtai (Old Tales for

New Times: Some Comments on the Cultural Translation of China's Four Great Folktales in the Twentieth Century (author Wilt L IDEMA) trên tạp chí Taiwan Journal of East Asian

Studies, Vol 9, No 1 (Issue 17), June 2012, pp 25-46) Phân tích cấu trúc cốt truyện Trinh Nữ

ở một số dân tộc ít người của Trung Quốc in trên tạp chí đại học Thiều Quan số 3 năm 2016 (

中国少数民族天鹅处女型故事情节结构分析 tác giả 黄景春 张淦 ) Nghiên cứu về loại truyện dân gian của người Miêu: Nghiên về tình huống câu chuyện trinh nữ Thiên Nga của người Miêu trên tạp chí văn học số 6 Miền Bắc năm 2017: 苗族民间故事类型的地域性研究——以苗族―天鹅处女‖型故事为例, 北方文学 2017年06期 )

Trang 15

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về kiểu truyện hôn nhân người - tiên ở Đông Nam Á

Năm 1984, bài“Nghiên cứu so sánh bản kể nàng tiên Thiên Nga của Thái (theo tiếng Phạn) và Trung Quốc, tác giả Toshiharo chứng minh nguồn gốc câu chuyện qua

góc độ nhân vật Nhân vật nàng tiên trong bản kể của người Thái là Kinaree được biết đến với tên gọi là Manora (nghĩa gốc từ Manohara trong tác phẩm Pali có tên

là Pannas Jataka) do một cao tăng Phật giáo ở Chiang Mai ghi chép vào khoảng năm 1450-1470 kể về câu chuyện tình của Hoàng tử Suthon và công chúa Manohara Pannas Jataka là một tuyển tập gồm 50 truyện tiền kiếp của Đức Phật, được các tín đồ coi là thuộc kinh Bản sanh (Jataka) Câu chuyện này đã sản sinh ra điệu múa Manorah Buchayan, một điệu múa bí truyền phổ biến ở miền Nam Thái Lan Tác giả đã so sánh

truyện Hoàng tử Suthon và công chúa Manohara với truyện Công chúa chim công ở Trung Quốc, Sudhanakumara Avadana trong cuốn kinh phật giáo Divya Avadana ở

Ấn Độ Bài nghiên cứu này là tư liệu quan trọng giúp người viết có căn cứ tham khảo

về nguồn gốc của truyện Thi Thôn (dân tộc Lào) ở Việt Nam [190]

Vào năm 1995, bài ―Nghiên cứu so sánh về văn hoá dân gian của Nhật Bản và Indonesia”, tác giả James Danandjaja đã so sánh kiểu truyện Chàng Ngưu và Nàng tiên dệt vải Tác giả chỉ ra đây là kiểu truyện phổ biến được tìm thấy ở Ấn Độ, Tây Ban Nha,

Đức, Pháp, Ả Rập, Ba Tư, Polineia, Micronesia, và Eskimo Tại Inđônêsia, kiểu truyện này xuất hiện ở một số dân tộc bị ảnh hưởng bởi nền văn hoá Hán (Trung Quốc) như

Đông Java, trung tâm Java và Bali với huyền thoại: The Legend of Pasir Kujang, Joko Tarub (Đông Java), Vua Pala (tại Bali) Nội dung của những câu chuyện này đều kể về

nàng tiên chim có nguồn gốc từ trời, xuống trần gian tắm ở hồ (suối) rồi bị các chàng trai người trần bắt gặp Những chàng trai ấy đã lấy cắp bộ cánh buộc nàng tiên phải lấy chàng

trai làm chồng gọi là Kiểu truyện nàng tiên thiên nga Nghiên cứu về kiểu truyện nàng

tiên thiên nga đã góp phần không nhỏ vào cách lí giải thấu đáo về sự ảnh hưởng của nền văn hóa Hán đối với một số quốc gia Đông Nam Á cổ [171; 211]

Năm 2013, bài nghiên cứu ―So sánh nền văn hóa dân gian ở các quần đảo: Môtíp câu chuyện về các thiên thần (hay các nàng tiên) của tác giả NFN Rohim Tác giả đã chỉ ra trong văn hóa Inđônêsia có rất nhiều câu chuyện kể về hôn nhân ―người - tiên‖ như ở đảo Sumatra có năm câu chuyện: Malem Dewa, Puteri Bensu, Tupai Malendewa, Sidang Belawan, Malim Deman dengan Putri Bungsu; đảo Java có hai truyện: Sumur Tujuh, Jaka Tarub; đảo Madura

có 1 truyện: Arya Menak Kawin dengan Bidadari; đảo Bali có 1 truyện: Tiga Piatu; đảo Sulawesi có 10 truyện: Manusia Pertama di Kepulauan Talaud Gumansalangi, TulaTulano Ratono Fitu Ghulu Bidhadhari, Oheo, Putri Satarina, I Kacaq Parukiq, PoloPadang, Orang yang Memperistri Putri dari Kayangan, Orang yang Menjelma dari Kayangan, SilangGading dan Topi Omas, Telaga Bidadari, Meraksamana dan Siraiman, Putri Kayangan Nhưng tác giả chỉ so sánh tập trung nghiên cứu ở hai văn bản cụ thể là

Trang 16

“Mamanua” và “Oheo” dựa trên 7 môtíp: môtíp đi tắm của các nàng tiên, môtíp trộm

cánh của các nàng tiên, môtíp lời cấm kị và vi phạm lời cấm, môtíp nàng tiên tìm được cánh, môtíp người chồng đi tìm vợ tiên ở thế giới khác, môtíp vượt qua thử thách, môtíp đoàn tụ trở về trần gian Từ đó, tác giả tìm hiểu về các lĩnh vực khác nhau như triết học, lịch sử, khoa học xã hội, tôn giáo và các hình thức nghệ thuật khác qua hai truyện này Bài

nghiên cứu này đã giúp cho chúng tôi có một cách nhìn sâu hơn về kiểu truyện hôn nhân người – tiên ở Inđônêsia [185; 26 -37]

Năm 2014, Yaswinda Feronica, Rakhmat Soleh, S.S.M.Hum nghiên cứu trực

tiếp câu chuyện Malim Deman dưới góc độ liên văn bản Malim Demam là một câu chuyện xuất phát từ nền văn học cổ điển Malay Nội dung của Malim Demam kể về

hôn nhân của một người đàn ông ở dưới trái đất với một thiên thần từ trên trời xuống

trần gian Anh ta đã đánh cắp bộ cánh của cô Câu chuyện về Malim Demam đã lan

rộng ra khắp quần đảo Inđônêsia và tồn tại cho đến ngày hôm nay Bài nghiên cứu

này, tác giả liên hệ giữa truyện Malim Demam với ba truyện kể khác có nội dung tương tự như Legenda Jaka Tarub, Legenda Lahilote và Legenda Telaga Bidadari Bốn câu chuyện được cho là có mối quan hệ liên văn bản dưới dạng tương

đồng và khác biệt về các yếu tố nội tại trong cấu trúc của câu chuyện chẳng hạn: Cốt truyện, nhân vật, hành động, bối cảnh và ý nghĩa câu chuyện Hơn nữa, nghiên cứu

cũng cho thấy Malim Demam tuân thủ chức năng của văn học Malay cổ điển và ý

nghĩa của câu chuyện dựa trên văn hóa xã hội [191] Ngoài bài nghiên cứu truyện

Malim deman dưới góc độ liên văn bản còn có bài nghiên cứu so sánh truyện Malim deman (Rokan Hulu Regency) với truyện Mahligai Keloyang (Indragiri Hulu

Regency) của tác giả Sri Sabakti Bài nghiên cứu này nhằm mục đích tìm điểm tương đồng và sự khác biệt ở nội dung cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh gặp gỡ, bài học giá trị đạo đức qua hai câu chuyện Qua đó, nhà nghiên cứu đi tìm sự lan tỏa nền văn hóa của các huyện trên cùng đảo Riau và chứng minh văn hóa của các dân tộc nơi đây đã thấm sâu vào nội dung của hai bản kể này [187; 97 - 114]

Năm 2016, tiếp nối những nghiên cứu đi trước, Gs.Tiến sĩ Hamka đã tiến hành

“Nghiên cứu so sánh cấu trúc truyện cổ tích Inđônêsia‖ trong 12 câu chuyện có cùng cốt

kể về nhân vật là nam đi lang thang trong rừng tình cờ nghe thấy tiếng đùa của các nàng tiên xinh đẹp đang tắm tại các hồ nước Chàng trai đã lấy cắp chiếc khăn choàng của cô gái xinh đẹp rồi ép buộc cô gái làm vợ mình Nhưng sau đó, nàng tiên tìm được khăn choàng đã quay trở lại thiên đường Tác giả đã chỉ sự tương đồng khác biệt trong nội dung, trong mô hình cấu trúc nội tại của kiểu truyện qua các phương diện so sánh như sau:

+ Thứ nhất: Âm mưu của chàng trai khi chàng trai lấy cắp chiếc áo (khăn choàng) của nàng tiên, chàng trai cố tình vi phạm điều cấm kị

+ Thứ hai so sánh về nhân vật: Chàng trai, nàng tiên, những đứa trẻ Từ những

Trang 17

điểm tương đồng và khác biệt trong nội dung và nghệ thuật của các bản kể, tác giả đã kết luận rằng những điểm giống nhau là cùng sản sinh trong một bối cảnh hoàn cảnh lịch sử, còn những điểm khác nhau là ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ ở mức

độ đậm nhạt khác nhau Đây là tư liệu quan trọng, giúp người viết có cơ sở bước đầu tham

khảo tài liệu và hướng tiếp cận những điểm giống nhau, khác nhau trong kiểu truyện hôn nhân người - tiên của người Nam Đảo sống ở Việt Nam và Inđônêsia [178]

Cùng năm 2016, hai tác giả là Inayatul Fariha and Nabhan F Choiron thuộc

trường Đại học Negeri Malang đã đi sâu nghiên cứu trực tiếp vào truyện kể Jaka Tarub thuộc trung tâm Java với bài nghiên cứu ―Giải phóng người phụ nữ trong truyền

thuyết Jaka Tarub (trung tâm Java)” Nội dung câu chuyện kể về cuộc hôn nhân giữa

một chàng trai người trần với một thiên thần Chàng trai đã lấy cắp đôi cánh của thiên thần rồi buộc nàng kết hôn với mình Nàng Nawang Wulan không có đôi cánh nên không thể bay về trời Cô chỉ có lựa chọn duy nhất là kết hôn với Jaka Tarub, điều kiện để Jaka Tarub kết hôn với nàng Nawang Wulan là anh phải hứa với cô sẽ không bao giờ mở nồi cơm trong khi cô đang nấu ăn Chàng đã hứa với cô nhưng vì tò mò, Jaka Tarub thất hứa, anh mở nồi nước khi đang sôi Nawang Wulan mất tất cả sức mạnh của mình, nguồn gạo trong kho của gia đình đã bị cạn kiệt Nhưng thật may mắn đến với cuộc đời cô là cô đã tìm thấy được bộ cánh của mình dấu ở dưới kho thóc Cô chắp cánh bay về trời mãi mãi Bài nghiên cứu của hai tác giả đã đề cập tới nhân vật Nawang Wulan - người phụ nữ biểu tượng cho sự sống và khả năng sinh sản đồng thời cũng là nguồn gốc cho sự thịnh vượng của xã hội nông nghiệp Huyền thoại lúa gạo được bắt nguồn nữ thần lúa Dewi Sri trong các câu chuyện thần thoại của người Java Nawang Wulan được xem là biểu hiện của Dewi Sri mang lại sự thịnh vượng cho con người Người Java tin rằng hậu duệ của Jaka Tarub và Nawang Wulan sẽ là người cai trị Java Tuy nhiên, các tác giả đi vào nghiên cứu sâu ở nội dung của câu chuyện nhận thấy rằng người phụ nữ đã bị áp chế bởi người đàn ông Vị nữ thần Dewi Nawang Wulan với sức mạnh siêu nhiên đã bị người đàn ông lừa gạt lấy cắp bộ cánh tước đoạt

đi quyền lực của Dewi Nawang Wulan Nhưng sau đó, người phụ nữ đã đấu tranh đòi lại quyền tự do: Đó là tìm được cánh rồi bay trở về trời mãi mãi, cô ấy đã tìm được chính con người thực của mình đại diện cho những nhận thức tiến bộ của người phụ nữ

tự do chống lại chế độ gia trưởng áp đặt của người đàn ông

Nhiều nhà nghiên cứu không chỉ quan tâm đến văn hóa chứa đựng trong truyện

kể Jaka Tarub mà họ còn so sánh truyện kể này với truyện kể khác cùng chung một

nội dung, đề tài để tìm ra sự tương đồng và khác biệt về nền văn hóa của các tộc người

ở Inđônêsia như bài nghiên cứu về ―Cấu trúc so sánh văn học qua hai truyền thuyết Telaga Bidadari và Jaka Tarub”của tác giả Agus Yulianto Hai câu chuyện đều có nội

dung nói về chàng trai lấy cắp chiếc cánh của một thiên thần xinh đẹp từ trên trời bay

Trang 18

xuống trần gian để tắm mát trong hồ Thiên thần đã buộc phải lấy chàng trai làm chồng Sau một thời gian, họ chung sống với nhau đã sinh được một bé gái Nhưng vô tình, thiên thần đã tìm được cánh bay về trời để lại con cho người chồng Tác giả chỉ ra

sự giống nhau: Về nội dung, về cách giới thiệu nhân vật và ý nghĩa qua câu chuyện Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra sự khác nhau: Về sự kiện trong cốt truyện, về không gian gặp gỡ, về quá trình nàng tiên tìm được cánh bay về trời và tình cảm nhung nhớ con cái của nàng tiên mặc dù nàng đã bay về trời [157; 79 - 90 ]

Năm 2017, nhà nghiên cứu Ratu Wardarita và Guruh Puspo Negoro trường đại học

Palembang, Nam Sumatera, Inđônêsia đã so sánh trực tiếp câu chuyện Jaka Tarub (Inđônêsia) và Tanabata (Nhật Bản) trong kiểu truyện hôn nhân người – tiên cùng nội

dung kể về cuộc hôn nhân giữa chàng trai người trần và nàng tiên ở trên trời Hai tác giả

đã so sánh hai truyện trên phương diện rộng hơn như nền văn hóa xã hội của hai đất nước

Ở điểm tương đồng: Nhà nghiên cứu chỉ ra sự giống nhau về cốt truyện, về nền văn hóa nông nghiệp đều quen thuộc với kĩ thuật làm nhà và kĩ thuật may quần áo Xã hội truyền thống của Inđônêsia và Nhật Bản đều có khả năng nhận thức về thế giới tự nhiên xung quanh, họ có niềm tin chung về những điều kì diệu Người phụ nữ trong xã hội Java và Nhật Bản đều là những người phụ chăm chỉ và họ có quyền quyết định ly

hôn với chồng vì một lí do chính đáng

Ở điểm khác biệt: Hai nhà nghiên cứu so sánh sự khác nhau trong hai câu chuyện qua đối tượng, mục đích lấy cắp chiếc áo của nàng tiên, nguyên nhân sự trở về trời của người vợ tiên, sự phản ứng của người chồng khi thấy người vợ tiên bay về trời

và sự tác động gián tiếp đến hôn nhân người - tiên là cha mẹ của chàng trai người trần Tiếp theo, hai nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự phát triển nền kinh tế của Inđônêsia chủ yếu

dựa vào nông nghiệp thể hiện trong câu chuyện Jaka Tarub Còn đất nước Nhật Bản,

ngoài dựa vào nền kinh tế nông nghiệp họ còn có ngành tiểu thủ công nghiệp như dệt may, đồ gốm

Về tổ chức xã hội của người Java cổ có niềm tin vào một vị pháp sư còn xã hội Nhật Bản họ có niềm tin vào chúa bằng cách đến đền thờ Người phụ nữ trong xã hội Java có quyền ly hôn chồng nếu người chồng đã vi phạm lời cấm trước khi kết hôn và đứa trẻ sẽ thuộc về quyền nuôi của người chồng (nếu có con), còn xã hội Nhật Bản, người vợ có quyền ly hôn chồng nếu sống không hạnh phúc và người mẹ sẽ được quyền nuôi con (nếu có con) Về niềm tin của người Java xưa được gửi gắm qua giấc

mơ còn người Nhật không tin vào điềm báo qua giấc mơ Như vậy, qua bài nghiên cứu này, hai tác giả cho người đọc thấy mặc dù kho tàng truyện kể dân gian là tài sản riêng của từng quốc gia nhưng có thể tìm thấy được điểm tương đồng văn hóa xã hội, niềm tin tôn giáo, ở những quốc gia khác xa nhau như ở Inđônêsia và Nhật Bản [187]

Từ một số những công trình nghiên cứu ở một số nước Đông Nam Á, chúng tôi

Trang 19

nhận thấy đây là một kiểu truyện hấp dẫn nên đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu ở nước ngoài chỉ mới tập trung nghiên cứu so sánh từng truyện cụ thể ở các quần đảo khác nhau của Inđônêsia hoặc so sánh truyện của Inđônêsia với Nhật Bản, hoặc so sánh truyện của Thái Lan với Trung Quốc mà chưa

có một bài nghiên cứu nào tìm hiểu về kiểu truyện hôn nhân người - tiên ở Việt Nam

và Đông Nam Á

1.1.3 Lịch sử nghiên cứu về kiểu truyện hôn nhân người – tiên ở Việt Nam

Năm 1975, các tác giả Hà Văn Thư, Võ Quang Nhơn, Y Điêng trong lời giới

thiệu cuốn ―Truyện cổ các dân tộc Thiểu số Miền Nam” đã viết: ―Các dân tộc quan niệm, có một thời kì trời đất rất gần nhau, người trời có thể xuống trần gian, người trần gian khi cần có thể lên trời Ở trên trời có cảnh làm ăn, buôn bán như trên mặt đất Tiên trên trời xuống trần gian làm vợ những chàng trai tốt bụng Nhận định này

đã mô tả khá chính xác về bản chất kiểu truyện hôn nhân người - tiên Tuy nhiên, đây

mới chỉ là lời giới thiệu sách nên vẫn còn sơ lược [120; 75]

Trực tiếp đi vào nghiên cứu kiểu truyện hôn nhân người - tiên theo xu hướng lấy truyện Ả Chức Chàng Ngưu làm cơ sở đã có các bài báo, luận văn, luận án như:

Năm 1998, tác giả Đinh Gia Khánh có lời nhận xét về Truyện Ả Chức Chàng Ngưu trong cuốn Thần thoại Trung Quốc như sau: ―Truyện Ả Chức Chàng Ngưu của

ta với truyện Ngưu Lang Chức Nữ của Trung Quốc là hai dị bản của cùng một truyện rất cổ Truyện này chắc được lưu hành từ lâu trong các tộc người sống từ bờ nam sông Dương Tử xuống phía nam các tộc người mà Hoa tộc xưa kia gọi là Nam man (trong đó có Lạc Việt)” [68; 157]

Năm 2000, tác giả Nguyễn Thị Nguyệt nghiên cứu luận án “Khảo sát và so sánh một số típ và môtíp truyện cổ dân gian Việt Nam - Nhật Bản” Tiếp tục tới năm

2002, tác giả Park Yeon Kwan nghiên cứu “So sánh một số type truyện cổ tích của Việt Nam và Hàn Quốc‖ Cả hai công trình này, các tác giả đều nhắc tới type hôn nhân

giữa người – tiên mà cụ thể là so sánh truyện Ả Chức Chàng Ngưu (dân tộc Kinh - Việt Nam) - Kyun-u và Chik-nyo (Hàn Quốc) Kết quả nghiên cứu về type hôn nhân giữa người - tiên ở Hàn Quốc và Nhật Bản là cơ sở khoa học để người viết đối sánh

type Hôn nhân người - tiên ở các nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á [91]

Năm 2001, tác giả Nguyễn Tấn Đắc viết công trình nghiên cứu “Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif ‖ đã đi sâu nghiên cứu từ góc độ loại hình lịch sử và vận

dụng lý thuyết nghiên cứu cấu trúc luận để chỉ ra mối quan hệ nguồn cội của típ truyện

U Thền (dân tộc Thái -Việt Nam) với những truyện cùng típ ở các quốc gia Đông Nam

Á từ trong văn học Phật giáo [39; 139] Theo đó, tác giả nêu cụ thể ―Các truyện về U Thền (hay U Thiền, Ú Thêm) và về Xi Thuần (hay Xi Thốn) của người Thái ở Việt Nam đã tiếp nhận từ các type truyện Rothisen (hay Butthesen) và Sudhana (hay Xi

Trang 20

Thôn) phổ biến ở các nước Đông Nam Á theo Phật giáo Theravada là Điệu múa Lào (Lào), Cô gái-chim công (Thái Lan), Pô-Lô-Pa-Đang lên trời (Inđônêxia), Những cuộc phiêu lưu của Vua Xutôn (Malaixia) và công chúa núi bạc (Mianmar) và nguồn

gốc sâu xa của các câu chuyện này từ Đất nước Phật Đà - Ấn Độ [39; 150-151] Đặc biệt, tác giả chỉ ra những điểm dị biệt trong thế đối sánh truyện Việt Nam với truyện

các nước bạn cùng khu vực: “Cũng tiếp nhận từ Ấn Độ, nhưng cách người Thái Lan, người Lào, người Campuchia, Myanmar và Việt Nam tiếp nhận có khác nhau Trong khi người Lào, Thái Lan, Campuchia và Myanma đã tiếp nhận nguyên vẹn những yếu

tố đặc trưng của vũ trụ văn hoá Ấn Độ, thì người Thái ở Việt Nam đã tìm cách biến đổi hoặc tước bỏ chúng đi.‖ [39;153] Tác giả Nguyễn Tấn Đắc còn nhận định: ―Type truyện người trần lấy vợ tiên cũng rất phổ biến ở các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar khi nghiên cứu “Trường ca Ú Thêm‖ và cho rằng Ả Chức - Chàng Ngưu có

lẽ thuộc type truyện “Người trần lấy vợ tiên” [39;147]

Cùng năm 2001, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn của tác giả Mai Thu Hương viết về

đề tài “Khảo sát một số nhóm truyện về đề tài tình yêu và hôn nhân trong truyện cổ tích dân tộc Thái” đã chia ra làm ba nhóm:

Nhóm truyện về tình yêu và hôn nhân người - vật

Nhóm truyện về tình yêu và hôn nhân người - tiên

Nhóm truyện mà hôn nhân là vật tặng thưởng

Đề tài này đề cập tới kiểu truyện hôn nhân người – tiên, nhân vật ―tiên‖ với chức

năng là nhân vật kết hôn, song tác giả mới chỉ dừng lại ở mức phân loại mà chưa bàn cụ thể về đặc điểm nghệ thuật cũng như ý nghĩa tư tưởng của kiểu truyện độc đáo này

Năm 2003, cuốn ―Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 19” - Nhận định

và tra cứu, tác giả Nguyễn Xuân Kính trích bài viết ―Truyện Ông Ngâu bà Ngâu ở Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản” của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bích Hà

Nguyễn Thị Bích Hà đã lí giải nguồn gốc tương đồng và những dị biệt của kiểu truyện

này ở 4 nước Đồng văn: Tình yêu éo le thủy chung của Chức Nữ - Ngưu Lang, Ông Ngâu bà Ngâu, Ori Hime – Hiko Boshi, Kyun-u và Chik-nyo là tình cảm thiêng liêng

chung cho các chàng trai, cô gái dân tộc Phương Đông, vì vậy, nó được lưu truyền rộng rãi và dễ đồng hóa ở tất cả các nước có nền văn hóa gần gũi và ảnh hưởng lẫn nhau Điều đó, đã tạo ra diện mạo, đặc trưng riêng của văn hóa dân gian các dân tộc, vừa đặc sắc, vừa hấp dẫn, vừa quen thuộc lại vừa độc đáo [65; 836]

Năm 2004, tác giả Lại Phi Hùng tiếp nối công trình nghiên cứu ―Những tương đồng và khác biệt trong một số kiểu truyện cổ dân gian ở Lào và Việt Nam” Tác giả

đi sâu vào việc so sánh nhóm truyện người bất hạnh của dân tộc Kinh có sử dụng môtíp người trần lấy vợ tiên nhiều hơn so với truyện cổ tích của dân tộc Lào Lùm, Lào Thơng, Lào Xủng và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Về mô típ này, ở dân tộc Kinh

Trang 21

có Tú Uyên, Nợ duyên trong mộng, Sự tích ô Cầu Dền; dân tộc Thái có truyện Tạo Thi Thôn, dân tộc Lào Lùm có hai truyện Nàng Ốc Vàng và Nàng Ốc Ngọc” Phần lớn

truyện cổ tích có môtíp người trần lấy vợ tiên của dân tộc Kinh đều xây dựng nhân vật chính là nho sĩ, thầy đồ nho mà tiêu biểu là Tú Uyên Tác giả đã chỉ ra sự khác biệt

giữa truyện Tạo Thi Thốn của dân tộc Thái ở Việt Nam, Truyện Nàng Ốc Ngọc của dân tộc Lào Lùm, truyện Tú Uyên, Nợ duyên trong mộng, Bích Câu Kì Ngộ, Sự tích Ô Cầu Dền của dân tộc Kinh là tuy cùng sử dụng một môtíp nhưng truyện của dân tộc

Lào Lùm và dân tộc Thái không chứa đựng tính chất siêu thoát như truyện của dân tộc Kinh Hai truyện chỉ mượn truyện ―tiên‖ để khẳng định hạnh phúc trần thế mà thôi

Như vậy, tác giả đã cho thấy điểm dị biệt trong một phần so sánh kiểu truyện hôn nhân người - tiên ở Việt Nam và Lào [58; 134]

Năm 2007, Luận văn “Những hình thức thưởng phạt trong truyện cổ tích Việt Nam”, Nguyễn Thị Ngân Sương đã làm rõ motif kết hôn trong những hình thức thưởng chia làm hai motif nhỏ: “Người trần kết hôn với tiên”và “Người trần lấy vợ Thủy Cung‖ Nghiên cứu hai motif nhỏ này, tác giả không chỉ làm rõ các dạng thức

của motif, rút ra cách nhìn, kiến giải của người xưa, sơ đồ hóa motif mà còn so sánh sự khác biệt trong một motif giữa dân tộc Kinh và nhóm các dân tộc thiểu số trên đất

nước Việt Nam Trong motif ―Người trần kết hôn với tiên‖, kết quả đối chiếu cho thấy

trong truyện của dân tộc Kinh, ―người‖ và ―tiên‖ kết hôn nhưng không hạnh phúc phải

chia xa còn ở dân tộc khác thì hạnh phúc mĩ mãn Motif “người trần lấy vợ thủy cung‖

phổ biến ở các dân tộc sống ở môi trường canh tác lúa nước, nhiều ao rạch, sông ngòi,… Đối với các dân tộc khác, motif phổ biến hơn là: Người trần lấy ếch, cá So sánh hai motif trên, tác giả kết luận chúng đều thể hiện một cách đầy ấn tượng về mơ ước đạt được hạnh phúc của con người [107]

Năm 2008, Luận văn Thạc Sĩ Châu Á học của tác giả Nguyễn Minh Nguyên

viết về Sự tương đồng và dị biệt giữa một số truyện cổ tích Việt Nam – Nhật Bản, Đại

học KHXH và Nhân Văn, Hà Nội lại đi vào tìm hiểu sự tương đồng và dị biệt giữa một

số truyện cổ tích Việt Nam và Nhật Bản trên cơ sở so sánh giữa hai cặp truyện

Urasshima Taro (Nhật Bản) - Từ Thức (Việt Nam) và Tanabata (Nhật Bản) - Ả Chức chàng Ngưu (Việt Nam) dưới góc độ cấu trúc, tình tiết, motif truyện, Từ đó rút ra

những tương đồng và dị biệt về mặt văn bản của các cặp truyện trên [92]

Năm 2009, Luận văn thạc sĩ của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tác giả

Nguyễn Thu Hiền nghiên cứu về “Nhóm truyện cổ tích thần kì “người - tiên”của người Việt” có nhắc tới kiểu truyện hôn nhân người - tiên và phân tích một số môtíp

cơ bản nhưng do khuôn khổ của luận văn nên tác giả chỉ nghiên cứu những câu chuyện

cổ tích thần kì về đề tài hôn nhân người - tiên của người Việt mà chưa mở rộng nghiên cứu được ở các dân tộc khác [53; 39-64]

Trang 22

Năm 2013, Luận văn “Motif hôn nhân giữa Người và Thần linh trong truyền thuyết và cổ tích Việt Nam”, tác giả Phan Ánh Nguyễn, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã gộp chung kiểu truyện hôn nhân người - tiên vào với kiểu truyện hôn nhân người - thần và gọi chung là hôn nhân giữa Người và Thần linh Nhìn chung, luận văn này mới dừng ở việc so sánh motif hôn nhân giữa người - tiên ở thể loại truyền thuyết, truyện cổ tích ở Việt Nam mà không đi vào nghiên cứu so sánh với motif hôn nhân người

- tiên ở các nước khác nhau thuộc khu vực Đông Nam Á [93; 54-60]

Năm 2016, Luận án chủ đề hôn nhân và sự phản ánh phong tục hôn nhân trong truyện cổ tích dân tộc Việt Nam, tác giả Dương Nguyệt Vân có đề cập tới hôn nhân người – tiên trong phần nhận diện chủ đề hôn nhân trong truyện cổ tích Việt Nam

Đồng thời, phân tích những đặc điểm nghệ thuật độc đáo mà tác giả dân gian đã sử dụng một cách hữu hiệu để phản ánh ước mơ trong hôn nhân, trong các phong tục, tập quán đã ăn sâu vào đời sống hôn nhân của các dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, luận án

chỉ chung kiểu truyện hôn nhân người – tiên ở các dân tộc Việt Nam mà không có sự

so sánh kiểu truyện hôn nhân người – tiên ở các nước Đông Nam Á [130]

Những phác họa từ các công trình đi trước, chúng tôi có thể kết luận rằng: Hướng

nghiên cứu về kiểu truyện hôn nhân người - tiên được quan tâm đặc biệt Tuy nhiên, các

nghiên cứu chỉ dừng lại ở phạm vi một, hai quốc gia, một vài tộc người riêng lẻ hoặc chỉ ở

khu vực Đông Bắc Á hay ở một số nước thuộc khu vực Đông Nam Á mà chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp về kiểu truyện hôn nhân người - tiên trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á Từ thành quả trên, luận án tiếp tục triển khai ở khu vực Đông Nam

Á, đồng thời, ở mức độ nhất định so sánh với một số Châu lục khác nhau trên thế giới để chúng tôi xác định hướng nghiên cứu bổ sung phần phác hoạ diện mạo cốt truyện, nhân

vật và hệ thống các môtíp của nhóm truyện hôn nhân người - tiên của Việt Nam và Đông Nam Á ở mức độ bao quát hơn

1.2 GIỚI THUYẾT MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1.2.1 Khái niệm nhân vật “tiên”

“Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới‖, đưa ra khái niệm nhân vật tiên nữ như sau:

người phụ nữ có nhiều pháp thuật, các nàng tiên tượng trưng cho những khả năng phi thường của tinh thần hoặc năng lực kì diệu của trí tưởng tượng con người Họ thực hiện những biến hóa kì lạ nhất và trong khoảnh khắc có thể thỏa mãn hoặc làm thất vọng những ham muốn cao kì nhất Khởi thủy các nàng tiên từng là các nữ thần bảo hộ cho các cánh đồng và ngay từ cội nguồn họ đã là những biểu hiện của đất mẹ [16; 916]

―Từ điển bách khoa toàn thư Britannica” và ―Bách khoa toàn thư mở Wikipedia”, “Từ

điển hỏi về các khái niệm và những từ đồng nghĩa” lại cùng thống nhất đưa ra khái niệm ―tiên‖ như sau: Tiên (nói chung là người tốt, người của hòa bình, hay các vị thánh khác) là một phúc thần hay một sinh vật trong huyền thoại được hình thành từ linh hồn thường được mô tả như siêu hình, siêu nhiên [207] [206] [205]

Trang 23

―Từ điển Tiếng Việt”, tác giả Hoàng Phê đã đưa ra định nghĩa nhân vật “tiên” là nhân vật tưởng tượng của người xưa, sống mãi, có vẻ đẹp, có phép lạ tượng trưng cho sự sung sướng tốt lành [97]

Nhân vật ―tiên‖ (fée) theo tiếng Ý là fata, tiếng Tây Ban Nha là hada, tiếng Bồ Đào

Nha và tiếng Pơ –rô-văng –xan là fada và fade,… bắt nguồn từ tiếng la - tinh fatum lại có nghĩa là số mệnh ―Tiên‖ trong truyện cổ tích các dân tộc la - tinh là một nhân vật tưởng

tượng, một kết quả của sáng tác văn học dân gian Ở Trung Quốc, “tiên‖ lại có nghĩa khác

đó là khái niệm của Đạo giáo với những giáo điều và những thuật luyện đan, tu tiên Nhân

vật ―tiên‖ trong truyện cổ tích phương Tây bao giờ cũng là phụ nữ Chỉ có bà tiên mà

không có ông tiên như ở Việt Nam và Trung Quốc [69; 91-92]

1.2.1.1 Khái niệm nhân vật “tiên”của người Việt

Người dân thời cổ cho rằng, có một thế giới linh thiêng của những linh hồn cao

cả Nơi đó, con người trường sinh, bất tử, sống an nhàn, sung sướng, không khổ đau, oán thù Mặt khác, trong quan niệm, người Việt (dân tộc Kinh) xem ―tiên‖ là đẹp nhất (đẹp như tiên) nên thích lấy vợ, lấy chồng tiên

Thuật ngữ ―tiên‖ có nguồn gốc từ Hán Việt Theo chữ Hán, ―tiên‖ gồm có một bên chữ亻 (nhân) là người, và một bên chữ 山 (sơn) là núi ―Tiên‖ (仙) có ý nghĩa người tu ở trên núi Nhân vật ―tiên nữ‖: Tiên; Nữ: Gái Người Trung Quốc và ta tưởng tượng ―tiên‖ là một người con gái rất đẹp Nghĩa bóng: Thiếu nữ rất xinh đẹp [64; 789]

Chữ ―tiên‖ (仙): Theo cách chiết tự nghĩa là người cõi tiên, người đã tu luyện Theo quan niệm của người Trung Quốc xưa những người sống trên núi cao, nơi cách biệt với thế giới con người thì thường là bậc kỳ tài hay là tiên nhân

Từ điển chữ Nôm dẫn giải cho rằng nhân vật “ tiên” (仙): Những người tu luyện đắc đạo trường sinh (theo Đạo giáo) Hình dung những gì thoát tục, linh diệu, tốt đẹp, sung sướng

Ngay trong truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ - Tổ tiên của người Việt, từ

Âu Cơ chính là tiên, viết theo chữ Hán chính là ―người xuất hiện trên núi‖: ―người + núi‖ = nhân (ren) + sơn (shan): 仙 ( 仙 = 人 + 山 => tiên = nhân + sơn)

Có thể nói, chữ ―Tiên‖ 仙 là theo cách gọi của dân tộc Kinh ảnh hưởng của quan niệm đạo giáo hay đạo Tiên, là một tôn giáo dạy người tu luyện thành tiên được bắt nguồn từ thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, Ðức Thái Thượng Ðạo Quân giáng sanh xuống trần

là Lão Tử để xiển dương Tiên giáo, Ngài viết ra quyển sách "Ðạo Ðức Kinh" để làm giáo lý căn bản cho Tiên giáo Ðạo giáo là tôn giáo dạy về Ðạo, tức là dạy người ta biết cái nguyên lý của Ðạo và sự biến hoá của Ðạo Cứu cánh của Ðạo giáo là dạy và luyện tâm tánh con người để trở thành một vị Tiên [60]

Đạo giáo du nhập vào Việt Nam từ khoảng cuối thế kỉ thứ 2 Theo các tài liệu đã

Trang 24

ghi chép lại thì sau khi Vua Hán Linh Đế băng hà, xã hội Trung Quốc hết sức rối loạn Người phương Bắc nhận thấy rằng vào thời điểm đó đất Giao Châu là mảnh đất yên bình

có thể chọn làm nơi lánh nạn Những nhân sĩ lánh nạn sang nước ta phần nhiều là những tín đồ của Đạo Lão Hơn nữa trong thời kỳ Bắc thuộc, trong số quan lại phương Bắc sang cai trị nước ta cũng có những người tin theo phương thuật của Đạo giáo Đây là những cơ

sở chính để Đạo giáo du nhập vào Việt Nam Đạo giáo truyền sang Việt Nam gồm có: Đạo Phù thủy dùng phép thuật để trừ tà, trị bệnh và Đạo thần tiên chủ trương dạy con người cách tu tiên Từ thời xa xưa người Việt ta đã có thói quen dùng bùa chú với niềm tin rằng nhờ đó có thể trừ tà ma, trị bệnh cứu người Tương truyền Hùng Vương nhờ giỏi pháp thuật đã thu phục được 15 bộ lạc lập nên nước Văn Lang Đạo giáo phù thủy khi truyền vào nước ta đã gặp gỡ với những tín ngưỡng ma thuật này nên đã có cơ hội phát triển rộng rãi bắt đầu từ đời Tiền Lê Còn Đạo giáo thần tiên tại Việt Nam lại chia thành hai phái: phái nội tu và phái ngoại dưỡng Nội tu tức là luyện tập, dùng Tinh và Khí làm dược liệu, vận dụng Thần làm cho Tinh - Khí biến thành nội đan có tác dụng trường sinh bất tử, trở thành thần tiên Nói đến phái Nội tu phải kể đến Chử Đồng Tử, người được coi

là ông tổ của Đạo giáo Việt Nam [37] Theo các sách, truyện kể lại thì Chử Đồng Tử đã lên núi tu luyện thành tiên, sau đó bay lên trời

Như vậy, trong kho tàng truyện kể dân gian người Kinh (Việt), chúng tôi sẽ tìm đến những câu chuyện sẽ có nhân vật ―tiên‖ trong nội hàm khái niệm này

1.2.1.2 Nhân vật cùng loại hình với nhân vật “tiên” ở các dân tộc

Trong luận án này chúng tôi không chỉ khảo sát những nhân vật ―tiên‖ trong truyện kể người Kinh mà chúng tôi hướng đến những nhân vật cùng loại hình với nhân vật ―tiên‖ của người Kinh trong kho tàng dân tộc thiểu số để đủ dữ liệu trong quá trình nghiên cứu của chúng tôi dựa trên cách nhìn nhận của họ về vũ trụ quan

Người Tày có tín ngưỡng thờ đa thần Đồng bào thờ cúng tổ tiên, thần thánh là chính, vì họ tin rằng có rất nhiều thứ thần thánh ma quỷ, được gọi chung là ―phi‖

―Phi‖ có cả ở trên trời lẫn mặt đất, như ―phi fạ‖ (ở trên trời), ―phi đông‖ (ở trong rừng), ―phi pẩu pú‖ (tổ tiên), v.v… và ―phi‖ được chia làm hai loại là lành và dữ Đối với loại phi dữ, như: Ma rừng, thuồng luồng, yêu tinh… có thể về hại người, gia súc và mùa màng Bởi vậy, người ta không thờ cúng, song khi có họa nạn (như ốm đau…), nếu Tào, Mo, Then phát hiện ra phi nào về quấy rầy thì phải làm lễ cúng phi đó Nhân vật Then có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người Tày [113; 8]

Người Thái quan niệm đất này vốn phân chia thành hai mường, tương đương với quan niệm về hai thế giới Đó là ―thế giới của sự sống‖ tiếng Thái là mương côn (mường

người) và ―thế giới hư vô‖ là mương phi (mường phi) Thế giới hư vô của người Thái có

ba không gian tồn tại Một là không gian của mỗi con người có phi khoăn tương đương với linh hồn hay vía Hai là không gian của cõi linh hiểu theo nghĩa cụ thể của mường

Trang 25

phi được phân thành hai phần Phần ác gồm các ma thiêng, quỷ dữ có thể do người chết biến thành và cũng có sẵn trong tự nhiên Phần lành có tổ tiên – phi đẳm hay phi hươn

Ba là không gian của cõi trời có phi then hay then [59; 37]

Người H’Mông quan niệm về vũ trụ ba tầng bậc, theo trục thẳng đứng từ cao xuống thấp:

Cõi trời (tầng trời): Nơi cao nhất trong niềm tin của người H’Mông, chịu sự cai quản của một hay một cặp vị thần tối cao là ông bà thượng đế (Ông trời Chừ Si Nhông

và bà trời Pù Si Nhông), lưỡng phân lưỡng hợp Trật tự quyền lực của trời không cố định bất biến mà thay đổi, luân chuyển Mỗi khi trật tự của trời thay đổi thì trật tự cõi đất cũng phải thay đổi Trong mỗi góc độ nào đó, cõi trời biệt lập và riêng ra chính là đất tổ tiên của người H’Mông

Cõi người (tầng mặt đất) là thế giới tồn tại của chúng ta, với người H’mông thì

là thế giới của những đỉnh núi vì họ có thói quen cư trú sinh sống trên đỉnh núi Cõi người đang sống luôn được lựa chọn là điểm quan sát trung tâm Hai thế giới người và trời thông giáp bằng chính lối qua lại mở khép từ cái cổng đá Giữa cõi trời và cõi người, trong niềm tin tang ca H’ Mông nảy sinh một lớp nghĩa về một khoảng không Khoảng không ở giữa đó vẫn luôn có sự tồn tại các sinh thể giống như bán thần

Cõi âm phủ (tầng đất đá) được cai quản của thổ thần và thần thổ địa Cõi đất đối với người H’ Mông là khá mờ nhạt, là cõi tạm sau khi linh hồn người chết qua đời sẽ trú

ẩn tạm thời

Người Dao quan niệm quan niệm sơ khai về vũ trụ, họ coi thần tiên chính là thế lực bảo trợ cho cuộc sống của con người, thông qua ba vị thần có quyền lực tối thượng cai quản ở 3 nơi, là: Thần Ngọc Thanh (thần cai quản trên trời); Thần Thượng Thanh (thần cai quản trần gian); Thần Thái Thanh (thần cai quản âm phủ)

Người Chăm có xu hướng tôn thờ tự nhiên, mà chúng tôi tạm gọi là thờ yang

Đầu tiên, trong quan niệm nhị nguyên luận về sự cấu thành thế giới và vạn vật, người Chăm tin rằng thế giới được tạo ra từ hai cặp đối lập đực - cái, từ đó mà có Thần Trời

(Po Lingik) - Thần Đất (Po Tanah Riya), Thần Cha (Po Yang Amư) - Thần Mẹ

Về đấng tạo hóa: Người Chăm với chế độ mẫu hệ luôn coi mẹ xứ sở Pô Inư

Nưgar là đấng tạo hóa ra vũ trụ và sự sống của muôn loài (khác với kinh Vê đa, một tôn giáo phụ quyền, Brahma là thần sáng tạo tối cao) Quan niệm lưỡng hợp âm -

dương (yin - yang), bên cạnh thần mẹ xứ sở (âm) có thần Yang Pô, Yang Amư (thần trời, thần cha - dương) cũng được coi là đấng tạo hóa, Pô Păn là thần cai quản các

thần, trông coi công việc thiên giới Những đấng tạo hóa này sinh ra ba tầng vũ

trụ: Thiên - địa - nhân Người Chăm có câu: Mưng ngauk Po debita, pak ala anưk

adam Có nghĩa là: Tạo hóa ngự trên trời, loài người ngự dưới đất

Các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên đều quan niệm vũ trụ được hợp thành có ba

Trang 26

tầng thế giới: tầng thế giới bên dưới mặt đất, tầng thế giới nơi trần gian của con người

và tầng thế giới của thần linh ở trên trời Quan niệm cụ thể về mỗi tầng thế giới ấy thì lại rất đa dạng, tuỳ theo từng thành phần tộc người

Theo vũ trụ quan nguyên sơ của người Ê Đê, thế giới phân chia thành 3 tầng: tầng đất, tầng trời, tầng dưới đất, và mỗi tầng có những cặp thần ngự trị Mtao Kơla và mtao Kơku trị vì tầng trời; mtao Tơlua và Ae Mơgơ trị vì tầng đất; Băngdơbai và Băngdơbung thì trị vì tầng dưới đất

Trong hệ thống thần linh của người Ba Na (cũng như của nhiều thành phần dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á) có rất nhiều Giàng: Giàng Dak (thần nước), Giàng Kông (thần núi),…; đôi khi thần linh nam được xác định là ―Bok‖, thần linh nữ là ―Dạ‖: Bok Kơi Đơi và Dạ Cung Ké được xem như vị thần tối cao sáng lập ra vũ trụ và muôn loài

Người Xơ Đăng cũng dùng khái niệm như ―Giàng‖, ―Bok‖, ―Dạ‖, ―Kia‖,

―Kiếc‖ để chỉ các vị thần, trong đó thần Bok Chư Đrai (thần sấm sét) là vị thần đáng kính và đáng sợ nhất

Người Cơ Ho theo tín ngưỡng đa thần, đứng đầu là thần Nđu – vị thần đẻ ra vũ trụ, bảo hộ tối cao của loài người Các thần linh mang điều lành gọi là Yang, đối lập lại là ma quỷ, gọi chung là Chà

Người Gia Rai thường nhắc đến và xem trọng 3 loại Yang: Yang Sang – thần giúp con người có thể dựng được nhà, Yang Ala Bôn (Thần làng, gồm thần đất và thần nước) và Yang Rênia (thần bến nước); Yang Pơ Tao (gồm Pơ Tao Ia – tức Vua Nước

và Pơ Tao Pui – tức Vua Lửa)

Trong khi đó, người Giẻ Triêng dùng các khái niệm ―Giàng‖ hoặc ―Năm‖ để chỉ lực lượng siêu nhiên, người Brâu quan niệm vạn vật trong vũ trụ đều do vị thần tối cao

là Giàng Paxây sinh ra và quan trọng nhất là Giàng Mắt ngay (thần mặt trời), Giàng Dak (thần nước), Giàng Bri (thần rừng),…Người Chu Ru thì chia thế giới thần linh ra hai ngôi: Yang – gồm những vị thần ở dưới đất và Pô – những vị thần ở trên trời

Có thể nói, mỗi dân tộc đều có quan niệm về vũ trụ khác nhau có tên gọi về nhân vật nữ sống ở trên trời theo cách riêng nhưng đều chỉ những người sống ở tầng trời làm những việc thiện giúp đỡ người dân: Dân tộc Tày, Thái gọi là Then; dân tộc H’Mông gọi là Pù; dân tộc Chăm gọi là Yang Pô; dân tộc Ê Đê gọi là Mtao Kơla; dân tộc Ba Na, Xơ Đăng gọi là ―Dạ‖; dân tộc Cơ Ho, Gia Rai gọi là Yang; dân tộc Chu Ru gọi là Pô, dân tộc Giẻ Triêng gọi là Yang

Dựa trên những tư liệu, ngữ liệu thành văn chúng tôi nhận thấy rằng trong kho tàng tự sự dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam cũng xuất hiện các nhân vật giống như kho truyện kể của người Việt được cho là nhân vật nữ, sống ở mường trời biết bay, xinh đẹp, làm những việc thiện,

Vậy chúng tôi xin phép được đưa ra quan niệm về nhân vật ―tiên‖ cùng loại

Trang 27

hình như sau: ―Tiên‖ là nhân vật có nguồn gốc kì lạ sinh sống ở trên mường trời, có sắc đẹp, có phép thuật bay từ trời xuống trần gian Nhân vật “tiên” đại diện cho những điều thiện lành giúp con người thỏa mãn hay cũng có thể làm con người thất vọng bởi những ước mơ của con người khi không thực hiện được Nhân vật “tiên” là sản phẩm của trí tưởng tượng và tư duy thẩm mỹ của người xưa Nhân vật ―tiên‖ được

gọi bằng những tên gọi khác nhau mang tính bản địa như là: ―Nữ thần‖, ―bầy tiên‖,

―tiên‖…các tên gọi này không được giữ nguyên mà nó được chuyển dịch sang tiếng Việt nhưng nó đều là những nhân vật mà chúng tôi xếp vào loại hình của chúng tôi

1.2.1.3 Nhân vật cùng loại hình với nhân vật “tiên” ở Đông Nam Á

Chúng tôi khảo sát các bản kể của các nước Lào, Campuchia, Myanmar, Malaysia, Inđônêsia, Philippin, Brunei, Philippin nhận thấy nhân vật ―tiên‖ thường được gọi bằng những tên khác nhau như: ―Celestial‖ (người thuộc về trời), ―maidens‖ (thiếu nữ), ―divine‖ (nàng tiên), ―apsaras‖ (vũ công trên trời), ―heavenly‖ (bầu trời),

―angel‖ (thiên thần), ―fairy‖ (tiên nữ) Tóm lại, dù cho cách gọi về nhân vật ―tiên‖

khác nhau nhưng cùng chung một loại hình chỉ một người con gái xinh đẹp sống ở trên

trời, ở một không gian kì ảo đẹp đẽ, có phép thuật, đại diện cho những điều thiện lành

1.2.1.4 Nguồn gốc của nhân vật “tiên”

1.2.1.4.1 Nhân vật “tiên” có nguồn gốc trong tín niệm Hindu

Hinđu giáo tôn thờ thiên nhiên, vũ trụ với biểu tượng các vị thần tượng trưng cho sự huyền diệu, biến hoá đa dạng muôn vẻ của thiên nhiên, sự vật hiện tượng trong

vũ trụ, người Ấn Độ sáng tạo ra một thế giới các vị thần linh và lý giải rằng trong vũ trụ đồng thời tồn tại ba lực lượng liên quan mật thiết với nhau (thần linh, con người và

ma quỷ) ứng với ba cõi của vũ trụ (thiên giới, trần thế và địa ngục) Các thần linh trong kinh Veda ngụ khắp ba cõi (thiên giới, không trung và hạ giới) Hiện thân của thượng đế toàn năng là trời, không giới hạn, vô thủy, vô chung, chứa đựng toàn thể vũ trụ Trời là cha mang dương khí và mẹ là đất mang âm khí Cha (Trời) và Đất (Mẹ) sinh ra và nuôi dưỡng vạn vật trong vũ trụ Thần cai quản hạ giới là thần Lửa (Agni), thần cai quản không trung là thần Gió (Vayu) và thần cai quản thiên giới là thần Mặt trời Surya Đây là ba vị thần tối cao trong kinh Veda Những phần cổ xưa nhất của bộ kinh Rig-Veda của Ấn Độ có nhắc tới những nhân nhân vật thần thánh thiêng liêng siêu phàm dựa trên điển tích ―khuấy biển sữa‖ Theo thần thoại, sự sáng tạo là kết quả của cuộc khuấy biển sữa do các thần linh và bọn quỷ cố gắng thực hiện nhằm giành lấy thuốc trường sinh bất tử Trong lúc đại dương vĩnh hằng bị khuấy động có người con gái xinh đẹp được sản sinh ra đó là nàng tiên nữ Apsara Apsara là vị hôn phối của nam thần nhạc công Gandharva và là tỳ nữ hầu hạ cho Indra Trong khi gandharva tấu nhạc thì apsara múa hát, mua vui cho các thần linh Tại khu vực Đông Nam Á, những quốc gia chịu ảnh hưởng nền văn minh Ấn Giáo (Champa, Campuchia, Thái Lan, Lào,

Trang 28

Nam Dương, ) thường có các hình tượng Apsara trên đền tháp Tháp Trà Kiệu ở miền trung Việt Nam là nơi xuất hiện nhiều nhất hình tượng Apsara Champa vào những thế

kỷ thứ 10 và 11[3]

1.2.1.4.2 Nhân vật “tiên” có nguồn gốc từ Phật giáo

Trong Hindu giáo và kinh văn Phật giáo có nói tới vị tiên Kinnara, Kinnari Kinnara - Kinnari là vị tiên đầu người mình chim sống trong những bộ tộc xinh đẹp cùng

với các vị thần của vùng núi Himalaya thuộc Ấn Độ cổ xưa Cư dân của vùng đồng bằng

sông Hằng cho rằng Kinnara là những sinh linh diệu kỳ và phi phàm, họ thường xuyên bay xuống trần gian để hành thiện cứu người Truyền thuyết về nguồn gốc Kinnara là những nhóm quân của Ila, vị Vua không may mắn bị biến thành nữ giới bởi một lời nguyền rủa Kinnara yêu chim cái Kinnari là một cặp tình nhân luôn yêu quý, ôm chặt nhau Chúng không được phép yêu thương bất kỳ một sinh vật thứ ba nào, có phần tương đồng với uyên-ương, phượng-hoàng: biểu tượng nhất thể lưỡng tính phổ biến trong ngữ

cảnh văn hóa Hán Cuộc sống của Kinnara-Kinnari mãi là một sự hoan lạc

Theo quan niệm của Bà-la-môn giáo, Kinnari là một trong ba sinh vật biểu

tượng cho cuộc sống vĩnh hằng, hoan lạc và bất tử của các đại thần linh Bà-la-môn

giáo như Brahma, Vishnu, Shiva và Indra

Trong Phật giáo Bắc tông (Mahayana Buddhism), Kinnari xuất hiện trong Diệu

pháp Liên Hoa kinh (Lotus Sutra) với tên gọi là Càn Thát Bà Trong tín ngưỡng thờ bàn chân Phật (Budhapad) ở Đông Nam Á, Kinnari được mô tả là một trong số 108 biểu tượng trên bàn chân Phật Trong tác phẩm Pannasa Jataka (Bổn Sanh Kinh) bằng tiếng Pali của Phật giáo Theravada do một nhà sư Thái Lan ở Chiang Mai sưu tầm và phóng tác, khoảng trong giai đoạn từ năm 1450 đến 1470, đã quy tụ khoảng 50 câu chuyện kể

về những cuộc đời tiền kiếp của Đức Phật Trong câu chuyện Sudhana Jataka, tiền kiếp của một nàng Kinnari có tên là Manora, nàng lấy chồng là Hoàng tử Sudha, nguyên là tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong hình hài của loài chim [114; 149]

1.2.1.4.3 Nhân vật “tiên”có nguồn gốc từ đạo giáo Trung Quốc

Đạo giáo là một tôn giáo của Trung Quốc hình thành từ đời Đông Hán vào đầu Công nguyên Từ xưa, người Trung Quốc đã có những tín ngưỡng ma thuật như xem sao, đoán mộng, bói mai rùa, đồng cốt,… Đến thời Hán những tín ngưỡng ấy kết hợp với tư tưởng Đạo gia để hình thành nên Đạo giáo Tôn giáo này tôn Lão Tử lên thành Thái thượng lão quân, coi ông là hóa thân của Đạo giáng sinh xuống cõi trần và xem Đạo đức kinh là tác phẩm kinh điển Phạm trù cơ bản mà Đạo giáo đề cập đến là

―Đạo‖ - chữ mà Lão Tử đã bàn đến trong tác phẩm Đạo đức kinh tuy nhiên Đạo giáo nhìn nhận và phân tích nó ở góc độ tôn giáo Cái đích cuối cùng mà Đạo giáo hướng tới là ―đắc đạo thành tiên‖ Nếu con người biết kiên trì tu luyện đến mức hợp nhất được với Đạo thì có thể trở thành thần tiên Khi đó không chỉ linh hồn mà cả thể xác của con người cũng sẽ được bất tử

Trang 29

1.2.2 Khái niệm “hôn nhân” và hôn nhân “người - tiên”

Trong lịch sử nhân loại có nhiều hình thái hôn nhân khác nhau gắn với từng giai đoạn phát triển của xã hội Chế độ quần hôn là hình thái hôn nhân tồn tại dưới chế độ thị tộc Từ đó cho đến nay, dưới các chế độ xã hội: chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, hôn nhân một vợ một chồng là hình thái hôn nhân được định hình ở trình độ văn minh nhân loại cao nhất Nó trải qua một quá trình sàng lọc, trải nghiệm

và để lại nhiều khát vọng cũng như bi kịch mà đến tận bây giờ vẫn còn những bài học đầy ý nghĩa đối với sự phát triển và tiến bộ của loài người Cũng cần thấy rằng các hình thái hôn nhân trong xã hội chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện kinh tế xã hội

Công trình Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước của F

Engels là một tác phẩm cơ bản của chủ nghĩa Marx Nó hình thành dựa trên những nghiên cứu của Lewis H Morgan Tác giả công trình này đã giải thích sự phát triển của các quan hệ gia đình trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau trong sự phát triển của lịch sử nhân loại Từ trạng thái quan hệ tính giao tự do, loài người đã trải qua bốn hình thức gia đình Đó là gia đình huyết tộc, gia đình punalua, gia đình đối ngẫu

và gia đình cá thể

Hôn nhân (Marriage) là sự ràng buộc được công nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà, và như thuật ngữ này thường được hiểu về mặt văn hóa là nhằm mục đích sinh sản hợp pháp, xây dựng một gia đình hạt nhân, hoặc tạo ra một hộ gia đình mới [192; 304]

Tác giả Hoàng Phê đã định nghĩa hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng‖ [97; 445]

Hôn nhân ―người - tiên‖ là sự ràng buộc được công nhận về mặt xã hội giữa một bên là người, một bên là tiên hoặc là sự giao ước vợ chồng giữa một bên là người (có thể là chàng trai và cô gái), một bên là tiên (có thể là chàng trai và cô gái)

1.2.3 Khái niệm “kiểu truyện” và “kiểu truyện hôn nhân người – tiên”

Type, từ tiếng Anh được dịch là kiểu, loại Trong ngôn ngữ thông thường, type chỉ một lớp vật thể có những đặc điểm chung Dựa trên ý nghĩa chung đó, khoa văn học dân gian định nghĩa type là có chung một cốt kể Quan niệm của Stith Thompson

về khái niệm type được tác giả Nguyễn Tấn Đắc đưa ra: ―Type là những cốt kể (narratives) có thể tồn tại độc lập trong kho truyền miệng Dù đơn giản hay phức tạp truyện nào được kể như một cốt kể độc lập đều được xem là type ‖ [39; 11]

Về khái niệm kiểu truyện, chúng tôi kế thừa vận dụng theo quan niệm của nhà

nghiên cứu Nguyễn Thị Nguyệt: “Type truyện là tập hợp những truyện có cùng kiểu dạng,

có cùng nội dung phản ánh và được cấu thành bởi những motif giống nhau‖ [91]

Những truyện có các môtif tương tự nhau làm thành một kiểu truyện và mỗi kiểu truyện có một hệ thống môtif riêng với quan niệm nghệ thuật, ý nghĩa phản ánh

Trang 30

riêng Trong một kiểu truyện có nhiều môtif nhưng không nhất thiết mỗi truyện trong kiểu truyện đó phải có tất cả các môtif chung Có thể có truyện chỉ chung với các truyện khác một hoặc vài môtif

Để lập ra một kiểu truyện, cách thức duy nhất là nghiên cứu các dị bản của kiểu truyện đó Trong quá trình phân tích, khi phát hiện nhiều truyện có những chỗ tương tự nhau thì xếp chúng vào cùng một loại, nghiên cứu những điểm giống nhau đồng thời ghi giữ những điểm giống nhau ấy Tiếp theo, người nghiên cứu tập hợp tất cả các dị bản có những đặc điểm đó lại để trình bày nội dung kiểu truyện đó một cách hoàn hảo nhất

Tóm lại, chúng tôi quan niệm kiểu truyện hôn nhân người – tiên là tập hợp những

truyện có cùng một kiểu dạng, cùng một nội dung phản ánh về một mối quan hệ hôn nhân đặc biệt giữa một bên là ―người‖ và một bên là ―tiên‖ với những môtip đồng dạng như:

môtíp nàng tiên chim, môtíp gặp gỡ, môtíp kết hôn - sinh con, môtíp cấm kị và vi phạm lời cấm, môtíp người chồng đi tìm vợ tiên ở thế giới khác, môtíp đoàn tụ, môtíp chia ly

1.2.4 Khái quát về Đông Nam Á

Khu vực (Region) là thuật ngữ được sử dụng cả vào bối cảnh trong nước lẫn quốc tế.Vì thế, một số khái niệm chung về khu vực đã được đề ra Ví dụ, khu vực là nơi ―có sự đồng nhất trong tiêu chí xác định được lựa chọn và có sự phân biệt khác với những vùng hoặc khu vực kề cận theo những tiêu chí này‖ Hay khu vực là ―vùng chiếm hữu những đặc điểm chung giúp phân biệt nó với các vùng khác hoặc chiếm giữ các đặc điểm đem lại cho nó tính thống nhất‖ Một khái niệm khác cho khu vực ―là một phần bề mặt, không gian có biên giới hoặc có những đặc điểm nhất định‖ [79; 77-86]

Cách hiểu trên về khu vực đều có thể áp dụng cho hai trường hợp bên trong quốc gia và liên quốc gia Điều đó có nghĩa rằng ―Áp dụng cho một vùng có thể khác nhau về quy mô từ các bộ phận nhỏ trong một vùng thủ đô tới các tiểu khu vực lớn hơn trong một lục địa‖ Phân định khu vực cũng được cụ thể hoá trong từng bối cảnh quốc gia và quốc tế Trong khuôn khổ quốc gia, khu vực được hiểu là ―sự phân chia tiếp lãnh thổ quốc gia được phân định ranh giới một cách chính thức cho một chức năng cụ thể nào đó‖, hay ―sự phân chia hành chính của một đất nước‖ Trên quy mô quốc tế, khu vực là ―một vùng lãnh thổ được cấu tạo từ hai hay nhiều quốc gia được phân định ranh giới cho một mục đích cụ thể nào đó‖

Luận án này chúng tôi đề cập tới khu vực liên quốc gia, tức là khu vực bao gồm các quốc gia Việc phân định khu vực có ý nghĩa đối với thực tiễn quan hệ quốc tế của quốc gia Khu vực là môi trường trực tiếp và chứa đựng nhiều lợi ích quốc gia Khu vực là nơi diễn ra nhiều hiện tượng quan trọng trong đời sống quốc tế hiện nay như khu vực hoá, hội nhập khu vực, chủ nghĩa khu vực,…

Phân định khu vực không chỉ giúp chia vùng trong đối tượng nghiên cứu quốc

tế Đó còn là cách tiếp cận và cơ sở phân tích nhiều hiện tượng trong đời sống quốc gia

Trang 31

và quốc tế Vai trò của khu vực cũng góp phần quy định nên cấp độ phân tích khu vực trong nghiên cứu quốc tế

1.2.4.1 Lịch sử hình thành khu vực Đông Nam Á

Ý niệm về Đông Nam Á như một khu vực riêng biệt đã có từ lâu Song cùng với thời gian, khái niệm này ngày càng được hiểu một cách đầy đủ và chính xác hơn Từ xa xưa để chỉ khu vực này, người ta đã dùng nhiều tên gọi khác nhau cho những mục đích riêng biệt: Người Trung Quốc xưa kia thường dùng từ ―Nam Dương‖ để chỉ những nước nằm trong vùng biển phía Nam; Người Nhật gọi vùng này là ―NanYo‖; Người Ả Rập xưa gọi vùng này là ―Qumr‖, rồi lại gọi là ―Waq - Waq‖ và sau này chỉ gọi là ―Zabag‖ Còn người Ấn Độ từ xưa vẫn gọi vùng này là ―Suvarnabhumi‖ (đất vàng) hay

―Suvarnadvipa‖ (đảo vàng) Tuy nhiên đối với các lái buôn thời bấy giờ, Đông Nam Á được nhìn nhận là một vùng thần bí, nơi sản xuất hương liệu gia vị và những sản phẩm

kì lạ khác, còn sinh sống ở đây là những con người thành thạo và can đảm

Tên gọi ―Đông Nam Á‖ được các nhà nghiên cứu chính trị và quân sự của Hà Lan, Anh, Mỹ đưa ra từ những năm đầu khi nổ ra Thế chiến thứ hai, nhưng chính thức

đi vào lịch sử với ý nghĩa là một khu vực địa - chính trị, và quân sự được bắt đầu từ khi Tổng thống Mỹ Franklin D Roosevelt và Thủ tướng Anh Winston Churchill tại Hội nghị Québec lần thứ nhất vào tháng 8 năm 1943 nhất trí thành lập Bộ chỉ huy tối cao quân Đồng Minh ở Đông Nam Á

Đến đầu thế kỷ XX, các phong trào dân tộc tại các quốc gia trên khu vực đã bùng dậy mạnh mẽ để giành lại độc lập tự chủ cho dân tộc; đồng thời cũng từ đó ra sức xây dựng để đất nước ngày càng giàu mạnh hơn Và cũng kể từ đó khu vực này đã bước vào giai đoạn phát triển nhanh chóng cả về mặt quân sự cũng như kinh tế Khu vực Đông Nam Á hiện nay có 11 quốc gia: Việt Nam, Philippines, Thái Lan, Brunei, Campuchia, Malaysia, Indonesia, Lào, Myanma, Singapore, Đôngtimor

1.2.4.2.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của khu vực Đông Nam Á

Đông Nam Á là một khu vực địa lí rộng lớn với tổng diện tích khoảng 4,482,000 km² (bao gồm bán đảo Đông Dương, quần đảo Mã Lai, quần đảo Philippin) Đông Nam Á có địa hình hết sức đặc biệt Nơi đây là chỗ giao nhau của nhiều mảng địa chất có núi lửa và động đất hoạt động mạnh Các quốc gia của khu vực được chia

ra làm hai nhóm chính: Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam nằm ở Đông Nam Á lục địa, còn gọi bán đảo Trung Ấn, trong khi đó các nước còn lại tạo nên nhóm Đông Nam Á hải đảo Nhóm Đông Nam Á hải đảo này được hình thành bởi nhiều cung đảo thuộc về vành đai núi lửa Thái Bình Dương và là một trong những khu vực có hoạt động núi lửa mạnh nhất thế giới

Do điều kiện địa lí của mình, Đông Nam Á chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa, tạo nên hai mùa tương đối rõ rệt: Mùa khô lạnh, mát và mùa mưa tương đối nóng

Trang 32

và ẩm Vì thế, Đông Nam Á còn được gọi là khu vực ―Châu Á gió mùa‖ Chính gió

mùa và khí hậu biển làm cho khí hậu vùng Đông Nam Á đáng lẽ có thể trở nên khô cằn như một số khi vực lục địa khác có cùng vĩ độ đã trở nên xanh tốt và trù phú với những đô thị đông đúc và thịnh vượng như Singapore, Jakarta, Kuala Lumpur, Gió mùa kèm theo những cơn mưa nhiệt đới đã cung cấp đủ nước cho con người dùng trong đời sống và sản xuất hằng năm, tạo nên những cánh rừng nhiệt đới phong phú về thảo mộc và chim muông Đông Nam Á từ lâu đã trở thành quê hương của những cây gia vị, cây hương liệu đặc trưng như hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, hồi, quế, trầm hương,… và cây lương thực đặc trưng là lúa nước

1.2.4.3 Điều kiện văn hóa xã hội của khu vực Đông Nam Á

Cây lúa nước xuất hiện đã làm thay đổi cuộc sống của cư dân Đông Nam Á Cây lúa nước buộc các tộc người phải sống định cư tập trung trong những bản, những làng Lối sống này dẫn tới hình thức tiền nhà nước, dưới hình thức các mường là phổ biến ở Đông Nam Á Đây là cuộc cách mạng văn hóa đầu tiên và cả nền văn học dân gian đều được tổ chức lại, khúc xạ qua cuộc sống này

Sự khúc xạ thứ hai trong văn học đó là sự ra đời của nhà nước Mọi nhà nước của Đông Nam Á đều chấp nhận một trong hai mô hình, hoặc mô hình Ấn Độ như các nước Đông Nam Á ngoài Việt Nam hoặc mô hình Trung Quốc như ở Việt Nam Mọi hình thức văn học đều được tổ chức theo mồ hình này

Sự khúc xạ thứ ba trong văn học là ở cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX ảnh hưởng của nền văn học châu Âu, trong đó những đặc điểm của nền văn học dân gian đã chuyển hóa dần và xuất hiện những hình thức mới, những nội dung mới bắt nguồn từ châu Âu

Đặc biệt, văn học dân gian còn phản ánh rất rõ những tâm thức của người Đông Nam Á qua quá trình sống hàng vạn năm Con người sống dựa vào tự nhiên nên họ dễ dàng tin rằng mọi vật xung quanh đều có linh hồn, con người không phải là vật duy nhất có linh hồn mà cây cối, sông suối, núi đá, đều có linh hồn Có thể nói chỉ khi cây lúa ra đời, Đông Nam Á mới có một nông nghiệp theo quy mô lớn Nông nghiệp lúa nước gần như trở thành độc canh, những tộc người độc canh lúa nước trước sau đều trở thành tộc người chủ thể của quốc gia Lúc này, xuất hiện những tác phẩm văn học dân gian cùng với những nghi lễ, truyền thuyết xung quanh các chủ đề mang tính tương đồng như huyền thoại về ra đời của cây lúa, truyện những chàng dũng sĩ chiến thắng tự nhiên, truyện về những con người thiệt thòi trong xã hội, truyện về sự ra đời của các con vật nhờ trí khôn mà chiến thắng mọi thế lực,

1.2.4.4 Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á

Việt Nam là Quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em Trong đó dân tộc Kinh chiếm số lượng đông nhất là 87% dân số của cả nước, còn lại là 53 dân tộc thiểu số chiếm khoảng 13% dân số Các dân tộc ở Việt Nam sinh sống đan xen ở khắp các địa bàn từ miền ngược đến miền xuôi, từ rẻo cao cho đến đồng bằng, tạo nên sự thống nhất

Trang 33

về lãnh thổ cư trú Đó là sự sinh tụ lâu đời trên một khu vực địa lí và hành lang của Châu Á nhìn ra Thái Bình Dương, theo trục Bắc Nam với hướng mở rộng về phía Nam Điều kiện tự nhiên và những bản sắc văn hóa tộc người vừa phong phú vừa đậm đà Mặc dù phân chia thành các nhóm dân tộc nhưng lại chung một cơ tầng văn hóa - Văn hóa Nam Á nên giữa các dân tộc từ lâu đã hình thành các mối quan hệ nhiều mặt hết sức bền chặt và gần gũi Bên cạnh đó, Việt Nam còn được thừa hưởng một nền văn hóa cổ xưa rực rỡ, thời Đá – Đồng tiền Đông Sơn và Đông Sơn, nền văn hóa Nam Phương mà

W G Solhheim, một nhà khảo cổ học nổi tiếng đã nhận xét là ―những di tích văn hóa của các dân tộc mà tổ tiên của họ đã biết phương pháp trồng cây, chế tạo đồ đá mài và

đồ gốm sớm hơn các dân tộc Cận Đông, Ấn độ, Trung Hoa đến cả ngàn năm‖ Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á nên Việt Nam cũng gần gũi và chịu ảnh hưởng sâu sắc của hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ Đây là hai nền văn minh lớn, dẫn

dắt cho toàn khối Đông Nam Á: Với thực tiễn như vậy, có thể nhìn thấy các điểm tương đồng, tương cận giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa Đông Nam Á như sau:

Một là, về phong tục tập quán: Ở Đông Nam Á có đến hàng trăm dân tộc khác

nhau, vì thế phong tục, tập quán rất đa dạng, tạo nên một bức tranh đa sắc Mặc dù rất

đa dạng, song những tập tục ấy vẫn có nét gần gũi, tương đồng nhau, là mẫu số chung quy tụ, giao thoa trên nền tảng của cơ sở văn hóa bản địa Đông Nam Á - Một nền tảng

văn minh nông nghiệp trồng lúa nước

Hai là, sinh sống trong khu vực bị chi phối bởi hệ thống khí hậu nhiệt đới, gió

mùa, các cư dân Đông Nam Á đã sáng tạo nên những nền văn hoá tộc người và địa phương đa dạng, phong phú trên cơ tầng chung của văn hoá nông nghiệp Họ chủ yếu sống bằng lúa gạo, với hai hình thức canh tác: ruộng nước và nương rẫy; thuần dưỡng trâu, bò làm sức kéo

Ba là, về lễ hội: Cũng giống như sự đa dạng của phong tục, tập quán Có thể

nói, ở mỗi dân tộc mùa nào, tháng nào trong năm cũng có lễ hội

Bốn là, về tín ngưỡng bản địa: Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, cùng sinh ra và

lớn lên trong một khu vực địa lý, văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước Tín ngưỡng bản địa Đông Nam Á dù hết sức đa dạng, nhiều vẻ nhưng vẫn thuộc về ba loại chính: Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ cúng người đã mất Cái chung đó xuất phát từ thuyết vạn vật hữu linh, tức thuyết mọi vật đều có hồn

Năm là, một bộ phận cư dân Đông Nam Á rất thạo các nghề trong môi trường

sông nước, họ đánh bắt cá và các loài thủy hải sản khác trên sông, trên các hồ và đầm phá cũng như ở các vùng biển gần bờ

Sáu là, ta còn có thể thấy những điểm tương đồng khác như: ngành nghề thủ

công như: dệt nhuộm, đan lát, làm gốm, sơn mài, điêu khắc gỗ, kim hoàn… rất phát triển Đây là khu vực đa dạng các hình thức trình diễn dân gian như rối bóng, rối nước;

âm nhạc truyền thống và các loại nhạc cụ rất gần với thiên nhiên

Trang 34

Bảy là, con người Đông Nam Á rất xem trọng giá trị gia đình, tinh thần kính

trọng người già được đề cao, tổ tiên được coi trọng; truyền thống cộng đồng làng/bản bền chặt

Có thể nói, Việt Nam như một Đông Nam Á thu nhỏ mang tất cả những đặc trưng chung của các nước trong khu vực Chính những điểm tương đồng ở điều kiện tự nhiên và điều kiện văn hóa xã hội nên nền văn hóa dân gian của các nước trong khu vực cũng có điểm tương đồng, trong đó, phải nhắc đến kho tàng văn học dân gian và

kiểu truyện hôn nhân người - tiên ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á được nảy sinh

từ một ―dòng sữa mẹ‖ nên có nhiều nét chung

1.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.3.1 Lý thuyết loại hình học

Mỗi tác phẩm văn hóa nghệ thuật của từng dân tộc có những nét riêng mang bản sắc độc đáo không thể lẫn lộn được, mặt khác trong di sản văn học và văn hóa giữa các dân tộc dù gần gũi hoặc rất xa nhau vẫn có những nét chung thậm chí trùng hợp vì các tác phẩm nghệ thuật đều bị chi phối bởi hai quy luật: Thứ nhất là hiện thực lịch sử xã hội của một dân tộc; thứ hai là chi phối bởi những quy luật chung trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của nhân loại Lịch sử nhân loại mang tính thống nhất của những quy luật Vì vậy, những giai đoạn giống nhau của sự phát triển ở những dân tộc khác nhau lại qui định sự giống nhau trong sáng tạo văn hóa của họ Có thể đó là sự giống nhau của những kiểu truyện, những cốt truyện, những thủ pháp nghệ thuật ở những dân tộc vốn không có mối liên hệ gì Mặt khác, tác phẩm văn học dân gian không phải ―nhất thành bất biến‖ Ban đầu, có khi nó chỉ là một môtíp đơn giản nhưng trong tiến trình nó được móc nối, đồng hóa, biến dạng cùng các môtíp khác làm cho diện mạo của nó không còn giữ nguyên như xưa nữa Thế là những cốt truyện mới được xuất hiện Rồi những cốt truyện đó lại tiếp tục phát triển, biến đổi làm nảy sinh những dị bản khác mang dấu ấn lịch sử và đặc điểm sáng tạo nghệ thuật các giai đoạn khác nhau của một cộng đồng hay một dân tộc Trước tình hình này, trong ngành văn học dân gian đã tìm tới lý thuyết loại hình học:

Theo I.Iuđin đã đưa ra khái niệm loại hình hình học như sau: ―Là sự tương đồng, tương tự, sự thống nhất của các hình tượng trong các tác phẩm khác nhau về đề tài, cốt truyện, sắc thái tu từ về nội dung và thể loại‖

Loại hình học trong khoa văn học dân gian là phương pháp nhận thức các hiện tượng và tác phẩm văn học dân gian thông qua việc khám phá các yếu tố cấu thành cũng như quá trình, những mối liên hệ biện chứng trong sự vận động của thời gian và không gian

Một số những trường phái trong loại hình học:

Đầu tiên, ở Nga, trường phái thần thoại là Ph.I.Buxlsep, A.N.Aphanaxeep, Ơ Minlerơ,… Đại biểu trường phái thần thoại giải quyết ba vấn đề chính: Cội nguồn xuất

Trang 35

hiện của văn học dân gian như thế nào, tại sao có sự giống nhau và khác nhau của những cốt truyện, hình tượng văn học dân gian ở các dân tộc khác nhau và ý nghĩa tư tưởng của chúng ở đâu Tuy nhiên, trường phái thần thoại lại có cách nhìn phiến diện cho rằng văn học dân gian xuất hiện trên cơ sở thần thoại và sau đó, các dân tộc Ấn,

Âu, thân thuộc đã tiếp nhân ―đất tổ‖ những di sản văn hóa chung Điều đó cắt nghĩa sự giống nhau của những cốt truyện và hình tượng văn học dân gian của các dân tộc khác nhau Nhưng trường phái này có đóng góp quan trọng là chỉ ra sự phong phú của văn hóa cổ các dân tộc Slavơ, chỉ ra vai trò của người nông dân trong việc bảo lưu truyền thống văn hóa dân tộc và đặt ra nguồn gốc văn hóa dân gian

Đến thế kỉ XIX, trường phái lý thuyết vay mượn được lan rộng ở phương Tây

và cả nước Nga Trường phái này đã đặt ra nhiệm vụ mới là tìm hiểu nguyên nhân về

sự tương đồng:

TodoBenphây là người Đức đại diện nổi tiếng của trường phái này Ông tốn nhiều công sức để đi tìm sự giống nhau một cách kì lạ của những truyện cổ dân gian Xanxơcơrít (Ấn Độ) với truyện của các dân tộc Châu Âu và ngoài Châu Âu Ông cho rằng sự giống nhau của các cốt truyện không chỉ do tính huyết thống của các dân tộc

mà do những mối liên hệ lịch sử - văn hóa giữa họ, do sự di chuyển

Ở Nga, đại biểu của lý thuyết vay mượn là A.N.Pưpin, ông đã đưa những cốt truyện gắn với những truyện cổ dân gian và bài ca anh hùng của phương Đông Trường phái

lý thuyết vay mượn đã có sự đóng góp mới là khám phá ra một vài trường hợp cụ thể của việc di chuyển cốt truyện đã đưa phương pháp so sánh đi xa Mặc dù vậy, lý thuyết vay mượn đã bị phê phán một cách có lý bì họ quá cường điệu vai trò của sự di chuyển

và tính lưu vong của những cốt truyện, tách rời tác phẩm khỏi cơ sở lịch sử dân tộc, không đánh giá đúng sức mạnh sáng tạo của quần chúng nhân dân, phủ định tính tự thân trong sự ra đời của tác phẩm văn học dân gian và tính độc đáo dân tộc của nó

Từ trường phái thần thoại và lý thuyết di chuyển trong việc giải thích sự tương đồng này dẫn đến sự hình thành một lý thuyết mới – lý thuyết tự sản sinh những cốt truyện mà trên cơ sở đó mà trên cơ sở đó ra đời trường phái nhân loại học Những người khởi xướng của trường phái này là các nhà bác học anh: Taylor, Lănggơ, Phrê

dơ và các nhà dân tộc học Folklore học Pháp như Lêvi, Bruyn, Pxanhtivơ Trường phái này giải thích sự tương đồng của văn hóa vật chất và tinh thần của các dân tộc vốn không có liên quan đến huyết tộc người hoặc những mối liên hệ chính trị, kinh tế, bằng những đặc điểm chung của bản chất nhân loại, sự giống nhau của tâm lý giữa mọi người và tư duy của họ ở những mức độ giống nhau của sự phát triển lịch sử Những đại diện của trường phái nhân loại đã cho rằng các dân tộc tự sáng tạo lấy văn hóa cuả mình và làm phong phú thêm cho văn hóa các dân tộc trên thế giới, đồng thời chứng minh sự phát triển của nền văn hóa thế giới coi đó là một quá trình có tính quy luật

Trang 36

Tuy vậy, trường phái nhân loại học không thể giải thích một duy vật, đúng đắn về sự tương đồng của các hiện tượng văn học dân gian

Cuối thế kỉ 19, trong khoa văn học dân gian Nga xuất hiện trường phái lịch sử Đứng đầu trường phái là V.H.Minler (1848 – 1931) Sau này có một số những nhà khoa học khác tiếp thu tư tưởng của V.H.Minler là M.N.X pêranxki, K.K.Sabinagô, B.M Xôcôlôp… Mục tiêu của trường phái lịch sử là quan tâm mối liên hệ giữa tác phẩm với hiện thực và lịch sử Nhưng sự sai lầm của trường phái này là không đánh giá đúng đặc thù nghệ thuật của sáng tạo văn học dân gian Họ so sánh trực diện giữa những cốt truyện, hình tượng văn học dân gian với những sự kiện và nhân vật lịch sử

và họ đã hạ thấp vai trò sáng tạo của nhân dân với tác phẩm văn học dân gian

Cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, trường phái lịch sử địa lý được khởi phát ở Phần Lan Người đứng đầu trường phái này phải nhắc đến tên tuổi của hai cha con Crôn là nhà nghiên cứu văn học dân gian Ông Giuliut Crôn vận dụng phương pháp so sánh để phân tích các dị bản sử thi – truyền thuyết Calêvala qua đó giải thích về mối quan hệ giữa sử thi Phần Lan với dân ca vùng Scăngđinavơ cổ đại với dân ca Nga Cac Crôn đã mở rộng việc nghiên cứu so sánh văn học dân gian các nước khác nhau trên thế giới Cac Crôn cho rằng nhiệm vụ hàng đầu của trường phái Phần Lan là xác định không chỉ dạng thức ban đầu cổ nhất của mỗi truyện cổ tích mà còn phải xác định ―quê hương ban đầu‖ của nó bằng cách theo dõi ―những con đường di chuyển của nó‖ Sau đó bằng phương pháp địa lý – lịch sử hoặc địa lý – thống kê các nhà văn học dân gian phải tiến hành phân loại tác phẩm thành các típ hoặc mô típ của chúng Để chứng minh cho lí luận khoa học của cha con Crôn, Anti Acnơ đã xây dựng bảng chỉ dẫn các kiểu truyện cổ dân gian bằng tiếng Đức Về mặt khoa học, đây là bảng chỉ dẫn ―đơn giản, tiện dụng, vừa có tính quốc tế lại vừa có thể dễ dàng thay vào đó bất cứ tư liệu truyện cổ dân gian của một nước nào khác, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc bổ sung và thay đổi‖ Dựa trên những khuôn mẫu này, một loạt những nhà văn học dân gian ở Thụy Điển, Tiệp Khắc, Đức, Ai – len… đã xây dựng các bảng chỉ dẫn về típ, môtíp văn học dân gian của nước mình Nổi bật lên trong số đó có

―Bảng chỉ dẫn cốt truyện cổ truyện cổ tích theo hệ thống A Aarnes của A P An đrêép‖

―Bảng chỉ dẫn các môtíp văn học dân gian‖ của Stith Thompson người Mỹ biên soạn dưới sự giúp đỡ của A Aarnes xuất bản ở Henxinhki từ năm 1932 đến 1937 và bảng chỉ dẫn so sánh các cốt truyện

Từ việc chỉ ra những hạn chế, tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực trong các trường phái nghiên cứu văn học dân gian thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 đã từng bước đi sâu khám phá, tìm con đường tiếp cận văn học dân gian theo phương pháp loại hình học ngày càng khoa học hơn, V.Ia Prốp (1895 – 1980) nhà Ngữ văn Xô Viết lỗi lạc đã

xuất bản cuốn ―Hình thái học truyện cổ tích‖ vào năm 1928 Những trang đầu tiên của tập sách ―Hình thái học truyện cổ tích‖, V Ia Prốp đặt ra vấn đề ―Rõ ràng rằng trước

Trang 37

khi trả lời câu hỏi truyện cổ tích từ đâu mà xuất hiện thì cần trả lời câu hỏi nó là gì?‖

―Hình thái học‖ là thuật ngữ của ngành sinh học dùng để nghiên cứu bộ phận cấu thành của thực vật và những quan hệ giữa chúng với nhau cũng như với tổng thể, nói cách khác là sự nghiên cứu về kết cấu thực vật Công trình này, V Ia Prôp sử dụng khái niệm đó để nghiên cứu các dạng thức và những qui luật kết cấu của truyện cổ tích thần kì Sau khi phân tích, một khối lượng lớn những truyện cổ tích thần kì V Ia Prôp

đã rút ra nhận xét:

1 Chức năng nhân vật là những yếu tố thường xuyên, bền vững của truyện cổ tích không lệ thuộc vào vấn đề chúng do ai thực hiện và thực hiện thế nào? Mà những chức năng này làm thành những cấu tử cơ bản của truyện cổ tích

2 Số lượng các chức năng phổ biến trong truyện cổ tích thần kì rất hạn chế

3 Tính liên tục của các chức năng luôn luôn giống nhau

4 Tất cả các truyện cổ tích thần kì đều có những kiểu kết cấu giống nhau

V Ia Prôp đã chống lại quan điểm cơ bản của Lý thuyết vay mượn: Ông đi tìm

nguyên nhân của sự giống nhau đó không phải ở sự di chuyển cốt truyện, không phải ở chỗ một dân tộc này truyền đi một dân tộc khác tiếp nhận mà ở những nguyên tắc chung của sự sáng tạp văn học dân gian, tức mối quan hệ giữa tác phẩm cổ tích với hiện thực đời sống và trong sự thống nhất với cội nguồn lịch sử của chúng

Nghiên cứu những tác phẩm dân gian theo hướng loại hình học đã đạt được hiệu quả lớn lao, người được thừa nhận là nhà loại hình học mác xít là Viện sĩ thông tấn viện Hàn lâm khoa học Liên Xô V.M.Girmunxki V.M.Girmunxki một mặt phê phán tính phiến diện của các công trình trước đó, mặt khác ông xác lập những cơ sở nguyên tắc cho phương pháp so sánh loại hình – lịch sử của khoa văn học dân gian mác xít V.M.Girmunxki xuất phát từ những luận điểm mác xít về sự thống nhất và những quy luật của quá trình lịch sử V M.Girmunxki đặt ra cho các nhà nghiên cứu

văn học dân gian hiện nay những nhiệm vụ cụ thể mà muốn hoàn thành được thì phải tìm hiểu sâu sắc những hiện tượng tương đồng, những nét chung có tính lịch sử và sự tác động lẫn nhau trong kiểu sáng tác dân gian khác nhau Những công trình nghiên

cứu loại hình – lịch sử, V.M.Girmunxki đóng góp lớn về mặt lí luận và thực tiễn

Như vậy, đã có rất nhiều những trường phái khác nhau nghiên cứu về quy luật của văn học và tìm ra mối quan hệ của tác phẩm với hiện thực đời sống xã hội lịch sử nhất định thì đều thống nhất về phương pháp nghiên cứu dựa trên sự tương đồng loại hình có tính quy luật trong các hiện tượng giống nhau, sự tương đồng về mặt cốt truyện [152; 193 - 225]

Trên thế giới, nhà nghiên cứu Stith Thompson đã vận dụng thành công lý thuyết nghiên cứu loại hình học, ông có đóng góp quan trọng cho ngành cổ tích học thế giới bằng việc xác lập các bảng tra type và mô típ văn học dân gian qua một loạt những

Trang 38

công trình: ―Bảng tra cứu motif văn học dân gian (6 tập 1932 – 1936), Truyện cổ tích (1946), Truyện kể về người chồng là các vì sao (1953) và Type truyện dân gian (1961) Stith Thompson cho rằng cần phải có bảng tra type và motif truyện cổ vì:

―Truyện cổ tích, sử thi, thần thoại, truyền thuyết được sản sinh ra từ khắp mọi nơi trên thế giới, cả ở những nơi văn minh, cả ở những xứ sở lạc hậu, và không một người nào

dù có khả năng và có sự giúp đỡ tiến bộ công nghệ đến đâu cũng không thể đọc được hàng ngàn tập trong suốt cuộc đời mình‖ Hơn nữa, theo quan điểm của Thompson

―Sự tương đồng không phải lúc nào cũng thể hiện ở mức độ những câu chuyện hoàn chỉnh mà chính là ở mức độ các motif đơn nhất Vì vây, nếu một cố gắng có thể làm giảm tư liệu truyện kể truyền thống của toàn thế giới xuống thành các trật tự thì chắc chắn phải là bảng phân loại motif đơn nhất – những motif được lẩy ra từ những câu chuyện đã được sáng tác hoàn chỉnh Những thành tố đơn giản này có thể lập thành một cơ sở chung cho sự sắp xếp hệ thống văn học truyền thống‖ [Nguyễn Thị Huế

(2012), Từ điển type truyện dân gian, Nxb Lao Động trang 1006]

Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã đặc biệt linh hoạt và sáng tạo ứng dụng

lý luận nghiên cứu loại hình trong nghiên cứu văn học dân gian và đạt được nhiều

thành tựu đáng kể như tác giả Đinh Gia Khánh nghiên cứu công trình Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám, Nguyễn Thị Bích Hà nghiên cứu Kiểu truyện Người em trong truyện cổ tích Việt Nam và Châu Âu viết: ―Phương pháp so sánh loại hình là phương pháp nghiên cứu dựa trên những nét giống nhau,

những nét tương đồng bộ phận hay toàn thể, những tình tiết hay hành động tương tự trong văn học dân gian Những so sánh nhìn từ góc độ giống nhau của các đối tượng

đó sẽ gợi ra một tiếng nói chung, một thông điệp từ quá khứ, làm sáng tỏ thêm những quy luật văn học và có cái nhìn sâu rộng, phong phú về đối tượng, mà khi tách rời các hiện tượng chung ấy thì cái nhìn trở nên rời rạc, manh mún, hoặc sai lệch Những thể loại, kiểu truyện, môtip, kiểu nhân vật, công thức chung,… của văn học dân gian khu vực và nhân loại chính là đối tượng, đơn vị nghiên cứu chủ yếu của văn học dân gian hiện nay chứ không phải là đơn vị tác phẩm, câu, từ, hình ảnh riêng biệt‖ [146; 114]

Chúng tôi vận dụng lý thuyết loại hình học trong nghiên cứu kiểu truyện có nghĩa là tập hợp tất cả những điểm giống nhau để tạo thành sự lặp lại mang tính phổ

quát thống nhất như kiểu, dạng chẳng hạn: ―Kiểu truyện về người mồ côi‖, ―Kiểu truyện dũng sĩ‖, ―Kiểu truyện chàng ngốc‖, ―Kiểu truyện con vật tinh ranh‖ Kiểu truyện hôn nhân người - tiên là tìm ra những đặc điểm giống nhau của nhân vật

―người‖ và nhân vật ―tiên‖ để xếp chúng vào loại hình giống nhau từ đó gọi là kiểu (type) và qua đó, chỉ ra các đặc điểm của kiểu truyện với các môtíp tương đồng và chỉ

ra mối quan hệ của kiểu truyện với điều kiện lịch sử xã hội

1.3.2 Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa

Trang 39

Thuật ngữ giao lưu văn hóa được sử dụng rộng rãi trong các ngành học có đối tượng là văn hóa học như nhân học, xã hội học, văn hóa học, dân tộc học…

Người Anh dùng chữ "Cultural Change", có thể dịch là trao đổi văn hóa; người Tây Ban Nha dùng chữ "Transculturation", nghĩa là di chuyển văn hóa; người Pháp có thuật ngữ

"Interpénétration dé vivilisations " nghĩa là sự giao nhập giữa các nền văn minh ; người Hoa

Kỳ sử dụng thuật ngữ "Acculturation" có thể dịch là giao lưu văn hóa Văn hóa là sản phẩm sáng tạo của con người Mỗi một nền văn hóa tồn tại và phát triển là nhờ thường xuyên trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác Hay nói cách khác, kế thừa và giao lưu văn hóa là hai quy luật cơ bản chi phối, quyết định đến sự sinh tồn của mỗi một nền văn hóa Nếu quy luật kế thừa là sự khái quát hoá quá trình phát triển văn hoá diễn ra theo trục thời gian thì giao lưu và tiếp biến văn hoá nhìn nhận sự phát triển văn hoá trong mối quan hệ không gian với nhiều phạm vi rộng hẹp khác nhau, tuỳ trình độ phát triển và đặc điểm riêng của mỗi dân tộc Nhờ sự tiếp xúc, trao đổi văn hóa giữa các tộc người, giữa các vùng, các quốc gia mà văn hóa văn hóa vận động như một dòng chảy xuyên không gian và thời gian Giao lưu văn hóa được xem là dấu hiệu gắn với tiến bộ xã hội Một cộng đồng xã hội càng mở rộng sự giao lưu văn hóa với bên ngoài, hấp thụ được nhiều tri thức mới

lạ, làm cho quỹ thông tin xã hội tăng lên sẽ có nhiều tiềm năng sáng tạo văn hóa Ngược lại, cộng đồng sinh hoạt theo kiểu khép kín, thu mình trong sự tự trị của những mối quan hệ nội giao sẽ làm không kiệt tiềm năng sáng tạo, cuối cùng không tránh khỏi nguy cơ suy thoái Giao lưu văn hoá thực chất là sự gặp gỡ, đối thoại giữa các nền văn hoá Quá trình này đòi hỏi mỗi nền văn hoá phải biết dựa trên cái nội sinh để lựa chọn tiếp nhận cái ngoại sinh, từng bước bản địa hoá nó để làm giàu, phát triển văn hoá dân tộc

Trong tiếp nhận các yếu tố văn hoá ngoại sinh, hệ giá trị xã hội và tâm thức dân tộc có vai trò rất quan trọng Nó là "màng lọc" để tiếp nhận những yếu tố văn hoá của các dân tộc khác, giúp cho văn hoá dân tộc phát triển mà vẫn giữ được sắc thái riêng của mình Giao lưu văn hoá là qúa trình gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi lẫn nhau giữa nền văn hoá này với một nền văn hoá khác, tạo nên sự biến đổi của một hoặc của tất cả các nền văn hóa tham gia vào quá trình gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi đó Quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá thường diễn ra theo hai hình thức: giao lưu văn hóa tự nguyện và giao lưu văn hóa cưỡng bức Đối với hình thức tự nguyện, thông qua các hoạt động như buôn bán, thăm hỏi, du lịch, hôn nhân, quà tặng…mà văn hoá được trao đổi trên tinh thần tự nguyện Còn hình thức cưỡng bức giao lưu văn hóa thường gắn liền với các cuộc chiến tranh xâm lược thôn tính đất đai và đồng hoá văn hoá của một quốc gia này đối với một quốc gia khác Trong quá trình phát triển của lịch sử và văn hoá, bên cạnh thuật ngữ

"giao lưu văn hóa" còn xuất hiện nhiều thuật ngữ như tiếp biến, tiếp xúc, giao tiếp liên văn hoá, giao thoa văn hoá, đối thoại văn hoá Nhưng xét cho cùng bản chất của chúng

là giống nhau, tuy nội dung và hình thức biểu hiện của chúng lại khác nhau

Trang 40

Tiếp biến văn hoá là quá trình mà trong đó các thành viên của nhóm văn hoá thông qua niềm tin và hành vi của nhóm khác, chuyển từ lối sống riêng của mình để thích ứng Tiếp biến văn hóa là thuật ngữ khoa học xuất hiện vào cuối thể kỉ XIX, đầu thế

kỉ XX trong các nghiên cứu nhân học của các nhà khoa học Mỹ khi họ nhận thấy sự biến đổi văn hóa của các tộc người châu Mỹ trước sự nhập cư của các dân tộc châu Âu và châu Phi Nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này được xuất bản, xuất phát từ nhiều góc nhìn khác nhau: nhân học, tâm lí học, giáo dục học… với nhiều quan niệm và cách lí giải tiếp biến văn hóa Nhưng nhìn chung, các nhà khoa học dù xuất phát từ giác

độ nào cũng rất quan tâm đến bản chất quá trình, phương thức và kết quả của tiếp biến văn hóa Có thể khái quát các quan niệm trên thành hệ thống như sau:

Về khái niệm

Nhà nhân học văn hóa Bắc Mỹ Franz Boas nhấn mạnh rằng, không nên nhìn nhận các đặc điểm văn hóa một cách ngẫu nhiên, mà phải nhìn nhận nó trong khuôn khổ của một quá trình lịch sử duy nhất cho đến tận khi nào nguồn gốc của nó đã trở nên mù mờ thì thôi Ông đã tìm hiểu các đặc điểm văn hóa trong khuôn khổ của hai

quá trình lịch sử: truyền bá và biến đổi Boas sử dụng các khái niệm chủ chốt này để

giải thích văn hóa và diễn giải ý nghĩa của văn hóa Ông tin rằng: hành động sáng tạo văn hóa của một dân tộc cơ bản là kết quả tích lũy của truyền bá Ông coi các nền văn hóa như là bao gồm vô tận các sợi chỉ lỏng lẻo, mà hầu hết đều có nguồn gốc từ bên ngoài, nhưng được đan dệt lại với nhau thành một tấm thảm văn hóa mới của chúng Các yếu tố cụ thể bắt đầu liên kết lại khi thời gian qua đi [160; 57 -58]

Năm 1936, Robert Redfield, Ralph Linton và Melville Herskovits xuất bản

Trích lục về Nghiên cứu Tiếp biến văn hoá khi vấn đề này trở thành một trong những

nội dung quan trọng của nhân học Mặc dù vào thời điểm công bố, tuy mới chỉ ở ―dạng

khung‖, nhưng Bản trích lục đã cung cấp sườn khá chi tiết cho các nghiên cứu về hội

nhập văn hóa và tiếp biến văn hóa Các ông nêu khái niệm: ―Tiếp biến văn hóa được hiểu là những hiện tượng xảy ra khi những nhóm các cá thể có văn hóa khác nhau tiến hành tiếp xúc trực tiếp ―Và lâu dài, với những thay đổi sau đó đối với mẫu hình văn hóa ban đầu của một trong hai hoặc cả hai nhóm‖ [183; 150] Tiếp biến văn hóa không phải là thay đổi văn hóa chỉ diễn ra ở một khía cạnh và sự đồng hóa là một phần trong các giai đoạn tiếp biến văn hóa Đồng thời, tiếp biến văn hóa cũng khác với liên hợp mặc dù liên hợp diễn ra ở mọi ví dụ của tiếp biến văn hóa Như vậy, liên hợp văn hóa, thay đổi văn hóa là một khâu trong quá trình tiếp biến và đồng hóa văn hóa có thể là một trong các kết quả của tiếp biến văn hóa

Tại Việt Nam, thuật ngữ tiếp biến văn hóa (acculturation) được các nhà văn hóa học dịch theo nhiều cách khác nhau: ―Văn hóa‖ (Nguyễn Khắc Viện), ―hỗn dung văn hoá‖ (Nguyễn Đức Từ Chi), ―đan xen văn hóa‖ (Trần Quốc Vượng), ―tiếp biến văn hóa‖ (tiếp xúc và biến đổi văn hóa) (Hà Văn Tấn) GS Trần Quốc Vượng cho rằng:

Ngày đăng: 28/11/2020, 14:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w