1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo Dục Kĩ Năng Hoạt Động Nhóm Cho Trẻ 5-6 Tuổi Trong Trò Chơi Đóng Vai Theo Chủ Đề Ở Trường

296 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 296
Dung lượng 11,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng giáo dục các kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non .... Thực trạng các biện pháp giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRẦN THỊ KIM YẾN

GIÁO DỤC KĨ NĂNG HOẠT ĐỘNG NHÓM

CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI

THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON

Chuyên ngành: Giáo dục mầm non

Mã số: 9.14.01.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Hòa

Hà Nội - 2020

Trang 2

Với tất cả tấm lòng kính trọng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Hòa đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp em trong suốt thời gian học

tập và nghiên cứu Cô đã trực tiếp, tận tình, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất

để em hoàn thành luận án này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy, Cô giáo Khoa Giáo dục Mầm non, Phòng Sau đại học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Tổng Biên tập, các cán bộ biên tập viên của các tạp chí Giáo dục & xã hội; Tạp chí Giáo dục - Bộ GD-ĐT đã tạo điều kiện cho em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận án

Em cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất tới: Gia đình, người thân, đồng nghiệp và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ để em hoàn thành luận án này

Hà Nội, ngày 7 tháng 8 năm 2020

NCS Trần Thị Kim Yến

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất

kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận án

NCS Trần Thị Kim Yến

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2

3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3

6 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

7 CÁC CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

8 NHỮNG LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ 6

9 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 7

10 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KĨ NĂNG HOẠT ĐỘNG NHÓM CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8

1.1.1 Những nghiên cứu về kĩ năng hoạt động nhóm 8

1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ mẫu giáo 10

1.1.3 Nghiên cứu giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ mẫu giáo trong trò chơi đóng vai theo chủ đề 14

1.1.4 Đánh giá chung về tổng quan nghiên cứu vấn đề 19

1.2 Các khái niệm cơ bản 20

1.2.1 Khái niệm kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ mẫu giáo 20

1.2.2 Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề 24

Trang 5

1.2.4 Khái niệm giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi

đóng vai theo chủ đề 25

1.2.5 Khái niệm biện pháp giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề 26

1.3 Kĩ năng hoạt động nhóm trong trò chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 27

1.3.1 Đặc điểm của kĩ năng hoạt động nhóm 27

1.3.2 Cấu trúc các kĩ năng thành phần của kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ mẫu giáo 27

1.3.3 Các giai đoạn phát triển kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ mẫu giáo 29

1.3.4 Đặc điểm của trò chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ mẫu giáo ở trường mầm non 32

1.3.5 Vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề trong việc giáo dục và phát triển kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non 34

1.3.6 Một số trò chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ 5 – 6 tuổi ở vùng miền núi Tây Nguyên 35

1.3.7 Đặc điểm kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề 38

1.3.8 Những biểu hiện của các kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề 39

1.3.9 Đánh giá mức độ kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề 45

1.4 Một số vấn đề về giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non 46

1.4.1 Quá trình giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non 46

1.4.2 Vai trò của biện pháp giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề 55

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5 – 6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non 55

Trang 6

1.5.3 Cha, mẹ của trẻ 57

1.5.4 Điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện ở trường mầm non 58

1.5.5 Yếu tố môi trường xã hội 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 59

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG HOẠT ĐỘNG NHÓM CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON 60

2.1 Khái quát về địa bàn khảo sát 60

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 60

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 60

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 62

2.2.1 Mục tiêu khảo sát 62

2.2.2 Nội dung khảo sát 62

2.2.3 Khách thể khảo sát và địa bàn khảo sát 62

2.2.4 Thời gian khảo sát 63

2.2.5 Phương pháp và công cụ khảo sát 63

2.2.6 Cách tiến hành khảo sát kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non 63

2.3 Kết quả khảo sát thực trạng 67

2.3.1 Thực trạng giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non 67

2.3.2 Thực trạng kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề 81

2.3.3 Đánh giá chung về thực trạng giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non 95

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 99

Trang 7

3.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho

trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non 100

3.1.1 Đảm bảo phù hợp với mục tiêu, nội dung Chương trình giáo dục mầm non hiện hành 100

3.1.2 Đảm bảo phù hợp với thực tiễn, với đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm hoạt động nhóm của trẻ 5-6 tuổi, đảm bảo các cơ hội trẻ phối hợp, hợp tác với bạn một cách tích cực, chủ động, sáng tạo trong các hoạt động nhóm 100

3.1.3 Đảm bảo các nguyên tắc của giáo dục hoạt động nhóm 101

3.2 Những yêu cầu khi tổ chức trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ 101

3.3 Một số biện pháp giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non 102

3.3.1 Các biện pháp giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm trước khi trẻ chơi 103

3.3.2 Các biện pháp giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm trong khi trẻ chơi 117

3.3.3 Biện pháp giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm khi kết thúc trò chơi 124

3.4 Thực nghiệm các biện pháp giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non 126

3.4.1 Mục đích thực nghiệm 126

3.4.2 Đối tượng thực nghiệm 126

3.4.3 Nội dung thực nghiệm 126

3.4.4 Chọn mẫu thực nghiệm 126

3.4.5 Thời gian thực nghiệm 127

3.4.6 Tổ chức thực nghiệm 127

3.4.7 Kết quả thực nghiệm 129

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 138

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 140

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN 143

TÀI LIỆU THAM KHẢO 144 PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 1.1 Biểu hiện của kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ mẫu giáo 44 Bảng 2.1 Nhận thức của giáo viên về giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6

tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non 68 Bảng 2.2 Thực trạng giáo viên sử dụng các phương tiện giáo dục kĩ năng hoạt động

nhóm cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 70 Bảng 2.3 Thực trạng giáo dục các kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 5-6 tuổi trong trò

chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non 72 Bảng 2.4 Thực trạng xây dựng phương tiện, cơ sở vật chất và môi trường giáo dục kĩ

năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề

ở trường mầm non 73 Bảng 2.5 Thực trạng các biện pháp giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6

tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non của giáo viên mầm non 76 Bảng 2.6 Khó khăn của giáo viên khi giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6

tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề 79 Bảng 2.7 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục kĩ năng hoạt

động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non 80 Bảng 2.8 Đánh giá chung các kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi

đóng vai theo chủ đề 81 Bảng 2.9 Các biểu hiện kĩ năng tạo nhóm chơi của trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng

vai theo chủ đề 85 Bảng 2.10 Các biểu hiện kĩ năng phối hợp giữa các thành viên trong nhóm chơi của

trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề 87 Bảng 2.11 Các biểu hiện kĩ năng thực hiện nhiệm vụ của nhóm chơi trong trò chơi

đóng vai theo chủ đề của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 90

Trang 9

mầm non 92 Bảng 2.13 Các biểu hiện kĩ năng phát triển nhóm chơi của trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi

đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non 94 Bảng 3.1 Kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 5-6 tuổi ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

trước thực nghiệm vòng 1 (trò chơi bán hàng - chợ Tây nguyên) 129 Bảng 3.2 Kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 5-6 tuổi ở lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng sau thực nghiệm vòng 1 (trò chơi "bác sĩ thú y") 130 Bảng 3.3 Kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 5-6 tuổi ở lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng trước thực nghiệm vòng 2 (trò chơi du lịch Tây nguyên) 133 Bảng 3.4 Kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 5-6 tuổi ở lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng sau thực nghiệm vòng 2 (trò chơi Lễ hội Tây nguyên) 135

Trang 10

Biểu đồ 2.1 Nhận thức của giáo viên về tính cần thiết của giáo dục kĩ năng hoạt

động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở

trường mầm non 67 Biểu đồ 2.2 Biểu hiện kĩ năng hoạt động nhóm trong trò chơi đóng vai theo chủ đề

của trẻ 5-6 tuổi ở Trường Mầm non Thắng lợi và Trường mầm non Hoa

Pơ Lang 83 Biểu đồ 2.3 Biểu hiện KNHĐN trong trò chơi ĐVTCĐ của trẻ 5-6 tuổi theo giới tính 84 Biểu đồ 3.1 Biểu đồ so sánh điểm trung bình của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm

trước và sau thực nghiệm 131

Trang 11

STT Viết tắt Viết đầy đủ

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật thì hoạt động nhóm là một xu thế tất yếu, bởi không phải công việc nào, tình huống nào… chúng

ta cũng có thể tự mình giải quyết hiệu quả Vì vậy, mỗi cá nhân cần phải có kĩ năng làm việc theo nhóm để làm việc cùng nhau

Việc hình thành kĩ năng hoạt động nhóm (KNHĐN) cần được bắt đầu càng sớm càng tốt, vừa tạo thành công cụ sống cho trẻ, vừa góp phần giúp trẻ phát triển hoàn thiện nhân cách Hơn nữa, 5 - 6 tuổi là giai đoạn nhân cách phát triển mạnh và được định hình về cơ bản Điều 22, Luật Giáo dục nước ta quy định [46] “Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một” nhằm thực hiện mục tiêu trên, nhà giáo dục không chỉ chú ý đến việc truyền thụ kiến thức đơn lẻ mà quan tâm đến cách dạy, cách làm việc cùng nhau giữa cô và trẻ, giữa trẻ với nhau

Trẻ 5-6 tuổi đang chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa nhà trường phổ thông, với hoạt động chủ đạo là học tập; ở đó đòi hỏi các em phải có sự phối hợp, cùng nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động hay nhiệm vụ học tập; đồng thời, thông qua đó phát triển được “năng lực hợp tác" – năng lực cốt lõi cần hình thành ở học sinh phổ thông Tuy nhiên, thực tế đang cho thấy, khả năng hoạt động nhóm của trẻ mầm non nói chung còn nhiều hạn chế, khi đứng trước những tình huống hay vấn đề cần có

sự phối hợp với nhau, nhiều em tỏ ra khá lúng túng Trong khi đó, trường mầm non lại là môi trường có điều kiện hết sức thuận lợi để rèn KNHĐN cho các em, thông qua việc tổ chức các hoạt động giáo dục, hoạt động vui chơi cho trẻ

Rèn luyện để phát triển KNHĐN cho trẻ 5- 6 tuổi sẽ góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất và giá trị sống tích cực như: tôn trọng, tự tin, hòa bình, trách nhiệm, khoan dung, kỷ luật chính là sự chuẩn bị tâm thế sẵn sàng cho trẻ đi học lớp 1, tránh những “thất bại học đường" từ những năm đầu đời của các em

Có nhiều cách để giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong đó có trò chơi, đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề (ĐVTCĐ) Trò chơi ĐVTCĐ là môi trường

Trang 13

thuận lợi để giáo dục KNHĐN cho trẻ Đây là hoạt động chủ đạo của trẻ lứa tuổi mẫu giáo, trong quá trình chơi trẻ được tự do thể hiện ý tưởng của mình, cùng nhau tìm kiếm phương tiện để thực hiện nhiệm vụ của trò chơi, tự điều khiển hành

vi của mình cho phù hợp Đồng thời khi chơi phải có nhiều người cùng tham gia, cùng liên kết, hợp tác với nhau thì trò chơi mới vui Chính vì vậy trò chơi ĐVTCĐ

là phương tiện, là điều kiện thuận lợi để rèn luyện và phát triển KNHĐN cho trẻ Thông qua quá trình hoạt động nhóm sẽ giúp trẻ được hòa nhập trong nhóm bạn

bè, được bạn bè chấp nhận, trẻ được thỏa mãn nhu cầu giao lưu, học hỏi, trẻ được hoạt động cùng nhau, phối hợp với nhau để đạt được mục đích đã đề ra, trẻ được thể hiện bản thân, hình thành vai nhân cách thông qua các vai chơi, được phối hợp với nhau để hoàn thành trò chơi Qua đó sẽ tạo tiền đề cho việc học tập của trẻ ở bậc học sau có hiệu quả

Trong thực tiễn giáo dục mầm non hiện nay, giáo dục KNHĐN trong trò chơi ĐVTCĐ đang được thực hiện trong nhà trường mầm non; tuy nhiên, chưa đạt được hiệu quả như mong muốn nên trẻ 5-6 tuổi còn hạn chế ở một số thành tố của KNHĐN như: kĩ năng thoả hiệp và giải quyết mâu thuẫn, xung đột, kĩ năng lắng nghe, tôn trọng và nhường nhịn bạn bè;

Xuất phát từ những lí do nói trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Giáo

dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề

ở trường mầm non”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ đề xuất một số biện pháp giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong ĐVTCĐ nhằm giúp trẻ có KNHĐN tốt hơn

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục KNHĐN trong trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non

Trang 14

4 Giả thuyết khoa học

Trong quá trình chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non, trẻ 5-6 tuổi đã

có một số KNHĐN cơ bản, tuy nhiên các kĩ năng thoả hiệp và giải quyết mâu thuẫn, xung đột, kĩ năng lắng nghe, tôn trọng và nhường nhịn bạn bè còn nhiều hạn chế Giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi đã có những hiệu quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều thiếu sót Nếu đề xuất và sử dụng hợp lí một số biện pháp giáo dục KNHĐN như hướng dẫn trẻ thảo luận, trao đổi ý kiến để thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm chơi; tạo tình huống chơi để giúp trẻ thiết lập mối quan hệ giữa các vai chơi, nhóm chơi, hướng dẫn trẻ cách giải quyết xung đột, mâu thuẫn để thực hiện nhiệm vụ chơi đến cùng thì KNHĐN trong khi chơi ĐVCCĐ của trẻ sẽ tốt hơn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non

5.2 Khảo sát thực trạng giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi

ĐVTCĐ ở các trường mầm non tại tỉnh Đắk Lắk

5.3 Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6

tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở các trường mầm non tại tỉnh Đắk Lắk

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Quá trình giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non

6.2 Giới hạn về địa bàn và khách thể khảo sát thực trạng, thực nghiệm

6.2.1 Giới hạn về địa bàn khảo sát thực trạng, thực nghiệm

Các trường mầm non trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột và các huyện của tỉnh Đắk Lắk (bao gồm 6 trường mầm non ở Thành phố Buôn Ma Thuột (Mầm non Khánh Xuân, Mầm non Tân An, Mầm non Thành Công, Mầm non Tân Lập, Mầm non Thắng Lợi, Mầm non 10/3) và 5 trường Mầm non ở các huyện (Mầm non Hoa

Pơ Lang - huyện Buôn Đôn; Mầm non Vàng Anh - huyện Ea H'Leo; Mầm non Vành Khuyên - huyện Lắk; Mầm non Hoa Sim - huyện M'Đrắk; Mầm non Sơn Ca - huyện Ea Súp)

Trang 15

6.2.2 Giới hạn về khách thể khảo sát thực trạng, thực nghiệm

- Khảo sát 110 giáo viên mầm non (GVMN) đang dạy lớp mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) tại 11 trường mầm non ở tỉnh Đắk Lắk

- Khảo sát 60 trẻ 5-6 tuổi ở trường Mầm non Thắng Lợi (Thành phố Buôn Ma Thuột) và trường Mầm non Hoa Pơ Lang (huyện Buôn Đôn)

- Thực nghiệm trên 150 trẻ ở 3 trường mầm non trên địa bàn Thành phố Buôn

Ma Thuột (Mầm non 10/3, Mầm non Thắng Lợi, Mầm non Tân Lập)

6.3 Thời gian khảo sát

- Khảo sát thực trạng từ tháng 03 năm 2018 đến tháng 6 năm 2018

- Thực nghiệm sư phạm được tiến hành từ tháng 8/2018 đến tháng 12/2018

7 Các cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Các cách tiếp cận nghiên cứu

7.1.1 Tiếp cận hoạt động

Hình thành và phát triển nhân cách nói chung và KNHĐN nói riêng cần được tiến hành trong các hoạt động và thông qua hoạt động của trẻ Nghiên cứu KNHĐN cho trẻ mẫu giáo phải xem xét trong các hoạt động, trên nhiều phương diện và các mối liên hệ, quan hệ qua lại và trong trạng thái vận động để tìm ra bản chất của các việc giáo dục KNHĐN cho trẻ mẫu giáo Cho nên giáo dục KNHĐN cho trẻ muốn đạt hiệu quả cao cần thông qua trò chơi mà trung tâm là trò chơi ĐVTCĐ

7.1.2 Tiếp cận hệ thống

Giáo dục KNHĐN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi cần phải xem xét một cách có hệ thống từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao để thấy được quá trình giáo dục KNHĐN từ mục tiêu, nội dung đến các cách thức tiến hành giáo dục trẻ Đồng thời, cần xem xét việc giáo dục KNHĐN trong trò chơi ĐVTCĐ trong toàn bộ

chương trình GDMN hiện hành

7.1.3 Tiếp cận phát triển

Mỗi giai đoạn phát triển đều có tiền đề phát triển từ giai đoạn trước vì vậy, cần

tổ chức các hoạt động giáo dục hướng tới "vùng phát triển gần nhất" của trẻ để giúp trẻ đạt được những năng lực cao hơn Trong khi nghiên cứu xây dựng các biện pháp giáo dục KNHĐN trong trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ 5-6 tuổi luận án phải dựa trên sự phát triển chung của trẻ và sự phát triển KNHĐN của trẻ 5-6 tuổi

Trang 16

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết

7.2.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích, tổng hợp các tài liệu trong và

ngoài nước về trẻ mẫu giáo, về KNHĐN của trẻ mẫu giáo, giáo dục KNHĐN cho trẻ mẫu giáo trong trò chơi ĐVTCĐ

7.1.1.2 Phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa lí luận: Hệ thống hóa các quan

điểm và lí thuyết giáo dục KNHĐN có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xác định

hệ thống khái niệm và quan điểm, xây dựng khung lí thuyết, đường lối phương pháp luận và thiết kế điều tra, thiết kế thực nghiệm khoa học

7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non làm cơ sở đề xuất một số biện pháp giáo dục KNHĐN cho trẻ 5 – 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ

7.2.2.2 Phương pháp chuyên gia

Thu thập ý kiến của các chuyên gia về các tiêu chí đánh giá, các bài tập khảo sát; tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non

7.2.2.3 Phương pháp điều tra viết

Sử dụng phiếu điều tra bằng bảng hỏi (Anket) đối với GVMN nhằm tìm hiểu nội dung, phương pháp, hình thức, biện pháp, các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục KNHĐN cho trẻ từ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ tại một số trường mầm non, đánh giá kết quả giáo dục KNHĐN cho trẻ từ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ tại một số trường mầm non

Trang 17

7.2.2.5 Phương pháp phòng vấn sâu

Phỏng vấn sâu GV, CBQL nhằm tìm hiểu việc giáo dục KNHĐN cho trẻ từ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ được tổ chức, hướng dẫn như thế nào ở trường mầm non

7.2.2.6 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

- Nghiên cứu sản phẩm của GV để tìm hiểu thực trạng sử dụng các biện pháp giáo dục KNHĐN của GVMN hiện nay, phân tích sản phẩm của trẻ để đánh giá mức độ KNHĐN của trẻ thông qua các tiêu chí đánh giá

- Nội dung nghiên cứu: kế hoạch, giáo án, những ghi chép của GV, sản phẩm hoạt động chơi của trẻ

- Thu thập các mẫu sản phẩm của GV (kế hoạch tổ chức trò chơi) sản phẩm của trẻ; phân tích chương trình và tài liệu nghiệp vụ hướng dẫn tổ chức trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ 5 - 6 tuổi

7.2.2.7 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp đề xuất Tiến hành thực nghiệm một số biện pháp giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ đã đề xuất đối với nhóm trẻ thực nghiệm Còn nhóm đối chứng giữ nguyên không tác động, sau đó so sánh kết quả của nhóm thực nghiệm với nhóm đối chứng và rút ra kết luận

7.2.3 Phương pháp xử lí số liệu

Xử lí kết quả bằng phương pháp thống kê toán học với sự trợ giúp của phần mềm SPSS

8 Những luận điểm bảo vệ

8.1 Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đã có KNHĐN trong trò chơi ĐVTCĐ

8.2 Trò chơi ĐVTCĐ là môi trường giáo dục có nhiều thuận lợi cho việc giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

8.3 GV giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn trẻ trong trò chơi ĐVTCĐ tạo cơ hội, điều kiện để giáo dục và phát triển KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

Trang 18

9 Đóng góp mới của luận án

9.1 Đóng góp về mặt lí luận

Bổ sung và làm phong phú thêm lí luận về giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non, trong đó trọng tâm là các khái niệm về giáo dục KNHĐN cho trẻ, vai trò của trò chơi ĐVTCĐ đối với việc giáo dục KNHĐN cho trẻ, đặc điểm KNHĐN của trẻ, biện pháp giáo dục KNHĐN cho trẻ trong trò chơi ĐVTCĐ

9.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

- Cung cấp tư liệu về thực trạng giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non tại tỉnh Đắk Lắk, từ đó giúp các trường mầm non

có cơ sở để điều chỉnh quá trình giáo dục kịp thời

- Các biện pháp giáo dục KNHĐN rẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non được đề xuất là một tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng GVMN ở khu vực Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung Ngoài ra có thể vận dụng sáng tạo các biện pháp này ở các trường mầm non có điều kiện giáo dục tương đương để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ

10 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo nội dung luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan và cơ sở lí luận về giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non

Chương 2: Thực trạng giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non

Chương 3: Biện pháp giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non

Trang 19

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KĨ NĂNG HOẠT ĐỘNG NHÓM CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Các nghiên cứu về KNHĐN nói chung và KNHĐN cho trẻ mẫu giáo nói riêng

ở trong và ngoài nước được nghiên cứu theo các hướng nghiên cứu sau:

1.1.1 Những nghiên cứu về kĩ năng hoạt động nhóm

1.1.1.1 Nghiên cứu vai trò của hoạt động nhóm đối với trẻ em nói chung và trẻ mẫu giáo nói riêng

Các nghiên cứu chỉ ra vai trò của hoạt động nhóm giúp trẻ em tự tin, năng động và làm việc hiệu quả

Theo John Dewey - người đã đề xướng ra các hình thức hoạt động hợp tác học tập trong lớp học: Khi trẻ giao tiếp và hoạt động cùng với nhóm bạn, trẻ sẽ hứng thú và học được nhiều điều thú vị, tích lũy được vốn kinh nghiệm cho bản thân, vì vậy, con người cần sống và làm việc cùng nhau [78, tr.123]

J.Piaget cho rằng tương tác “bạn bè” có vai trò quan trọng trong việc phát triển nhận thức của trẻ Khi trẻ cộng tác với nhau để thực hiện nhiệm vụ chung sẽ nảy sinh những mâu thuẫn, lúc này trẻ cần cùng nhau giải quyết, nhờ đó kĩ năng giao tiếp, trí tuệ của trẻ ngày một phát triển phong phú hơn.[105]

JaQues D khẳng định rằng: Trẻ muốn có cơ hội học hỏi và phát triển các năng lực xã hội toàn diện thì trẻ phải chơi với bạn cùng lớp, chơi với nhóm nhiều độ tuổi, nhiều thế hệ [86]

Ngoài ra, các tác giả Hansen và Kaufmann (2000) cho rằng sự hợp tác của trẻ

5 tuổi ở trường mẫu giáo giúp trẻ: cảm thấy tốt, phát triển tính sáng tạo và cảm giác năng suất hiệu quả, phát triển chiến lược đối phó với các vấn đề của cuộc sống, phát triển cảm giác hạnh phúc và cảm nhận mình thuộc về nơi nào đó Trẻ học được những

kĩ năng mới, vui chơi, cười, thư giãn, làm quen với nhau và tương tác với nhau trong quá trình hoạt động trong nhóm [83, tr.89]

Tác giả Hoàng Thị Mai đã định nghĩa “hoạt động nhóm là sự phối hợp và hoạt động cùng nhau của một nhóm trẻ trong một hoạt động nào đó” Đồng thời, tác giả

Trang 20

chỉ rõ vai trò của GV khi hướng dẫn trẻ học tập, xác định các kĩ năng cần thiết của trẻ khi tham gia vào nhóm hoạt độn nhằm phát triển các kĩ năng như kĩ năng giao tiếp, chia sẻ thông tin [33, tr.61]

Nhìn chung, các tác giả trên đều cho rằng KNHĐN có vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ, giúp trẻ thích ứng trong các mối quan hệ, cùng bạn chia sẻ, giúp đỡ và tương tác với nhau

1.1.1.2 Nghiên cứu về khái niệm kĩ năng hoạt động nhóm

Lisa Trumbauer [99], Janet R Moyles [85], Kristina R Olson [97], Cao Thị Cúc [7] chỉ rõ KNHĐN là kĩ năng hành động phối hợp cùng người khác bao gồm: biết bàn bạc, phân chia trách nhiệm cho nhau và cùng cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao Trong nhóm chơi, mỗi trẻ cần nhận thức rõ vị trí và vai trò của mình, biết làm chủ hành vi của bản thân, hiểu và phục tùng quy định của nhóm để nhằm đạt được mục tiêu chung Đây là cơ sở để nhìn nhận KNHĐN là các kĩ năng phối hợp của con người nhằm đạt được mục đích và kết quả chung có giá trị Sự phối hợp, thỏa thuận của các thành viên của tác động qua lại tồn tại từ thời điểm tiếp

nhận mục đích hoạt động cùng nhau và kết thúc ở giai đoạn đạt được kết quả

Newman, Richard S [104] chỉ rõ KNHĐN là kĩ năng biết bàn bạc, phân chia trách nhiệm cho nhau và cùng cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao; mỗi trẻ nhận thức rõ vị trí và vai trò của mình trong nhóm, biết làm chủ hành vi của bản thân, hiểu và phục tùng quy định của nhóm…

Tác giả Nguyễn Hữu Châu đã đề cập đến hình thức học tập theo nhóm nhỏ, trong đó ông chỉ ra học tập hợp tác theo nhóm nhỏ là sử dụng nhóm nhỏ để học sinh được cùng nhau làm việc, qua đó phát huy tối đa kết quả học tập của bản thân Ông cũng cho rằng, nhờ học tập theo nhóm nhỏ mà vấn đề học tập trở nên bớt phức tạp hơn so với học tập cá nhân, bởi mỗi thành viên trong nhóm phải biết đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, giải quyết mâu thuẫn để tìm ra tri thức cho bản thân [4] Tựu chung lại, các nghiên cứu đều cho rằng KNHĐN là cùng chung suy nghĩ, hành động phối hợp của các thành viên trong nhóm chơi, dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau và cảm xúc chung đối với kết quả hoạt động cùng nhau hướng đến việc giải quyết các nhiệm vụ khác nhau trong nhóm chơi

Trang 21

1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ mẫu giáo

- Nghiên cứu các điều kiện, phương tiện để giáo dục KHĐN cho trẻ mẫu giáo

Trong nghiên cứu của tác giả Mcguckin và các cộng sự [110, tr 131] đã chỉ ra các nhóm trẻ được được hoạt động trong các góc hoạt động Đó là những khu vực riêng biệt dành riêng trong lớp được thiết kế đặc biệt cho việc học tập tương tác nhóm nhỏ, ở đấy trẻ được tương tác với nhau Mỗi góc hoạt động được GV trang bị phát triển tài liệu học tập và các hoạt động được thiết kế để giảng dạy hoặc củng cố một kĩ năng cụ thể hoặc khái niệm GV thiết kế các tài liệu và hoạt động có thể có nhiều góc khác nhau Số lượng các góc hoạt động được thiết lập trong lớp học có thể ba hoặc bốn khu vực Điều này sẽ cho phép trẻ chuyển động trong lớp học được thuận lợi Trẻ được xếp vào các nhóm nhỏ, đánh số đến bốn hoặc năm, xoay từ khu vực này sang khu vực khác, vì mỗi hoạt động cần phải được hoàn thành GV sẽ là người lập kế hoạch và người hướng dẫn các khu vực hoạt động Sau khi hướng dẫn cho mỗi hoạt động của trẻ, GV nên cố gắng hỗ trợ cho phép trẻ hoàn thành các hoạt động tại mỗi khu vực

R E Slavin [115] chỉ ra rằng, để tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát triển

KNHĐN một cách hiệu quả cần đảm bảo các điều kiện cụ thể như: Xác định rõ: Số

thành viên của mỗi nhóm? Vai trò, nhiệm vụ của từng thành viên trong nhóm? Những điều kiện để duy trì mối quan hệ tích cực trong nhóm? Các thành viên trong nhóm cần được làm quen với nhau để có thể giao tiếp thoải mái cùng nhau; Đảm bảo các phương tiện, điều kiện cần thiết để duy trì sự hợp tác trong nhóm; Những vấn đề đưa ra thảo luận trong nhóm phải thực sự rõ ràng và cấp thiết, thu hút được

sự quan tâm của mọi người; Có sự giám sát thường xuyên quá trình hoạt động của nhóm: chỉ dẫn và giúp đỡ khi cần thiết sao cho mỗi thành viên tuân thủ nghiêm túc những nội quy chung trong quá trình làm việc; Đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động nhóm nhằm khẳng định những ưu điểm và chỉ ra thiếu sót, hạn chế, từ đó xây dựng kế hoạch để trẻ cùng nhau tự điều chỉnh và hoàn thiện ở lần làm việc tiếp theo

- Nghiên cứu về yêu cầu đối với GV trong việc tổ chức giáo dục KNHĐN cho trẻ mẫu giáo

Qua thực tế tổ chức hoạt động nhóm của bản thân và đồng nghiệp, Edgar H

Schein [81] cho rằng, để rèn luyện ở người học kĩ năng làm việc nhóm, GV cần giúp

trẻ xác định được vị trí, vai trò và trách nhiệm của họ trong nhóm Trong một nhóm

Trang 22

hoạt động, tùy vào khả năng và nhu cầu riêng mà mỗi thành viên có thể giữ một trong các vai trò như: người quản trị hành chính (chịu trách nhiệm về phương tiện làm việc của nhóm); người lãnh đạo nhóm (biết tập hợp các thành viên để cùng hướng tới mục tiêu chung, đảm bảo cho nhiệm vụ được hoàn thành đúng tiến độ…); người “khích lệ tinh thần” của nhóm; thư ký nhóm; kiểm soát viên; báo cáo viên

Quá trình hình thành KNHĐN là quá trình chuyển vào trong nhờ có quan hệ

với người xung quanh và hợp tác với bạn bè Theo thuyết “sự hợp tác tập thể” của L.X Vưgôtxky (1934): “Trong sự phát triển của trẻ, mọi chức năng tâm lí cao cấp đều xuất hiện hai lần: lần thứ nhất như là một hoạt động tập thể, một hoạt động xã hội; lần thứ hai như là một hoạt động cá nhân, như là một chức năng tâm lí bên trong” [60, tr.178] Dạy học chỉ có hiệu quả đối với việc thúc đẩy sự phát triển khi

tác động của nó nằm ở "vùng phát triển gần" của học sinh Phải làm sao kích thích và thức tỉnh quá trình chuyển vào trong và hoạt động bên trong của đứa trẻ Những quá trình như vậy chỉ xảy đến khi có quan hệ với những người xung quanh và sự hợp tác với bạn bè Các quá trình hướng vào trong này sẽ tạo nên những kết quả bên trong của bản thân trẻ

Theo Lê Thu Hương và Phạm Mai Chi [25] để tạo ra sự phối hợp giữa cá nhân trẻ và nhóm, GV cần: Nắm được nhu cầu, hứng thú, khả năng nhận thức, năng lực hành động của trẻ, trên cơ sở đó kịp thời điều chỉnh các tác động phù hợp với nhóm

và từng trẻ; Tạo điều kiện cho trẻ trao đổi, thảo luận những ý kiến, suy nghĩ với nhau; hướng dẫn trẻ hợp tác cùng nhau, giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ được giao

Nguyễn Thị Thu Hà [10] khi bàn về tổ chức giáo dục theo tiếp cận hợp tác ở trường mầm non đã khẳng định: cần chú ý tới quy mô nhóm, các yêu cầu của hoạt động nhóm và đánh giá kết quả hoạt động nhóm Hình thành kĩ năng hoạt động theo nhóm ở trẻ cần đảm bảo các yêu cầu cụ thể sau: Số lượng thành viên trong nhóm không nên quá nhiều, chỉ từ 3-4 trẻ là phù hợp nhất Nếu khối lượng công việc nhiều thì có thể tăng lên 5 trẻ; GV xác định những mục tiêu mà hoạt động nhóm cần đạt được (nhiệm vụ của nhóm và thành viên, cách thực hiện nhiệm vụ); Khi tổ chức cho trẻ hoạt động, GV phải đảm bảo các thành viên trong nhóm nắm được mục tiêu của nhóm, tạo cơ hội để trẻ được nói lên những thắc mắc hoặc mong muốn về việc mình sẽ thực hiện; Giám sát nhóm, kiểm tra sự tiến bộ của cá nhân trong nhóm và của cả nhóm; Đánh giá cá nhân và đánh giá nhóm

Trang 23

Như vậy phần lớn các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: khi tổ chức hoạt động nhóm cho trẻ cần quan tâm đến qui mô nhóm, xác định mục tiêu, nhiệm vụ của nhóm, phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng thành viên, từng thành viên nắm được nhiệm vụ của mình và phối hợp thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm, giải quyết bất đồng xảy ra trong nhóm

- Nghiên cứu về phương pháp, hình thức giáo dục KNHĐN cho trẻ mẫu giáo

Rachel Harrar đã chú ý đến việc hình thành KNHĐN cho trẻ bằng các phương pháp, biện pháp dạy học thích hợp Theo ông GV cần tạo điều kiện cho trẻ

tự chọn bạn học nhóm và giải tán nhóm Điều này giúp trẻ có những nhận định khi nhận xét về các bạn và được nghe các bạn nhận xét về chính hoạt động của mình,

Nguyễn Hữu Châu [5] cho rằng: "dạy học hợp tác là việc sử dụng các nhóm nhỏ để học sinh làm việc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học tập của bản thân cũng như của người khác" Học tập hợp tác dựa vào ba loại nhóm, đó là: chính thức, không chính thức và nhóm học tập nền tảng "Nhóm hợp tác chính thức gồm những học sinh cùng nhau làm việc để đạt được các mục tiêu chung bằng cách đảm bảo rằng mỗi thành viên của nhóm đều hoàn thành các nhiệm vụ được giao Nhóm học hợp tác không chính thức là những nhóm đặc biệt, không theo thể thức cố định nào,

có thể tồn tại trong vài phút đến một tiết học Các nhóm học tập nền tảng thường kéo dài (ít nhất đến một năm), gồm nhiều thành phần hỗn hợp, số thành viên ổn định và mục đích căn bản là để các thành viên ủng hộ, khuyến khích lẫn nhau nhằm đạt được thành công trong học tập Các nhóm hợp tác nền tảng tạo cho học sinh mối quan hệ mật thiết trong thời gian dài, cho phép các thành viên có điều kiện giúp đỡ, khuyến khích và hỗ trợ lẫn nhau trong thực hiện các nhiệm vụ học tập để đạt được kết quả tối ưu"

Trang 24

Một số tác giả khác nghiên cứu về tổ chức các hoạt động để hình thành KNHĐN đạt hiệu quả cho trẻ mẫu giáo như Nguyễn Thị Xuân Yến, Cao Thị Cúc, Phạm Mai Chi, Lê Thu Hương, Trần Thị Thanh…

Nguyễn Thị Xuân Yến [66] đã đưa ra một số biện pháp giúp trẻ làm việc theo nhóm hiệu quả như cần tăng cường sự giám sát của GV, tăng cường tính chủ động của trẻ và các mối quan hệ của trẻ với các bạn xung quanh

Cao Thị Cúc (2009) cho rằng trẻ 5-6 tuổi đã có các kĩ năng hợp tác cơ bản khi tham gia vào các hoạt động chung của lớp mẫu giáo như cùng bạn thỏa thuận về chủ đề chơi, nội dung chơi, phân vai chơi cho nhau , tuy nhiên tác giả cho rằng các kĩ năng này chưa được hình thành đầy đủ và bền vững Các kĩ năng này cần được rèn luyện trong nhóm bạn bè thông qua trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non,

cụ thể là thông qua các trò chơi như: trò chơi đóng vai có chủ đề, trò chơi xây dựng lắp ghép, trò chơi vận động [7, tr 22]

Như vậy, dù cách diễn đạt có phần khác nhau, song các tác giả đều cho rằng, hình thức, phương pháp để giáo dục KNHĐN cho trẻ là sử dụng hoạt động nhóm, cho trẻ tương tác với nhau theo nhóm, qua đó trẻ hỗ trợ, giúp đỡ nhau để hoàn thành mục đích chơi

- Nghiên cứu về quy trình tổ chức hoạt động nhóm cho trẻ mẫu giáo

Tác giả Slavin R E [114, tr.164] đã đưa ra 2 giai đoạn giáo dục KNHĐN cho trẻ trong các hoạt động ở trường mầm non Giai đoạn 1: cần tập trung chú ý tới việc

mở rộng khái niệm của trẻ mẫu giáo lớn về bạn cùng lứa như một đối tác thực hiện hoạt động chung, trong môi trường củng cố những tiếp xúc tích cực về mặt cảm xúc giữa trẻ, tăng cường mong muốn và sự hứng thú hợp tác của trẻ, cũng như phát triển cho trẻ những kĩ năng cá nhân, cần thiết để thực hiện sự hợp tác trong quá trình hoạt động chung trên lớp Giai đoạn 2 bao gồm 3 cấp độ, trong mỗi cấp độ diễn ra sự nắm bắt của trẻ với từng mô hình nhất định: phối hợp - cá nhân, phối hợp - nối tiếp, phối hợp - tương tác (theo nguyên tắc tăng dần độ phức tạp) Sự phát triển tiếp theo của trẻ với bạn cùng lứa cần đảm bảo khả năng cao để trẻ tự lựa chọn mô hình hoạt động nhóm, theo cách riêng biệt hoặc phối hợp sử dụng các mô hình trong quá trình cũng giải quyết những nhiệm vụ khác nhau được giao trên lớp Trong quá trình đó chúng ta cần xem xét đặc điểm làm việc với trẻ mẫu giáo lớn trong từng giai đoạn thì mới đưa ra các tác động phù hợp và đạt hiệu quả

Trang 25

Foyle và Lyman (1988) [82, tr.93] xác định các bước cơ bản liên quan đến việc thực hiện thành công các hoạt động nhóm trong hoạt động học tập như: GV xác định nội dung được giảng dạy, và các tiêu chí xác định trẻ có thể làm chủ được những nội dung đó; GV xác định được phương pháp học tập hợp tác hiệu quả nhất,

và kích thước/ quy mô của nhóm; trẻ được chia thành các nhóm; Lớp học được sắp xếp để tạo thuận lợi cho sự tương tác giữa các nhóm; Các quy trình thực hiện sẽ được dạy hoặc được đánh giá khi cần thiết để đảm bảo rằng các nhóm hoạt động được thực hiện trôi chảy

Như vậy, quy trình tổ chức hoạt động nhóm cho trẻ mẫu giáo được thực hiện thông qua các giai đoạn, các bước cụ thể Ở mỗi giai đoạn, mỗi bước lại có những yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể

1.1.3 Nghiên cứu giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ mẫu giáo trong trò chơi đóng vai theo chủ đề

- Nghiên cứu vai trò của trò chơi ĐVTCĐ trong giáo dục KNHĐN cho trẻ mẫu giáo

LX Vưgotxky (1978), nhà tâm lí học người Nga, đã khởi xướng lí thuyết về văn hóa xã hội, cho rằng: "yếu tố xã hội và văn hóa tác động đến sự phát triển nhận thức của trẻ em" Đồng thời, ông nhấn mạnh hoạt động chơi, giúp trẻ phát triển các

kĩ năng xã hội Thông qua trò chơi trẻ sẽ biết cách giao tiếp, chia sẻ Theo Vưgotsky, GV cần động viên trẻ hỗ trợ lẫn nhau trong khi chơi và nâng cao nhận thức cho trẻ thông qua các hoạt động khám phá Nhờ đó trẻ sẽ có cơ hội để hoạt động trong “vùng phát triển gần nhất” Những kĩ năng chưa phát triển ở trẻ sẽ được thúc đẩy khi chúng cùng nhau làm việc [60]

Bên cạnh đó, các tác giả A.N.Leonchiev, L.X.Vưgotxky, D.B.Enconhin, cũng nhấn mạnh đến tính hợp tác trong khi chơi là hình thức hợp tác đầu tiên của hoạt động hợp tác sau này ở trẻ Trò chơi có một ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống của trẻ [30] Chính các kĩ năng trẻ được giáo dục qua trò chơi sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành những kĩ năng làm việc của trẻ trong tương lai Nói cách khác, là có sự chuyển dịch dần từ kĩ năng tham gia vào các trò chơi của trẻ mầm non sang kĩ năng thực hiện các hoạt động trong học tập của học sinh và hoạt động làm việc trong cuộc sống thực tiễn sau này Vì vậy có thể nói “chơi là trường học của cuộc sống” [55] và các nhà giáo dục sử dụng chính các hoạt động giáo dục của trẻ ở trường mầm non là

Trang 26

con đường, cách thức hiệu quả để giáo dục các kĩ năng xã hội cho trẻ nói chung và KNHĐN cho trẻ mầm non (A.N.Leonchiev, L.X.Vưgotxky, D.B.Enconhin, …) Các tác giả đều cho rằng qua chơi, trẻ sẽ tích lũy được kinh nghiệm về các mối quan hệ với bạn và mọi ngươi xung quanh từ đó bước vào cuộc sống thực và hình thành kĩ năng giao tiếp, hợp tác, đoàn kết… một cách bền vững Trong trò chơi "trẻ

dễ dàng phối hợp hành động, thiết lập được các mối quan hệ bạn bè" Theo các tác giả "chơi là hình thức hoạt động chủ yếu hình thành hành vi xã hội của trẻ, hình thành thái độ của trẻ đối với cuộc sống và mọi người xung quanh" Đó là phương tiện hình thành và phát triển những kĩ năng xã hội, sự hợp tác của trẻ mẫu giáo Các nhà giáo dục K.D.Usinxki, A.P.Uxova [59], cũng đã khẳng định trò chơi ĐVTCĐ chính là cơ hội thuận lợi cho trẻ em thể hiện kĩ năng hoạt động hợp tác Chính trong quá trình chơi, trẻ dễ dàng lĩnh hội được một số kinh nghiệm văn hóa xã hội, là hình thức tổ chức cuộc sống, là phương tiện để hình thành xã hội trẻ em và làm nảy sinh các mối quan hệ bạn bè Khi chơi trẻ biết kết hợp quyền lợi của cá nhân với quyền lợi của nhóm và đôi khi trẻ biết hy sinh ý muốn của mình về lợi ích chung của nhóm

P.G Xamarukova [61] đã chỉ ra mối quan hệ thực và quan hệ chơi của trẻ trong trò chơi đã tạo điều kiện để trẻ nắm bắt được những phương diện khác nhau của các mối quan hệ Trong đó quan hệ thực (quan hệ được hình thành do duyên cớ của trò chơi) tạo điều kiện để hình thành ở trẻ những động cơ Còn quan hệ chơi (quan hệ giữa các vai) là giai đoạn vật chất đặc biệt để mô hình hóa môi trường của các mối quan hệ qua lại giữa con người, tạo điều kiện cho trẻ được rèn luyện, điều chỉnh hành vi của mình theo những chuẩn mực xã hội Công trình nghiên cứu về trò chơi của tập thể cán bộ nghiên cứu giáo dục mẫu giáo trường Đại học dưới sự lãnh đạo của A.P.Uxôva đã chỉ rõ sự hiện diện của hai loại quan hệ trong quá trình chơi Một loại quan hệ được xác định bởi nội dung trò chơi (quan hệ giữa các vai chơi) Loại quan hệ khác đó là những mối quan hệ thực mà các cháu quan hệ với nhau, bạn bè, thoả thuận với nhau về trò chơi, về phân vai chơi… A.P.Uxôva [59] cho rằng những mối quan hệ đi kèm trò chơi là cơ sở để hình thành xã hội trẻ em Chính

xã hội trẻ em đã tác động mạnh mẽ đến việc hình thành KNHĐN ở trẻ D.B.Encônhin đã xác định được thành phần cấu trúc của trò chơi và sự phát triển của nó ở lứa tuổi Mầm non Ông nhấn mạnh đến tính xã hội trong trò chơi Những

Trang 27

nghiên cứu này là cơ sở để sử dụng trò chơi trong việc giáo dục các loại kĩ năng cho trẻ mẫu giáo Các tác giả đều cho rằng trò chơi thúc đẩy các mối quan hệ của trẻ ở trường lớp và với mọi người xung quanh Vì vậy, một trong những yếu tố ảnh hưởng đến trò chơi của trẻ em là môi trường xã hội ở xung quanh trẻ

A.I Xôrôkina [63], A.N.Leonchiev [30], A.P.Uxôva [59] đều khẳng định trò chơi là hình thức hoạt động, là con đường chủ yếu để hình thành hành vi xã hội của bản thân trẻ và hình thành thái độ của các em đối với cuộc sống và đối với nhau Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết [54] đã phân tích vai trò chủ đạo của trò chơi ĐVTCĐ đối với việc hình thành và phát triển nhân cách như tính chủ định, phẩm chất ý chí, ngôn ngữ, tưởng tượng, phát triển những phẩm chất đạo đức hành vi phù hợp với những chuẩn mực đạo đức xã hội Chính thông qua trò chơi trẻ đã học được cách làm người Đồng thời tác giả cũng khẳng định vai trò của người lớn trong việc hướng dẫn trẻ lựa chọn nội dung cho trẻ chơi, hướng dẫn cho trẻ chơi

Tác giả Ngô Công Hoàn [16] đã khẳng định vui chơi là hoạt động của trẻ Mẫu giáo và việc thay đổi vai chơi linh hoạt, mềm dẻo trong các trò chơi là cơ sở, nền tảng phát triển đặc điểm ứng xử hợp lí theo tình huống, hoàn cảnh sau này của trẻ, tạo cơ hội giúp trẻ phối hợp với nhau tốt hơn

Tác giả Trần Thị Trọng [56] đã coi trò chơi là con đường, là hình thức quan trọng để giáo dục hình thành ở trẻ những phẩm chất đạo đức, những hành vi xã hội

Sự phối kết hợp giữa các thành viên trong nhóm chơi là nền tảng giúp trẻ hoàn thành tốt vai chơi trong trò chơi

Đặc biệt theo tác giả Lê Minh Thuận [51] trong cuốn “Trò chơi ĐVTCĐ và việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ Mẫu giáo”, trò chơi ĐVTCĐ là

phương tiện hữu hiệu để giáo dục lòng nhân ái - một phẩm chất cơ bản của nhân cách con người Việt Nam nếu người lớn biết tổ chức hướng dẫn trẻ chơi một cách hợp lí và khoa học

Theo Hoàng Mai [32]“Hoạt động chơi cùng nhóm sẽ giúp trẻ hình thành kĩ năng hợp tác, kĩ năng giao tiếp, giúp trẻ biết đồng cảm, chia sẻ với nhau trong hoạt động Cũng qua đó các quan hệ xã hội của trẻ được thiết lập bao gồm cả quan hệ thực và quan hệ chơi"

Trang 28

Tóm lại, các nghiên cứu trên đã cho thấy trò chơi ĐVTCĐ mang tính xã hội,

có vai trò nghĩa quan trọng để hình thành ở trẻ những phẩm chất và năng lực cho trẻ Thông qua các mối quan hệ trong trò chơi, trò chơi chính là hình thức, con đường, phương tiện hiệu quả để phát triển nhân cách của trẻ đặc biệt là hình thành

và phát triển ở trẻ KNHĐN

Nghiên cứu về vai trò của GV trong việc giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi

J.Piaget, M.Parten [105, tr 219] và một số tác giả khác cho rằng GV cần phải dựa vào đặc điểm của các loại trò chơi từ đó tổ chức các nhóm chơi có hiệu quả Các tác giả quan tâm nghiên cứu theo hai hướng: phân loại trò chơi của trẻ trong đời sống cá thể và phân loại trò chơi của trẻ dựa trên mối quan hệ xã hội:

- Theo hướng thứ nhất J.Piaget (1960/1965) cho rằng các loại trò chơi lần lượt xuất hiện trong đời sống cá thể là: trò chơi – hành động chức năng, trò chơi tượng trưng, trò chơi với các quy tắc Ở nhóm trò chơi này, GV có thể hướng dẫn trẻ hợp tác, chia sẻ, phối hợp với bạn để thực hiện các vai chơi hiệu quả [105]

- Theo hướng thứ hai, Brookfirld S D xem xét sự phát triển và phân loại trò chơi trẻ em trên bình diện các mối quan hệ xã hội Theo bà, trò chơi của trẻ phải trải qua 5 giai đoạn cũng là 5 kiểu quan hệ xã hội, đó là chơi một mình, chơi và quan sát người khác chơi, chơi song song với người khác, chơi có có liên kết với người khác

và chơi hợp tác với người khác Nghiên cứu của Parten không chỉ bổ sung thêm một cách phân loại trò chơi trẻ em mà còn làm nổi bật quan hệ xã hội, tương tác, phối hợp của trẻ trong khi chơi [71] Ở nhóm trò chơi này, GV cần xác định được cụ thể các trò chơi của trẻ đã phát triển đến kiểu chơi nào để từ đó giúp trẻ có mối liên kết chặt chẽ và hợp tác hiệu quả với người khác

Mặt khác để giúp trẻ phát triển KNHĐN, GV cần phát triển các mối quan hệ khi chơi Theo JaQues D (1991), Goldstein (1996), trong quá trình chơi, trẻ phát triển nhiều mối quan hệ hợp tác, bao gồm bạn cùng lớp và cả người lớn [86] Như vậy có thể thấy, các nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng để giáo dục KNHĐN đạt hiệu quả thì vai trò của GV rất quan trọng là người định hướng, giúp trẻ tạo ra các mối quan hệ chơi, vai chơi, liên kết giữa các nhóm chơi

Trang 29

- Nghiên cứu về cách thức tổ chức trò chơi ĐVTCĐ

Nguyễn Ánh Tuyết [55] chỉ ra rằng, bằng sự phối hợp hành động với nhau trong những trò chơi, mà đặc biệt là trò chơi ĐVTCĐ, một xã hội trẻ em được hình thành rất tự nhiên Trò chơi có khả năng “dính kết” trẻ lại với nhau, tạo cơ hội thực hành các hành vi hoạt động nhóm Theo Nguyễn Ánh Tuyết [55];[56], trong hoạt động cùng nhau, điều quan trọng là trẻ phải biết phối hợp hành động với nhau Bước vào tuổi mẫu giáo, trẻ muốn nhập vào những mối quan hệ xã hội, từ đó mà nảy sinh nhu cầu hoạt động cùng nhau trong nhóm Tuy vậy, việc phối hợp trong một trò chơi hay một công việc nào đó đối với trẻ là rất khó khăn, cần phải có sự hướng dẫn của người lớn Do vậy để giáo dục KNHĐN cho trẻ đạt hiệu quả, GV cần hướng trẻ biết phối hợp hành động cùng với nhau để thực hiện một nhiệm vụ

chung Trên cơ sở nhận định đó, Nguyễn Ánh Tuyết [55];[56] đã đưa ra một số biện pháp tổ chức nhóm chơi cho trẻ và thiết lập mối quan hệ bạn bè với nhau khi chơi,

như: tạo ra những tình huống buộc trẻ thấy cần phải có sự phối hợp hành động; giúp trẻ lập kế hoạch chơi; phát huy tính tự quản và tinh thần trách nhiệm của trẻ khi chơi; dạy trẻ nghĩ tốt về bạn bè và cách giải quyết khi xảy ra xung đột trong quá trình trẻ chơi

Dưới góc độ tâm lí học, Lê Xuân Hồng (1996) nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp

và trò chơi trong nhóm chơi không cùng độ tuổi, việc hình thành nhóm với các độ tuổi khác nhau Các trò chơi được tác giả chọn nghiên cứu đặc điểm giao tiếp của trẻ gồm: trò chơi ĐVCCĐ, trò chơi xây dựng - lắp ghép, trò chơi học tập và trò chơi vận động Qua đó, tác giả phát hiện sự tích cực chủ động hợp tác giữa trẻ với nhau trong vui chơi, đặc biệt là giữa các trẻ không cùng độ tuổi với nhau Tác giả khẳng định, trong nhóm trẻ không cùng độ tuổi, các quan hệ giữa trẻ với nhau được mở rộng, tạo ra nhiều tình huống muôn màu, muôn vẻ kích thích trẻ giao tiếp, hợp tác với nhau, thúc đẩy nhanh

sự hình thành, phát triển nhân cách [20] Vì vậy trong quá trình trẻ chơi, GV cần tạo ra các nhóm chơi phong phú và đa dạng đặc biệt là các nhóm chơi không cùng độ tuổi để giúp trẻ hình thành và phát triển KNHĐN

Các tác giả Lê Xuân Hồng [20], Hoàng Mai (2000) [32] đề cập đến việc cần phát triển các kĩ năng cần thiết cho trẻ mầm non Trong các kĩ năng cần phát triển cho trẻ, KNHĐN là một nhiệm vụ trong tâm của ngành mầm non với mục tiêu chung là thúc đẩy sự phát triển KNHĐN của trẻ bằng cách giúp trẻ học cách hòa

Trang 30

nhập với những trẻ khác và các mục tiêu cụ thể là tạo cơ hội cho trẻ chơi và làm việc với trẻ khác, giúp trẻ học cách tham gia vào một trò chơi, tạo những sự cảm nhận giúp trẻ tôn trong những quyền lợi của trẻ khác qua việc chia sẻ và thay phiên Tác giả Vũ Thị Nhân [38] khẳng trò chơi ĐVTCĐ là trò chơi đòi hỏi kĩ năng phối hợp cao nên sẽ giúp trẻ có kĩ năng phối kết hợp với bạn bè Tác giả đã đưa ra một số biện pháp để phát triển kĩ năng hợp tác của trẻ trong trò chơi ĐVTCĐ như: các biện pháp xây dựng môi trường cho trẻ chơi; khuyến khích và tạo cơ hội cho các nhóm trẻ cùng nhau làm thêm đồ chơi và hướng trẻ đến hoạt động nhóm; cung cấp làm giàu biểu tưởng về kĩ năng hợp tác thông qua tranh ảnh, bài thơ, câu chuyện; ủng

hộ khích lệ trẻ chia sẻ kinh nghiệm, ý tưởng chơi cùng nhau, tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm cùng nhau và phối hợp hành động trong khi chơi; tạo tình huống chơi và hoàn cảnh chơi cho trẻ; cho trẻ nhận xét và đánh giá kết quả hợp tác của nhóm chơi, GV động viên khuyến khích kĩ năng hợp tác của trẻ

Các nghiên cứu trên cho thấy, các tác giả đều cho rằng trò chơi ĐVTCĐ đặc biệt

là trò chơi ĐVTCĐ có vai trò quan trọng là con đường, là phương tiện hiệu quả trong việc hình thành KNHĐN cho trẻ Tuy nhiên còn ít những nghiên cứu đề cập đến việc tổ chức các biện pháp nhằm hình thành và rèn luyện KNHĐN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

1.1.4 Đánh giá chung về tổng quan nghiên cứu vấn đề

* Những vấn đề có thể kế thừa: Các nghiên cứu trên đã cho thấy các tác giả

chủ yếu đi sâu vào KNHĐN, giáo dục KNHĐN cho học sinh Một số nghiên cứu bước đầu nghiên cứu về KNHĐN và giáo dục KNHĐN cho trẻ mẫu giáo Các tác giả đã khẳng định sự cần thiết của việc hình thành ở trẻ KNHĐN giúp trẻ phát triển toàn diện; Chỉ ra các nhóm kĩ năng, một số biện pháp, cách thức, nguyên tắc, mô hình tổ chức giáo dục KNHĐN cho trẻ đạt hiệu quả Bên cạnh đó các nghiên cứu cũng khẳng định trò chơi ĐVTCĐ là một hoạt động có hiệu quả trong việc hình thành KNHĐN ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Các nghiên cứu này là những cơ sở quan trọng để định hướng nghiên cứu cho luận án

* Những vấn đề chưa được giải quyết:

Mặc dù đã có nhiều thành công, tuy nhiên các nghiên cứu trên chưa thực sự quan tâm và chú trọng nhiều đến việc đưa ra các kĩ thuật và các bước, các hoạt động

cụ thể để giáo dục KNHĐN đạt hiệu quả Các kết quả nghiên cứu trên chưa xác

Trang 31

định cụ thể những KNHĐN cần có ở trẻ 5-6 tuổi cũng như đưa ra cụ thể quá trình giáo dục KNHĐN, các biện pháp để giáo dục KNHĐN trong trò chơi ĐVTCĐ

* Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

Như chúng ta đã biết, KNHĐN cần được hình thành thông qua con đường giáo dục Trong quá trình hoạt động nhóm trẻ vừa được lĩnh hội kiến thức về đối tượng cùng nhau tham gia hoạt động (các bạn bè, cô giáo, và mọi người xung quanh) vừa được phát triển các KNHĐN, kĩ năng xã hội Hơn nữa KNHĐN còn giúp trẻ cảm nhận những giá trị nhân văn, xã hội, đạo đức cũng như góp phần phát triển tư duy phê phán và tư duy logic

Việc giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi cần được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục trẻ ở mọi thời điểm trong đó trò chơi ĐVTCĐ là con đường, cách thức, phương tiện giáo dục hiệu quả Chính vì vậy cần phải tạo cho trẻ nhiều cơ hội để hoạt động cùng nhau, cùng chịu trách nhiệm và hoàn thành những nhiệm vụ từ đơn giản đến phức tạp GV đưa ra

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ mẫu giáo

1.2.1.1 Khái niệm hoạt động nhóm

Một số nhà khoa học như Slavin [113] D.Johnson, R Johnson [87], Allbert Bandura, Astin, Wallberg, Ana Vladimirona, N.V Samanskaja… đều cho rằng hoạt động nhóm chính là hoạt động phối hợp cùng nhau giữa các cá nhân (ít nhất là hai người), giữa các nhóm nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ chung đã đặt ra Các thành viên trong nhóm phụ thuộc lẫn nhau và cùng hỗ trợ nhau để thực hiện nhiệm

vụ chung

Theo Slavin (1987) cho rằng hoạt động nhóm là làm việc cùng nhau và mọi thành viên phụ thuộc lẫn nhau để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ, đạt mục đích chung [113]

D.Johnson, R Johnson quan niệm: Hoạt động nhóm là sự hợp tác Hợp tác là một quá trình làm việc theo nhóm, các thành viên đóng góp và giúp đỡ nhau để cùng đạt được một mục đích chung [87]

Trang 32

Theo Novik Mila [76], hoạt động nhóm chính là hoạt động phối hợp cùng nhau của một nhóm nhằm thực hiện những nhiệm vụ cụ thể mà GV giao cho Trong quá trình đó, các thành viên cùng ấn định qui tắc giao tiếp trong nhóm, tự giác thực hiện công việc theo sự phân công của nhóm trưởng Hoạt động nhóm hướng tới mục tiêu: bổ sung vốn kinh nghiệm của các thành viên, đồng thời phát triển mối quan hệ giao tiếp bình đẳng và hiểu biết lẫn nhau; vạch ra những ý tưởng mới, cách giải quyết mới; phát huy tính tích cực của mỗi thành viên và khuyến khích họ tìm ra những phương án mới; xây dựng tập thể những người có cùng chí hướng, biết hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau; cả nhóm thực hiện thẩm định về mọi khía cạnh đối với tất

cả các ý tưởng được đưa ra bằng cách phân tích có phê phán, tìm kiếm những luận chứng để bảo vệ cho ý tưởng, dự báo những vấn đề nảy sinh

Khái niệm hoạt động nhóm được hiểu là sự phối hợp cùng nhau giữa các cá nhân, các nhóm, các thành viên nhằm đạt được mục đích chung đề ra

Khái niệm trên cho thấy, bản chất của hoạt động nhóm là sự phối kết hợp giữa các thành viên trong nhóm để thực hiện mục đích chung đã đề ra Các thành viên trong nhóm phụ thuộc lẫn nhau, giúp đỡ nhau, cùng nhau phối hợp hoạt động để hoàn thành nhiệm vụ chung của cả nhóm Kết quả đạt được là thành quả chung của

cá nhóm chứ không phải của riêng cá nhân nào

1.2.1.2 Khái niệm kĩ năng

Có nhiều tác giả nghiên cứu về kĩ năng ở các khía cạnh khác nhau

Theo Từ điển Thuật ngữ Tâm lí [9], kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế

Xem xét kĩ năng nghiêng về mặt kĩ thuật hành động Theo khuynh hướng này,

kĩ năng được xem là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững Người có kĩ năng là người nắm được các tri thức về hoạt động đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó, nghĩa là nắm vững phương thức hành động mà không cần tính đến kết quả của hành động Các tác giả theo khuynh hướng này có thể kể đến: E.I Boico, V A Kruchetxki, A.V Petrovxki , G.G Golubev, Trần Trọng Thủy.;

A.V Petrovxki [42] cho rằng, kĩ năng là phương thức thực hiện hành động đã được con người nắm vững, là khả năng con người sử dụng các tri thức và kĩ xảo đã có

để lựa chọn và thực hiện hành động tương ứng với mục đích đã đề ra

Trang 33

Xem xét kĩ năng nghiêng về mặt năng lực của con người

Theo khuynh hướng này, kĩ năng không chỉ đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành động mà là một biểu hiện về năng lực của con người Các tác giả theo khuynh hướng này có thể kể đến: Nguyễn Quang Uẩn [58], Ngô Công Hoàn [16], Nguyễn Ánh Tuyết [55] các tác giả này cho rằng kĩ năng là một năng lực của con người biết vận dụng các thao tác của một hành động theo đúng quy trình

Như vậy, cách xem xét kĩ năng như một loại năng lực của con người để thực hiện các công việc có kết quả cũng bao hàm trong đó cả quan niệm kĩ năng là kĩ thuật hành động, bởi vì chỉ khi có sự vận dụng tri thức vào t hực tiễn một cách thuần thục thì công việc mới đạt kết quả mong muốn

Ngoài ra, theo Đặng Thành Hưng [24] khi bàn về vấn đề “Nhận diện và đánh

giá kĩ năng” đã khẳng định “Kĩ năng chính là hành vi hay hành động được cá nhân thực hiện tự giác và thành công xét theo những yêu cầu, qui tắc, tiêu chuẩn nhất

định Kĩ năng chính là hành động, chứ không phải khả năng thực hiện hành động”

Như vậy, Đặng Thành Hưng xem xét kĩ năng như một hành động của con người để thực hiện các công việc có kết quả cũng bao hàm trong đó cả quan niệm kĩ năng là kĩ thuật hành động, bởi vì chỉ khi có sự vận dụng tri thức vào thực tiễn một cách thuần

thục thì công việc mới đạt được kết quả mong muốn

Mặc dù các quan niệm về kĩ năng có sự khác nhau, song tựu chung lại có một

số quan niệm chung:

- Kĩ năng được xem như một năng lực hành động

- Kĩ năng luôn gắn liền với việc thực hiện các thao tác hay hành động nhất định

- Kĩ năng luôn gắn liền với việc triển khai và vận dụng những kiến thức mà cá nhân lĩnh hội được

- Kĩ năng có thể giáo dục và rèn luyện được Sự hình thành và phát triển của kĩ năng thể hiện qua tính đúng đắn, thành thạo và sáng tạo của chủ thể hành động Nó được tích lũy, rèn luyện thông qua sự kết hợp giữa tri thức và kinh nghiệm của mỗi

cá nhân trong các hoạt động thực tiễn hàng ngày

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm: Kĩ năng là năng lực hành động thực hiện có kết quả, một nhiệm vụ, một công việc nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có phù hợp với những điều kiện cho phép nhằm đạt mục đích đề ra

Trang 34

Năng lực hành động được biểu hiện ở những dấu hiệu sau đây:

+ Có tri thức, kinh nghiệm về hành động: nắm được mục đích hành động; biết vận dụng tri thức, kĩ năng vào các điều kiện thực hiện hành động

+ Thực hiện hành động đúng với các yêu cầu của nó, cách hành động hợp lí + Đạt được kết quả của hành động theo mục đích đề ra

+ Có thể thực hiện hành động có kết quả trong những điều kiện đã thay đổi Điều này có nghĩa là, kĩ năng đòi hỏi trước hết con người phải có tri thức, kinh nghiệm cần thiết về hành động Có tri thức và kinh nghiệm chưa phải có kĩ năng Kĩ năng chỉ có được khi con người vận dụng những tri thức và kinh nghiệm đó vào hoạt động thực tiễn mang lại kết quả tích cực Tri thức và kinh nghiệm là những điều kiện cần để hình thành kĩ năng, việc vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động thực tiễn nhằm đạt được mục đích đề ra là điều kiện đủ để hình thành kĩ năng Khi xem xét kĩ năng cần phải lưu ý những điểm sau đây:

+ Kĩ năng bao giờ cũng gắn với hành động cụ thể

+ Tiêu chuẩn để đánh giá sự hình thành và phát triển của kĩ năng là tính đúng đắn, sự thành thạo, linh hoạt, mềm dẻo

+ Kĩ năng mà mỗi cá nhân có được là kết quả của quá trình hoạt động và rèn luyện và tích lũy kinh nghiệm

1.2.1.3 Khái niệm kĩ năng hoạt động nhóm

KNHĐN là năng lực phối hợp của cá nhân với các thành viên trong nhóm

nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm đã đặt ra

Khái niệm KNHĐN là năng lực hành động phối hợp cùng nhau giữa mọi người với nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ của nhóm theo mục đích đề ra

Vậy có thể hiểu nội hàm của khái niệm KNHĐN:

- Là năng lực hành động phối hợp cùng nhau của các thành viên trong nhóm trong suốt quá trình hoạt động

- Năng lực hành động phối hợp cùng nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ cụ thể của nhóm đề ra và đạt kết quả

1.2.1.4 Khái niệm kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

Các nghiên cứu đã cho thấy, kĩ năng bao giờ cũng gắn với một loại hình hoạt động của con người Do vậy, KNHĐN chỉ có thể được hình thành trong quá trình

Trang 35

hoạt động phối hợp và giao tiếp giữa người với người trong xã hội, trong hoạt động nhóm Khi cùng hoạt động trong nhóm, mỗi cá nhân với tư cách là thành viên của nhóm tích cực tác động qua lại với nhau, cùng nhau nỗ lực cố gắng vì mục đích chung của nhóm

Khái niệm KNHĐN của trẻ 6 tuổi là năng lực hành động phối hợp của trẻ

5-6 tuổi với các bạn trong nhóm chơi nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm theo mục đích đề ra

1.2.2 Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề

Trò chơi ĐVTCĐ là trò chơi đặc trưng của trẻ lứa tuổi mẫu giáo Tùy theo cách nhìn nhận trò chơi theo nguồn gốc, theo cấu trúc hay theo ý nghĩa của từ khi phiên âm từ tiếng nước ngoài mà loại trò chơi này có tên gọi khác nhau Chẳng hạn như: "Trò chơi phân vai theo chủ đề (cách gọi này được nhiều tác giả Việt Nam sử dụng); "Trò chơi biểu trưng" (cách gọi của G Piaget); "Trò chơi có cốt truyện" (cách gọi của S Smilanxki) v.v

Theo từ điển Thuật ngữ Tâm lí [9, tr 616] “Trò chơi đóng vai có chủ đề là trò chơi của trẻ trong đó các chủ đề từ những sự kiện của cuộc sống thực được tái tạo lại”

Luận án sử dụng tên gọi trò chơi ĐVTCĐ bởi trò chơi có một số đặc điểm riêng: có một chủ đề chơi nhất định (mảng hiện thực của cuộc sống xã hội) và khi chơi trẻ phải đóng vai (giả làm người lớn) để phản ánh mảng hiện thực đó

Trò chơi ĐVTCĐ là dạng trò chơi tái tạo, đặc trưng của trẻ mẫu giáo Trẻ thực hiện các vai của người lớn theo một chủ đề nhất định và thực hiện hành động theo chức năng xã hội mà họ đảm nhận

Điều này có nghĩa là:

- Trò chơi ĐVTCĐ là trò chơi trung tâm của trẻ mẫu giáo, thuộc nhóm trò chơi sáng tạo (Trò chơi do trẻ tái tạo lại hiện thực đời sống của xã hội người lớn, trẻ

tự tổ chức, điều khiển cuộc chơi của mình)

- Thông qua việc trẻ đảm nhiệm các vai chơi (chủ yếu là vai người lớn) trẻ tái tạo lại cuộc sống sinh hoạt và lao động của người lớn theo những chủ đề nhất định

- Trò chơi ĐVTCĐ là sự giả vờ của trẻ (giả vờ đóng một ai đó, giả vờ làm một cái gì đó), trẻ bắt chước hành động và thái độ của người lớn và tái tạo mô phỏng cuộc sống và lao động của người lớn vào trong trò chơi của mình

Trang 36

- Trò chơi ĐVTCĐ thỏa mãn nhu cầu bản năng chơi, nhu cầu bắt chước làm người lớn của trẻ mẫu giáo

- Trò chơi ĐVTCĐ được trẻ tổ chức chơi theo các nhóm nhỏ và vừa, tùy theo

độ tuổi của trẻ và hoàn cảnh chơi cụ thể Trong các nhóm chơi thường có một "thủ lĩnh" đứng đầu và điều khiển cuộc chơi, các thành viên trong nhóm chơi phối hợp cùng nhau nhằm thực hiện ý tưởng chơi đã đề ra

1.2.3 Khái niệm kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 5 -6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề

KNHĐN của trẻ 5 -6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ là năng lực hành động phối hợp của trẻ với bạn trong nhóm chơi ĐVTCĐ nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm theo mục đích chơi, dự định chơi đã đề ra

Điều này có nghĩa là:

- Trẻ biết hợp tác cùng nhau, chia sẻ, lắng nghe ý tưởng của nhóm

- Trẻ cùng nhau duy trì, ổn định độ bền vững của nhóm chơi

- Trẻ cùng nhau bàn bạc, lựa chọn chủ đề chơi, linh hoạt, tích cực tìm kiếm

phương tiện thực hiện ý tưởng chơi, thỏa thuận phân vai chơi

- Trẻ tích cực, chủ động phối hợp giữa các thành viên trong nhóm chơi để thực hiện

trò chơi đã lựa chọn nhằm đạt được nhiệm vụ và mục tiêu trò chơi đặt ra cho cả nhóm

- Trẻ phối hợp cùng nhau phát triển chủ đề, nội dung chơi, thiết lập mối quan hệ giữa các vai chơi, giữa các nhóm chơi

- Trẻ cùng nhau giải quyết xung đột nảy sinh trong khi chơi

- Trẻ nhận xét, đánh giá về nhau, tạo ra dư luận lành mạnh trong nhóm chơi

- Trẻ biết hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của cả nhóm chơi, phục tùng quy định của nhóm chơi

1.2.4 Khái niệm giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề

Giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ là quá trình GV tổ chức, hướng dẫn để hình thành cho trẻ năng lực hành động phối hợp với bạn trong nhóm chơi ĐVTCĐ nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm theo mục đích chơi, dự định chơi đã đề ra

Trang 37

Điều này có nghĩa là:

- GV hướng dẫn để trẻ biết hợp tác cùng nhau, chia sẻ, lắng nghe ý tưởng của nhóm

- GV hướng dẫn để trẻ biết cùng nhau duy trì, ổn định độ bền vững của nhóm chơi

- GV hướng dẫn trẻ cùng nhau bàn bạc, lựa chọn chủ đề chơi, linh hoạt, tích cực

tìm kiếm phương tiện thực hiện ý tưởng chơi, thỏa thuận phân vai chơi

- GV tổ chức, hướng dẫn để trẻ tích cực, chủ động phối hợp giữa các thành viên trong nhóm chơi để thực hiện trò chơi đã lựa chọn nhằm đạt được nhiệm vụ và mục

tiêu trò chơi đặt ra cho cả nhóm

- GV tổ chức, hướng dẫn để trẻ phối hợp với nhau trong khi chơi nhằm phát triển chủ đề, nội dung chơi, thiết lập mối quan hệ giữa các vai chơi, giữa các nhóm chơi

- GV hướng dẫn để trẻ biết cách giải quyết xung đột nảy sinh trong khi chơi

- GV tổ chức, hướng dẫn trẻ nhận xét, đánh giá về kết quả thực hiện nhiệm vụ của bạn, tạo ra dư luận lành mạnh trong nhóm chơi

- GV hướng dẫn trẻ biết hy sinh lợi ích của cá nhân vì lợi ích chung của cả nhóm chơi, phục tùng quy định của nhóm chơi

1.2.5 Khái niệm biện pháp giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề

Biện pháp giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ là cách làm cụ thể của GV nhằm giáo dục KNHĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong quá trình trẻ chơi ĐVTCĐ

Điều này có nghĩa là:

- Biện pháp là cách làm cụ thể trong hoạt động trẻ chơi cùng nha và biện pháp phụ thuộc vào năng lực của cô trong tổ chức, hướng dẫn trẻ chơi và năng lực chơi của trẻ

- Mục tiêu cơ bản của biện pháp giáo dục KNHĐN trong trò chơi ĐVTCĐ nhằm hình thành và phát triển KNHĐN của trẻ 5-6 tuổi cụ thể là kĩ năng tạo nhóm chơi; kĩ năng phối hợp giữa các thành viên trong nhóm chơi; kĩ năng thực hiện nhiệm vụ chơi của nhóm; kĩ năng giải quyết xung đột trong khi chơi; kĩ năng phát triển nhóm chơi

Trang 38

1.3 Kĩ năng hoạt động nhóm trong trò chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

1.3.1 Đặc điểm của kĩ năng hoạt động nhóm

Kĩ năng là tổ hợp của nhiều yếu tố như: tri thức, kĩ xảo, kinh nghiệm, khả năng chú ý, khả năng tư duy, tưởng tượng của con người Kĩ năng bao giờ cũng gắn với một hoạt động cụ thể có mục đích hoạt động, nội dung và phương thức hoạt động Kĩ năng được hình thành trong quá trình sống, quá trình hoạt động của con người và vì vậy nó phải xuất phát từ kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo đã có Kĩ năng là năng lực hành động nên kĩ năng bao gồm hệ thống thao tác, trình tự tổ chức và thực hiện các thao tác đó, các hành vi và quá trình thực hiện hành vi điều chỉnh, nhịp độ và cơ cấu thời gian thực hiện hành động Vì vậy, KNHĐN gồm các đặc điểm sau đây:

+ Tính mục đích của kĩ năng: Thể hiện ở việc thực hiện các KNHĐN của trẻ

có đạt được mục đích đã định trong một khoảng thời gian hợp lí hay không?

+ Tính đúng đắn của hành động, thực hiện đầy đủ các thao tác trong từng KNHĐN + Tính thành thạo của hành động: trẻ thực hiện đúng, đầy đủ các thao tác trong từng KNHĐN phù hợp với từng tình huống, hoàn cảnh cụ thể

+ Tính linh hoạt khi thực hiện hành động: trẻ chủ động lựa chọn hành động, chủ động điều chỉnh hành động phù hợp với từng tình huống, hoàn cảnh cụ thể + Tính hiệu quả trong việc thực hiện KNHĐN trong quá trình tham gia chơi giữa các thành viên và các nhóm

1.3.2 Cấu trúc các kĩ năng thành phần của kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ mẫu giáo

KNHĐN được nhiều tác giả phân theo nhiều cách khác nhau, bao gồm các kĩ năng thành phần

Một số tác giả phân chia các KNHĐN theo từng kĩ năng riêng lẻ như:

Theo D.Johnson và R.Johnson đã chỉ ra [87], KNHĐN bao gồm 4 kĩ năng thành phần đó là là: kĩ năng giao tiếp; kĩ năng xây dựng và duy trì niềm tin; kĩ năng chia sẻ vai trò lãnh đạo; kĩ năng giải quyết xung đột trên tinh thần xây dựng

Tác giả Schmuck và Runkel [109], từ góc độ liên nhân cách chia KNHĐN thành

6 kĩ năng cơ bản: kĩ năng giải thích; kĩ năng hiểu rõ hành vi của người khác; kĩ năng tiếp thu; kĩ năng truyền đạt; kĩ năng biểu hiện hành vi; kĩ năng biểu đạt tình cảm

Trang 39

Ngô Thị Thu Dung [8] trong nghiên cứu về kĩ năng học theo nhóm của học sinh đã đưa ra 18 kĩ năng hợp tác nhóm Một số kĩ năng trong 18 kĩ năng này có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động hợp tác nhóm trong học tập của học sinh, đó là: biết tự liên kết thành nhóm; biết tổ chức nhóm; biết điều hành công việc của nhóm; biết phân công nhiệm vụ cho từng thành viên; biết lập kế hoạch giải quyết nhiệm vụ nhóm; biết cộng tác, chia sẻ giải quyết nhiệm vụ của nhóm; biết lắng nghe, thống

nhất ý kiến hoặc chấp nhận ý kiến trái ngược

Theo Cao Thị Cúc [7], KNHĐN của trẻ mẫu giáo bao gồm: kĩ năng hình thành

và duy trì nhóm; kĩ năng giao tiếp theo nguyên tắc tương tác giữa các thành viên trong nhóm; kĩ năng thực hiện công việc của nhóm; kĩ năng giải quyết xung đột xảy

ra trong nhóm

Theo Vũ Thị Nhân [38], hình thành một số kĩ năng hợp tác là một thành phần của kĩ năng của hoạt động nhóm của trẻ mẫu giáo gồm các kĩ năng: kĩ năng thảo luận, kĩ năng lắng nghe; kĩ năng phân công công việc hợp lí; kĩ năng chia sẻ; kĩ năng phối hợp hành động; kĩ năng giải quyết xung đột

Một số tác giả khác lại phân chia các KNHĐN thành các nhóm kĩ năng:

R Villa [118], cho rằng, có 4 nhóm KNHĐN được sắp xếp theo tiến trình phát triển nhóm: nhóm kĩ năng hình thành nhóm (tham gia nhóm; duy trì nhóm; nói đủ nghe; khuyến khích các thành viên tham gia; nhìn vào người nói và không làm việc riêng); nhóm kĩ năng thực hiện chức năng nhóm (định hướng nhiệm vụ của nhóm; diễn tả đúng nhiệm vụ; yêu cầu giải thích khi cần thiết; sẵn sàng giải thích hay làm

rõ thêm; làm sáng tỏ ý kiến của người khác; làm cho nhóm hào hứng, nhiệt huyết); nhóm kĩ năng hình thành cấu trúc (mô tả các cảm giác phù hợp; tóm tắt bằng lời; phân công nhiệm vụ trong nhóm; tìm kiếm độ chính xác; tìm cách thể hiện trau chuốt hơn; tìm kiếm thêm các chi tiết; tìm kiếm các mốc ghi nhớ); nhóm kĩ năng hoàn thiện nhóm (trình bày vấn đề lôgíc; lập kế hoạch hoạt động; phê bình, bình luận ý kiến chứ không bình luận cá nhân; xử lí vấn đề bất đồng trong nhóm hợp lí, tế nhị; tổng hợp các ý kiến; lồng ghép các ý kiến vào điểm cụ thể; thăm dò bằng cách đưa ra nhiều câu hỏi khác nhau; lí giải theo các cách khác nhau; tìm hiểu thực chất vấn đề bằng cách kiểm tra công việc của nhóm)

Tác giả R Villa [118], trên cơ sở nghiên cứu quá trình hình thành và hoạt động nhóm, đưa ra 26 kĩ năng chia thành 4 nhóm sau: Nhóm kĩ năng hình thành

Trang 40

nhóm; nhóm kĩ năng thực hiện các chức năng của nhóm; nhóm kĩ năng hình thành cấu trúc công việc; nhóm kĩ năng hoàn thiện nhóm

Theo Lê Văn Tạc [50], cần hình thành cho học sinh tiểu học khiếm thính ở lớp học hòa nhập 4 nhóm kĩ năng hợp tác trong hoạt động nhóm là: nhóm kĩ năng hình thành nhóm; nhóm kĩ năng giao tiếp trong nhóm; nhóm kĩ năng xây dựng và duy trì bầu không khí tin tưởng lẫn nhau; nhóm kĩ năng giải quyết mối bất đồng trên tinh thần xây dựng

Kế thừa các quan điểm trên, chúng tôi cho rằng, KNHĐN của trẻ mẫu giáo 5 –

6 tuổi bao gồm các kĩ năng thành phần sau đây: Kĩ năng tạo nhóm chơi; kĩ năng phối hợp giữa các thành viên trong nhóm chơi; kĩ năng thực hiện nhiệm vụ của nhóm chơi; kĩ năng giải quyết xung đột, mâu thuẫn trong khi chơi và kĩ năng phát triển nhóm chơi Những kĩ năng thành phần này được hình thành theo tiến trình, giai đoạn chơi của trẻ Để trò chơi ĐVTCĐ được diễn ra, trước hết trẻ phải có nhóm chơi Nhóm chơi của trẻ được hình thành bằng nhiều cách, cô tạo nhóm theo mục đích, chủ đích của cô, cô hướng dẫn trẻ tạo nhóm chơi, trẻ tự tạo nhóm chơi Dù là cách tạo nhóm nào thì cũng phải quan tâm tới cảm xúc của trẻ trong nhóm, trẻ có vui vẻ, thoải mái khi tham gia vào nhóm đó không? Để đạt được mục đích chơi trẻ phải phối hợp, hợp tác với nhau trong khi chơi Trong quá trình trẻ chơi ĐVTCĐ không tránh khỏi mâu thuẫn, xung đột vì vậy cần hướng dẫn cho trẻ cách giải quyết các xung đột, mâu thuẫn Bên cạnh đó, trong quá trình trẻ chơi cần hướng dẫn trẻ

mở rộng nhóm chơi, hướng dẫn để các nhóm chơi phối hợp với nhau, hướng dẫn trẻ

mở rộng chủ đề chơi, nội dung chơi Các nhóm kĩ năng thành phần này có mối quan

hệ tác động qua lại với nhau để tạo thành một cấu trúc chỉnh thể

1.3.3 Các giai đoạn phát triển kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ mẫu giáo

Theo R.X Bure [dẫn theo 56], quá trình hình thành, phát triển kĩ năng hành động phối hợp với bạn của trẻ mẫu giáo trong hoạt động được thể hiện qua 3 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 3-4 tuổi - Làm việc cạnh nhau: Nhóm 2-3 trẻ tập hợp lại, cùng nhận nhiệm vụ giống như nhau nhưng trong quá trình hoạt động mỗi trẻ chỉ chú ý thực hiện công việc của mình mà ít có sự giao tiếp, trao đổi với bạn

Ngày đăng: 28/11/2020, 14:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm