HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC VIỄN ĐÔNG TRUNG QUỐC, NHẬT BẢN, ẤN ĐỘ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC NƯỚC VIỄN ĐÔNG. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ. CƠ SỞ PHÁP LUẬT. HỆ THỐNG PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC. HỆ THỐNG PHÁP LUẬT NHẬT BẢN. HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ẤN ĐỘ.
Trang 1LUẬT HỌC SO SÁNH
HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC VIỄN ĐÔNG
TRUNG QUỐC, NHẬT BẢN, ẤN ĐỘ NỘI DUNG:
I.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC NƯỚC VIỄN ĐÔNG:
1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:
2 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC NƯỚC VIỄN ĐÔNG:
3 CƠ SỞ PHÁP LUẬT:
II.HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC VIỄN ĐÔNG:
1 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC:
a Pháp luật Trung Quốc cổ đại – cơ sở của Pháp luật Viễn đông:
b Pháp luật nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa:
d Đào tạo luật và nghề luật
e Các đặc điểm trong nhận thức pháp luật của người Nhật Bản – “Pháp luậtsống”:
Trang 2I.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC NƯỚC VIỄN ĐÔNG:
Độ, Philippines, Việt Nam, Thái Lan…
2.ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC NƯỚC VIỄN ĐÔNG:
Khu vực Viễn Đông bao gồm nhiều quốc gia khác nhau: Nhật Bản, Trung Quốc,
Ân Độ, Philippin… Và với mỗi quốc gia sẽ có các nền văn hóa, truyền thống khácnhau mang đậm nét riêng của mỗi quốc gia Chính vì các nước khu vực Viễn Đông rấtkhác nhau về nhiều mặt kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng…
+ Tinh thần ôn hòa và hòa giải
Có 3 trường phái tư tưởng ảnh hưởng lớn tới pháp luật cổ đại:
- Nho giáo cho rằng tế bào của xã hội là gia đình với trật tự trên dưới khắt khe vàquyền lực gần như tối cao của người gia trưởng Yếu tố quan trọng trong Nho giáo là
“ Tam cương, ngũ thường” Nguyên tắc chính trong Nho giáo gầm có: Tình phụ tử, sựphục tùng cấp trên, cấm đoán mọi sự thái quá và chính quyền cũng cần tránh sựchuyên quyền trong cai trị
- Chủ nghĩa pháp trị: Ra đời vào TK III TCN, trường phái pháp trị cho rằng chínhquyền không chỉ cần được dựa trên phẩm hạnh của nhà cầm quyền (đức trị) mà còncần phải dựa trên sự điều chỉnh của pháp luật (pháp trị)
Trang 3- Đạo giáo.
Giai đoạn cận đại, sự xuất hiện của các bộ luật phương Tây đã làm cho pháp luậtViễn Đông mang những màu sắc mới, ở đây phải nói đến sự du nhập của hệ thốngpháp luật Rooman-Giécmanh Mặc dù có ảnh hưởng ít nhiều bởi hệ thống pháp luậtkhác nhưng pháp luật các nước này vẫn giữ nguyên bản chất, chưa mất đi hẳn tínhtruyền thống của mình Một số nước phát triển hệ thống pháp luật theo hướng xã hộichũ nghĩa, như Trung Quốc xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng theo “ con đườngriêng” Đóng vai trò quan trọng đối với sự ảnh hưởng của các nước khác cũng như cóthể hiểu một cách khái quát đối với hệ thống pháp luật này thì phải thông qua quốc giatiêu biểu” Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản
II.HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC VIỄN ĐÔNG:
1 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC:
a Pháp luật Trung Quốc cổ đại – cơ sở của Pháp luật Viễn đông:
a.1) Cơ sở hình thành và phát triển cũng như các loại nguồn của pháp luật Trung Quốc:
-Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng quan trọng và rộng lớn nhất thuộc kiếntrúc thượng tầng, hai hiện tượng này thường xuyên có sự vận động và biến đổi khôngngừng Sự hình thành và phát triển của nhà nước gắn với sự hình thành và phát triểncủa pháp luật Do đó cơ sở của sự hình thành và phát triển pháp luật cũng dựa trên cơ
sở hình thành và phát triển của nhà nước:
+ Cơ sở kinh tế: Chế độ sở hữu ruộng đất đóng vai trò chủ đạo và sự tồn tại củacông xã nông thôn tạo nên cơ sở vật chất của nhà nước quân chủ chuyên chế
+ Cơ sở chính trị - xã hội: Giai cấp địa chủ phong kiến hầu hết là trung và đại địachủ - đây là giai cấp thống trị trong xã hội
+Cơ sở tư tưởng: Là học thuyết chính trị nho giáo
- Các loại nguồn cơ bản của pháp luật phong kiến Trung Quốc Luật pháp phongkiến trung Quốc có 5 nguồn chủ yếu:
+ Lệnh: Chiếu chỉ của hoàng đế ban ra
+Luật: Quy định về chế độ ruộng đất, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi thương nghiệp.+Cách: Những cách thức làm việc của quan chức nhà nước
+Thức: Thể thức có liên quan đến việc khám nghiệm, tra hỏi, xét xử
+ Lệ: án lệ
a.2) Đặc trưng của pháp luật Trung Quốc:
*Pháp luật phong kiến là pháp luật nho giáo
Trang 4Thể hiện tất cả các quan điểm đạo đức lễ nghi nho giáo được thể chế hóa vào trongpháp luật là những đặc trưng quan trọng của pháp luật phong kiến Trung Quốc Phápluật Trung Quốc có sự kết hợp giữa đức và pháp giữa lễ và hình Luật công có xuhướng phát triển hơn so với luật tư
* Pháp luật phong kiến Trung Quốc là sự kết hợp giữa lễ và hình
-Lễ là nguyên tắc xử sự của con người thuộc các đẳng cấp khác nhau trong cácquan hệ xã hội Lễ là nội dung trọng tâm của nho giáo Lễ giáo phong kiến xác lập vàcủng cố mối quan hệ tam cương, ba mối quan hệ cơ bản trong xã hội, quan hệ vua tôi,quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệ chồng - vợ Đó là trật tự của xã hôi phong kiến
- Hình là hình phạt hay nói rộng ra là pháp luật
- Từ thời Tây Chu, lễ dần dần trở thành một thể chế chính trị, hỗ trợ cho hình luật.Tuy nhiên, do đặc điểm tình hình lúc bấy giờ và do sự xuất hiện các tư tưởng chính trịkhác, đặc biệt là thuyết pháp trị - phù hợp với tình hình xã hội nên việc áp dung lễgiáo chưa giữ vai trò chủ đạo Đặc biệt trong triều đại nhà Tần, Tần thủy Hoàng chủtrương chỉ sử dụng pháp luật, không dùng lễ giáo nhân nghĩa để cai trị Do đó, lễ giáotrong thời kì này rất mờ nhạt
- Từ nhà Hán trở về sau, đặc biệt là từ đời Hán Vũ Đế, ông chủ trương sử dụng nhogiáo để quản lí nhà nước và biến nho giáo thành quốc giáo thì lễ- nội dung trọng tâmcủa nho giáo trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong xã hội phong kiến Lễ kết hợp vớihình luật để chủ trương xây dựng và thực thi pháp luật Trong mối quan hệ giữa lễ vàhình thì các nguyên tắc của lễ làm sự chỉ đạo, còn lễ mượn sự cưỡng chế của hình đểduy trì Thực hiện chủ trương kết hợp lễ và hình, nhà nước phong kiến Trung Quốc ápdụng các nguyên tắc: Đức chủ hình phụ, Lễ pháp tịnh dụng Nhà nước phong kiếnTrung Quốc còn sử dụng nguyên tắc “tam cương ngũ thường” của nho gia làm chủđạo Tam cương là nội dung cơ bản trong giáo lí của đạo nho và được pháp luật bảo
vệ bằng việc quy định 10 trọng tội (thập ác) Trong đó các tội trái với đạo hiếu có 6 tội(ác nghịch, bất đạo, bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, nội loạn) Các tội bất trung vớihoàng quyền phong kiến có 4 tội (mưu phản quốc, mưu đại nghịch, mưu phản loạn,đại bất kính) Trong quan hệ hôn nhân theo giáo lí đạo Nho và cũng là theo luật phápquy định, người chồng có quyền li dị vợ nếu người vợ chỉ cần phạm một trong 7 điều
sơ suất (thất suất): không con, dâm dật, không phụng sự cha mẹ chồng, miệng lưỡi nóinăng lung tung, trộm cắp, ghen tuông, ác tật Luât pháp từ Hán đến Đường, Tống,Nguyên, Minh, Thanh đều “nhất chuẩn hồ lễ” (chỉ lấy lễ làm chuẩn) Hay nói cáchkhác luật pháp luôn luôn củng cố và bảo vệ lễ giáo phong kiến, trật tự của đẳng cấpcủa xã hội phong kiến, chính thể quân chủ chuyên chế phong kiến Tuy nhiên, việcdùng lễ đã gây ra việc áp dụng pháp luật không thống nhất Xuất hiện hiện tượng “tộiđồng luận dị” (tội giống nhau nhưng lí luận khác đi dẫn đến hình phạt cũng khác
Trang 5nhau) Và do vậy, tệ quan lại xét xử một cách võ đoán hoành hành Các quan lại tùytiện trong cách xét xử, có điều kiện phát sinh tiêu cực Điển hình là Đổng Trọng Thưchủ trương dùng sách “Xuân Thu” của Khổng tử để làm cơ sở cho việc xử án.
*Pháp luật phong kiến Trung Quốc là sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị, giữa quy phạm pháp luật với quy phạm đạo đức
- Để cai trị dân giai cấp thống trị có trăm ngàn biện pháp Trong xã hội phong kiếnTrung Quốc đã tồn tại hai quan điểm đối lập nhau đó là: Quan điểm của Pháp gia vàquan điểm của Nho gia Hai quan điểm này như hai sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trìnhtồn tại và phát triển của xã hội phong kiến Trung Quốc Từ đó đặt ra câu hỏi nên dùngpháp luật mà trừng trị? Hay nên dùng đạo đức mà giáo dục Quan điểm của hai trườngphái này được thể hiện tương ứng qua hai học thuyết pháp trị và đức trị
- Nội dung của học thuyết pháp trị: Học thuyết Pháp trị là học thuyết của phái Pháp
gia, phái Pháp gia có nguồn gốc từ thời Xuân Thu, người khởi xướng là Quản Trọng.Sau này có một nhà tư tưởng xuất sắc đó là Hàn Phi Hàn phi đã lập ra trường pháiPháp trị muốn cai trị đất nước phải có ba yếu tố: Pháp, Thuật, Thế Pháp: Phải là phápluật thành văn, phải có hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch, hợp lí, ổn định, banhành cho khắp dân chúng biết; phải thi hành pháp luật nghiêm chỉnh, triệt để, chí công
vô tư” không khoan dung người mình yêu, không khắc nghiệt người mình ghét Thế:Quyền lực uy lực của nhà vua đảm bảo cho nhà vua có thể thực hiện được Ở đâythuyết pháp trị sử dụng nội dung “chính danh” của nho giáo, theo đó vua phải làm trònphận sự của mình, các quan lại, dân chúng tùy theo danh phận của mình mà làm tròncông việc của mình Trong đó chỉ có vua mới là người có thể cai trị thiên hạ Thuật:phương pháp, thủ đoạn cai trị của người cầm quyền kiểm soát được bề tôi, nó baogồm hai nội dung: bổ nhiệm và khảo thạch “kiểm tra, thưởng phạt”
-Ở Trung Quốc, tư tưởng pháp trị được biểu hiện đầu tiên trong một câu nói củaQuản Trọng - tướng quốc của Tề Hoàn Công vào khoảng đầu thời Xuân Thu: “vua -tôi, trên - dưới, sang - hèn đều tuân theo pháp luật cả, thế gọi là đại trị” Sau nhữngnguyên lí đức trị của Khổng Tử được đề ra, đã xuất hiện từng bước những bất đồng vềchính trị giữa “đức trị” và “pháp trị”
- Nội dung của học thuyết đức trị: (là nội dung chủ yếu của nho giáo)Là học thuyết
chính trị của phái Nho gia ra đời ở thời Xuân thu do khổng tử khởi xướng là họcthuyết chính trị đạo đức quan điểm của nho giáo thể hiện trên hai phương diện: Quanđiểm đạo đức: cơ sở để duy trì trật tự xã hội nêu ra 5 tiêu chuẩn đạo đức của ngườiquân tử: Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín ông đặc biệt nhấn mạnh nhân và lễ Nhân làđiều tốt đẹp con người luôn hướng tới, cung kính, khoan dung, luôn luôn giữ chữ tín,luôn luôn làm lợi cho người khác Lễ theo quan niệm của Khổng Tử: là các tiêu chuẩn
Trang 6đạo đức của con người, lễ hướng con người ta có cách xử sự đúng đắn trong mối quan
hệ giữa người với người trong xã hội: vua – Tôi, bề trên – người dưới, trong quan hệ
vợ chồng Nêu lên mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, bằng hữu
-Theo Khổng Tử, pháp luật chỉ làm người ta sợ mà không dám làm điều ác, khi cóthể dấu đươc hành vi phạm tội, khi có thể tránh được sự trừng phạt thì kẻ xấu vẫn làmđiều ác Nếu dùng đức trị mà cai trị dân, khi biến quyền lợi của giai cấp phong kiếnthành quyền lợi của dân, thì họ sẽ không vì sợ pháp luật nhưng vì sợ xấu hổ trướcngười khác, sợ lương tâm cắn rứt mà không làm điều ác nữa Thực hành đức trị, giaicấp phong kiến đưa ra những lợi ích, những trật tự xã hội trở thành quy tắc xử xự hàngngày của moi người, thành nghĩa vụ của người dân Do đó, nó là phương tiện lừa bịpcủa giai cấp thống trị: nó khiến cho kẻ áp bức bóc lột dân lại trở thành ân nhân củangười dân Cũng theo Khổng Tử, đức trị muốn đạt hiệu quả cao phải đi đôi với lễ trị.Nghĩa là đạo đức sẽ được củng cố bằng những lễ nghi, cách nói năng, ăn mặc, cư xửtrong cuộc sống Từ đời Hán trở đi, Đức trị giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hộicũng như trong chính sách cai trị của nhà nước Đến thời Đường, Đức trị của nho giáocòn được bổ sung thêm thuyêt Nhân trị của phật giáo Nhân trị ở đây là lòng từ bi, cứunhân độ thế Đến đời Tống, Minh sự suy yếu của đạo đức nho giáo được biểu hiện qua
sự suy thoái của triều đại, một số học giả khôi phục lại học thuyết pháp trị nhưngkhông thành Đến cuối đời Thanh, nho giáo và tư tưởng đức trị cũng bị phê phán kịchliệt
=>Tóm lại, trong suốt thời kì phong kiến Trung Quốc đức trị và pháp trị đã cùngtồn tại với nhau, tương hỗ nhau Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn khác nhau thì mức độ ảnhhưởng của hai học thuyết này có khác nhau Nhìn chung thì nho giáo giữ vị trí thượngtôn, pháp trị vẫn được áp dụng nhưng không thể hiện một cách công khai Pháp trị là
tư tưởng chủ đạo và thực hành ở thời kì chiếm hữu nô lệ (cụ thể là thời xuân thu chiếnquốc) và ở buổi ban đầu của chế độ phong kiến trung Quốc (malan) còn chức vụ (củanho giáo) là tư tưởng chủ đạo thịnh hành gần như suốt trong chế độ phong kiến (từHán đến Thanh) Và đương nhiên trong suốt quá trình đó tư tưởng pháp trị trong mộtchừng mực nhất định đã được 6 lồng ghép và hòa trộn vào đức trị Pháp trị hay đức trịđều cùng một bản chất, đó chỉ là những biện pháp cai trị khác nhau, chỉ là sự khácnhau về việc áp dụng pháp luật
b Pháp luật nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa:
*Lịch sử hình thành :
-Từ 01/10/1949 Trung Quốc tổ chức theo chính thể dân chủ nhân dân, theo đó hệ
thống pháp luật mới đã được thiết lập
+ Những năm đầu tiên: dưới chính quyền mới mọi đạo luật được ban hành trướcđây đều bị hủy bỏ, hệ thống tòa án bị xóa bỏ và thay vào đó những đạo luật mới:đạo
Trang 7luật về hôn nhân,công đoàn,cải cách ruộng đất, song song với nó hệ thống cơ quan tưpháp mới được thiết lập,gồm có Tòa án và Viện kiểm sát.
=>Vận hành hệ thống pháp luật mới gặp nhiều trở ngại do chưa có đội ngũ luật gia
có kinh nghiệm,thiếu các quy định của luật thực định lẫn một cơ chế vận hành hiệuquả,
+Giai đoạn thập kỉ 60,70 của thế kỉ 20:Tiến hành cải tổ xã hội cách mạng vănhóa.Củng cố chế độ và vai trò của nhà nước trong các bản Hiến pháp năm 1954, 1975,
1979 Nhiệm vụ trọng tâm là đấu tranh giaicấp,chống lại hiểm họa bành trướng của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc
+Từ cuối những năm 80 của thế kỉ 20: Nhiệm vụ trọng tâm là tăng trưởng kinh tếmặc dù vẫn giữ lại các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa,vai trò của Đảng cộng sản,sự quản
lý tập trung của nhà nước
Ban hành bản Hiến pháp thứ 4 của Trung Quốc- Hiến pháp năm 1982, kéo theomột loạt các đạo luật khác: Bộ luật hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, các văn bản quyphạm pháp luật trong lĩnh vực dân sự, luật về quốc tịch, về phát minh, sáng chế, về xínghiệp hợp doanh và đặc biệt là sự “nội hóa” pháp luật quốc tế vào pháp luật trongnước
*Một số đặc điểm pháp luật Trung Quốc:
Sự đan chặt chẽ giữa pháp luật và đạo đức trong cơ chế điều chỉnh các mối quan hệ
xã hội:
+Mặc dù hệ thống pháp luật hiện nay của Trung Quốc được xây dựng trên cơ sởcủa nền kinh tế đang phát triển theo xu hướng hòa nhập với thế giới bên ngoài,tuynhiên vẫn còn mang trong mình những dấu ấn của một số hình thức và ý thức phápluật thời kỳ phong kiến Điều này được thể hiện ở việc sử dụng thông lệ, việc hànhquyết công khai, việc áp dụng hình thức tra tấn trong quá trình hỏi cung, v.v Ở nôngthôn, tệ gia trưởng, nạn tham nhũng, lộng quyền của các cơ quan Nhà nước còn phổbiến
+Nguyên nhân của đặc điểm này là do Nhà nước Trung Quốc được thoát thai từmột nước nửa phong kiến thuộc địa” Trung Quốc chịu ảnh hưởng sâu sắc của truyềnthống lễ giáo phong kiến hàng ngàn năm Những truyền thống lễ giáo, những giá trịnhận thức phong kiến đã in sâu vào nền văn hoá Trung Quốc, lối tư duy phong kiến đã
ăn sâu vào ý thức con người” Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta quá đề cao ảnhhưởng của tàn dư phong kiến đối với xã hội nói chung và hệ thống pháp luật nói riênghiện nay của Trung Quốc Ngay từ đầu thế kỷ XX, sự phân hoá giai cấp trong xã hộiTrung Quốc đã làm suy giảm vai trò của thông lệ như là một công cụ chính để giảiquyết các mâu thuẩn Sự phát triễn nhanh chóng của xã hội Trung Quốc trên mọi lĩnhvực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế trong nửa cuối thế kỷ XX đã dẫn đến đòi hỏi khác
Trang 8quan coi pháp luật như là công cụ cần thiết để lập lại trật tự xã hội, giải quyết cácxung đột, mâu thuẫn Sự thay thế các quy phạm xã hội bằng quy phạm pháp luật trongviệc điều chỉnh các quan hệ xã hội đã đem lại cho hệ thống pháp luật Trung Quốc mộtnội dung mới Quy phạm pháp luật không chỉ đóng vai trò điều chỉnh các quan hệ xãhội, mà còn có nhiệm vụ bảo vệ một số quan hệ truyền thống mà trước đây nhữngquan hệ này là đối tượng tác động của quy phạm xã hội, quy phạm đạo đức.
+Sự phổ biến phương pháp thử nghiệm trong quá trình xây dựng pháp luật.Đặc điểm này không những là hệ quả tất yếu của sự thiếu kinh nghiệm trong quá trìnhxây dựng cơ chế điều chỉnh pháp luật, mà còn bởi tính đa dạng, phức tạp của nhữngquan hệ xã hội đang và sẽ được pháp luật điều chỉnh Ngoài ra, quá trình chuyển đổi
từ hình thức quản lý xã hội trên cơ sở chính trị sang hình thức quản lý bằng pháp luật,bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân cũng tác động mạnh mẽ đến nội dungcủa hệ thống pháp luật Trung Quốc Hệ thống pháp luật của Trung Quốc đang ở tronggiai đoạn vừa xây dựng vừa hoàn thiện Bởi vậy có những quan hệ xã hội được điềuchỉnh không phải bởi luật, mà bởi các văn bản dưới luật Việc soạn thảo các văn bảnpháp luật đôi khi mang tính chất đối phó, vì thể hiện sự sửa đổi, bổ sung luật ban hànhcòn diễn ra phổ biến Luật ban hành thường không cụ thể, do đó để áp dụng luật đòihỏi phải ban hành văn bản dưới luật kèm theo để cụ thể hoá, chi tiết hoá
Bên cạnh hoạt động lập pháp tích cực, ở Trung Quốc hiện nay đang diễn ra quátrình hoàn thiện hệ thống các thiết chế pháp luật, hợp lý hoá hoạt động áp dụng phápluật, tăng cường pháp chế
Trong giai đoạn hiện nay, quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật TrungQuốc chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau: yêu cầu cải cách thể chế chính trị của Nhànước Trung Quốc; yêu cầu tiếp tục cải cách và hoàn thiện chế độ kinh tế, thiết lập nềnkinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường định hướng XHCN; sự phân hoá trong xã hộiđang diễn ra ngày càng gay gắt, tình trạng thất nghiệp gia tăng; quan hệ kinh tế đốingoại phát triễn với quy mô ngày càng lớn, làm tăng cường ảnh hưởng của nhữngnguyên tắc, thiết chế của pháp luật quốc tế đối với hệ thống pháp luật Trung Quốc.+Một số quan hệ xã hội nhạy cảm không được điều chỉnh bằng pháp luật mà bằngchính sách Đối với một số quan hệ nhạy cảm, người ta thường hay điều chỉnh bằngchính sách của Nhà nước và Đảng cộng sản Chẳng hạn, ở Trung Quốc có chính sách
kế hoạch hoá gia đình, theo đó mỗi cặp vợ chồng chỉ có một con Luật hôn nhân cũngquy định các cặp vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện kế hoạch hoá gia đình, nhưng không
có văn bản pháp luật nào quy định rõ ràng là mỗi cặp vợ chồng chỉ được có một con
c) Hệ thống tóa án và tố tụng:
c.1) Hệ thống tóa án:
Trang 9Hệ thống tóa án nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập theo Điều 123– 135 của Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Bao gồm các tòa án nhândân, đứng đầu là tòa án nhân dân tối cao, tiếp đến là các tòa án nhân dân các cấp cao ,tòa án nhân dân cấp trung và tòa án nhân dân cấp cơ sở Tòa án nhân dân cấp cơ sở cótới hơn 3000 tòa án đặt ở khắp các tỉnh và lại được tiếp tục chia thành 20.000 đơn vịnhỏ hơn gọi là các cơ quan tài phán địa phương đặt tại các thành phố và làng xã Cókhoảng 376 tòa án nhân dân cấp trung và 31 tòa án nhân dân cấp cao đặt tài các tỉnh.Đây là kiểu tổ chức hệ thống tóa án khá phổ biến tại các nước xã hội chủ nghĩa.
Tòa án nhân dân tối cao là cấp xét xử cao nhất trong hệ thống xét xử của TrungQuốc với ba tòa án chuyên trách là: Hình sự, dân sự và kinh tế Tòa có quyền thànhlập các tòa chuyên trách khi cần, tòa có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với các vụ viêctheo quy định của pháp luật hoặc đối với những việc tòa thấy rằng tòa cần phải trựctiếp xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân tối cao còn có quyền giám sát hoạt động xét xửcủa các tòa án nhân dân cấp dưới và tòa án nhân dân đặc biệt Tòa cũng có thẩmquyền xét xử phúc thẩm đối với những vụ việc đã được xét xử bới tòa án nhân dân cấpcao và tòa án nhân đặt biệt khi có kháng cáo hoặc kháng nghị từ Viện kiểm sát nhândân tối cao Tòa cũng có quyền giải thích những vấn đề có liên quan tới việc áp dụngpháp luật trong công tác xét xử
Tòa án nhân nhân cấp cao là các tòa án cấp tỉnh, cấp vùng tự trị và các thànhphố trực thuộc trung ương Cơ cấu tổ chưc tòa án nhân dân cấp cao gần giống với với
cơ cấu tổ chức của tòa án nhân dân tối cao Tòa có quyền xét xử sơ thẩm đối vớinhững vụ việc luật định, những vụ việc được tòa án cấp dưới trực tiếp chuyển lên vànhững vụ án hình sự lớn có ảnh hưởng tới toàn tỉnh Tòa cũng có quyền xét sử phúcthẩm đối với những vụ án đã được tòa án cấp dưới xét xử khi có kháng cáo, khángnghị
Tòa án nhân dân cấp trung có thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong một số vụ việcnhư vụ việc được chuyển lên từ tòa án nhân dân cấp cơ sở, hầu hết các vụ việc cóđương sự là người nước ngoài, cac vụ việc phản cách mạng, các vụ án hình sự có mức
án tù chung thân hoặc tử hình, các vụ án hình sự mà người phạm tội là người nướcngoài, hoặc các vụ án đã được xét xử tại tòa án nhân dân cấp cơ sở khi có kháng cáo,kháng nghị
Tòa án nhân dân cấp cơ sở là tòa án ở cấp địa phương, có thẩm quyền xét xử sơthẩm đối với các vụ việc hình sự có mức án thấp hơn án chung thân và án tử hình; xét
xử vụ dân sự không có yếu tố nước ngoài Tòa có quyền chuyển cac vụ án có tính chấtnghiêm trọng tới tòa án nhân nhân cấp trên để giải quyết
Ngoài ra, trong hệ thống tòa án Trung Quốc còn có các tòa án chuyên biệt như:Tòa án quân sự, Tòa án hàng hải; Tòa án vận tải và đường sắt, Tòa án lâm nghiệp
Trang 10*SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TÒA ÁN TRUNG QUỐC
c.2) Thủ tục tố tụng:
* Thủ tục tố tụng dân sự:
Thủ tục tố tụng dân sự được tiến hành theo Luật tố tụng dân sự năm 1991 theo
đó, một vụ việc bắt đầu từ tòa án sơ thẩm theo một trong hai hình thức: tố tụng thôngthường và tố tụng rút gọn
+ Tố tụng thông thường là hình thức tố tụng theo đó vụ kiện được bắt đầu bằngđơn khiếu kiện tới tòa, tại đó tòa sẽ xem xét liệu đơn có đáp ứng yêu cầu để có thể thụ
lí Khi đơn khiếu kiện hợp lệ tòa án sẽ tiếp nhận đơn và giải quyết vụ kiện Thủ tục tốtụng thông thường gồm ba giai đoạn: (1) Giai đoạn điều tra do tòa tiến hành: tòa sẽtriệu tập các bên tranh chấp vad chứng cứ để chất vấn và đưa ra các chứng cứ viếtcũng như tang vật; (2) Giai đoạn tranh luân tại tòa: là khi luật sư của các bên đương sựtranh cãi, đưa ra lý lẽ để bảo vệ cho thân chủ chủa mình; (3) Giai đoạn ra phán quyết
+ Tố tụng rút gọn là hình thức tố tụng được sử dụng tại tòa án cấp cơ sở để giảiquyết các vụ án dân sự đơn giản, theo cách thức không nghi thức Khiếu kiện của bênnguyên có thể được trình bày bằng miệng hoặc các bên tranh chấp có thể cùng nhautrực tiếp tới tòa và yêu cầu tòa ngay lập tức ra phán quyết
Trang 11thẩm, thường là tòa án nhân dân cấp cơ sở, tùy theo bản chất của hành vi phạm tội.Sau khi tòa án sơ thẩm tuyên án, vụ việc vẫn có thể được xét xử phúc thẩm bởi tòa áncấp trên nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị Phán quyết phúc thẩm có giá trị ràngbuộc các bên, tuy nhiên cũng có thể bị bãi bỏ thông qua thủ tục xét xử giám đốc thẩm.
d) Nguồn luật:
Nguồn luật trong hệ thống pháp luật Trung Quốc ngày nay vẫn duy trì nhiều đặcđiểm cơ bản của nguồn luật hệ thống háp luật thuộc dòng họ pháp luật xã hội chủnghĩa, trong đó nguồn luật chính là pháp luật thành văn Pháp luật thành văn bao gồmHiến pháp, luật, các văn bản dưới luật do Chính phủ trung ương và các cơ quan chínhquyền địa phương ban hành Ngoài ra còn còn có các điều ước quốc tế và phán quyếtcủa tòa
e) Đào tạo luật và nghề luật ở Trung Quốc:
e.1) Đào tạo luật:
Để lấy bằng cử nhân luật, sinh viên phải theo học ba năm tại trường đại học Saukhi có bằng cử nhân luật, cử nhân có thể học tiếp để lấy bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ luậthọc, hay có thể dành ra hai năm thực tập nghề luật, tích lũy kinh nghiệm tham gia kìthi do đoàn luật sư tổ chức hai lần một năm Nếu vượt qua thí sinh có thể nộp đơn xincấp chứng chỉ hành nghề luật sư
e.2) Nghề luật:
Theo Luật luật sư của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1996, để trở thành luật
sư ứng cử viên phải có được phẩm chất nghề nghiệp bằng hai cách: vượt qua kì thiluật quốc gia hoặc được các cơ quan có thẩm quyền của ngành tư pháp công nhận.Chính phủ sẽ tổ chức kì thi luật quốc gia để đảm bảo thí sinh có đủ phẩm chất của luật
sư hay không Sau kì thi nói trên, ứng cử viên phải thực tập một năm tại văn phònghay công ty luật Chỉ sau khi hoàn thành thời gian thực tập ứng cử viên mới được cấpchứng chỉ hành nghề luật sư
Giấy phép hành nghề luật sư cần được đăng kí lại hằng năm tại văn phòng tư pháptoàn tỉnh, thành phố hoặc khu tự trị Những luật sư không tuân thủ quy định này giấyphép hành nghề sẽ bị vô hiệu hóa Các luật sư bắt buộc phải tham gia vào đoàn luật sưđịa phương Thành viên của đoàn luật sư địa phương cũng đồng thời là thành viên của
đoàn luật sư quốc gia
2 PHÁP LUẬT ẤN ĐỘ: (đọc thêm)
a Pháp luật Hindu: