rong tiến trình phát triển lịch sử giới, chế độ xã hội quan tâm đặc biệt đến phát triển bền vững quốc gia, dân tộc Và suy cho phát triển bền vững quốc gia phải dựa vào hai trụ cột (yếu tố) chính: kinh tế phát triển xã hội vận động lành mạnh Thực tế lịch sử cho thấy, muốn xây dựng kinh tế phát triển bền vững vấn đề cần quan tâm hàng đầu phải liền với giải tốt vấn đề xã hội Bước sang kỷ XXI, đói nghèo vấn đề có tính tồn cầu Một tranh tổng thể giới với gần nửa số dân sống 5,5USD/ngày, mục tiêu xóa đói vào năm 2030 trở nên khó khăn số người không đủ ăn tiếp tục tăng từ 811 triệu người năm 2017 lên 821 triệu người vào năm 2018 Vì phong trào sôi rộng khắp giới phải làm để đẩy lùi nghèo đói Trong năm gần đây, Việt Nam đánh giá nước có cơng tác xố đói giảm nghèo tốt theo tiêu chuẩn phương pháp xác định đường nghèo khổ WB 70% người dân Việt Nam đảm bảo mặt kinh tế, có 13% thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn giới Các tầng lớp thu nhập phát triển nhanh chóng, tăng 20% giai đoạn 2010- 2017, tái nghèo giảm xuống 2% Tuy nhiên, Việt Nam triệu người nghèo, 72% số người dân tộc thiểu số, phần lớn họ sống vùng cao Vấn đề xóa đói giảm nghèo tái nghèo đến vấn đề quan trọng, Nhóm thực đề tài: “Tìm hiểu chủ trương giải vấn đề xã hội Đảng thời kỳ đổi Liên hệ việc giải vấn đề xóa đói giảm nghèo Việt Nam
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Hà Nội, 2020
Trang 2và phương pháp xác định đường nghèo khổ của WB 70% người dân Việt Nam đãđược đảm bảo về mặt kinh tế, trong đó có 13% thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn thếgiới Các tầng lớp thu nhập này đang phát triển nhanh chóng, tăng hơn 20% trong giaiđoạn 2010- 2017, tái nghèo giảm xuống còn 2% Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn 9 triệungười nghèo, 72% trong số đó là người dân tộc thiểu số, và phần lớn họ sống tại vùngcao Vấn đề xóa đói giảm nghèo và tái nghèo đến nay vẫn là những vấn đề quan trọng,
chính vì vậy Nhóm 5 thực hiện đề tài: “Tìm hiểu chủ trương giải quyết các vấn đề
xã hội của Đảng thời kỳ đổi mới Liên hệ việc giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam”
Trang 3CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT
1.1 Vấn đề xã hội là gì?
Vấn đề xã hội là tất cả những gì liên quan đến con người, các nhóm người, các
cộng đồng người đến sự tồn tại, phát triển của con người trong một hoàn cảnh xã hộinhất định được nhận thức như một vấn nạn của xã hội, đụng chạm đến lợi ích của mộtcộng đồng Các vấn đề xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực như: việc làm, thu nhập, bìnhđẳng xã hội, khuyến khích làm giàu, xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe, cungứng dịch vụ công, an sinh xã hội, cứu trợ xã hội, chính sách dân số và kế hoạch hóagia đình, v.v…
1.2 Tại sao phải giải quyết vấn đề xã hội?
Trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội, gần 35 năm đổi mới vừa qua (1986-2019)
là chặng đường quá độ rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của Việt Nam.Trên thực tế, qua hơn ba thập kỷ đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớntrên nhiều phương diện Từ một nước nghèo, Việt Nam trở thành một nước có thunhập trung bình với nền kinh tế thị trường năng động, hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng vào
hệ thống kinh tế toàn cầu Tuy nhiên, bên cạnh nhiều thành tựu nổi bật, trong tiến trìnhphát triển của Việt Nam gần 35 năm vừa qua, nhiều vấn đề xã hội cơ bản cũng nẩysinh, biến đổi, và gia tăng mức độ tác động tiêu cực
Trước thực tiễn các vấn đề xã hội cơ bản đó, cùng với đẩy mạnh tăng trưởng kinh
tế, giải quyết các vấn đề xã hội cơ bản có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình đilên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay Tầm quan trọng của việc giải quyết các vấn
đề xã hội được thể hiện trên ba phương diện:
+ Thứ nhất, giải quyết các vấn đề xã hội cơ bản là tạo điều kiện cho tăng trưởng
kinh tế Bởi vì, những vấn đề xã hội cơ bản không được giải quyết sẽ sinh ra các ràocản đối với việc huy động và sử dụng vốn kinh tế, vốn con người, vốn xã hội, vốn vănhóa để phát triển kinh tế
+ Thứ hai, giải quyết các vấn đề xã hội để giử vững ổn định xã hội Bởi vì, những
vấn đề xã hội cơ bản không được quyết giải kịp thời, hiệu quả thì sẽ tạo nên căngthẳng, bất ổn xã hội
+Thứ ba, giải quyết các vấn đề xã hội để đảm bảo an ninh con người, nâng cao chất
lượng sống của nhân dân, tạo điều kiện phát huy đầy đủ tiềm năng con người của mỗi
cá nhân trong xã hội - một trong những đặc điểm cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội.Bởi vì, những vấn đề xã hội cơ bản không được giải quyết sẽ làm giảm chất lượngsống của người dân và gây nên điều kiện bất lợi đối với việc triển con người Vì vậy,
Trang 4việc nhận diện các vấn đề xã hội cơ bản, giải quyết các vấn đề xã hội cơ bản là rấtquan trọng đối với Việt Nam trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội hiện nay.
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội vì con người, đặt conngười vào vị trí trung tâm của sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và lấy việc nângcao chất lượng cuộc sống con người làm mục tiêu phục vụ Đảng ta luôn nhấn mạnhphát triển kinh tế phải đi liền với việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội Phát triển kinh
tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa lại càng đòi hỏi phải giải quyết tốt những vấn đề
xã hội, bởi lẽ phát triển kinh tế phải là sự phát triển bền vững dựa trên những yếu tốchính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường vững chắc… Bền vững về mặt xã hội làbảo đảm vừa đạt được tăng trưởng kinh tế, vừa giữ được ổn định xã hội, không cónhững xáo trộn xung đột, nổi loạn làm ảnh hưởng đến việc huy động các nguồn lựccho sự phát triển Trong phát triển bền vững, yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội quyện vàonhau, hoà nhập vào nhau Mục tiêu phát triển kinh tế phải bao gồm cả mục tiêu giảiquyết những vấn đề xã hội như vấn đề việc làm, xoá đói giảm nghèo… thoả mãn nhucầu cơ bản của nhân dân, công bằng xã hội Ngược lại, mục tiêu phát triển xã hội cũngnhằm tạo động lực phát triển kinh tế
Trang 5CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
CỦA ĐẢNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1 Quan điểm về giải quyết các vấn đề xã hội
Một là, kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội
- Kế hoạch phát triển kinh tế phải tính đến mục tiêu phát triển các lĩnh vực xã hội cóliên quan trực tiếp
- Mục tiêu phát triển kinh tế phải tính đến tác động và hậu quả xã hội có thể xảy ra
- Nhiệm vụ gắn kết này không dừng lại như một khẩu hiệu mà phải được pháp chếhóa thành các thể chế có tính cưỡng chế, buộc chủ thể phải thi hành
- Các cơ quan, các nhà hoạch định chính sách phát triển quốc gia phải thấu triệtquan điểm phát triển bền vững, phát triển hài hòa, …không chạy theo số lượng tăngtrưởng bằng mọi giá
Ba là, chính sách xã hội được thực hiện trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn bó hữu
cơ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ
- Chính sách xã hội có vị trí, vai trò độc lập tương đối so với kinh tế, nhưng khôngthể tách rời trình độ phát triển kinh tế, cũng không thể dựa vào viện trợ như thời baocấp
- Trong chính sách xã hội phải gắn bó giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến vàhưởng thụ Đó là một yêu cầu của công bằng xã hội và tiến bộ xã hội; xóa bỏ quanđiểm bao cấp, cào bằng; chấm dứt cơ chế xin - cho trong chính sách xã hội.1
Bốn là, coi trọng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người gắn với chỉ tiêu phát triểncon người (HDI) và chỉ tiêu phát triển các lĩnh vực xã hội
Quan điểm này khẳng định mục tiêu cuối cùng và cao nhất của sự phát triển phải là
vì con người, vì một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh Pháttriển phải bền vững, không chạy theo tăng trưởng
Trang 62.2 Chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội
Một là, khuyến khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quảcác chính sách xoá đói giảm nghèo
Hai là, xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ côngcộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân về giáo dục và đào tạo, tạo việc làm vàthu nhập, chăm sóc sức khỏe cộng đồng văn hóa thông tin, thể dục thể thao Xây dựng
hệ thống an sinh xã hội đa dạng, phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, tiến tới bảo hiếm y tế toàn dân Đa dạng hóa các loại hình cứu trợ xã hội , Tiếp tụcđổi mới chính sách tiền lương, chính sách phân phối thu nhập
Ba là, phát triển hệ thống y tế công bằng và hiệu quả, bảo đảm mọi người dân đềuđược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
Bốn là, xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ, tầm vóc con người ViệtNam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi
Năm là, thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
Sáu là, chú trọng chính sách ưu đãi xã hội Vận động toàn dân tham gia các hoạtđộng "đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn" đối với các lão thành cách mạng, vớinhững người có công với nước, người hưởng chỉnh sách xã hội Chăm sóc lối sống vậtchất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô dơn không nơi nương tựa.Giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam, người tàn tật, trẻ mồ côi, lang thang
Bảy là, đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộngphát triển về quy mô gắn với chất lượng và hiệu quả các dịch vụ công cộng, nâng caonăng lực quản lý của Nhà nước
2.3 Kết quả thực hiện
Qua 30 năm đổi mới, việc giải quyết các vấn đề xã hôi đã đạt được nhiều thành tựuquan trọng:
Về lao động - việc làm: Các chính sách về lao động và việc làm của Nhà nước đã
chuyển biến theo hướng ngày càng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa Bộ luật lao động được sửa đổi nhiều lần qua các năm (2002, 2006,
2007, 2012) đã tạo hành lang pháp lý cho việc hoàn thiện các tiêu chuẩn lao động,thiết lập quan hệ lao động giữa các chủ thể, điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quanđến quan hệ lao động như hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền lương,bảo hiểm xã hội, thời gian lảm việc, vệ sinh lao động, kỷ luật lao động, giải quyếttranh chấp lao động, đình công Mỗi năm bình quân tạo ra 1,5-1,6 triệu việc làm mới.Năm 2014, lao động trong khu vực chính thức đạt trên 30% và lao động đã qua đào tạochiếm khoảng 49% tổng số lao động Xây dựng và triển khai Luật việc làm; nghiêncứu xây dựng Chương trình việc làm công
Trang 7Về giảm nghèo bền vững: Trong 30 năm qua, Đảng vả Nhà nước ta luôn nhất quán
về chính sách giảm nghèo bền vững đi đôi với khuyến khích làm giàu hợp pháp Đãđẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương trình mụctiêu quốc gia về giảm nghèo, trong đó chủ trọng chính sách giảm nghèo đa chiều vàkhắc phục nguy cơ tái nghèo, nhất là đối với các hu vện nghèo, ưu tiên người nghèo làđồng bào dân tộc thiêu số thuộc huyện nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn,bản đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo; thu hẹp chênh lệch về mứcsống và an sinh xã hội so với bình quân cả nước Đã tiến hành điều chỉnh chuẩn nghèotheo từng thời kỳ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Tỷ lệ hộ nghèo
cả nước giảm bình quân 1,5 - 2%/năm; các huyện, xã đặc biệt khó khăn có tỷ lệ hộnghèo giảm 4%/năm theo tiêu chuẩn nghèo từng giai đoạn Năm 1993, tỷ lệ hộ nghèo
cả nước còn 58,1%, đến năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 9,5%, năm 2013 còn7,8%, năm 2014 còn 5,8-6%, năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước còn 4,5%; riêngcác huyện nghèo còn 28% Thành tựu về giảm nghèo của Việt Nam đã được Liên hợpquốc và cộng đồng quốc tế công nhận, đánh giá cao
Chăm sóc sức khỏe nhân dân đã có nhiều tiến bộ Hệ thống cơ sở y tế đã được hình
thành trong cả nước; số bác sĩ, số giường bệnh trên một vạn dân tăng nhanh Hệ thốngdịch vụ y tế ngày càng được nâng cao chất lượng Trong 10 năm gần đây, các quanđiểm, chủ trương, chính sách của Đảng đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm
2013 và 20 luật liên quan đến lĩnh vực y tế, dân số, tạo cơ sở pháp lý quan trọng đốivới lĩnh vực y tế Trong lĩnh vực y tế, đã có nhiều chủ trương, chính sách tương đốitoàn diện, coi trọng cả về xây dựng thê chế, y tế dự phòng, y học cổ truyền, quản lýthuốc, khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, vệ sinh an toàn thực phẩm
Chính sách ưu đãi người có công đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm.
cả nước hiện có khoảng 8,8 triệu người có công, chiếm khoảng 10% dân số, có khoảng1,4 triệu người được hưởng trợ cấp thường xuyên Bảo đảm mức sống của người cócông bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn cư trú
Về chính sách an sinh xã hội: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội toàn
diện và đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả Phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm,như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếpcận và tham gia các loại hình bảo hiểm; mở rộng các hình thức cứu trợ xã hội, nhất làđối với các đối tượng khó khăn Phát triển hệ thống an sinh xã hội phù hợp với trình độphát triển kinh tế - xã hội, khả năng huy động và cân dối nguồn lực của đất nước trongtừng thời kỳ; ưu tiên những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo vàđồng bào dân tộc thiểu số Xây dựng hệ thống an sinh xã hội có tính chia sẻ giữa Nhànước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ,
Trang 8trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Hệ thống an sinh xã hội phát triển không ngừng Đến năm 2015, cả nước có trên 12triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, khoảng 10 triệu người tham gia bảo hiểm thấtnghiệp và 75% dân số tham gia bảo hiểm y tế Rà soát, điều chỉnh, bổ sung hoàn thiệnchính sách về an sinh xã hội; bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, ưu đãi xãhội
Bảo đảm cung ứng một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là ngườinghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số về giáo dục tốithiểu, y tế tối thiểu, nhà ở tối thiểu; bảo đảm nước sạch; bảo đảm thông tin Đã xâydựng vả thực hiện chiến lược phát triển nhà ở quốc gia và chương trình xóa nhà tạm,phát triển nhà ở xã hội
Hệ thống pháp luật và các chính sách phát triển các lĩnh vực xã hội ngày càng được
bô sung và hoàn thiện hơn Diện thụ hưởng chính sách ngày càng mở rộng, mức hỗ trợđược nâng lên Nguồn lực đầu tư các lĩnh vực xã hội ngày càng được tăng cường và đadạng hóa
Đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chính sách đê xây dựng, phát huy vai tròcác giai tầng xã hội trong sự nghiệp đổi mới Đồng thời, đã xây dựng, ban hành vàthực hiện nhiều chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, về chăm sóc bà mẹ và trẻ em,hôn nhân và gia đình, chăm sóc người cao tuổi, phòng, chống tệ nạn xã hội, bạo lựcgia đình
Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; đã tăng cường đầu tư
về kết cấu hạ tầng, kinh phí cho miền núi, vùng sâu, vùng xa, tạo chuyên biến rõ rệttrong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần củađồng bào các dân tộc thiểu số Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của cácdân tộc và các tôn giáo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.Tuy nhiên, việc giải quyết các vấn đề xã hội vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém,những bức xúc xã hội có chiều hướng gia tăng
Một số chính sách xã hội chậm đổi mới, chưa sát thực tiễn, thiếu cơ sở khoa học;còn thiếu những chính sách đặc thù cho những vùng đặc thù; thiếu cơ chế, chính sáchđiều tiết hợp lý quan hệ lợi ích, điều hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát các rủi ro, mâuthuẫn, xung đột xã hội Tiền lương chưa bảo đảm cuộc sống cán bộ, công chức, viênchức, cải cách tiền lương tiến hành chậm, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra
Phân hóa giàu nghèo có xu hướng gia tăng; phân tầng xã hội theo xu hướng khônghợp thức diễn biến phức tạp Quản lý xã hội còn nhiều bất cập, lúng túng, chồng chéo,thiếu hiệu quả; tiêu cực xã hội, tệ nạn xã hội, tai nạn xã hội, tội phạm xã hội có chiềuhướng gia tăng
Trang 9Giảm nghèo thiếu bền vững Chưa hình thành cơ chế đồng bộ về giảm nghèo đachiều, đa mục tiêu Nhiều chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo chồng chéo nhau
và chồng chéo với các chính sách khác Đời sống của một bộ phận nhân dân còn nhiềukhó khăn; kết cấu hạ tầng xã hội ở nhiều địa phương, khu vực, nhất là vùng sâu, vùng
xa còn hạn chế, một bộ phận nhân dân chưa được hưởng thụ một cách công bằng cácthành quả của công cuộc đổi mới Bất bình đẳng xã hội về thu nhập, giáo dục, y tế, vănhóa, an sinh xã hội, chậm được khắc phục
Một số bức xúc xã hội chậm dược giải quyết; một số vấn đề mới nảy sinh liên quanđến giai cấp, dân tộc, tôn giáo, dân số, đất đai, lao dộng, việc làm, thu nhập, chưa cógiải pháp khắc phục hiệu quả Từ đó, xuất hiện nhiều điểm nóng, tình trạng khiếu kiệnđông người và những căng thẳng trong quan hệ xã hội, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổnđịnh chính trị - xã hội Một số vấn đề phát sinh trong lĩnh vực tôn giáo, lợi dụng tôngiáo để chống phá Đảng, Nhà nước chưa được giải quyết kịp thời, thỏa đáng
Nguyên nhân
Những thành tựu nêu trên có nhiều nguyên nhân: Các chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội cơ bản là đúng đắn, hợp lòng dân Đãđộng viên, khai thác các nguồn lực trong nhân dân cùng với Nhà nước và sự hỗ trợ củanhiều tổ chức quốc tế để giải quyêt các vấn đề xã hội Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tôquốc và các tổ chức chính trị - xã hội đã quan tâm, chú trọng giải quyết các vấn đề xãhội
Những hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, song nguyên nhân
chủ quan là chính Là một nước nông nghiệp vốn nghèo nàn, lạc hậu, thường xuyên bịthiên tai, lại trải qua hơn 30 năm chiến tranh để lại nhiều hậu quả xã hội nặng nề, chonên các vấn đề xã hội không thể giải quyết triệt để trong một thời gian ngắn
Nhận thức của nhiều cấp ủy đảng và chính quyền về các vấn đề xã hội, chính sách
xã hội chưa đầy đủ và sâu sắc; có nơi còn coi nhẹ mô hình và phương thức quản lý xãhội, chưa có sự gắn kết giữa chính sách phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xãhội
Chính sách xã hội chậm đổi mới so với chính sách kinh tế Quản lý nhà nước cònnhiều bất cập, chồng chéo Còn thiếu những giải pháp hữu hiệu để thu hẹp khoảngcách về mức sống và an sinh xã hội giữa các vùng, miền Việc tổ chức thực hiện chínhsách, pháp luật chưa nghiêm, hiệu quả thấp; sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địaphương chưa chặt chẽ; phân công trách nhiệm không rõ; thiếu thể chế và thiết chế đểtạo ra hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất Công tác thanh tra ở nhiều nơi chưađược coi trọng
Nhu cầu nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội rất lớn nhưng khả năng đáp ứngthực tế của đất nước còn rất hạn hẹp, lại sử dụng chưa hiệu quả, còn phân tán, lãng phí,
Trang 10thậm chí tiêu cực; chưa động viên, thu hút được nhiều sự tham gia của xã hội vàkhuyến khích người thụ hưởng chính sách tự vươn lên.
Trang 11CHƯƠNG 3: LIÊN HỆ VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ XOÁ ĐÓI GIẢM
NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1 Thực trạng nghèo đói ở Việt Nam trước khi thực hiện chủ trương
- Sau khi miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng (năm 1975) và đất nướcthống nhất (năm 1976), nước ta bắt đầu ngay việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứhai (1976-1980) Kế hoạch này có nhiều điểm duy ý chí nên phần lớn chỉ tiêu đềukhông đạt Sản xuất đình trệ, tăng trưởng chỉ đạt 0,4 %/ năm (kế hoạch là 13-14 %)trong khi tỷ lệ tăng dân số hàng năm trên 2,3 %
- Sản lượng lúa năm 1976 đạt 11,827 triệu tấn, giảm dần đến năm 1978 chỉ còn 9,79triệu tấn Năm 1976, sản lượng lúa bình quân trên một người dân là 211 kg thì đếnnăm 1980 chỉ còn 157 kg Kế hoạch năm năm 1976-1980 nâng tổng sản lượng lúa lêngần gấp đôi vào khoảng 21 triệu tấn, nhưng đến năm 1980 chỉ đạt 14,4 triệu tấn, tứcđạt 68,5% kế hoạch Còn sản lượng của cả vựa lúa miền Nam từ mức 1,9 triệu tấn năm
1976 cứ tụt dần xuống còn 0,99 triệu tấn năm 1977 và 0,64 triệu tấn năm 1979 Chănnuôi heo đạt 58,5% kế hoạch, thủy sản đạt gần 40%, khai thác gỗ tròn đạt 45%, trồngrừng đạt 48% Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu lương thực, phải nhập khẩu và nhậnviện trợ lương thực từ các nước cộng sản đồng minh, từ Liên hiệp quốc cũng như từphương Tây Việt Nam đứng bên bờ vực của nạn đói và sẽ chết đói nếu mất mùa trêndiện rộng
- Tình trạng thiếu lương thực diễn ra gay gắt, năm 1980 phải nhập 1,576 triệu tấnlương thực Ngân sách thiếu hụt lớn, giá cả tăng hàng năm 20 %, nhập khẩu nhiều gấp4-5 lần xuất khẩu Nhà nước thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhiều công trình phải bỏ
dở, hàng tiêu dùng thiết yếu thiếu trầm trọng Giai đoạn khủng hoảng kinh tế - xã hộitrầm trọng nhất là các năm 1983, 1984, 1985 Lạm phát bị đẩy lên mức 700-800%, temphiếu phân phối thiếu thốn, người dân không đủ lương thực Bốn mặt hàng dân dụngphụ thuộc lớn vào viện trợ của Liên Xô là xăng dầu; lương thực, bột mì; bông xơ phục
vụ ngành dệt; phân bón thì lượng viện trợ giảm dần Kinh tế đất nước gần như kiệtquệ
- Giữa thập niên 1980, tình hình kinh tế xã hội tiếp tục khó khăn gay gắt Cuộckhủng hoảng kinh tế nảy sinh từ cuối thập niên 1970, do cải tạo tư sản ở miền Namquá mức, do chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc kéo dài gần 10 năm,
và càng gay gắt hơn khi Việt Nam bắt đầu chuyển sang cơ chế thị trường bằng chínhsách cải cách Giá - lương - tiền bao gồm đổi tiền, tăng lương bằng cách in tiền vàonăm 1985 Nhiều người gửi tiền tiết kiệm lâm vào cảnh bi đát do lạm phát phi mã xảy
ra sau khi đổi tiền Có người bán một con bò lấy tiền gửi tiết kiệm, sau khi đổi tiền chỉmua được vài con gà Việc ngăn cấm thị trường tự do khiến tình trạng khan hiếmlương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng trở nên nặng nề Có câu chuyện kể về mẹ già
Trang 12mang 5–10 kg gạo đi thăm con ở tỉnh khác, khi đến ranh giới tỉnh bị tịch thu, khóc lóc,van xin cũng không được Những phiên chợ quê, khi đội quản lý thị trường đeo băng
đỏ đến tịch thu thịt lợn do tư nhân mổ chui bán, chính những người dân quanh đó lạibảo vệ người bán thịt lợn, không ủng hộ đội quản lý thị trường của nhà nước Thịtrường thực phẩm, hàng tiêu dùng bị ngăn cấm trong khi nhà nước chỉ phân phối temphiếu thịt giá thấp riêng cho cán bộ, công nhân viên (số lượng thật ra rất ít, khoảng0,3-0,5 kg/người/tháng) và người dân ở thành phố (mỗi người 0,1 kg/tháng) Điều nàykhiến tình trạng khan hiếm hàng tiêu dùng kéo dài triền miên, và vật giá trên thị trườngchợ đen tăng mạnh Chất lượng sống của nhân dân đi xuống khiến sự bất mãn trong xãhội tăng lên, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam sa sút Gần một triệu người vượtbiên ra nước ngoài để tìm cuộc sống tốt đẹp hơn tạo ra một cuộc khủng hoảng nhânđạo lớn thu hút sự chú ý của dư luận thế giới lúc đó
3.2 Chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng thời kì đổi mới.
* Chủ trương xoá đói giảm nghèo của Đảng trong thời kỳ đổi mới qua từng giai đoạn
- Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VII) năm 1992 đã đề ra chủ trương xóa đóigiảm nghèo trong chiến lược phát triển nông thôn, nông nghiệp và nông dân cũng nhưtrong chiến lược phát triển chung của xã hội và đã trở thành một chủ trương chiếnlược, nhất quán, liên tục được bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội của Đảng
- Đại hội lần thứ VIII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt củacông tác xóa đói giảm nghèo, xác định phải nhanh chóng đưa các hộ nghèo thoát rakhỏi hoàn cảnh túng thiếu và sớm hòa nhập với sự phát triển chung của đất nước; đề raChương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo trong 5 năm 1996 – 2000 cùng với 10Chương trình kinh tế - xã hội khác
- Thực hiện chủ trương của Đảng, đầu năm 1998, Chính phủ chính thức phê duyệtChương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo (Chương trình 133) cho giaiđoạn 1998 - 2000 Đây là lần đầu tiên giảm nghèo đã trở thành một chính sách nằmtrong hệ thống chính sách xã hội của quốc gia Tháng 7/1998, Thủ tướng Chính phủtiếp tục bổ sung Chương trình 135 - Chương trình hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng thiếtyếu các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Mục tiêu chính củachương trình này là hỗ trợ xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng như: hệ thống điện, đườnggiao thông, trường học, trạm y tế tại 1715 xã nghèo nói trên Kết quả là đến năm
2000 tỷ lệ nghèo của cả nước còn 10% theo chuẩn cũ Tuy nhiên, chúng ta cũng nhậnthấy, không thể chỉ theo đuổi mục tiêu giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo mà cần giữ vững kếtquả giảm nghèo đã đạt được, tăng khả năng bền vững, hiệu quả của công tác giảmnghèo, đặc biệt trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường