Vì vậy, đểtrả lời được câu hỏi mức độ cầu trong sử dụng dịch vụ tăng huyết áp củangười dân và khả năng cung cấp dịch vụ quản lý tăng huyết áp tại huyệnThông Nông để góp phần đưa ra các b
Trang 1NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT
THỰC TRẠNG CẦU SỬ DỤNG VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ QUẢN LÝ TĂNG HUYẾT ÁP TẠI 2 XÃ CỦA HUYỆN THÔNG NÔNG, TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành: Y học dự phòng
Mã số: 60720163
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Nguyễn Thị Phương Lan
THÁI NGUYÊN, 2019
Trang 2và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, năm 2019
Người cam đoan
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Trang 3Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các thầy cô khoa Y tế công cộng - Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Phương Lan - người Thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, dìu dắt tôi trên con đường nghiên cứu khoa học.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc Sở Y tế Cao Bằng, Tập thể Ban giám đốc và cán bộ TTYT huyện Thông Nông, Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe nhân dân, TYT 02 xã Lương Can và Cần Yên đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình triển khai đề tài, học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô trong Hội đồng khoa học đã tạo điều kiện, góp nhiều ý kiến qúy báu cho luận văn của tôi.
Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và người thân đã giúp đỡ, động viên tôi cả về tinh thần và vật chất trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2019
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Trang 4: Nhân viên y tế thôn bản
: Tai biến mạch máu não: Tăng huyết áp
: Huyết áp mục tiêu: Trung tâm y tế: Trạm y tế: Yếu tố nguy cơ
Trang 5Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Các khái niệm cơ bản 3
1.1.1 Khái niệm về THA 3
1.1.2 Khái niệm quản lý tăng huyết áp 3
1.1.3 Phân loại THA 4
1.1.4 Điều trị THA 4
1.1.5 Điều trị THA ở cơ sở 8
1.1.6 Khái niệm về cầu và cung trong quản lý THA 10
1.2 Thực trạng cầu quản lý THA 11
1.2.1 Cầu quản lý THA trên thế giới 11
1.2.2 Cầu quản lý THA ở Việt Nam 11
1.3 Thực trạng cung cấp dịch vụ quản lý THA trên thế giới và Việt Nam 12
1.3.1 Thực trạng cung cấp dịch vụ quản lý THA trên thế giới 12
1.3.2 Thực trạng cung cấp dịch vụ quản lý THA tại Việt Nam 15
1.3.3 Mạng lưới quản lý tăng huyết áp 18
1.3.4 Quản lý tăng huyết áp ở cơ sở 19
1.3.5 Thực trạng công tác quản lý THA tại Huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng 20 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2 Địa điểm nghiên cứu 22
2.3 Thời gian nghiên cứu 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 23
2.4.1.Thiết kế nghiên cứu 23
2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu định lượng 23
Trang 62.5.1 Nhóm chỉ số thu thập từ phía người sử dụng dịch vụ: Đặc điểm nhân
khẩu học,đặc điểm tình trạng huyết áp và quản lý THA, cầu sử dụng
dịch vụ quản lý THA 25
2.5.2 Nhóm chỉ số về sự sẵn có và khả năng cung cấp dịch vụ từ phía cơ sở y tế công lập tại huyện Thông Nông tỉnh Cao Bằng 27
2.6 Kỹ thuật thu thập số liệu 28
2.6.1 Số liệu thứ cấp 28
2.6.2 Số liệu định lượng 28
2.6.3 Số liệu định tính 29
2.6.4 Sai số và phương pháp khống chế sai số 30
2.7 Phương pháp xử lý số liệu 30
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 31
3.2 Đặc điểm về tình trạng huyết áp và quản lý THA ở đối tượng nghiên cứu32 3.3 Cầu quản lý bệnh tăng huyết áp tại huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng năm 2018 34
3.4 Thực trạng cung cấp dịch vụ quản lý THA tại huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng năm 2018 36
Chương 4: BÀN LUẬN 51
4.1 Cầu trong quản lý THA ở địa bàn nghiên cứu 51
4.1.1 Cầu sàng lọc THA 51
4.1.2 Cầu điều trị THA thường xuyên, liên tục 52
4.1.3 Cầu trong việc quản lý thường xuyên liên tục tại trạm y tế xã 55
4.2 Khả năng cung cấp dịch vụ quản lý THA tại huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng năm 2018 56
Trang 7THA để kiểm soát huyết áp và dự phòng biến chứng 58
KẾT LUẬN 65
KHUYẾN NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 3.2 Tỷ lệ tăng huyết áp trong số đối tượng tham gia nghiên cứu 32
Bảng 3.3 Phân bố tỷ lệ THA theo mức độ 32
Bảng 3.4 Tỷ lệ thời điểm phát hiện tăng huyết áp 32
Bảng 3.5 Tỷ lệ bệnh nhân đã biết bị THA đã từng điều trị 33
Bảng 3.6 Tỷ lệ bệnh đã từng điều trị tại các cơ sở y tế 33
Bảng 3.7 Tỷ lệ điều trị thường xuyên liên tục trong số từng điều trị THA 33
Bảng 3.8 Tỷ lệ bệnh nhân có cầu trong sàng lọc tăng huyết áp 34
Bảng 3.9: Tỷ lệ bệnh nhân có cầu trong việc quản lý thường xuyên liên
tục nhằm đạt huyết áp mục tiêu 34
Bảng 3.10: Tỷ lệ bệnh nhân có cầu trong việc quản lý thường xuyên liên
tục để đạt HAMT tại trạm y tế xã 35
Trang 9Hộp 1: Hiểu biết sự cần thiết phải sàng lọc để phát hiện sớm từ phía người
dân 36
Hộp 2: Nhận định của bệnh nhân trong quản lý và điều trị THA 37
Hộp 3: Hiểu biết sự cần thiết phải điều trị khi mắc THA để kiểm soát huyết áp và dự phòng biến chứng 37 Hộp 4: Hiểu biết của người dân về các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ sàng lọc THA 38 Hộp 5: Khoảng cách tới cơ sở khám bệnh 38
Hộp 6: Cung cấp dịch vụ sàng lọc phát hiện sớm THA 39
Hộp 7: Cung cấp dịch vụ điều trị thường xuyên, liên tục đối với bệnh nhân THA để kiểm soát huyết áp và dự phòng biến chứng 40 Hộp 8: Công tác quản lý 40
Hộp 9: Tuân thủ kê đơn 41
Hộp 10: Hướng dẫn bệnh nhân điều trị 41
Hộp 11: Công tác quản lý người bệnh THA 42
Hộp 12: Hướng dẫn bệnh nhân điều trị THA 43
Hộp 13: Nhóm thuốc và số lượng thuốc THA cung cấp cho người bệnh 43
Hộp 14: Chuyển tuyến bệnh nhân lên tuyến trên 44
Hộp 15: Nhận định kết quả điều trị: 44
Hộp 16: Kinh phí quản lý THA tuyến huyện 46
Hộp 17: Kinh phí quản lý THA tại tuyến xã 47
Trang 10Sơ đồ 1.1: Điều trị tăng huyết áp ở cơ sở 9
Sơ đồ 1.2: Mạng lưới quản lý tăng huyết áp hiện nay ở Việt Nam 18
Sơ đồ 1.3 Quản lý tăng huyết áp tuyến ở cơ sở 19
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một trong những bệnh mạn tính phổ biến trênthế giới Tỷ lệ THA trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện tại đang ởmức rất cao [33] Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới đã có 1,5 tỷ ngườitrên thế giới bị THA và có tới 7,5 triệu người tử vong do là THA [49] Tỷ lệTHA tại Hà Lan là 37%, Pháp là 24%, Hoa Kỳ là 24% Ở các nước trong khuvực như Indonesia là 6-15%, ở Malaysia là 10-11%, ở Ấn Độ tỷ lệ THA ở đốitượng 60-69 tuổi là 44,5% Tại Bangladesh tỷ lệ THA ở người > 60 tuổi là 55-75% [36], [42]
Theo Tổ chức Y tế thế giới, có tới 61% các quốc gia chưa có khuyến cáo
về điều trị THA, 45% các quốc gia chưa huấn luyện điều trị THA cho nhânviên y tế, 25% nước không cung cấp đủ thuốc điều trị tăng huyết áp, 8%không đủ phương tiện tối thiểu để cung cấp dịch vụ này [47]
Tại Việt Nam, tỷ lệ THA đang có xu hướng gia tăng, năm 1960 tỷ lệ THA
là 1,0% dân số, năm 1982 là 1,9%, năm 1992 là 11,79%, năm 2001 ở miền Bắc
là 16,3%, năm 2005 là 18,3% ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh là20% Theo điều tra quốc gia năm 2012, tỷ lệ người THA là 25,1% [44]
Mặc dù tỷ lệ có xu hướng gia tăng như vậy nhưng đa số người bị THAkhông biết mình bị bệnh, hoặc biết bệnh nhưng không điều trị hoặc điều trị thấtthường và không đúng cách [33] Theo số liệu điều tra ở Việt Nam năm 2012cho thấy tỷ lệ THA đối với nữ là 23,1% đối với nam 28,3% Tỷ lệ biết mình bịTHA đối với nữ 55,25% nhưng điều trị chỉ có 35,9%, điều trị kiểm soát đượcTHA 14,5%, đối với nam tỷ lệ biết bị THA 28,3% nhưng tỷ lệ điều trị 21,7% vàđiều trị kiểm soát được THA chỉ có 6,1% Tỷ lệ THA cũng có sự khác nhau giữacác vùng miền giữa nông thôn với thành thị: Miền núi 21,5%, nông thôn 17,3%,
đô thị 32,7% [44] Thực trạng này cho thấy vấn đề cầu trong quản lý THA củacộng đồng là vấn đề cần quan tâm trong giai đoạn hiện nay
Trang 12Chương trình phòng chống bệnh THA quốc gia đã được thiết lập với mụcđích: Phấn đấu đạt chỉ tiêu 80% cán bộ y tế hoạt động trong phạm vi dự ánđược đào tạo về biện pháp dự phòng, phát hiện sớm, điều trị và quản lý bệnhtăng huyết áp Phấn đấu đạt chỉ tiêu 50% người dân hiểu đúng về bệnh THA
và các biện pháp phòng, chống bệnh THA Phấn đấu đạt chỉ tiêu 50% sốngười mắc THA được phát hiện sẽ được điều trị đúng phác đồ do Bộ Y tế quyđịnh Giảm 5% - 10% tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim, 15% - 20% tai biếnmạch máu não do bệnh THA [27] Tuy nhiên, các bằng chứng về thực trạngcung cấp dịch vụ quản lý tăng huyết áp tại cộng đồng cho đến thời điểm hiệntại còn khan hiếm, đặc biệt khu vực miền núi, vùng khó khăn
Tại huyện Thông Nông tỉnh Cao Bằng, hệ thống quản lý và dự phòngbệnh nhân THA mới chỉ tập trung cho công tác điều trị bệnh tại các bệnhviện, các trạm y tế xã, thị trấn, chưa được chú trọng
Giả thiết nghiên cứu của chúng tôi là tỷ lệ THA cao nên người dân cócầu quản lý THA lớn nhưng khả năng cung cấp dịch vụ còn kém Vì vậy, đểtrả lời được câu hỏi mức độ cầu trong sử dụng dịch vụ tăng huyết áp củangười dân và khả năng cung cấp dịch vụ quản lý tăng huyết áp tại huyệnThông Nông để góp phần đưa ra các bằng chứng cho các nhà quản lý về cầu
và cung cấp dịch vụ quản lý bệnh THA, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Thực trạng cầu sử dụng và cung cấp dịch vụ quản lý THA tại 2 xã của huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng”.
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là:
1 Đánh giá cầu trong quản lý bệnh THA từ phía người sử dụng tại 2 xã của huyện Thông Nông – tỉnh Cao Bằng năm 2018.
2 Phân tích thực trạng cung cấp dịch vụ quản lý tăng huyết áp tại địa điểm nghiên cứu.
Trang 13Chương 1: TỔNG QUAN
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về THA
THA là tình trạng huyết áp thường xuyên tăng trên mức bình thường Theo
Hội Tim Mạch Việt Nam và Phân Hội THA Việt Nam, THA khi huyết áp tối đa (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu (HATTr) ≥ 90 mmHg [13].
Nguyên nhân THA được chia làm hai loại:
THA nguyên phát khoảng 90% các trường hợp không có nguyên nhân rõ rệt THA thứ phát là do hậu quả của một số bệnh khác như Bệnh thận, u tuyến thượng thận Một số nguyên nhân gây THA có thể xác định được:
- Các nguyên nhân THA do thuốc hoặc liên quan đến thuốc.
- Bệnh thận mãn, hẹp động mạch thận.
- Cường aldosteron tiên phát.
- Pheochromocytoma … [1].
1.1.2 Khái niệm quản lý tăng huyết áp
Quản lý bệnh THA là tổ chức triển khai các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe phòng chống tăng huyết áp, khám sàng lọc phát hiện người bệnh THA và lập sổ quản lý theo dõi, kê đơn cấp phát thuốc điều trị định kỳ cho người bệnh THA tại tuyến y tế cơ sở [32].
Quản lý người bệnh THA để đảm bảo bệnh nhân được uống thuốc đúng, đủ
và đều; đồng thời giám sát quá trình điều trị, tái khám, phát hiện sớm các biến chứng và tác dụng phụ của thuốc Mục đích cuối cùng là giúp bệnh nhân kiểm soát được huyết áp mục tiêu và dự phòng biến chứng do THA gây ra [32].
Trong nghiên cứu này, chúng tôi giới hạn nghiên cứu về cầu của người sử dụng và khả năng cung cấp dịch vụ đối với vấn đề: sàng lọc phát hiện sớm tăng huyết áp, lập sổ theo dõi huyết áp định kỳ và sử dụng thuốc thường xuyên, liên tục nhằm kiểm soát được huyết áp và dự phòng biến chứng.
Trang 141.1.3 Phân loại THA
Theo chương trình phòng chống một số bệnh không lây nhiễm của Bộ Y tế Việt Nam việc phân loại THA được quy định như sau:
Bảng 1.1 Phân độ THA của Hội tim mạch Việt Nam năm 2015
Tiền tăng huyết áp: Kết hợp HA bình thường và Bình thường cao, nghĩa là
HATT từ 120- 139 mmHg và HATTr từ 80-90 mmHg.
1.1.4 Điều trị THA
1.1.4.1 Mục tiêu điều trị
- Giảm các tai biến và tử vong do tim và thận
- Điều trị để đạt được huyết áp mục tiêu:
+ THA đơn thuần, huyết áp mục tiêu cần đạt là < 140/90 mmHg
+ THA kèm theo ĐTĐ hoặc bệnh mạn tính, huyết áp mục tiêu cần đạt là < 130/80 mmHg
1.1.4.2 Nguyên tắc điều trị
Thường xuyên, liên tục, kéo dài thậm chí kéo dài đến hết đời của người bệnh Đồng thời kết hợp với sự quản lý và giám sát của mạng lưới y tế và cộng đồng.
Trang 151.1.4.3 Các phương pháp điều trị
Áp dụng cho mọi bệnh nhân để ngăn ngừa tiến triển và giảm được huyết áp, giảm số thuốc cần dùng…
- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và yếu tố vi lượng
+ Giảm ăn mặn (<6 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày)
+ Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi
+ Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axít béo no
- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối
cơ thể (BMI: body mass index) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2
- Hạn chế uống rượu bia: Số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày đối với nam giới,
ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày đối với nữ giới và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần đối với nam, ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần đối với nữ, 1 cốc chuẩn chữa 10g ethanol tương đương với
330 ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30 ml rượu mạnh.
- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào
- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30 - 60 phút mỗi ngày
- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý [1].
Bảng 1.2 Điều trị THA dựa trên phân tầng nguy cơ mắc bệnh tim mạch [1]
Trang 16Huyết áp Tiền Tăng huyết Tăng huyết
cơ tim huyết áp huyết áp tháng tuần soát yếu tố mạch nào định kỳ định kỳ Dùng thuốc Dùng thuốc nguy cơ
kiểm soát kiểm soát thuốc được huyết áp được huyết
Tích cực Tích cực kiểm soát yếu thay đổi lối
thay đổi lối thay đổi lối tố nguy cơ vài sống kiểm
sống kiểm sống kiểm tuần soát yếu tố
được huyết áp Có≥3 Tích cực Tích cực Tích cực thay Tích cực Tích cực YTNCTM thay đổi lối thay đổi lối đổi lối sống thay đổi lối thay đổi lối khác hoặc sống kiểm sống kiểm kiểm soát yếu sống kiểm sống kiểm
Trang 18Huyết áp Tiền Tăng huyết Tăng huyết
hội chứng soát yếu tố soát yếu tố tố nguy cơ soát yếu tố soát yếu tố chuyển hóa nguy cơ nguy cơ Điều trị thuốc nguy cơ nguy cơ
quan đích
Tích cực Tích cực thay đổi lối
Có bệnh thay đổi lối sống kiểm
sống kiểm soát yếu tố tiểu đường
soát yếu tố nguy cơ nguy cơ Điều trị
kiểm soát yếu mạch hoặc soát yếu tố soát yếu tố soát yếu tố soát yếu tố
tố nguy cơ
Dùng thuốc thận mạn Dùng thuốc Dùng thuốc Dùng thuốc Dùng thuốc
hạ áp ngay tính hạ áp ngay hạ áp ngay hạ áp ngay hạ áp ngay
Trang 191.1.5 Điều trị THA ở cơ sở
1. Đo huyết áp theo đúng quy trình chuẩn ở cả hai bên cánh tay
2 Phát hiện các yếu tố nguy cơ tim mạch khác: (1) Tiền sử tai biến
Trang 20- Khuyến khích khám đánh giá huyết (<120mmHg/<80mmHg
áp định kỳ hàng năm
)
2 Tiền THA - Tư vấn truyền thông về tăng huyết
áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch; (120 - 130mmHg/80 -
- Theo dõi huyết áp hàng tuần, đánh
89 mmHg)
giá lại sau 3 tháng.
3 THA độ 1 - Tích cực thay đổi lối sống và hạn (140 - 159mmHg/90- chế các yếu tố nguy cơ trong 3 tháng; 99mmHg) - Theo dõi huyết áp hàng tuần, và
đánh giá lại hàng tháng;
- Điều trị thuốc nếu đã có tổn thương
cơ quan đích (tim, thận, não, mắt).
4 THA độ 2 Thay đổi lối sống kết hợp kiểm soát
các yếu tố nguy cơ điều trị thuốc hạ (160 - 17mmHg/100- huyết áp;
109mmHg)
Theo dõi huyết áp hàng ngày, đánh giá lại hàng tháng.
5 THA độ 3 Thay đổi lối sống và kiểm soát các
yếu tố nguy cơ, dùng thuốc hạ áp; (≥180mmHg/≥110
Theo dõi huyết áp hàng ngày, đánh mmHg)
giá lại hàng tháng.
Trang 211 Tư vấn tích cực để thay đổi lối sống và hạn chế tối đa các yếu tố nguy
điều trị trị + Tăng huyết áp độ >1: Thường phải phối hợp từ 2 loại thuốc trở lên
(lợi tiểu, chẹn kênh canxi, ức chế men chuyển/UCTT, chẹn bêta giao cảm …)
4 Nếu huyết áp chưa đạt mục tiêu điều trị: chỉnh liều thuốc tối ưu hoặc
bổ sung thêm 1 loại khác đến khi đạt huyết áp mục tiêu Nếu sau đó vẫn không đạt mục tiêu, thì chuyển lên tuyến trên hoặc gửi khám chuyên khoa tim mạch.
1 Huyết áp <140/90mmHg: Tiếp tục tuyên truyền để duy trì lối sống tích cực, phối hợp với thuốc hạ huyết áp
Hoặc đã đạt mục tiêu: Tiếp tục duy trì phác đồ đã đạt mục tiêu và theo dõi lại định kỳ hàng tháng.
Bước 4: 2 Huyết áp ≥ 140/90mmHg: Khuyến khích tích cực thay đổi lối sống và
Theo dõi kiểm soát các yếu tố nguy cơ Theo dõi lại hàng tháng
Trang 22Sơ đồ 1.1: Điều trị tăng huyết áp ở cơ sở [1]
Trang 231.1.6 Khái niệm về cầu và cung trong quản lý THA
Cầu là sự sẵn sàng mua và có khả năng chi trả cho một loại dịch vụ nào đó Như vậy, không phải tất cả mọi người có bệnh đều có cầu chữa bệnh mà cầu có nghĩa là: có bệnh + sẵn sàng chữa bệnh + sẵn sàng chi trả ( hoặc ở đó miễn phí thì
là sẵn sàng sử dụng dịch vụ ) [11].
Trong nghiên cứu này, cầu sử dụng dịch vụ quản lý THA từ phía người sử dụng trong bao gồm: được sàng lọc sớm để phát hiện bệnh, quản lý điều trị thường xuyên và liên tục những ca chẩn đoán THA để đạt huyết áp mục tiêu và dự phòng biến chứng.
Cung cấp dịch vụ quản lý THA bao gồm: dịch vụ sàng lọc, lập sổ theo dõi để quản lý bệnh nhân THA thường xuyên liên tục nhằm kiểm soát huyết áp và dự phòng biến chứng Chúng tôi quan tâm đến dịch vụ quản lý THA ở tuyến huyện và tuyến xã.
Nằm điều trị nội trú trong bệnh viện: Là những trường hợp người bệnh mắc THA có biến chứng hoặc không có biến chứng, được thầy thuốc của bệnh viện làm
hồ sơ bệnh án theo quy định vào nằm điều trị nội trú tại bệnh viện và điều trị theo chế độ người bệnh nội trú.
Kê đơn mua hoặc phát thuốc về nhà tự dùng thuốc: Là những trường hợp người bệnh đến khám bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh được chẩn đoán là THA
và được kê đơn thuốc và được phát thuốc về tự sử dụng thuốc tại gia đình Cơ sở y
tế có trách nhiệm ghi vào sổ theo dõi, hẹn người bệnh đến khám theo định kỳ.
Lập hồ theo dõi quản lý và kê đơn phát thuốc về nhà sử dụng: Là người bệnh đến khám bệnh tại bệnh viện được chẩn đoán là THA và được làm hồ sơ, sổ theo dõi và được cấp phát thuốc cho người bệnh về gia đình sử dụng Người bệnh theo hướng dẫn điều trị và đến tái khám tại phòng điều trị và quản lý THA có kiểm soát tại bệnh viện theo định kỳ.
Trang 241.2 Thực trạng cầu quản lý THA
1.2.1 Cầu quản lý THA trên thế giới
Tỷ lệ mắc THA trong cộng đồng khá cao ở cả các nước phát triển và đang phát triển Tuy nhiên, cầu sàng lọc để phát hiện sớm THA trong cộng đồng là không cao dẫn đến tỷ lệ lớn những người bị THA không biết mình bị THA cho đến khi thực hiện các cuộc sàng lọc được tiến hành bởi các nghiên cứu Theo số liệu thống
kê tại Hoa Kỳ, có khoảng 20% người trưởng thành mắc THA nhưng không biết mình mắc bệnh cho đến khi họ tham gia khám hoặc sàng lọc [38].
Những bệnh nhân THA cần được quản lý điều trị thường xuyên và liên tục Tuy nhiên, theo nghiên cứu tại Mỹ, số người THA tham gia điều trị vẫn còn thấp [16] Xu hướng tỷ lệ bị THA đang điều trị thấp ở cả các nước phát triển và đang phát triển Như vậy, hiện vẫn còn khoảng trống rất lớn từ việc khám phát hiện, chẩn đoán đến quản lý điều trị để dự phòng biến chứng gây ra.
Yêu cầu cơ bản của quản lý điều trị THA là cần đạt huyết áp mục tiêu Nhưng trên thực tế, rất nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ những người đang quản lý điều trị đạt huyết áp mục tiêu chưa nhiều Tỷ lệ kiểm soát huyết áp ở Mỹ là 54%, ở Anh cũng có mức điều trị thấp huyết áp thấp là 51%, Canada là 80% [48] Từ những bằng chứng này cho thấy, việc tham gia điều trị để đạt được huyết áp mục tiêu vẫn còn đang là nhu cầu lớn trong cộng đồng.
1.2.2 Cầu quản lý THA ở Việt Nam
Tỷ lệ THA tại Việt Nam khá cao Theo báo cáo tổng kết về THA năm 2012, tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ THA đối với nữ là 23,1% Trong số đó, có 65% biết mình bị THA nhưng chỉ có 43% đang điều trị THA và số kiểm soát được HAMT là 14,5% Đối với nam: Tỷ lệ THA là 28,8%, tỷ lệ biết mình bị THA 54,4% nhưng điều trị chỉ có điều trị 21,7% và điều trị kiểm soát được HAMT chỉ có 6,1% [44].
Theo một điều tra gần đây nhất vào năm 2008 của Viện Tim mạch Việt Nam tại 08 tỉnh, thành phố cho thấy: Tỷ lệ THA của những người dân từ 25 tuổi trở lên là 25,1%, nghĩa là cứ 04 người trưởng thành thì có 01 người bị tăng huyết áp; trong đó
Trang 25có 52% không biết mình tăng huyết áp, 30% số người biết bị THA nhưng không điều trị; 64% số người biết bị THA đã được điều trị nhưng không đạt huyết áp mục tiêu [32] Đây cũng là một bằng chứng rõ ràng để gợi ý về nhu cầu cần sàng lọc, đưa vào điều trị và nỗ lực để đạt được huyết áp mục tiêu.
Theo Nguyễn Lân Việt, Hội tim mạch học Việt Nam năm (2015) điều tra trên 5.454 người trưởng thành (≥ 25 tuổi) ở 8 tỉnh thành trên toàn quốc kết quả cho thấy,
có 52,8% người Việt có huyết áp bình thường và 47,3% người bị tăng huyết áp Đặc biệt, trong đó tỷ lệ người bị THA không được phát hiện bị THA 39,1%, tỷ lệ người
bị THA không được điều trị 7,2%, tỷ lệ bị THA chưa kiểm soát được 69,0% [33].
Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Hùng và cộng sự cho thấy số người THA không điều trị (15%), điều trị thất thường và không đúng cách, chỉ có 4% là điều trị đúng [12] Kết quả nghiên cứu về mô hình quản lý, theo dõi và điều trị có kiểm soát bệnh THA của Ong Thế Viên và cộng sự năm 2005 cho thấy THA không điều trị hoặc điều trị không đầy đủ chiếm tới 70-75% tổng số người THA [31].
Các nghiên cứu trước đây cho thấy THA ở Việt Nam hiện khá cao, có xu hướng gia tăng, nhu cầu quản lý (bao gồm: sàng lọc, tham gia điều trị, điều trị để đạt huyết áp mục tiêu) khá lớn tuy nhiên bằng chứng về thực trạng cầu (có bệnh, sẵn sàng chữa bệnh và sẵn sàng chi trả) trong sử dụng dịch vụ quản lý THA còn hạn chế Vì vậy, cần có những nghiên cứu chỉ ra khoảng cách từ nhu cầu đến cầu để ngành y tế có kế hoạch quản lý vấn đề THA trong cộng đồng có hiệu quả hơn.
1.3 Thực trạng cung cấp dịch vụ quản lý THA trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Thực trạng cung cấp dịch vụ quản lý THA trên thế giới
Các quốc gia trên thế giới đưa ra nhiều giải pháp phòng chống THA Các biện pháp bao gồm giáo dục cộng đồng, nâng cao năng lực quản lý THA của cán bộ
y tế và các cơ sở y tế, phát hiện sớm và quản lý người bệnh THA, nâng cao tỷ lệ phát hiện bệnh, các biện pháp tăng cường tuân thủ điều trị nhằm nâng cao tỷ lệ được
Trang 26quản lý và tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu Mục tiêu cuối cùng là giảm tỷ lệ mắc, biến chứng, tử vong của bệnh.
Một khảo sát được Tổ chức y tế thế giới thực hiện trong 167 nước được khảo sát,
có 61 nước chưa có khuyến cáo quốc gia về điều trị THA, 8% không đủ phương tiện tối thiểu và 12% không đủ thuốc điều trị THA trong chăm sóc sức khỏe ban đầu [47].
Rất nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Anh, Pháp và các nước châu Âu khác đã phát triển các hướng dẫn về điều trị và quản lý THA dựa trên tình hình thực tế của mỗi quốc gia Nhìn chung, nội dung của các hướng dẫn này tập trung vào đo lường huyết
áp, chẩn đoán, đánh giá nguy cơ tim mạch và tổn thương tạng, can thiệp lối sống, phác
đồ điều trị huyết áp, lựa chọn thuốc điều trị huyết áp, truyền thông giáo dục nâng cao tuân thủ điều trị Hướng dẫn điều trị và quản lý THA của Úc năm 2016 đã đưa ra các chiến lược quản lý và dự phòng biến chứng của bệnh [39].
Hướng dẫn của NICE (National Institute for Clinical Excellence) về các giải pháp can thiệp lối sống ở bệnh nhân tăng huyết áp bao gồm:
- Lời khuyên về cách sống nên được cung cấp ban đầu và sau đó là định kỳ cho những người đang trải qua việc đánh giá hoặc điều trị tăng huyết áp.
- Đảm bảo chế độ ăn uống và tập thể dục của người dân vì chế độ ăn uống lành mạnh và tập thể dục thường xuyên có thể làm giảm huyết áp Cung cấp hướng dẫn thích hợp
và các tài liệu bằng văn bản hoặc nghe nhìn để thúc đẩy thay đổi lối sống.
- Liệu pháp thư giãn có thể làm giảm huyết áp và mọi người có thể muốn theo đuổi những điều này như là một phần của việc điều trị của họ Tuy nhiên, việc cung cấp thường xuyên của các nhóm chăm sóc chính vẫn chưa được khuyến cáo
- Xác định mức tiêu thụ rượu của người dân và khuyến khích ăn uống giảm nếu
họ uống quá mức, bởi vì điều này có thể làm giảm huyết áp và có lợi ích về sức khoẻ.
- Không khuyến khích việc tiêu thụ quá nhiều cà phê và các sản phẩm có chứa caffein khác.
Trang 27- Khuyến khích mọi người giữ chế độ ăn kiêng trong chế độ ăn kiêng thấp, bằng cách giảm hoặc thay thế muối natri vì điều này có thể làm giảm huyết áp.
- Không cung cấp chất bổ sung canxi, magiê hoặc kali như một phương pháp làm giảm huyết áp.
- Cung cấp lời khuyên và giúp người hút thuốc lá bỏ hút thuốc [40].
Một số nước khu vực châu Á cũng đã phát triển hướng dẫn về quản lý THA như Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản…Nội dung cơ bản của các hướng dẫn này tương tự như của các nước phát triển, tuy nhiên cũng có những khuyến cáo cần chỉ
ra sự khác biệt với các hướng dẫn từ khu vực các nước phát triển do đặc điểm của bệnh nhân ở khu vực châu Á Đề xuất theo hướng dẫn tại Đài Loan năm 2015 đề xuất các mục tiêu huyết áp <130/80 mmHg Mục tiêu huyết áp <140/90 mmHg đối với tất cả các nhóm bệnh nhân khác, ngoại trừ bệnh nhân ≥80 tuổi khi huyết áp
<150/90 mmHg là tối ưu Đối với việc quản lý cao huyết áp, bắt đầu với sự thay đổi phong cách sống bao gồm S-ABCDE (hạn chế chất natri, hạn chế rượu, giảm cân cơ thể, hút thuốc lá, ăn kiêng và thích ứng với tập thể dục) Khuyến cáo sử dụng muối thấp thay vì chiến lược không muối, và hạn chế natri quá mức <2,0g / ngày có thể
có hại [37] Tại các nước phát triển quản lý điều trị THA được triển khai tại tất cả các phòng khám bác sĩ gia đình.
Tương tự như các nước phát triển, dịch vụ quản lý THA được cung cấp tại các
cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu như: dịch vụ bác sỹ gia đình, trạm y tế xã hoặc phòng khám ngoại trú của các bệnh viện Tại Nhật Bản, nếu bệnh nhân có huyết áp khi khám ban đầu cao, bệnh nhân sẽ được đo lại nhiều lần và hướng dẫn tự đo tại nhà để tránh hiện tượng THA áo choàng trắng Nếu huyết áp tại nhà khác với huyết áp phòng khám, thì bệnh nhân được giải thích cho đến khi bệnh nhân đủ hiểu về bệnh tim mạch, điều trị theo huyết áp được đo tại nhà [41] Tại Thái Lan cũng đề ra các mức độ xử trí khác nhau với tình trạng huyết áp của bệnh nhân bao gồm tư vấn thay đổi lối sống, hành vi
và cung cấp thuốc để điều trị thường xuyên, liên tục [43].
Trang 281.3.2 Thực trạng cung cấp dịch vụ quản lý THA tại Việt Nam
Hoạt động quản lý THA được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo và ban hành các văn bản tổ chức triển khai thực hiện kiện toàn mạng lưới tổ chức phòng chống THA từ Trung ương đến cơ sở cụ thể: Ngày 20/12/2010 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2331/QĐ-TTg về việc ban hành danh mục các chương trình mục tiêu y
tế quốc gia năm 2011 trong đó hoạt động “phòng chống tăng huyết áp” thuộc dự án phòng chống các bệnh không lây nhiễm trong chương trình mục tiêu [25].
Quyết định số 45/QĐ-BYT ngày 10/01/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc phân công các đơn vị thực hiện chương trình quốc gia năm 2011 Mục tiêu của dự án: Xây dựng được hệ thống quản lý dự án (Trung ương: Ban điều hành dự án quốc gia; cấp tỉnh: Ban chủ nhiệm chương trình 63 tỉnh/thành; cấp quận/huyện tại 96 quận/huyện điểm); xây dựng triển khai và duy trì mô hình quản lý bệnh nhân THA
190 phường/xã điểm thuộc 96 quận/huyện tại 16 tỉnh/thành; đào tạo nguồn nhân làm công tác phòng chống THA tại địa phương; tiếp tục triển khai chương trình truyền thông phòng chống THA; phấn đấu quản lý được 50% số bệnh nhân THA đã được phát hiện [2].
Ngày 18/12/2011 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2406/QĐ-TTg ngày 18/12/2011 về việc ban hành danh mục các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012-2015 [26].
Quyết định số 1208/QĐ-TTg ngày 04/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia y tế giai đoạn 2012-2015 Mục tiêu của dự án là: Nâng cao nhận thức đúng của nhân dân về dự án và kiểm soát THA, phấn đấu đạt chỉ tiêu 50% người dân hiểu đúng về THA và các biện pháp phòng chống THA; đào tạo và phát triển nguồn lực làm công tác dự phòng và quản lý THA tại tuyến cơ sở; phấn đấu 80% cán bộ y tế hoạt động trong phạm vi dự án được đào tạo về biện pháp dự phòng, phát hiện, điều trị và quản lý THA; xây dựng triển khai
và duy trì bền vững mô hình quản lý THA tại tuyến cơ sở; phấn đấu đạt chỉ tiêu 50% bệnh nhân THA nguy cơ cao được phát hiện sẽ được điều trị đúng phác đồ do
Bộ Y tế quy định [27].
Trang 29Khám sàng lọc và quản lý THA phòng chống THA tại 16 tỉnh, thành phát hiện 71.972 người THA, trong đó số người mới phát hiện THA là 35.860 người (49,8%) Hiện đang giám sát và điều trị cho 56.879/71.792 người (72%) Số bệnh nhân quản lý được điều trị đạt huyết áp mục tiêu là 17.613 người/41.984 người được quản lý (đạt 41,9%) Đồng thời, ban điều hành dự án đã triển khai nhiều lớp đào tạo tập huấn cho 510 lượt cán bộ lãnh đạo trong ngành Y tế địa phương và các bác sĩ làm lâm sàng tim mạch, tổ chức giám sát các hoạt động của dự án tại 37 tỉnh, thành phố…Dự án đang từng bước xây dựng chương trình giảng dạy, kế hoạch đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ y tế địa phương, xây dựng các mô hình phòng chống THA từ xã, phường, tới Trung ương [3].
Theo mô hình quản lý và điều trị ngoại trú bệnh THA tại Bệnh viện Bạch Mai với các phương pháp quản lý khám bệnh và làm hồ sơ quản lý, phương tiện là bệnh án theo dõi các lần khám bệnh, phương pháp theo dõi là hồ sơ riêng đối với bệnh nhân THA và được điều trị theo khuyến cáo của WHO năm 2003 Thuốc sử dụng các nhóm thuốc theo hướng dẫn của WHO năm 2003 và Hội tim mạch học Việt Nam [23].
Đánh giá kết quả sau 05 năm nghiên cứu quản lý người mắc THA tại bệnh viện Bạch Mai cho thấy 2350 người mắc THA được quản lý, theo dõi và điều trị, có 73,4%
có số bệnh nhân được quản lý tốt còn 26,6% số bệnh nhân chưa được quản lý tốt Bệnh viện Bạch Mai đã cung cấp dịch vụ điều trị ngoại trú theo hướng dẫn điều trị hiện hành:
có 80% bệnh nhân phải phối hợp hai hoặc nhiều loại thuốc để đạt được HAMT và kiểm soát được HA trong suốt quá trình điều trị trong đó có 21,3% bệnh nhân bị THA mức
độ II và III Trong số 73,4% bệnh nhân quản lý tốt thì có 78,74% bệnh nhân được kiểm soát HAMT, vẫn còn 21,6% chưa đạt được HAMT vì đa số bệnh nhân không có chỉ số THA đơn thuần mà kèm theo 1 hoặc nhiều YTNC mà bệnh cùng phối hợp với THA, đái tháo đường, béo phì…và đặc điểm những bệnh nhân này thường kém tuân thủ điều trị như tự ngừng uống thuốc Trong số đạt HAMT có 13,4% có sử dụng nhóm thuốc còn lại chỉ sử dụng hai nhóm thuốc trở lên Tỷ lệ biến chứng tái nhập viện chiếm 13,4% chủ yếu do TBMMN, nhồi máu cơ tim,
Trang 30cơn đau thắt ngực, cơn THA thường xảy ra ở nững bệnh nhân tuân thủ điều trị kém,
tỷ lệ tử vong 2,3% được quản lý trong 32 tháng [23] Theo Ong Thế Viên, năm
2005 nghiên cứu trên 300 bệnh nhân THA tại khoa khám bệnh bệnh viện Bạch Mai theo phương pháp quản lý trên thì có 20% người bệnh không tuân thủ điều trị do chủ yếu là người bệnh chưa hiểu biết về THA, về mức độ nguy hiểm của bệnh, chưa biết cách phòng và điều trị bệnh 71% Ngoài ra còn có thêm một số tác động khác dẫn đến chưa tuân thủ đúng quy trình điều trị như: xin chuyển đi nơi khác, chuyển vùng sinh sống, giá thành điều trị cao, điều trị vẫn thấy chưa hiệu quả, qua báo cáo
tác giả cũng đưa ra một trong những khuyến nghị là: “Cần phải xây dựng mô hình quản lý và kiểm soát bệnh THA từ tuyến trung ương đến cơ sở” [31].
Nghiên cứu tại tỉnh Yên Bái về công tác đào tạo tập huấn cán bộ y tế làm công tác dự phòng và quản lý THA đạt tỷ lệ 100% Xây dựng, triển khai và duy trì bền vững mô hình quản lý bệnh THA tại tuyến y tế cơ sở; công tác cấp phát thuốc huyết áp và trang thiết bị đạt 100% theo kế hoạch Lượng thuốc được cấp hiện tại chỉ đáp ứng được một phần số lượng thuốc cần sử dụng cho những bệnh nhân THA đến TYT [9].
Công tác khám sàng lọc THA cũng đã được triển khai tại 8 xã, phường của tỉnh Yên Bái đạt 90,6% so với kế hoạch Số bệnh nhân THA được quản lý 591 người, chiếm tỷ lệ 14,78% [9].
Trang 311.3.3 Mạng lưới quản lý tăng huyết áp
MẠNG LƯỚI QUẢN LÝ TĂNG HUYẾT ÁP
VIỆN TIM MẠCH VIỆT NAM – BỆNH VIỆN BẠCH MAI
BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN QUỐC GIA
ĐƠN VỊ CHẨN ĐOÁN & ĐIỀU TRỊ
- BV đa khoa quận/huyện
- PK đa khoa quận/huyện
TRẠM Y TẾ XÃ/PHƯỜNG
- Giáo dục truyền thông lối sống lành mạnh
XÃ/PHƯỜNG - Khám sàng lọc & phân tầng nguy cơ tim mạch tổng thể
- Điều trị không dùng thuốc
- Điều trị thuốc hạ áp và theo dõi, quản lý
- Chuyển bệnh nhân có biến chứng hoặc kháng thuốc lên tuyến trên
Sơ đồ 1.2: Mạng lưới quản lý tăng huyết áp hiện nay ở Việt Nam [20]
Trang 321.3.4 Quản lý tăng huyết áp ở cơ sở
QUẢN LÝ TĂNG HUYẾT ÁP Ở CƠ SỞ
Truyền thông về
Sàng lọc chủ động (cơ tăng huyết áp và các
hội) và sàng lọc có định yếu tố nguy cơ tim
kỳ để phát hiện ca THA mạch cho cả cộng
mới trong cộng đồng đồng
Quản lý và điều trị THA ngay tại tuyến cơ sở
Tích cực thay đổi lối sống kết hợp với thuốc hạ áp
Kết hợp với các chương trình quản lý bệnh không lây nhiễm trong cộng đồng
Ghi nhận về các biến cố tim mạch hoạc tác dụng phụ khi điều trị thuốc
Giám sát & theo dõi
Chuyển tuyến trên khi
- THA tiến triển
- THA với số HA quá cao (>200/120mmHg) có đe dọa biến chứng
- Nghi ngờ THA thứ phát
- THA kháng trị
Đánh giá nguy cơ tim mạch tổng thể
Sơ đồ 1.3 Quản lý tăng huyết áp tuyến ở cơ sở [20]
Theo báo cáo của cục y tế dự phòng về hoạt động quản lý, phòng chốngBKLN bao gồm bệnh THA tại tuyến cơ sở cho thấy thực trạng :
Trang 33- Các dự án phòng chống BKLN được triển khai theo chiều dọc, thiếu sựlồng ghép giữa các chương trình,các chương trình đều có đề cập tới kiểm soát cácyếu tố nguy cơ nhưng tập trung chủ yếu vào quản lý và điều trị người bệnh, chưachú trọng tới dự phòng, phục hồi chức năng và giám sát theo dõi.
- Hoạt động phát hiện sớm, quản lý, tư vấn và dự phòng cho người nguy
cơ cao còn chưa triển khai một cách hệ thống, rộng khắp Các can thiệp giảm
ăn mặn, can thiệp sàng lọc giảm tác hại rượu bia, cai nghiện rượu, cai nghiệnthuốc lá mới triển khai ở quy mô nhỏ
- Y tế cơ sở (huyện, xã) tuy được nâng cấp về trang thiết bị và nhân lực,nhưng chưa đủ năng lực sàng lọc, phát hiện sớm bệnh BKLN, cung ứng các dịch
vụ chăm sóc, quản lý người BKLN, dẫn tới quá tải ở các bệnh viện tuyến
1.3.5 Thực trạng công tác quản lý THA tại Huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng
Tại tỉnh Cao Bằng năm 2011, Ban chủ nhiệm dự án phòng chống THAtỉnh Cao Bằng đã được thành lập theo quyết định số 1090/QĐ-SYT ngày28/4/2011 của Giám đốc sở Y tế Cao Bằng
Đề án quản lý bệnh không lây nhiễm và một số bệnh mạn tính ở tỉnhCao Bằng giai đoạn 2011-2020, Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt theo Quyếtđịnh số: 668/QĐ-UBND ngày 31 tháng 5 năm 2011
Trang 34Trong năm 2013 TTYT huyện Thông Nông thực hiện khám sàng lọccho đối tượng trên 40 tuổi tại 2 xã: Lương Thông, thị trấn Thông Nông Sốngười tham gia khám sàng lọc THA là 552 người Số người phát hiện THA là
131 người chiếm 23,7% Số người có tiền sử THA: 87 người Số người mớiđược phát hiện THA là 44 người Tiền THA là 43 người chiếm 7,7% THA độ
I là 73 người chiếm 13,2% THA độ II là 40 người chiếm 7,2% THA độ III là
18 người chiếm 3,2% Số bệnh nhân có yếu tố nguy cơ tim mạch cao rất caolà: 34 người [29]
Theo báo báo cáo quý III/ 2017 của TTYT huyện: số bệnh nhân THAđược quản lý tại các đơn vị: 531 người, số bệnh nhân điều trị đạt HAMT: 390người [30] Tuy nhiên số liệu thống kê này chỉ dựa trên số bệnh nhân đếnkhám và lấy thuốc hàng tháng tại các cơ sở y tế Hiện tại TYT xã không cóbáo cáo về tỷ lệ THA của người dân trong xã cũng như tình hình cung cấpdịch vụ liên quan đến quản lý THA tại các cơ sở này
Vậy câu hỏi về thực trạng cầu quản lý THA từ cộng đồng và khả năngcung cấp dịch vụ quản lý THA tại huyện Thông Nông trong giai đoạn hiệnvẫn còn bỏ ngỏ Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để cung cấp bằng chứng
để cải thiện chương trình quản lý bệnh THA tại địa phương
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu để đánh giá cầu quản lý bệnh THA từ phía người sử dụng tại huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng
- Người dân tại địa bàn nghiên cứu, đảm bảo tiêu chí lựa chọn và loại trừ:
+ Tiêu chí lựa chọn: Tất cả người dân trên 35 tuổi có mặt tại địa bàn trong thời điểm điều tra Chúng tôi chọn lứa tuổi này do đây là lứa tuổi có nguy cơ THA
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Lan, việc quản lý sàng lọc THA ở nam ≥ 35 tuổi và nữ ≥ 55 tuổi mới có chi phí hiệu quả tốt [45].
+ Tiêu chí loại trừ: Người dân từ chối tham gia nghiên cứu và người dân tại
xã đã điều tra THA năm 2013.
* Đối tượng nghiên cứu để đánh giá khả năng cung cấp dịch vụ quản lý THA tại huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng
- Sổ sách, hồ sơ và tài liệu cung cấp thông tin thứ cấp có liên quan đến quản
lý tại TTYT, TYT xã/phường năm 2017.
- Lãnh đạo bệnh viện huyện, TTYT Thông Nông tỉnh Cao Bằng, Ban chỉ đạo CCSK ban đầu, Thư ký chương trình quản lý THA của TTYT và 02 Trạm trưởng TYT thuộc huyện Thông Nông, NVYTTB.
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành tại huyện Thông Nông tỉnh Cao Bằng Đây là huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Cao Bằng cách trung tâm tỉnh lỵ 50 km theo đường tỉnh lộ 204, tiếp giáp với các huyện: Hòa An, Hà Quảng, Bảo Lạc, Nguyên Bình của tỉnh Cao Bằng và huyện Nà Po, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc; có đường biên giới giáp Trung Quốc dài 14 km.
Huyện có tổng diện tích tự nhiên 35.780 ha với hơn 24 nghìn dân Địa hình huyện Thông Nông về cơ bản mang đặc điểm mang đặc điểm của vùng núi Xã Cần
Trang 36Yên là xã biên giới có tổng số dân 1987 cách trung tâm huyện 22 km, xã Lương Can
có tổng số dân 2218 cách trung tâm huyện 5 km.
Trung tâm y tế huyện Thông Nông là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Y tế, chịu sự quản lý toàn diện của Sở Y tế Cao Bằng, sự quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân huyện Sự chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật của các trung tâm thuộc hệ dự phòng, các trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh.
Trung tâm y tế huyện Thông Nông gồm có 01 trung tâm đóng tại thị trấn và
11 trạm y tế xã/phường/thị trấn.
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1/2018 đến 10/2018
Thời gian thu thập số liệu từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2018
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1.Thiết kế nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính.
2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu định lượng
n: Cỡ mẫu nghiên cứu
Z 1 - /2 : giá trị điểm z tại mức ý nghĩa α với α = 0,05 Z 1-/2 = 1,96
P =0,296 - Theo nghiên cứu của Phạm Thái Sơn và cộng sự, tỷ lệ những người THA đang điều trị là 29,6% (tương ứng với định nghĩa cầu chữa bệnh là: có
bệnh, sẵn sàng chữa bệnh, sẵn sàng sử dụng dịch vụ) [20].
d: chọn d=0,03
Trang 38Vậy tổng số người được chọn tham gia vào nghiên cứu này là 890 người.
* Chọn mẫu định lượng:
- Chọn xã: Chọn chủ đích 02 xã thuộc địa bàn nghiên cứu, các xã này phải không thuộc diện đã điều tra của chương trình quốc gia năm 2013, chúng tôi đã chọn: 01
xã gần trung tâm huyện - xã Lương Can cách trung tâm huyện khoảng 5
Km, có 12 thôn bản với tổng số dân 2.164 dân; 01 xã xa trung tâm của huyện - xã Cần Yên cách trung tâm huyện 22 Km, có 17 thôn bản với tổng số dân 1.712 dân Hai xã này người dân chưa tiến hành bất kỳ chương trình sàng lọc THA trong cộng đồng, bệnh nhân THA chỉ được phát hiện trong quá trình khám bệnh tại TYT hoặc bệnh viện huyện;
- Chọn xóm : Mỗi xã sẽ chọn ngẫu nhiên số xóm để bao phủ cỡ mẫu nghiên cứu theo tỷ lệ dân số trong xã Tuy nhiên, trên thực tế chúng tôi đã gửi giấy mời để mời toàn bộ người dân từ 35 tuổi trở lên có mặt tại cộng đồng trong thời điểm nghiên cứu và thực tế đạt được 899 người tham gia.
- Số liệu thứ cấp tại Khoa Nội BVĐK huyện và 02 trạm y tế xã Lương Can, Cần Yên, TTYT huyện.
2.4.3 Cỡ mẫu và chọn mẫu định tính
Chọn chủ đích Lãnh đạo bệnh viện huyện, lãnh đạo TTYT Thông Nông tỉnh Cao Bằng, Ban chỉ đạo Chăm sóc sức khỏe nhân dân, Thư ký chương trình quản lý THA của TTYT và 02 Trạm trưởng TYT xã Lương Can, Cần Yên huyện Thông Nông.
- 01 cuộc thảo luận nhóm với 5 người: 01 Lãnh đạo TTYT huyện, 01 lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa, 01 Thư ký chương trình, và 02 trưởng TYT phường, xã.
- 02 cuộc thảo luận nhóm với Ban chỉ đạo CSSKND của 02 xã, phường: Mỗi cuộc có 5 người.
- 02 cuộc thảo luận nhóm với đại diện cán bộ TYT xã, phường và NVYTTB xã: Mỗi cuộc có 8 người tham gia.
- 5 phỏng vấn sâu: 01 cuộc với lãnh đạo TTYT huyện; 01 cuộc với giám đốc BVĐK huyện; 02 cuộc với trạm trưởng TYT xã/ phường và 01 cuộc người mắc THA.
- 02 cuộc thảo luận nhóm với bệnh nhân THA: Chọn bệnh nhân THA cho thảo luận nhóm: Nghiên cứu này đã tiến hành thảo luận các đối tượng bao gồm: (1) Những
Trang 39người THA mới phát hiện do sàng lọc của nghiên cứu này; (2) THA phát hiện trước đây chưa điều trị và THA đã điều trị Mỗi nhóm có 12 bệnh nhân tham gia.
Phần 1: Đặc điểm về nhân khẩu học
-Tỷ lệ tham gia nghiên cứu Số người tham gia nghiên cứu chia tổng số
người trên 35 tuổi tại 2 xã điều tra -Tỷ lệ người tham gia nghiên cứu Tổng số người ở từng độ tuổi chia tổng số theo độ tuổi người tham gia nghiên cứu
-Tỷ lệ người tham gia nghiên cứu Số người tham gia nghiên cứu theo giới chia theo giới tổng số người tham gia nghiên cứu
-Tỷ lệ người tham gia nghiên cứu Tổng số người tham gia nghiên cứu theo theo trình độ học vấn trình độ học vấn chia tổng số người tham gia
nghiên cứu -Tỷ lệ người tham gia nghiên cứu Tổng số người tham gia nghiên cứu theo theo nghề nghiệp nghề nghiệp chia tổng số người tham gia
nghiên cứu -Tỷ lệ người tham gia nghiên cứu Tổng số người tham gia nghiên cứu theo theo tình trạng kinh tế hộ gia đình kinh tế hộ gia đình chia tổng số người tham
gia nghiên cứu
Phần 2: Đặc điểm về tình trạng huyết áp và quản lý THA
-Tỷ lệ THA trong số đối tượng Tổng số người bị tăng huyết áp (huyết áp cao tham gia nghiên cứu hoặc đang điều trị THA) tại thời điểm điều
tra chia tổng số người tham gia nghiên cứu
- Tỷ lệ phân bố THA theo mức độ Số người THA ở từng mức độ (độ I, độ II, độ
III) chia tổng số người bị THA
Trang 40thời điểm nghiên cứu
-Tỷ lệ THA tại từng tuyến y tế Số bệnh nhân tại mỗi tuyến trên tổng số đã
từng điều trị -Tỷ lệ đã điều trị thường xuyên liên Số điều trị thường xuyên chia tổng số đã từng điều tục (điều trị theo phác đồ và dùng trị
thuốc đều đặn hàng tháng)
Phần 3: Thực trạng cầu quản lý THA
-Tỷ lệ người có cầu sàng lọc THA Số bệnh nhân tham gia sàng lọc chia tổng số
người dân có mặt tại cộng đồng tại thời điểm nghiên cứu
- Tỷ lệ bệnh nhân có cầu quản lý Số bệnh nhân bị THA & sẵn sàng chữa bệnh huyết áp thường xuyên, liên tục khi & sẵn sàng chi trả (hoặc ở đó miễn phí thì sẵn
đã mắc THA đã đạt HAMT sàng sử dụng dịch vụ) chia tổng số bệnh nhân
THA
- Tỷ lệ bệnh nhân có cầu quản lý Số bệnh nhân bị THA & sẵn sàng chữa bệnh huyết áp thường xuyên, liên tục tại tại trạm y tế xã & sẵn sàng chi trả (hoặc ở đó trạm y tế xã khi đã mắc THA miễn phí thì sẵn sàng sử dụng dịch vụ) chia
cho tổng số bệnh nhân THA
- Nhóm chỉ số định tính: Yếu tố ảnh Chỉ số này sẽ thu thập qua thảo luận nhóm hưởng đến cầu sử dụng dịch vụ quản với người bệnh THA
lý THA: hiểu biết về sự cần thiết phải
sàng lọc và điều trị, hiểu biết về sự
sẵn có của dịch vụ, sự hài lòng của
người dân đối với dịch vụ, khoảng
cách từ nhà đến cơ sở y tế liên quan
đến sự tiếp cận với dịch vụ