1. Trang chủ
  2. » Tất cả

3 LUAN VAN_CAO HOC TCNH 14.2_LE HUU LOC

62 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác việc thực hiện đánh giá hiệu quả và giám sát tài chính của ngân hàng chủ yếu thiên về giám sát tuân thủ, thiếu các công cụ đo lường giám sát, chủ yếu sử dụng phương pháp định tí

Trang 1

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1 Lý do chọn đề tài

Ngân hàng được xem là mạch máu của nền kinh tế, hiệu quả hoạt động của ngân hàng được dùng làm thước đo để đo lường sự tăng trưởng của nền kinh tế Trong bối cảnh nền kinh tế đang hội nhập và cạnh tranh trên qui mô toàn cầu như hiện nay cũng khiến các ngân hàng gặp không ít những khó khăn và thử thách Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng cũng bị tác động đáng kể

Giai đoạn một của đề án tái cấu trúc ngân hàng thời gian qua đã cho thấy bức tranh hợp nhất và sáp nhập là đề tài nóng và độ nóng sẽ vẫn còn tiếp tục trong giai đoạn hai sắp tới Để giúp mọi người có căn cứ dự đoán ngân hàng nào yếu kém trong hoạt động cần được sáp nhập và ngân hàng nào hoạt động tốt có khả năng sẽ nhận sáp nhập, cũng như có thể giúp mọi người chọn lựa một ngân hàng có hiệu quả hoạt động tốt để đầu tư cổ phiếu trong thời gian tới Mặt khác việc thực hiện đánh giá hiệu quả và giám sát tài chính của ngân hàng chủ yếu thiên về giám sát tuân thủ, thiếu các công cụ đo lường giám sát, chủ yếu sử dụng phương pháp định tính để đánh giá, phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng mà chưa sử dụng nhiều đến mô hình định lượng

cụ thể Đồng thời việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng bằng phương pháp bao dữ liệu DEA đã được sử dụng nhiều trên thế giới, nhưng ở Việt Nam vẫn còn hạn chế, đây là phương pháp xác định chỉ số hiệu quả chung của từng ngân hàng và xếp hạng hiệu quả của ngân hàng dựa trên hoạt động thực tế, phương pháp này sẽ đưa ra bảng xếp hạng ngân hàng theo hiệu quả hoạt động giúp các ngân hàng xem xét lại việc sử dụng các nguồn lực một cách tổng thể và có biện pháp tăng cường năng lực cạnh tranh, đồng thời gợi

ý cho cơ quan quản lý Nhà nước cân nhắc sáp nhập những ngân hàng yếu kém trong giai đoạn tái cấu trúc tiếp theo, cũng như tạo điều kiện chính sách

Trang 2

tài "Đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam bằng phương pháp bao dữ liệu DEA" làm đề tài nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Sử dụng phương pháp bao dữ liệu để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn tái cấu trúc ngân hàng (2011-2015)

Xếp hạng các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam theo hiệu quả

kỹ thuật và hiệu quả năng suất tổng hợp

Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu 20 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong 5 năm từ 2011 đến 2015

4 Câu hỏi nghiên cứu

Các NHTMCP với quy mô tổng tài sản lớn có hoạt động hiệu quả hơn những ngân hàng có quy mô tổng tài sản nhỏ hay không?

Có bao nhiêu ngân hàng TMCP hoạt động đạt hiệu quả tối ưu trong giai đoạn 2011-2015?

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp sử dụng trong luận văn là phương pháp định tính kết hợp phương pháp định lượng

Phương pháp định tính: luận văn sử dụng phương pháp thống kê thông qua thu thập dữ liệu có sẵn, tiến hành lập bảng biểu để so sánh và đánh giá nội dung cần nghiên cứu

Trang 3

Phương pháp định lượng bằng cách sử dụng phương pháp bao dữ liệu DEA để đưa ra kết quả về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại

cổ phần tại Việt Nam

6 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài phản ánh thực tế hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn tái cấu trúc

Sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP mà không phải là phân tích hồi quy đã được làm rất nhiều trước đây

7 Kết cấu luận văn

Ngoài danh mục các bảng biểu, danh mục các từ viết tắt, phụ lục, tài liệu tham khảo nội dung của luận văn gồm 5 chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu, Trình bày lý do chọn đề tài,

mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết, Trình bày tổng quan về hiệu quả hoạt động

của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam và phương pháp bao dữ liệu DEA

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, Trình bày mô hình, phương pháp và nguồn dữ liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu, Đưa ra kết quả và phân tích kết quả

nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và giải pháp, Tổng kết lại vấn đề nghiên cứu và đưa

ra các giải pháp

Trang 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Cơ sở lý luận về NHTM

2.1.1 Khái niệm NHTM

Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”

Trong Thông tư 40/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011 định nghĩa:

“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các

tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận”

Như vậy, Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính có

vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp

2.1.2 Chức năng và hoạt động của NHTM

* Trung gian tín dụng

Ngân hàng thương mại một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, mặt khác nó dùng chính số tiền đã huy động được để cho vay đối với các thành phần kinh tế trong xã hội, hay nói cách khác là một tổ chức đóng vai trò “cầu nối” giữa các đơn vị thừa vốn với các đơn vị thiếu vốn Thông qua sự điều chuyển này ngân hàng thương mại có vai trò quan trong trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm, cải thiện mức sống dân

cư, ổn định thu chi Chính phủ Đồng thời chức năng này còn góp phần quan trọng trong việc điều hoà lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát Từ đó cho thấy rằng, đây là chức năng cơ bản nhất của ngân hàng thương mại

* Trung gian thanh toán

Trang 5

Nếu như mọi khoản chi trả của xã hội đều được thực hiện bên ngoài ngân hàng thì chi phí thực hiện là rất lớn, bao gồm: chi phí in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền Với sự ra đời của ngân hàng thương mại, phần lớn các khoản chi trả trong hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá dịch vụ của xã hội dần được thực hiện qua ngân hàng, với những hình thức thanh toán phù hợp, thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện với công nghệ ngày càng hiện đại hơn Chính nhờ tập trung công việc thanh toán của xã hội ở ngân hàng nên việc lưu thông hàng hoá dịch vụ trở nên nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm hơn Không những vậy, do thực hiện chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có điều kiện huy động tiền gửi của toàn xã hội nói chung và của doanh nghiệp nói riêng tới mức tối đa, tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng

* Chức năng tạo tiền

Xuất phát từ khả năng thay thế lượng tiền giấy bạc trong lưu thông bằng những phương tiện thanh toán khác như séc, uỷ nhiệm chi Chức năng này được thực hiện thông qua nghiệp vụ tín dụng và đầu tư của hệ thống ngân hàng thương mại, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống dự trữ quốc gia Hệ thống tín dụng là điều kiện cần thiết cho phát triển kinh tế theo hệ số tăng trưởng vững chắc Mục đích của chính sách dự trữ quốc gia là đưa ra một khối lượng tiền cung ứng phù hợp với chính sách ổn định về giá cả, tăng trưởng kinh tế ổn định và tạo được việc làm

2.1.3 Vai trò của NHTM

Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế phát triển, đang phát triển, thậm chí chưa phát triển thì hoạt động ngân hàng cũng có tác dụng to lớn đến hoạt động của nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của ngân hàng được thể hiện như sau:

Ngân hàng là nơi tập trung tiền nhàn rỗi và cung ứng tiền vốn cho quá

Trang 6

Ngân hàng là trung gian trong quá trình thanh toán góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá nhanh chóng

Ngân hàng góp phần điều tiết và kiểm soát thị trường tiền tệ, thị trường vốn

Ngân hàng góp phần thu hút, mở rộng đầu tư trong và ngoài nước và cung cấp các dịch vụ tài chính khác

2.2 Tổng quan lý thuyết về hiệu quả hoạt động

2.2.1 Lý thuyết tăng trưởng của doanh nghiệp

Lý thuyết tăng trưởng của doanh nghiệp do Penrose phát triển lần đầu

tiên từ năm 1959 và tiếp tục tái bản lần thứ tư vào năm 2009 Theo tác giả,

mục tiêu của chủ sở hữu doanh nghiệp là tăng được lợi nhuận dài hạn

(long-term profit) và để đạt được mục tiêu này doanh nghiệp phải đạt được tăng

trưởng thông qua các hoạt động mở rộng (expansion) (Pensore, 2009) Mô

hình tăng trưởng cơ bản như sau:

Hình 2.1 Mô hình tăng trưởng của Pensore

(Nguồn: Pensore, 1959)

Trong hình 2.1, nguồn gốc của tăng trưởng đến từ hai hoạt động mở rộng: mở rộng từ bên trong và mở rộng từ bên ngoài (Pensore, 1959) Hoạt động mở rộng bên trong (internal expansion) chủ yếu liên quan tới hoạt động sáp nhập các ngành kinh doanh có liên quan, trong khi đó hoạt động mở rộng

Trang 7

ra bên ngoài (external expansion) lại liên quan tới các hình thức gia tăng vốn hay đa dạng hóa…

Trong thực tiễn hoạt động của ngân hàng giai đoạn 2011-2015 mà tác giả nghiên cứu, nếu các ngân hàng muốn tăng lợi nhuận thì phải tăng trưởng thông qua hoạt động mở rộng, giai đoạn này các ngân hàng mở rộng theo hai hướng là sáp nhập, hợp nhất hoặc gia tăng vốn, mà cụ thể Ngân hàng nào có vốn điều lệ dưới 3.000 tỷ đồng nếu không sáp nhập sẽ phải đóng cửa, một số ngân hàng chấp nhận sáp nhập, một số ngân hàng tự tăng vốn điều lệ, dẫn đến tài sản cũng tăng lên

Có những cảnh báo mạnh mẽ rằng doanh nghiệp tăng trưởng quá mức hay còn gọi là tăng trưởng nóng sẽ phá hủy hiệu quả trong tương lai (Davidsson và Wiklund, 2006) Lý do của sự phá hủy là doanh nghiệp tăng trưởng bằng mọi giá, chấp nhận gia tăng nợ vay, chấp nhận thả lỏng các điều kiện bán hàng để kéo khách hàng về phía doanh nghiệp Thời gian sau doanh nghiệp sẽ bị trả giá bởi không cân đối được dòng tiền vào và dòng tiền ra dẫn tới hiệu quả giảm và trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp có thể phá sản

Như vậy, khi tăng trưởng quá mức sẽ dẫn tới hiệu quả giảm, đây sẽ là một lưu ý về lý thuyết cho nghiên cứu này, và đây cũng là nền tảng để đối chiếu với kết quả thực nghiệm của tác giả để trả lời câu hỏi nghiên cứu: “Liệu các ngân hàng với quy mô tổng tài sản lớn có hoạt động hiệu quả hơn những ngân hàng có quy mô tổng tài sản nhỏ hay không?”

2.2.2 Lý thuyết phát triển dựa vào nguồn lực của doanh nghiệp

Lý thuyết phát triển dựa vào nguồn lực của doanh nghiệp (theory of resource-based view – RBV) Lý thuyết RBV thoát thai từ lý thuyết tăng trưởng doanh nghiệp của Pensore (1959) khi tác giả đã kết nối nguồn lực bên trong của doanh nghiệp với tăng trưởng Theo Penrose (1959), công ty là tập hợp các nguồn lực sản xuất (productive resources) được tổ chức trong một

Trang 8

dụng nguồn lực một cách sáng tạo dẫn tới các cơ hội sản xuất và thành quả tài chính khác nhau Các nguồn lực chưa sử dụng hết cùng tài năng quản trị và kinh nghiệm sẵn có của nhà quản trị là động cơ thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng kinh doanh Sự tăng trưởng của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào nguồn lực mà doanh nghiệp tích lũy được

Sau đó Wernerfelt (1984) và Barney (1991) phát triển góc nhìn trên của Penrose thành lý thuyết RBV Theo Barney (1991), nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả các loại tài sản, năng lực, quy trình, sự hỗ trợ, kiến thức … được kiểm soát bởi doanh nghiệp và có thể giúp cho doanh nghiệp thực hiện các chiến lược đem lại hiệu quả Khi quy mô tăng lên thì các nguồn lực này tăng lên và từ đó dẫn tới hiệu quả của doanh nghiệp tăng

Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm tìm thấy tác động tích cực của quy mô doanh nghiệp Việc tăng trưởng quy mô dẫn tới doanh nghiệp có thể

sử dụng tính kinh tế theo phạm vi để gia tăng năng lực sản xuất, giảm chi phí, tạo thêm năng lực cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường và từ đó tạo ra hiệu quả (Andries và Faems, 2013) Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng hiệu quả của doanh nghiệp sẽ tăng chậm đi nếu quy mô của doanh nghiệp trở nên quá lớn, khi đó doanh nghiệp sẽ đối mặt với các rắc rối quản lý, sự chậm chạp, sự quan liêu, các quyết định phải trải qua nhiều tầng nấc…và vì thế hiệu quả sẽ giảm (Gong,và ctg, 2013)

Lý thuyết trên sẽ làm nền cho việc đánh giá hiệu quả của các ngân hàng dựa vào quy mô Tác giả đã chọn 2 mô hình là: mô hình DEACRS là hiệu quả

kỹ thuật toàn bộ trong điều kiện sản lượng không đổi theo quy mô Còn mô hình DEAVRS là hiệu quả kỹ thuật thuần trong điều kiện sản lượng thay đổi theo quy mô

2.2.3 Lý thuyết năng suất cận biên

Lý thuyết năng suất cận biên của John Bates Clark, nhà kinh tế của nước Mỹ J.B.Clark (1899) đã đưa ra khái niệm “hàm số sản xuất” để biểu

Trang 9

diễn mối quan hệ mang tính kỹ thuật giữa khối lượng tối đa của đầu ra có thể tạo ra được bằng các đầu vào cụ thể - các nhân tố sản xuất, ở đây bao gồm lao động và vốn Trong mỗi nền kinh tế, ứng với một trình độ công nghệ nhất định, mỗi doanh nghiệp sẽ có hàm số sản xuất và qua đó xác định được chi phí sản xuất và doanh thu của họ

Mỗi yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sẽ ứng với mức chi phí cụ thể và tạo ra một năng suất tối đa Trong nghiên cứu tác giả có chọn yếu tố đầu vào là số lượng nhân viên Dựa vào lý thuyết năng suất cận biên để xác định lượng đầu vào một cách hợp lý, mà cụ thể là số lượng nhân viên của các ngân hàng sẽ sử dụng tối đa là bao nhiêu để tạo ra năng suất đầu ra là tốt nhất, nhằm đạt hiệu quả tối ưu

2.3 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần

2.3.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động

Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được coi là thước đo quan trọng nhất đo lường khả năng thành công của một doanh nghiệp Khái niệm về hiệu quả của doanh nghiệp được nghiên cứu từ rất sớm và có nhiều quan điểm khác nhau tùy theo góc độ nghiên cứu là kinh tế học, quản trị học hay tài chính

Hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các qúa trình kinh

tế North (1994) lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị Theo tác giả, hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg ) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị,nguyên vật liệu ) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh phải

Trang 10

được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị Và theo đó, để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền

và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của tác giả chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí

Từ khái niệm hiệu quả kinh tế theo giá trị của North (1994) thì có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp như sau:

“Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện khả năng đạt được giá trị ròng đầu ra so với nguồn lực được đầu tư từ đầu vào căn cứ vào các mục tiêu hoạt động nhất định”

Như vậy, hiệu quả là mức độ thành công mà các doanh nghiệp đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó

2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTMCP

Mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đơn giản là cố gắng tránh lãng phí bằng cách đạt được đầu ra cực đại từ các đầu vào giới hạn hoặc bằng việc cực tiểu hóa sử dụng đầu vào trong sản xuất các đầu ra đã cho Trong trường hợp này khái niệm hiệu quả tương ứng với cái mà ta gọi là hiệu quả kỹ thuật,

và mục tiêu tránh lãng phí của nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt được mức hiệu quả kỹ thuật cao Ở mức cao hơn, mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đòi hỏi sản xuất các đầu ra đã cho với chi phí cực tiểu, hoặc sử dụng các đầu vào đã cho sao cho cực đại hóa doanh thu, hoặc phân bổ các đầu vào và đầu

ra sao cho cực đại hóa lợi nhuận Trong các trường hợp này hiệu quả tương ứng được gọi là hiệu quả kinh tế, và mục tiêu của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt mức hiệu quả kinh tế cao (tính theo các chỉ tiêu như chi phí, doanh thu, lợi nhuận)

* Quy mô ngân hàng

Trang 11

Đây là nhân tố được hầu hết các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại quan tâm, thể hiện qua các chỉ tiêu như: tổng tài sản,

số lượng chi nhánh, số lượng trạm ATM, số lượng lao động hay tổng tiền gửi Nhân tố này đại diện cho tính hiệu quả theo quy mô của các ngân hàng Trong nhiều nghiên cứu, quy mô ngân hàng dự kiến sẽ ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận ngân hàng nếu có sự hiệu quả theo quy mô Mặt khác, nếu việc

đa dạng hóa dẫn đến rủi ro cao hơn thì tác động là ngược lại

* Tỷ lệ tiền gửi trên số tiền cho vay

Theo Kyriaki Kosmido và các tác giả (2008), Nguyễn Việt Hùng (2008), tỷ lệ tiền gửi trên số tiền cho vay có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Lợi nhuận chủ yếu của các NHTM chính là chênh lệch giữa thu về lãi và chi về lãi Vì vậy, một trong những cách thức làm tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng đó là phải sử dụng tốt nguồn vốn huy động, bằng việc cho vay ra để tạo ra thu nhập từ lãi Như vậy, nếu tỷ lệ tiền gửi trên

số tiền cho vay thấp có nghĩa là ngân hàng đã không sử dụng tốt nguồn vốn huy động của nó và ngược lại thì ngân hàng đã sử dụng tốt vốn huy động của

nó Một ngân hàng sử dụng vốn tốt sẽ có số thu về lãi lớn hơn và hiệu quả hoạt động tốt hơn, vì vậy mối quan hệ giữa biến số này với độ đo hiệu quả có dấu kỳ vọng là âm

* Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản

Theo bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn IMF, tỷ lệ vốn trên

Trang 12

độ lành mạnh tài chính của NHTM (IMF, 2006) Theo Heffernan và Fu (2008), tỷ lệ vốn trên tổng tài sản lớn thì lợi nhuận trên vốn tự có tăng, đồng thời nó cho biết việc tài trợ cho tài sản bằng vốn chủ sở hữu tăng làm giảm rủi

ro cho các cổ đông và các trái chủ của ngân hàng Tỷ lệ này có thể ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực đến mức hiệu quả đồng thời nó được sử dụng để phản ánh những điều kiện quy định quản lý đối với ngân hàng

* Nguồn nhân lực

Các nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại thường rất đa dạng và phong phú Do đó, những yêu cầu về kỹ năng, trình độ, kiến thức đối với đội ngũ nhân viên làm việc cho ngành ngân hàng cũng rất đa dạng Tùy thuộc vào loại hình nghiệp vụ chuyên môn cũng như cấp độ công việc mà người nhân viên cần phải có những kỹ năng kiến thức, phẩm chất nhất định

Theo báo cáo của Ủy ban Kinh tế Quốc hội (2012), năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng khoảng 68.8% so với năng suất lao động của nhóm nước có thu nhập trung bình thấp, bằng 57.8% so với Trung Quốc, khoảng 34.2 và 22% so với Thái Lan và Malaysia Năng suất lao động thấp trong ngành ngân hàng sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của các ngân hàng

2.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần

Hiệu quả là điều kiện quyết định sự sống còn và phát triển của một ngân hàng (NH), bởi vậy nâng cao hiệu quả cũng có nghĩa là tăng cường năng lực tài chính, năng lực điều hành để tạo ra tích lũy và có điều kiện mở rộng các hoạt động kinh doanh Góp phần củng cố và nâng cao thương hiệu của các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, để NHTM hoạt động có hiệu quả hơn, đòi hỏi phải xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các NHTM, nhằm hạn chế được các hoạt động mang tính chất rủi ro, bảo toàn vốn, nâng cao thu nhập và lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của NHTM Các nhân tố này có thể được chia làm hai nhóm: Nhóm nhân tố khách quan và

Trang 13

nhóm nhân tố chủ quan, tùy theo điều kiện cụ thể của từng Ngân hàng mà hai nhóm nhân tố này có những ảnh hưởng khác nhau, đến hiệu quả hoạt động của chính các NHTM

2.3.3.1 Nhóm nhân tố khách quan

* Môi trường về kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước

NHTM là một tổ chức trung gian tài chính, làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế Do vậy, những biến động của môi trường kinh tế, chính trị và xã hội có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các NH Nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các NHTM, vì đây cũng là điều kiện làm cho quá trình sản xuất của nền kinh tế được diễn ra bình thường, đảm bảo khả năng hấp thụ vốn và hoàn trả vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Khi nền kinh tế có tăng trưởng cao và ổn định, các khu vực trong nền kinh tế đều có nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, nhu cầu vay vốn tăng, làm cho các NHTM dễ dàng mở rộng hoạt động tín dụng của mình Đồng thời, khả năng nợ xấu có thể giảm, vì năng lực tài chính của các doanh nghiệp cũng được nâng cao

Ngược lại, khi môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trở nên bất ổn thì lại là những nhân tố bất lợi cho hoạt động của các NHTM như: Nhu cầu vay vốn giảm; nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng làm giảm hiệu quả hoạt động của các NHTM

Hơn nữa, hiện nay quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới Các nền kinh tế của các nước trên thế giới ngày càng phụ thuộc vào nhau, luồng vốn quốc tế đã và đang dồn vào khu vực Châu á mạnh mẽ Điều này đang tạo ra nhiều cơ hội cho Việt Nam nói chung và hệ thống Ngân hàng nói riêng, nhiều cơ hội mới có thể tranh thủ được các nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý từ các nền kinh tế phát triển, Tuy

Trang 14

từ quá trình hội nhập, như phải cạnh tranh với những tập đoàn tài chính đầy tiềm lực (về vốn, công nghệ, năng lực quản lý, ) Trong khi thực tế hiện nay cho thấy, các NHTM Việt Nam còn yếu về mọi mặt, từ năng lực tài chính, kinh nghiệm quản trị Ngân hàng, công nghệ đến nguồn nhân lực

Ngoài ra, với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, thì sự biến động của tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của các nước trên thế giới mà nhất là các bạn hàng của Việt Nam cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của các NHTM

và bổ sung nhiều lần trong quá trình phát triển của mình, thì ở Việt Nam do mới chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa sang vận hành theo nền KTTT hơn 20 năm, nên hệ thống luật còn thiếu, chưa đầy đủ và đây cũng thực sự là một trở ngại đối với hoạt động của các NHTM

Đồng thời, quá trình tiền tệ hóa diễn ra nhanh trong thời gian gần đây, đòi hỏi Việt Nam phải sớm thông qua các bộ luật mới và sửa đổi các điều luật không còn phù hợp với tình hình kinh tế, có như vậy hệ thống luật pháp mới thực sự tạo lập được một môi trường pháp lý hoàn chỉnh, làm cơ sở để giải quyết các tranh chấp, khiếu nại nảy sinh trong hoạt động kinh tế, xã hội Như vậy, rõ ràng môi trường luật pháp có vai trò hết sức quan trọng đối với các

Trang 15

hoạt động kinh tế nói chung và đối với hoạt động của các NHTM nói riêng, là

cơ sở tiền đề cho ngành Ngân hàng phát triển nhanh và bền vững

2.3.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan

Nhóm nhân tố chủ quan được bàn đến, chính là các nhân tố bên trong nội bộ của chính các NHTM như các nhân tố về năng lực tài chính, khả năng quản trị điều hành, ứng dụng tiến bộ công nghệ, trình độ và chất lượng của lao động,

- Năng lực tài chính của một NHTM thường được biểu hiện, trước hết

là qua khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, vì vốn chủ sở hữu thể hiện sức mạnh tài chính của một Ngân hàng Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô kinh doanh của Ngân hàng như: Khả năng huy động và cho vay vốn, khả năng đầu tư tài chính và trình độ trang bị công nghệ Thứ hai, khả năng sinh lời cũng là một nhân tố phản ánh về năng lực tài chính của một Ngân hàng, vì nó thể hiện tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh Thứ ba

là, khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro của một Ngân hàng, cũng là nhân

tố phản ánh năng lực tài chính Nếu nợ xấu tăng thì dự phòng rủi ro cũng phải tăng để bù đắp rủi ro, có nghĩa là khả năng tài chính cho phép sử dụng để bù đắp tổn thất có thể xảy ra Ngược lại, nếu nợ xấu tăng nhưng dự phòng rủi ro không đủ để bù đắp, có nghĩa là tình trạng tài chính xấu và năng lực tài chính

bù đắp cho các khoản chi phí này bị thu hẹp

- Năng lực quản trị, điều hành là nhân tố tiếp theo ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Năng lực quản trị điều hành, trước hết là phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, trình độ lao động và tính hữu hiệu của cơ chế điều hành để có thể ứng phó tốt, trước những diễn biến của thị trường Tiếp theo năng lực quản trị, điều hành còn có thể được phản ánh bằng khả năng giảm thiểu chi phí hoạt động, nâng cao năng suất sử dụng đầu vào để có thể tạo ra được một tập hợp đầu ra cực đại

Trang 16

- Khả năng ứng dụng tiến bộ công nghệ: Chính là phản ánh năng lực công nghệ thông tin của một Ngân hàng Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và ứng dụng sâu rộng của nó vào cuộc sống như ngày nay, thì ngành Ngân hàng khó có thể duy trì khả năng cạnh tranh của mình, nếu vẫn cung ứng các dịch vụ truyền thống Năng lực công nghệ của Ngân hàng thể hiện khả năng trang bị công nghệ mới, gồm thiết bị và con người, tính liên kết công nghệ giữa các Ngân hàng và tính độc đáo về công nghệ của mỗi Ngân hàng

- Trình độ, chất lượng của người lao động: Nhân tố con người là yếu tố quyết định quan trọng đến sự thành bại trong bất kỳ hoạt động nào của các NHTM Xã hội càng phát triển thì càng đòi hỏi các Ngân hàng càng phải cung cấp nhiều dịch vụ mới và có chất lượng Chính điều này, đòi hỏi chất lượng của nguồn nhân lực cũng phải được nâng cao, để đáp ứng kịp thời đối với những thay đổi của thị trường, xã hội Việc sử dụng nhân lực có đạo đức nghề nghiệp, giỏi về chuyên môn, sẽ giúp cho Ngân hàng tạo lập được những khách hàng trung thành, ngăn ngừa được những rủi ro có thể xảy ra trong các hoạt động kinh doanh, đầu tư và đây cũng là nhân tố giúp các Ngân hàng giảm thiểu được các chi phí hoạt động Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nguồn nhân lực luôn phải chú trọng việc gắn phát triển nhân lực với công nghệ mới

2.3.4 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần

2.3.4.1 Đánh giá theo phương pháp truyền thống

* Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời

Các chỉ tiêu quan trọng nhất đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng được sử dụng hiện nay gồm : Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu ( ROE), tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản tỷ (ROA), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NM)

Trang 17

ROE = Lợi nhuận sau thuế/ Vốn chủ sở hữu

ROA = Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản

NIM = ( Thu nhập lãi- Chi phí lãi)/ Tổng tài sản

NM = ( Thu nhập ngoài lãi- Chi phí ngoài lãi)/ Tổng tài sản

Giống như tất cả các chỉ số tài chính khác, mỗi tỷ lệ đo lường khả năng sinh lời được sử dụng trong từng trường hợp khác nhau và phản ánh những ý nghĩa không khác nhau đáng kể ROA là một thông số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý, nó chỉ ra khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng Ngược lại, ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng,

nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng

Tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên là các thước đo tính hiệu quả cũng như khả năng sinh lời Chúng chỉ ra năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên nhân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu là thu từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ tiền lương nhân viên và phúc lợi) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất Trái lại, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi, chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu (gồm tiền lương, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị, và chi phí tổn thất tín dụng) Đối với hầu hết các ngân hàng, chênh lệch ngoài lãi thường là âm, chi phí ngoài lãi nhìn chung vượt quá thu

từ phí, mặc dù tỷ lệ thu từ phí trong tổng các nguồn thu của ngân hàng đã tăng rất nhanh trong những năm gần đây

Trang 18

Khi cạnh tranh trên thị trường tín dụng gia tăng và các khoản cho vay kém chất lượng ngày càng nhiều thì một số lớn các ngân hàng đã chú trọng vào việc tăng nguồn thu ngoài lãi Những khoản phí này củng cố tổng nguồn thu, giúp tăng thu nhập ròng cho cổ đông của ngân hàng Ngày nay các nhà quản lý ngân hàng cũng đang nỗ lực hạn chế tỷ trọng tài sản không sinh lời (tiền mặt, tài sản cố định và tài sản vô hình) trong tổng tài sản

kỳ này rủi ro cao có thể gây ra tổn thất kì sau, làm giảm khả năng sinh lời kì sau Tỷ lệ Nợ/Vốn của chủ càng cao, tỷ lệ sinh lời ROE càng lớn, song khả năng chống đỡ với những tổn thất của ngân hàng càng kém Tỷ lệ Tài sản nhạy cảm/Nguồn vốn nhạy cảm phản ánh rủi ro lãi suất khi lãi suất thay đổi theo hướng bất lợi cho ngân hàng Tuy nhiên, khi lãi suất thay đổi theo hướng

có lợi hoặc không thay đổi, thu nhập của ngân hàng sẽ gia tăng

* Các chỉ tiêu phản ánh chất lƣợng tín dụng

Điển hình của hoạt động trong ngân hàng là hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau và là một chỉ tiêu

Trang 19

tổng hợp phản ánh mức độ thích nghi của Ngân hàng thương mại với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại

Chất lượng tín dụng được đánh giá theo một số chỉ tiêu cơ bản, vừa có chỉ tiêu mang tính định tính lại vừa có chỉ tiêu mang tính định lượng Nhưng hiện nay ở nước ta việc qui định tiêu chuẩn cho các chỉ tiêu định tính rất khó

do nó chỉ mang tính tương đối Vì vậy, nếu xét về bản chất và yêu cầu đối với một ngân hàng trước mắt cần quy định hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại theo các chỉ tiêu sau :

Tỷ lệ nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của ngân hàng thương mại ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm

Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn (khả năng hoàn trả của người vay) là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng Khi một khoản vay không được hoàn trả đúng hẹn như đã cam kết mà không có lý do chính đáng thì nó đã vi phạm nguyên tắc tín dụng quan trọng nhất của ngân hàng và nó bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường

Trong nền kinh tế thị trường rủi ro trong hoạt động kinh doanh là khách quan, do đó nợ quá hạn của ngân hàng thương mại là tất yếu Song, nếu một ngân hàng thương mại có nhiều khoản nợ quá hạn sẽ gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm thu nhập Ngân hàng thương mại nào có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là

có chất lượng tín dụng thấp Đây là chỉ tiêu hiện nay thường được sử dụng khi phân tích đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại

Cơ cấu vốn đầu tư

Trang 20

Một trong các chỉ tiêu khi xem xét và đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại là chỉ tiêu cơ cấu vốn đầu tư Việc phân tích cơ cấu vốn đầu tư chính là việc xem xét đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng của bản thân ngân hàng cũng như đòi hỏi về vốn của nền kinh tế chưa Trên cơ sở đó, các Ngân hàng thương mại có thể quyết định quy

mô, tỷ trọng đầu tư vào các lĩnh vực một cách hợp lý để vừa bảo đảm an toàn vốn cho vay vừa có thể thu lợi nhuận cao nhất

Tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của người vay

Nếu xét về bản chất tín dụng, thì nguồn trả nợ cho ngân hàng của người vay về nguyên tắc là được trích ra từ phần thu nhập do hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng Tuy vậy, có nhiều trường hợp do sử dụng vốn kém hiệu quả, bị mất vốn (sản xuất kinh doanh thua lỗ, phá sản ) nên người vay phải bán tài sản (có thể tự nguyện hoặc bắt buộc) để trả nợ ngân hàng Số tiền bán tài sản có thể đủ để trả nợ, nhưng cũng có thể chỉ trả được một phần nợ vay, song trong trường hợp nào thì vẫn có thể đánh giá là chất lượng tín dụng thấp

Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng

Đây là một chỉ tiêu thường được các ngân hàng thương mại tính toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, giải quyết hợp lý giữa

ba lợi ích: Nhà nước, khách hàng và ngân hàng

Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng (thường là một năm) Hệ số này càng tăng phản ánh tình hình tổ chức quản lý vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao

Phân loại tài sản “Có”

Trong thực tế, việc xem xét phân loại tài sản “Có” thường được các ngân hàng thương mại rất chú ý quan tâm Tài sản “Có”của ngân hàng là kết

Trang 21

quả của việc sử dụng vốn của ngân hàng đó, những tài sản “Có” đem lại thu nhập, tức là tài sản thu được lãi, giúp cho ngân hàng tạo lợi nhuận

Về cơ cấu tài sản “Có” gồm một số loại tài sản sau: tiền mặt, tiền gửi ở ngân hàng khác, các chứng khoán, tiền cho vay, những tài sản khác

Mục đích của việc quản lý tài sản “Có” của ngân hàng là nhằm để làm cực đại lợi nhuận của mình, một ngân hàng phải tìm kiếm những lợi tức cao nhất có thể có của vốn cho vay và của chứng khoán Đồng thời giảm đến tối thiểu rủi ro và chuẩn bị đầy đủ cho trạng thái “lỏng” bằng cách nắm giữ các tài sản “lỏng”

Ngoài các chỉ tiêu trên, ngân hàng Nhà nước còn có thể thông qua các văn bản nghiệp vụ để quy định các chỉ tiêu có tính bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại như: thủ tục, hồ sơ cho vay, thời gian tối đa để ra quyết định đối với một khoản vay

Hoạt động khác của ngân hàng thương mại là huy động vốn, chất lượng của nguồn vốn có thể được đánh giá qua các chỉ tiêu: qui mô, cơ cấu của nguồn vốn, mức độ ổn định

Căn cứ vào các chỉ tiêu trên, hàng quý, năm các ngân hàng thương mại

có thể tự phân tích đánh giá để xác định hiệu quả hoạt động của mình Qua

đó, Ngân hàng trung ương cũng có cơ sở để chỉ đạo Ngân hàng thương mại nâng cao chất lượng hoạt động trong từng khâu, từng mặt nghiệp vụ hoặc có các biện pháp bắt buộc cụ thể đối với từng Ngân hàng thương mại

2.3.4.2 Đánh giá hiệu quả bằng phương pháp phân tích hiệu quả biên

Phân tích hiệu quả biên là phương pháp xác định chỉ số hiệu quả tương đối dựa trên việc so sánh khoảng cách của đơn vị với một đơn vị thực hiện hoạt động tốt nhất trên đường biên Ưu điểm của phương pháp này là cho phép so sánh và đánh giá được hiệu quả sử dụng nguồn lực của các ngân

Trang 22

hàng, đây cũng là hiệu quả tốt nhất mà một ngân hàng đang thực hiện khi so sánh với các ngân hàng khác

Phân tích hiệu quả biên được chia thành 2 nhóm: tiếp cận tham số và tiếp cận phi tham số Cách tiếp cận tham số yêu cần chỉ ra một dạng hàm cụ thể đối với đường biên hiệu quả Hạn chế của phương pháp này là chỉ định dạng hàm sai thì kết quả tính sẽ ảnh hưởng ngược đến các chỉ số hiệu quả, cách tiếp cận này đòi hỏi cần có kiến thức nhất định về toán học

Cách tiếp cận phi tham số không yêu cầu đưa ra một dạng hàm cụ thể, cũng như không đòi hỏi các ràng buộc về hình dáng của đường biên thực hiện tốt nhất Phương pháp thường được sử dụng trong cách tiếp cận này là phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA

2.4 Mô hình đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại

đề xuất các mô hình toán học có thể giải quyết hiệu quả các bài toán có liên quan đến tính toán hiệu quả, năng suất của các doanh nghiệp Tuy nhiên, vào thời điểm đó các phương pháp này vẫn chưa nhận được sự ủng hộ rộng rãi

Một cách đơn giản, hiệu quả (mang tính kỹ thuật) của việc sử dụng yếu tố đầu vào x để thu được yếu tố đầu ra y có thể được đo lường theo công thức:

TE = Đầu ra/ đầu vào = y/x (1)

Công thức (1) chỉ có thể được áp dụng trong trường hợp chỉ có 1 biến đầu vào (input) và 1 biến đầu ra (output), ví dụ như hiệu quả sử dụng vốn

Trang 23

(Doanh thu/Vốn) hay hiệu quả sử dụng lao động (Thu nhập/Lao động) Khi áp dụng cho một doanh nghiệp (hay gọi chung là DMU) có k yếu tố đầu vào và sản xuất ra m kết quả đầu ra, thì cần phải dựa trên giá cả pi và wj của các yếu

tố đầu vào/đầu ra đó để tính toán:

TE = Tổng đầu ra/ tổng đầu vào = (p1y1+…+pmym)/(w1x1+…+wkxk) (2)

Tuy nhiên, việc xác định giá cả của từng yếu tố đầu vào/đầu ra thường rất phức tạp, nhất là trong những lĩnh vực như tài chính ngân hàng, giáo dục đào tạo,… Trong trường hợp này, có thể giả thiết là mỗi DMU sẽ sử dụng những trọng số nhất định um và vk sao cho điểm hiệu quả TE của nó là cao nhất, nói cách khác, um và vk là những trọng số giúp cho DMU đó tiến gần đến đường giới hạn khả năng sản xuất PPF nhất Vì vậy, chúng còn được gọi

là “giá ẩn” (shadow prices) vì mặc dù chúng không phải là giá cả thực (true prices) nhưng lại đóng vai trò như giá cả trong việc tính toán hiệu quả kỹ thuật TE

Một cách tổng quát, với bài toán có n DMU, mỗi DMU sử dụng k yếu

tố đầu vào xk để tạo ra m yếu tố đầu ra ym, việc xác định hiệu quả TE0 của một DMU0 bất kỳ sẽ được tính toán như sau:

Maxu,v TE0 (3)

Trong điều kiện:

TE0 = (∑u0my0m )/ (∑v0kx0k) (Điểm hiệu quả của DMU0)

TEj = (∑ujmyjm )/ (∑vjkxjk) ≤ 1, j = 1, ,n (Điểm hiệu quả của tất cả các DMU không vượt quá 1, tức là không vượt quá khỏi đường PPF)

um, vk ≥ 0 (Các “giá ẩn” là không âm)

Charnes và đồng sự (1978) đã áp dụng phương pháp tối ưu hóa tuyến tính phi tham số (non-parametric linear optimization) vào việc giải quyết công thức (3), ứng với giả thiết hiệu quả không đổi theo quy mô (CRS) Sau đó, Banker và đồng sự (1984) đã phát triển bài toán này cho trường hợp hiệu quả

Trang 24

2.4.2 Các hướng tiếp cận đánh giá hiệu quả theo phương pháp bao

Farrell (1957) đưa ra ý tưởng sử dụng đường giới hạn khả năng sản xuất (production possibilities frontier – PPF) làm tiêu chí đánh giá hiệu quả (tương đối) giữa các công ty trong cùng một ngành; theo đó các công ty đạt đến mức giới hạn sẽ được coi là hiệu quả (hơn) và các công ty không đạt đến đường PPF sẽ bị coi là kém hiệu quả (so với các công ty kia)

Cụ thể, trong Hình 1, các DMU B, C và E có TEB = TEC = TEE = 1; còn DMU A và D có TEA = 0A/0A’ < 1 và TED = 0D/0D’ < 1

Trang 25

Hình 2.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất ứng với hai hàng hóa

H1 và H2

(Nguồn: Ngô Đăng Thành- Phân tích bao dữ liệu)

Đường PPF cho trường hợp sử dụng 2 yếu tố đầu vào (x1 và x2) để sản xuất ra 1 yếu tố đầu ra (y) có thể được biểu diễn như một đường đẳng lượng (isoquant) trong Hình 2.2 Theo đó, một DMU sản xuất tại vị trí Q được coi là hiệu quả (TEQ = 0Q/0Q = 1), trong khi nếu nó sản xuất tại vị trí P

là kém hiệu quả (TEP = 0Q/0P < 1) Chú ý là Hình 2.3 giả thiết là với đầu ra y xác định, SS’ là đường đẳng lượng thể hiện mức kết hợp tối thiểu của x1 và x2 và do đó, Hình 2.3 áp dụng mô hình tối thiểu hóa đầu vào (input-orientation hoặc input-minimization) Nếu giả thiết giữ nguyên đầu vào mà có thể đạt được mức sản lượng đầu ra cao nhất thì đường PPF sẽ có dạng tương

tự như trong Hình 2.2 và khi đó nó áp dụng mô hình tối đa hóa đầu ra orientation hoặc output-maximization)

Hình 2.3 Đường PPF trong trường hợp tối thiểu hóa đầu vào

(Nguồn: Ngô Đăng Thành- Phân tích bao dữ liệu)

Một điểm đáng chú ý khác trong Hình 2.3 là nếu kết hợp với đường

0 y/x2

Trang 26

Q Do đó, nếu DMU sản xuất tại Q thì nó có thể có hiệu quả kỹ thuật (TEQ=1) nhưng lại kém hiệu quả về phân bổ nguồn lực (Q nằm trên đường đẳng phí AA’), do đó QR thể hiện hiệu quả phân bổ đầu vào (allocative efficiency) Một cách ngắn gọn, ta có:

Hiệu quả kinh tế (tổng hợp) = Hiệu quả kỹ thuật x Hiệu quả phân bổ 0R/0P = 0Q/0P x 0R/0Q

Trong phương pháp phân tích giới hạn, một loại hình đồ thị thường gặp khác là đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa tổng đầu vào và tổng đầu ra (Hình 2.4)

Hình 2.4 Hiệu quả không đổi/thay đổi theo quy mô và đường bao giới

hạn PPF

(Nguồn: Ngô Đăng Thành- Phân tích bao dữ liệu)

Chú ý về sự khác biệt trong việc xác định đường PPF dưới các điều kiện về hiệu quả không đổi theo quy mô (CRS) hoặc hiệu quả thay đổi theo quy mô (VRS) Theo đó, đường CRS PPF là một đường thẳng nối liền gốc tọa

độ và DMU có hiệu quả (TE = y/x) cao nhất (TE = 1) Đường CRS PPF do đó không tính đến sự khác biệt về quy mô (scale) giữa các DMU mà chỉ đơn giản

so sánh các tỷ số hiệu quả (TEi = yi/xi) giữa việc sử dụng đầu vào xi để tạo ra

Trang 27

đầu ra yi Trong khi đó, đường VRS PPF lại tính toán cả đến yếu tố quy mô,

vì vậy VRS PPF có hình dạng như một đường bao (envelop) bao quanh các DMU kém hiệu quả khác (CRS PPF cũng là 1 dạng đường bao, nhưng “lỏng lẻo” hơn) Đây chính là nguồn gốc của cái tên phương pháp Phân tích bao dữ liệu

2.4.3 Cách chọn biến đầu vào và đầu ra trong phương pháp bao

dữ liệu DEA

Ngành ngân hàng không giống như các ngành sản xuất khác do đó có nhiều yếu tố đầu vào và đầu ra nên cần phải lựa chọn biến đầu vào và đầu ra cho hợp lý Có 2 cách tiếp cận liên quan đến việc lựa chọn đầu vào và đầu ra là: cách tiếp cận sản xuất và cách tiếp cận trung gian

Trong cách tiếp cận sản xuất: NHTM được xem là doanh nghiệp sử sụng vốn và lao động để tạo ra các sản phẩm tiền gửi và cho vay khác nhau

Còn cách tiếp cận trung gian: NHTM được xem là trung gian của dịch

vụ tài chính, nhận tiền gửi từ khách hàng và cho khách hàng khác vay Đầu vào bao gồm lao động, kỹ thuật, tiền gửi và đầu ra là tiền cho vay, các thu nhập khác từ hoạt động dịch vụ của ngân hàng

Cơ bản thì 2 cách tiếp cận trên là giống nhau Sự khác nhau giữa 2 cách tiếp cận là ở chỗ cách tếp cận trung gian sử dụng giá trị thay vì số lượng

và xem ngân hàng như là tổ chức trung gian Vì vậy cách tiếp cận trung gian thường phù hợp hơn với ngành dịch vụ, nhất là đối với các ngân hàng thương mại cổ phần

2.5 Phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA

2.5.1 Mô hình DEA với hiệu quả không đổi theo quy mô (DEA CRS )

Trong phần 2.4.1, công thức (1) tính hiệu quả trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng một đầu vào và một đầu ra Parrel cũng đã mở rộng công thức tính hiệu quả cho trường hợp doanh nghiệp sử dụng nhiều đầu ra và nhiều đầu

Trang 28

kết quả đầu ra, công thức xác định hiệu quả cho nhiều yếu tố đầu vào và đầu

ra là:

u y TE

Nếu phát triển lên cho n doanh nghiệp khác nhau trong cùng một lĩnh vực thì

có thể xác định được hiệu quả của doanh nghiệp thứ I (1≤i≤n) theo công thức:

i

k ki

u y TE

Charnes, Cooper và Rhodes (1978) đã phát triển mô hình của Farrel bằng cách xác định xảy ra trường hợp sản lượng không đổi theo quy mô CRS, với cách tiếp cận định hướng đầu vào Trong trường hợp này, doanh nghiệp thứ i0 nếu không đạt được hiệu quả tương đối hoàn toàn (TE=1) có thể tối đa hóa hiệu quả của nó bằng cách giải bài toán:

Max u,vTEi0

Với điều kiện: TEi≤1, 1≤i≤n

Max u,v(∑umymi0) (4.3)

Với điều kiện: ∑vkxki0=1

Trang 29

TEi≤1, 1≤i≤n

0≤um, vk≤1

Sử dụng tính chất đối ngẫu của bài toán quy hoạch tuyến tính, có thể chuyển bài toán (4.3) thành dạng bao dữ liệu tương đương Dạng bao dữ liệu này có ít ràng buộc hơn và có thể dễ dàng giải được

- θ là mức độ hiệu quả của từng doanh nghiệp

- λ gồm tập hợp (λ1, λ2, , λn) thể hiện mối quan hệ giữa các doanh nghiệp được khảo sát (chẳng hạn như nếu u và v là trọng số của các biến đầu

ra và đầu vào thì λ là “trọng số” giữa các DMU với nhau)

- yi, xi: lần lượt là đầu ra và đầu vào của doanh nghiệp thứ i

- Y gồm tập hợp (y1, y2,…., yn): tập hợp đầu ra của các doanh nghiệp

- X gồm tập hợp (x1, x2,…., xn): tập hợp đầu vào của các doanh nghiệp

Bài toán (4.4) được gọi là mô hình DEACRS với giả định các doanh nghiệp hoạt động ở quy mô tối ưu Bài toán (4.4) được giải n lần, mỗi lần với một doanh nghiệp Giá trị θ được xác định cho từng doanh nghiệp, thỏa điều kiện θ ≤ 1, với θ=1 là doanh nghiệp đạt hiệu quả hoàn toàn

Mục đích của mô hình DEACRS là xác định điểm hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp được khảo sát với giả định các doanh nghiệp hoạt động ở quy mô tối ưu, đồng thời xác định phi hiệu quả kỹ thuật có thể xảy ra Phi hiệu quả kỹ thuật là lượng mà tất cả các đầu vào có thể giảm xuống mà không giảm đầu ra Nguyên nhân gây ra phi hiệu quả kỹ thuật là do cơ cấu giữa đầu

Trang 30

Mô hình DEA CRS chỉ phù hợp với điều kiện các doanh nghiệp hoạt động ở quy mô tối ưu Thực tế không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng hoạt động ở quy mô tối ưu Khi đó, mô hình DEA CRS không còn phù hợp.

2.5.2 Mô hình DEA VRS và hiệu quả quy mô

Mô hình DEAVRS là mô hình mở rộng của mô hình DEACRS với giả định sản lượng thay đổi theo quy mô Mô hình DEAVRS được xây dựng bằng cách thêm điều kiện i = 1 vào mô hình (4.4) và có dạng:

1 chứng tỏ DMU đang hoạt động với quy mô không tối ưu và tồn tại phi hiệu quả quy mô Phi hiệu quả quy mô có thể tồn tại trong điều kiện sản lượng tăng (IRS) hoặc sản lượng giảm (DRS) theo quy mô

So sánh kết quả khi giải bài toán (4.4) và (5) chỉ xác định doanh nghiệp có tồn tại hiệu quả theo quy mô hay không nhưng không cho biết được

Trang 31

doanh nghiệp đang ở trong điều kiện sản lượng tăng theo quy mô hay sản lượng giảm theo quy mô Muốn biết điều này cần giải bài toán (5) với ràng buộc ∑i≤1:

đo lường năng lực quản lý

Hiệu quả quy mô cho biết sự chọn lựa quy mô sản xuất để đạt được mức sản xuất mong đợi Mô hình hình DEACRS xác định hiệu quả kỹ thuật toàn bộ trong khi đó mô hình DEAVRS cho biết hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô

Điều kiện DRS ngụ ý rằng quy mô của ngân hàng quá lớn và ngân hàng có thể cải thiện năng suất các yếu tố đầu vào và theo đó giảm các chi phí đơn vị bằng cách giảm quy mô Điều kiện IRS cho biết ngân hàng có thể cải thiện năng suất các yếu tố đầu vào để giảm các chi phí đơn vị bằng cách tăng quy mô

2.5.3 Chỉ số Malmquist và đo lường thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp

Bên cạnh việc tính toán hiệu quả kỹ thuật tại một thời điểm nhất định, việc tính toán hiệu quả theo thời gian cũng quan trọng không kém Sự so sánh các mức hiệu quả giữa các giai đoạn khác nhau giúp có cái nhìn rõ nét hơn về

sự thay đổi của hiệu quả theo thời gian, từ đó có thể đánh giá về những thay đổi trong các giai đoạn đó có tác động thế nào tới hiệu quả, cũng như có thể

Ngày đăng: 27/11/2020, 22:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w