TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢCCHU THỊ THU LAN ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH ĐỘ PHÂN GIẢI CAO VÀ VI KHUẨN HỌC CỦA BỆNH NHÂN GIÃN PHẾ QUẢN TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
CHU THỊ THU LAN
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH ĐỘ PHÂN GIẢI CAO VÀ VI KHUẨN HỌC CỦA BỆNH NHÂN GIÃN PHẾ QUẢN TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
CHU THỊ THU LAN
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH ĐỘ PHÂN GIẢI CAO VÀ VI KHUẨN HỌC CỦA BỆNH NHÂN GIÃN PHẾ QUẢN TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Nội khoa
Mã số: 60.72.01.40LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM KIM LIÊN
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi được tiến hànhnghiêm túc, khách quan do tôi trực tiếp tiến hành dưới sự hướng dẫn của thầyhướng dẫn Các số liệu thu thập cũng như kết quả nghiên cứu trong luận văn
là hoàn toàn trung thực, chính xác và chưa từng được công bố, đăng tải trênbất cứ tài liệu nào
Thái Nguyên, tháng 11 năm
2016
Tác giả luận văn
Chu Thị Thu Lan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự chỉ đạo, quan tâm giảngdạy của nhà trường, các phòng ban cùng các thầy cô Tôi xin chân thành cảm ơn:Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Bộ môn Nội - Trường Đạihọc Y Dược Thái Nguyên
Ban lãnh đạo Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, ban lãnh đạo khoaNội tiết - Hô hấp, khoa Khám bệnh yêu cầu, khoa Vi sinh, khoa Chẩn đoánhình ảnh Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đã luôn nhiệt tình giúp đỡ, tạomọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luậnvăn
Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin trân trọng cảm ơn
TS Phạm Kim Liên, cô đã luôn động viên dìu dắt, giành nhiều thời gian quý
báu, trực tiếp dạy bảo hướng dẫn giúp đỡ tôi từng bước trưởng thành trên conđường nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô trong hộiđồng khoa học đã dành thời gian đọc và đóng góp nhiều ý kiến quý báu đểluận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của tập thể các bác sĩ,điều dưỡng, hộ lý khoa Nội tiết - Hô hấp, khoa Chẩn đoán hình ảnh, khoa Visinh Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên trong quá trình tôi học tập và thựchành lâm sàng
Cuối cùng cho tôi gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, đồng nghiệp,những người bạn, đã luôn ở bên tôi, động viên chia sẻ, giành cho tôi nhữngđiều kiện tốt nhất giúp tôi yên tâm học tập và nghiên cứu
Thái Nguyên, tháng 11 năm
2016
Tác giả luận văn
Bs Chu Thị Thu Lan
Trang 6: Bệnh nhân: Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể): Cộng sự
: Computed Tomography (Cắt lớp vi tính): Chronic Obstructive Pulmonary Disease(bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính)
: Dịch rửa phế quản
: Giãn phế quản: High Resolution Computed Tomography
: World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Giải phẫu cây khí phế quản 4
1.2 Định nghĩa, phân loại GPQ 6
1.2.1 Định nghĩa 6
1.2.2 Phân loại GPQ 7
1.3 Dịch tễ học giãn phế quản 10
1.4 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của GPQ 11
1.4.1 Các nguyên nhân của GPQ 11
1.4.2 Cơ chế bệnh sinh của GPQ 13
1.5 Lâm sàng của GPQ 16
1.5.1 Triệu chứng cơ năng 16
1.5.2 Triệu chứng toàn thân 17
1.5.3 Triệu chứng thực thể 17
1.5.4 Tiến triển của giãn phế quản 18
1.6 Cận lâm sàng 18
1.6.1 Chụp Xquang phổi chuẩn 18
1.6.2 Chụp cắt lớp vi tính 19
1.6.3 Nội soi phế quản ống mềm 22
Trang 81.7 Đặc điểm vi khuẩn học và nhiễm khuẩn hô hấp trong GPQ 25
1.7.1 Nhiễm khuẩn hô hấp trong GPQ 25
1.7.2 Đường vào phổi của vi khuẩn 26
1.7.3 Đặc điểm vi khuẩn gây bệnh trong nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới 26
1.7.4 Các phương pháp lấy bệnh phẩm 27
1.8 Một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và thế giới 29
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 31
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 31
2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 32
2.3.1 Các chỉ tiêu mô tả đặc điểm chung bệnh nhân GPQ 32
2.3.2 Chỉ tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh tổn thương GPQ trên phim HRCT, vi khuẩn học 33
2.3.3 Chỉ tiêu mối liên quan giữa lâm sàng với hình ảnh HRCT của bệnh nhân GPQ 33
2.4 Phương pháp thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiên cứu 34
2.4.1 Lâm sàng 34
2.4.2 Hình ảnh tổn thương trên phim cắt lớp vi tính độ phân giải cao 36
2.4.3 Phương pháp lấy dịch rửa phế quản qua nội soi phế quản ống mềm 39
2.4.4 Xét nghiệm vi khuẩn 40
2.5 Xử lý kết quả nghiên cứu 43
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 43
Trang 92.7 Sơ đồ nghiên cứu 44
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
3.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 45
3.2 Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh tổn thương GPQ trên phim HRCT và vi khuẩn học của đối tượng nghiên cứu 46
3.3 Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng với hình ảnh GPQ trên phim chụp HRCT 52
Chương 4: BÀN LUÂṆ 58
4.1 Vềđăc ̣ điểm chung của đối tượng nghiên cứu 58
4.2 Triệu chứng lâm sàng 60
4.3 Hình ảnh tổn thương GPQ trên phim chụp HRCT 65
4.4 Vi khuẩn học qua dịch rửa PQ 67
4.5 Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng với hình ảnh tổn thương GPQ trên phim chụp HRCT 70
́r 74
KÊT LUÂṆ KHUYẾN NGHI ̣ 77
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Chỉ số BMI theo chiều cao và cân nặng 34
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 45
Bảng 3.2 Tỉ lệ hút thuốc của đối tượng nghiên cứu 46
Bảng 3.3 Tiền sử bệnh tật của đối tượng nghiên cứu 46
Bảng 3.4 Thời gian phát hiện bệnh (năm) 46
Bảng 3.5 Tiền sử đợt bùng phát/năm của đối tượng nghiên cứu 47
Bảng 3.6 Triệu chứng cơ năng của đối tượng nghiên cứu 47
Bảng 3.7 Triệu chứng toàn thân của đối tượng nghiên cứu 48
Bảng 3.8 Triệu chứng thực thể của đối tượng nghiên cứu 48
Bảng 3.9 Phân bố vị trí giãn phế quản theo thùy phổi trên phim chụp HRCT của đối tượng nghiên cứu 48 Bảng 3.10 Đặc điểm hình thái GPQ trên phim chụp HRCT của đối tượng nghiên cứu 49 Bảng 3.11 Các tổn thương phối hợp GPQ trên phim chụp HRCT của đối tượng nghiên cứu 49 Bảng 3.12 Đặc điểm dịch rửa phế quản 49
Bảng 3.13 Kết quả định danh vi khuẩn ở dịch rửa phế quản (n=12) 50
Bảng 3.14 Kết quả kháng sinh đồ của vi khuẩn P aeruginosa (n=4) 51
Bảng 3.15 Kết quả kháng sinh đồ của vi khuẩn P fluorescens (n=2) 51
Bảng 3.16 Liên quan giữa đặc điểm ho máu với vị trí GPQ 52
Bảng 3.17 Liên quan giữa đặc điểm ho đờm với số lượng thùy GPQ 52
Bảng 3.18 Liên quan giữa đặc điểm khó thở với số lượng thùy GPQ 53
Bảng 3.19 Liên quan giữa đặc điểm đau ngực với số lượng thùy GPQ 54
Bảng 3.20 Liên quan giữa đặc điểm ho máu với hình thái GPQ 54
Bảng 3.21 Liên quan giữa đặc điểm ho đờm với hình thái GPQ 55
Bảng 3.22 Liên quan giữa đặc điểm khó thở với hình thái GPQ 55
Bảng 3.23 Liên quan giữa đặc điểm đau ngực với hình thái GPQ 56
Bảng 3.24 Liên quan giữa số đợt bùng phát/năm với hình thái GPQ 56
Trang 12DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH
Sơ đồ 1.1: Hệ thống bảo vệ đường hô hấp bình thường của Cole P J (1984).14
Sơ đồ 1.2: Vòng xoắn bệnh lý của Cole PJ (1995) 16
Biều đồ 3.1: Phân bố giới tính (n = 55) 45
Biểu đồ 3.2: Màu sắc đờm của đối tượng nghiên cứu 48
Biểu đồ 3.3: Kết quả nuôi cấy dịch rửa phế quản 50
Hình 1.1 Giải phẫu phổi (pubmed.com) 6
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí các lớp cắt (Wegener O.H và Cs 1997) 37
Hình 2.2 Các phân thùy phổi tương ứng (Wegener O.H và Cs 1997) 38
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Giãn phế quản (GPQ) là tình trạng tăng khẩu kính một cách bất thường,vĩnh viễn và không hồi phục một phần cây phế quản, có thể giãn ở phế quản(PQ) lớn trong khi PQ nhỏ vẫn bình thường hoặc giãn ở PQ nhỏ trong khi PQlớn bình thường [2], [3] Bệnh cảnh lâm sàng của giãn phế quản được Laennec
mô tả đầu tiên năm 1819 với đặc điểm lâm sàng: ho, khạc nhiều đờm, khạc ramáu tươi Tình trạng ứ đọng chất tiết tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn và chínhyếu tố nhiễm khuẩn càng làm cho bệnh GPQ ngày càng trầm trọng hơn [53]
Có nhiều nguyên nhân gây bệnh giãn phế quản Thường gặp là do nhiễmtrùng tiên phát ở phổi, nhiễm virus bội nhiễm, lao, một số bệnh từ hồi nhỏ (ho
gà, bạch hầu, sởi), mà hậu quả là giãn phế quản Giãn phế quản có thể thứphát do tắc nghẽn phế quản (do u, dị vật, chít hẹp) Ngoài ra, bệnh giãn phếquản có thể do nguyên nhân tiên phát hoặc không rõ nguyên nhân
Khi chưa có kháng sinh GPQ là một bệnh thường gặp và có tỷ lệ tàn phế,
tử vong cao [68] Ngày nay, tần xuất GPQ giảm xuống nhờ có kháng sinhđiều trị các bệnh nhiễm trùng hô hấp, đặc biệt là chương trình tiêm chủng và
sử dụng vacxin phòng cúm, phế cầu cùng với việc nâng cao sức khỏe, nângcao khả năng miễn dịch [58] Tại Hoa Kỳ, số bệnh nhân GPQ điều trị tại bệnhviện Massachusset đã giảm từ 45 ca/1000 dân năm 1974 xuống còn 9 ca/1000dân năm 1984 [29] Các nước kém phát triển trong đó có vùng Tây - NamThái Bình Dương và Đông Nam Á, GPQ còn là nguyên nhân nhập viện, tànphế và tử vong không giảm, tỷ lệ mắc bệnh hàng năm còn cao [68] Việt Namchưa có thống kê chính thức, tuy nhiên tần xuất GPQ nhập viện tại khoa Hôhấp Bệnh viện Bạch Mai chiếm 6,0% các bệnh phổi, nam gặp nhiều hơn nữ[22] Tại viện Lao và Bệnh phổi Trung ương, tần xuất GPQ chiếm 13,6% số
Trang 14bệnh nhân nhập viện điều trị nội khoa Hô hấp từ (1981 - 1987) [17] và tỷ lệGPQ điều trị bằng phẫu thuật trong thập kỷ 80 là 10,2% [7].
Trong nhiều thập kỉ trước đây chụp phế quản cản quang đóng vai tròquyết định trong việc chẩn đoán xác định và phân loại mức độ giãn phế quản,song ngày nay sự phát triển của công nghệ chụp cắt lớp vi tính, đặc biệt cắtlớp vi tính có độ phân giải cao lớp mỏng 1mm tạo điều kiện cho việc chẩnđoán giãn phế quản trở nên dễ dàng hơn rất nhiều, kỹ thuật này quan sát đượchình ảnh đặc hiệu của GPQ Đây cũng là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnhgiãn phế quản
Điểm đặc trưng của bệnh GPQ là vi khuẩn thường xuyên “cư trú” tronglòng các PQ bị giãn và gây ra những đợt bùng phát, tái phát nhiều lần Do vậyviệc xác định vi khuẩn học cho các bệnh nhân này là rất cần thiết, nhằm giúpcho thầy thuốc lâm sàng lựa chọn và phối hợp kháng sinh có hiệu quả Bệnhphẩm nuôi cấy có thể phân lập từ đờm (thường bị lẫn nhiều tạp khuẩn trongmiệng, họng), đặc biệt là phân lập vi khuẩn từ dịch rửa PQ có giá trị cao Soiphế quản ống mền còn giúp các nhà lâm sàng quan sát được hình ảnh tổnthương và hút dẫn lưu đờm, mủ trong lòng phế quản
Để góp phần hiểu rõ đặc điểm lâm sàng, hình ảnh tổn thương trên phimchụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao (HRCT), vi khuẩn học cũng như tìm hiểumối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng với hình ảnh GPQ trên phim chụp
HRCT chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh
chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao và vi khuẩn học qua dịch rửa phế quản của bệnh nhân giãn phế quản tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên” với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh tổn thương trên phim cắt lớp vi tính độ phân giải cao, vi khuẩn học qua nội soi phế quản của bệnh nhân giãn phế quản.
Trang 152 Xác định mối liên quan giữa lâm sàng với hình ảnh chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao của bệnh nhân giãn phế quản.
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giải phẫu cây khí phế quản
Đường thở gồm khí quản, phế quản, tiểu phế quản và phế nang Từ khíquản chia đôi thành 2 nhánh phế quản trái và phải, các nhánh PQ chia đôithuôn nhỏ dần Trung bình có 16 thế hệ PQ, trước khi đến tiểu PQ tận hô hấp,
số thế hệ của PQ thay đổi từ 8 đến 23 tuỳ theo vùng phổi Các PQ tận đi vàocác phế nang Thành của khí quản và phế quản được nâng đỡ bởi vòng sụntrước và 2 bên hình chữ C, và một giải cơ trơn xếp nằm ngang ở phía sau, bêntrong có một lớp niêm mạc với nhung mao
Khí quản: dài từ 10- 12cm, rộng 18 - 20mm có khoản 20 vòng sụn Mặtsau của khí quản là tổ chức màng không có sụn, các cơ và sợi đàn hồi Chỗphân chia ra 2 phế quản gốc, tương ứng với đốt sống ngực thứ tư, tạo lên một
gờ sắc cạnh gọi là carina và tạo thành với nhau 1 góc 700 PQ gốc phải ngắnhơn, to hơn, chếch hơn so với trái, nên dị vật hay rơi vào phổi phải PQ gốcnằm ngoài phổi, PQ thùy nằm trong phổi
+ PQ gốc phải chia thành 3 PQ: thùy trên, thùy giữa, thùy dưới
PQ thùy trên dài độ 1cm tách vuông góc với PQ gốc phải và chia thành 3
PQ phân thùy: PQ phân thùy đỉnh (1), PQ phân thùy sau (2), PQ phân thùytrước (3)
PQ thùy giữa tách ra từ PQ gốc phải dưới chỗ tách của PQ thùy trênkhoảng 2cm và chia thành 2 PQ phân thùy: phân thùy sau ngoài (4) và PQphân thùy trước trong (5)
PQ thùy dưới phải bắt đầu ngay dưới chỗ tách PQ thùy giữa và tận hếtkhi nó tách PQ phân thùy trên của thùy dưới, chia thành 5 PQ phân thùy: PQphân thùy trên (6), PQ phân thùy đáy giữa hay còn gọi đáy trong (7), PQ phân
Trang 17thùy đáy trước (8), PQ phân thùy đáy bên hay đáy ngoài (9) và PQ phân thùyđáy sau (10).
+ PQ gốc trái dài khoảng 5cm chia thành 2 PQ thùy trên và dưới
PQ thùy trên trái dài khoảng 1,5 - 2cm chia thành 5 PQ phân thùy: PQphân thùy đỉnh (1), PQ phân thùy sau (2), PQ phân thùy trước (3), PQ phânthùy lưỡi trên (4), PQ phân thùy lưỡi dưới (5)
PQ thùy dưới trái chia thành 5 PQ phân thùy và cũng mang tên như 5 PQphân thùy của PQ thùy dưới phải (phổi trái không có phân thùy 7 [11]
Trang 18Hình 1.1 Giải phẫu phổi (pubmed.com)
1.2 Định nghĩa, phân loại GPQ
Trang 19Theo Cole PJ và Cs (1995) định nghĩa GPQ là hình ảnh giải phẫu củabệnh PQ giãn bất thường, không hồi phục khẩu kính của PQ Chẩn đoán cuốicùng hoàn toàn dựa trên hình ảnh đại thể, do đó không thể áp dụng cho lâmsàng và Xquang phổi chuẩn, vì chỉ có GPQ lớn mới có thể nhìn thấy trênphim Xquang [36] Theo Weinberger S.E (1998) cho rằng GPQ là giãn bấtthường và cố định của khẩu kính PQ, có thể khu trú hoặc lan toả Mặc dù địnhnghĩa này dựa trên thay đổi bệnh học của PQ, chẩn đoán thường được gợi ýbởi hậu quả của nhiễm trùng mạn tính hay tái phát ở những PQ giãn và kếthợp với tiết dịch vào trong lòng những PQ đó [78].
Theo Bùi Xuân Tám (1999): GPQ là giãn thường xuyên không hồi phục
từ một PQ trở lên của các PQ trung bình từ thế hệ cấp 3 đến thế hệ cấp 8 dokết cấu cơ, sợi chun giãn và sụn của thành PQ bị tổn thương Có thể giãn ở
PQ lớn trong khi PQ nhỏ vẫn bình thường hoặc giãn PQ nhỏ trong khi PQ lớnbình thường [20] Theo Nguyễn Văn Thành, Chu Văn Ý, Ngô Quý Châu(2004) GPQ là giãn liên tục, vĩnh viễn không hồi phục của một hoặc nhiều PQ
có đường kính trên 2mm do sự phá huỷ tổ chức chống đỡ như: lớp cơ chun,lớp sụn của thành PQ [22]
1.2.2 Phân loại GPQ
Do tính chất tổn thương trong bệnh GPQ như vậy nên có nhiều cáchphân loại khác nhau, tuỳ theo từng tác giả
* Dựa vào lâm sàng và giải phẫu bệnh lý, Beers M.H (2006) [29] chia ra:
+ GPQ lan toả: GPQ nhiều thuỳ ở cả hai bên phổi Bệnh xảy ra từ lúc trẻ,thường do khuyết tật bẩm sinh hay mắc phải của cơ chế bảo vệ đường thở nhưbệnh xơ hoá kén, bất động nhung mao, thiếu hụt globulin miễn dịch Thể này nặng,nhanh bị suy hô hấp và không phẫu thuật được
+ GPQ cục bộ hay khu trú: Tổn thương chỉ ở 1-2 phân thuỳ ở một bênphổi Thể này có thể phẫu thuật được
Trang 20+ GPQ thể ướt: Ho khạc đờm nhầy mủ số lượng nhiều, thường gặp GPQ thuỳ dưới.
+ GPQ thể khô: Bệnh nhân không khạc đờm mà chỉ ho ra máu đơn thuần, nhiều lần và kéo dài Thường gặp ở GPQ thuỳ trên
+ GPQ giả: là GPQ có hồi phục sau thời gian 6 tháng
* Dựa vào chụp PQ cản quang và mô bệnh học Charles K III và Cs (1996) [39] chia ra:
+ GPQ hình trụ, hình ống: Đường viền ngoài các PQ đều đặn và đườngkính của các PQ xa không tăng lên nhiều, lòng của chúng thường có xu hướng kếtthúc đột ngột và không nhỏ lại Các PQ nhỏ hơn và tiểu PQ bị lấp đầy mủ đặc Sốlần phân chia từ tế bào PQ gốc tới ngoại vi giảm đi một chút (còn 16 lần so vớibình thường 17-20 lần)
+ GPQ hình búi, hình tràng hạt: Nhóm này số lần phân chia PQ giảmnhiều hơn nhóm hình trụ, có những nơi co hẹp tại chỗ làm cho đường viền ngoài
PQ không đều giống như hình tràng hạt hay các tĩnh mạch bị giãn Các PQ ngoại
vi cũng bị tắc nhiều hơn, số lần phân chia trung bình thấy được qua chụp PQ là 4,đại thể là 5, 6 và vi thể là 8 lần so với bình thường 17- 20 lần
+ GPQ hình túi, hình kén: Các PQ tăng dần đường kính về phần ngoại vigiống hình quả bóng Số lần phân chia PQ tối đa là 5 Ở một số trường hợp hiếm,một GPQ hình túi tại chỗ có thể bị lấp đầy mủ đặc, dẫn đến hình thành một nangnhầy Tổn thương thường ở PQ thế hệ 4 hoặc xa hơn
+ Có thể gặp GPQ phối hợp cả 2 hoặc 3 loại trên cùng tồn tại trên 1 bệnhnhân
* Phân loại theo nguyên nhân [19], [22], [30].
+ GPQ do tắc PQ
Trang 21- Tắc PQ do dị vật: khi dị vật vào PQ làm tắc PQ dẫn PQ dưới chỗ tắc
bị giãn do quá trình viêm nhiễm gây huy hoại thành PQ, thường xuyên xuất hiện từ
6 - 8 tuần lễ sau khi có dị vật, có khi nhanh hơn
- Tắc PQ trong lòng PQ: phần dưới chỗ tắc bị giãn do quá trình viêmnhiễm gây hủy hoại thành PQ, tiến triển nhanh hay chậm tùy theo tiến triển củakhối u và mức độ bội nhiễm
- Tắc PQ do sẹo cũ của chấn thương, viêm nhiễm
+ GPQ do viêm, hoại tử thành PQ
- GPQ do lao: xảy ra khi lao đang tiến triển hoặc do sẹo cũ của lao,thường gặp trong lao xơ phổ, hay gặp GPQ ở sàn hang lao Người ta cũng thấy GPQ xảy ra rất sớm ở bệnh nhân lao sơ nhiễm tiến triển
- GPQ sau viêm không đặc hiệu: như viêm phổi do vi khuẩn, virus, do sặc dịch dạ dày, hoặc hít phải dịch máu xuống phổi
+ GPQ và các bệnh phổi khác
- Kén hơi phổi bội nhiễm
- Nhiễm khuẩn phổi sau mổ
+ GPQ tiên phát [19]
- Hội chứng Kartagener (mô tả ở Đức năm 1933): Đảo ngược phủ tạng(tim bên phải), viêm xoang và GPQ lan toả, do rối loạn vận động của lông chuyển
ở khí - PQ, bệnh có tính chất gia đình di truyền kiểu lặn trong nhiễm sắc thể [56]
- Hội chứng Mounier- Kuhn: GPQ kết hợp với giãn khí quản và viêmxoang sàng, xoang má, thường có viêm mũi mủ, polyp mũi Bệnh do khuyếttật cấu trúc tổ chức liên kết của thành PQ [80]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 22- Hội chứng Williams- Campbell là GPQ từ cấp 3 đến cấp 8, thường gặp
ở trẻ nhỏ do khuyết tật hoặc không có sụn PQ, gây GPQ Soi PQ thấy PQ phồng to lên ở thì hít vào và xẹp xuống ở thì thở ra [51]
1.3 Dịch tễ học giãn phế quản
Tần suất mắc bệnh và sự phân bố theo tuổi của GPQ cho đến nay vẫn còn
ít biết đến vì thường có sự nhầm lẫn giữa GPQ với viêm PQ mạn tính Theothống kê của Trung tâm nghiên cứu và phát triển quốc gia về phúc lợi và y tếPhần Lan thống kê theo bệnh nhân vào viện trong vòng 10 năm để đánh giátần suất mắc bệnh cho thấy trong nững năm 1983 - 1992 có 1928 bệnh nhânGPQ mới phát hiện và 5710 bệnh nhân nhập viện thì tại bệnh viện là 4,9BN/triệu người dân/năm ở độ tuổi từ 0 - 14, còn lại ở độ tuổi ≥ 65 là 103,8
BN trong tổng số dân cư là 38,9 BN Như vậy, tần suất mắc bệnh GPQ ở PhầnLan là rất thấp, nhất là trẻ em [69]
Cũng theo Trung tâm nghiên cứu quốc gia Phần Lan, tỉ lệ bệnh GPQ mớimắc hàng năm ở các nước phát triển có xu hướng giảm, tổng số bệnh nhânGPQ nhập viện trong 20 năm (từ 1972 - 1992) là 12,539 BN, riêng năm 1986
là 494 BN, năm 1987 là 518 BN, trung bình có 87 - 143 bệnh nhân GPQ/triệudân Tỉ lệ nhập viện, độ lưu hành mới và số ngày nằm viện bình quân đềugiảm 1,3%, 4,2% và 5,7% tương ứng Như vậy, số lưu hành mới chỉ là 50bệnh nhân/1 triệu người vào năm 1992 và 27 bệnh nhân/1 triệu người vàonăm 1997 Nguyên nhân của tỉ lệ mắc bệnh giảm đi là do tăng hiệu quả củađiều trị nhiễm trùng đường hô hấp và giảm tỉ lệ mắc lao phổi [69]
Ở Việt Nam, chưa có thống kê chính thức trên toàn quốc về GPQ, nhưngtrong thập niên 1990 con số này có giảm đi do sử dụng kháng sinh mới, phổ
rộng và chương trình chống lao quốc gia, chương trình tiêm chủng mở rộng,chống suy dinh dưỡng, chống nhiễm khuẩn hô hấp, vận động bỏ thuốc lá vàthuốc lào đã đạt được thành tích một cách đáng kể Thống kê tại Viện Lao -
Trang 23Bệnh phổi Trung ương trong 6 năm (1988 - 1994) có 3.484 trường hợp cấpcứu hô hấp, trong đó 81% do lao phổi, 8% do GPQ và chỉ có 3% do ung thư
PQ [15] Vị trí tổn thương GPQ, các tác giả cho rằng: GPQ lan tỏa 2 phổi gặp50% bệnh nhân, đại đa số phân thùy đáy của thùy dưới, chỉ có 10% ở thùygiữa và phân thùy lưỡi Tỷ lệ gặp GPQ ở bệnh nhân đảo ngược phủ tạng là 1,2
- 2,5% [15] Ở Khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai, trong 5 năm 1999 - 2003
có tổng số 264 bệnh nhân GPQ vào điều trị, số bệnh nhân vào viện điều trịtăng dần theo từng năm: năm 1999 có 11 bệnh nhân, năm 2000: 17 bệnh nhân,năm 2001: 46 bệnh nhân, năm 2002: 88 bệnh nhân và năm 2003: 103 bệnhnhân [4], thực trạng này được cho rằng, trong những năm gần đây, nhờ sựquan tâm về bệnh GPQ và sự hỗ trợ của chụp HRCT nên số lượng bệnh nhânGPQ được chẩn đoán ngày càng nhiều hơn
1.4 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của GPQ
1.4.1 Các nguyên nhân của GPQ
Trong tổng quan nói về nguyên nhân của GPQ, Cole PJ (1995), Pasteur(2000) đã nêu một số nguyên nhân hay gặp trên lâm sàng là [36], [64]
- Nhiễm khuẩn: GPQ sau sởi, ho gà, cúm, nhiễm khuẩn phổi PQ sauviêm xoang ở trẻ em, nhiễm khuẩn phổi tái diễn ở người lớn Các thể GPQ lan toảthường là hậu quả của viêm phế quản - phổi cấp tính nặng lúc còn nhỏ, nhất là dovirút hợp bào hô hấp, virút hạch; vi khuẩn như tụ cầu vàng,
Klebsiella pneumonia; nấm Mycoplasma pneumonia; GPQ cũng gặp trong bệnh do nấm Aspergillus PQ - phổi dị ứng (ABPA) [22], [36]
- Lao phổi: Weinberger SE (1998) nhấn mạnh GPQ sau lao hậu tiên phát
có thể do vi khuẩn lao gây tổn thương trực tiếp thành PQ hoặc gián tiếp do hạchlao chèn ép làm tắc nghẽn, hoặc do tổn thương xơ co kéo [78]
- GPQ trong áp xe phổi mạn, viêm mủ màng phổi mạn
Trang 24- GPQ phát triển sau hít phải hơi độc đã được chứng minh như: amoniac heroin; hơi độc làm tổn thương thành PQ và sau đó dễ nhiễm khuẩn.
- GPQ ở BN suy giảm miễn dịch bẩm sinh: giảm gamma - globulin máu,giảm chọn lọc IgA, IgM, IgG [45] GPQ ở BN suy giảm miễn dịch thứ phát:dùng thuốc gây độc tế bào, nhiễm HIV/AIDS, bệnh ở tủy xương, bệnh bạchcầu mạn tính [47], [57]
- Thiếu hụt Alpha1-antitrypsin (AAT): là một bệnh lý hiếm gặp, cơ chếchưa rõ nhưng người ta đã chứng minh được các bất thường AAT làm cho ngườibệnh dễ bị nhiễm khuẩn đường hô hấp và hậu quả là GPQ [63]
- Tắc nghẽn PQ cơ học: cũng là nguyên nhân hay gặp, bản thân tắcnghẽn không gây GPQ nhưng do kéo theo nhiễm khuẩn, khí cạm dưới chỗ bít tắcPQ; các nguyên nhân chính là dị vật, u trong lòng PQ, PQ bị chèn ép do hạchngoại vi, hạch lympho to do di căn ung thư hoặc do viêm nhiễm
- GPQ bẩm sinh rất ít gặp, một số hội chứng hay được nêu trong y văn như:+ Hội chứng Kartagener (mô tả ở Đức năm 1933): Đảo ngược phủ tạng
(tim bên phải), viêm xoang và GPQ lan toả, do rối loạn vận động của lôngchuyển ở khí - PQ, bệnh có tính chất gia đình di truyền kiểu lặn trong nhiễmsắc thể [56]
+ Hội chứng Mounier- Kuhn: GPQ kết hợp với giãn khí quản và viêmxoang sàng, xoang má, thường có viêm mũi mủ, polyp mũi Bệnh do khuyết tậtcấu trúc tổ chức liên kết của thành PQ [80]
+ Hội chứng Williams- Campbell là GPQ thường gặp ở trẻ nhỏ dokhuyết tật hoặc không có sụn PQ, gây GPQ Soi PQ thấy PQ phồng to lên ở thì hítvào và xẹp xuống ở thì thở ra [51]
Trang 25Người ta cho rằng GPQ bẩm sinh là do viêm nhiễm vách PQ từ khi còn
là bào thai do loạn sản bẩm sinh, gây tổn thương lan toả, thường kết hợp rốiloạn thông khí tắc nghẽn, dễ gây tử vong do nhiễm khuẩn phổi lan toả
- Bệnh xơ hoá kén (Cystic fibrosis hay Mucoviscidosis): Đây là thể bệnh
có GPQ thường gặp nhất ở Châu Âu và Bắc Mỹ (chiếm 50% trường hợp GPQ)nhưng hiếm gặp ở Việt Nam Bệnh được đặc trưng bởi nhiễm khuẩn hô hấp, tắcnghẽn đường thở mạn tính và có suy giảm chức năng ngoại tiết của tuyến tụy, do
đó gây giảm hấp thu, suy dinh dưỡng và làm chậm phát triển Bệnh gặp nhiều ởngười da trắng do đột biến gen đơn mã hoá protein màng do
vậy gây bệnh xơ hoá kén [40], [46], [68]
- Không rõ nguyên nhân: khoảng 60% bệnh nhân GPQ không rõ nguyênnhân, nhóm BN này hay có các bệnh hệ thống có thể dẫn đến sự hình thành GPQnhư: viêm khớp dạng thấp (biểu hiện lâm sàng GPQ 1- 3% và qua HRCT có thểphát hiện đến 30% bệnh nhân GPQ [37], [58]), các tổn thương viêm đường tiêuhoá (viêm loét đại tràng mạn tính), vô sinh, bệnh tổ chức kẽ
[32], [55]
1.4.2 Cơ chế bệnh sinh của GPQ
Ở người bình thường, chính hệ thống thanh lọc nhầy nhung mao lót bềmặt khí phế quản có các chức năng loại bỏ các vi khuẩn xâm nhập, bảo vệ bộ máy
hô hấp khỏi bị nhiễm khuẩn Khi hệ thống thanh lọc nhầy này bị tổn thương, hoặc
bị khuyết tật dẫn đến tình trạng dễ nhiễm khuẩn là yếu tố dẫn đến GPQ
Các nghiên cứu thực nghiệm GPQ cho thấy: tắc nghẽn và nhiễm trùngsau chỗ tắc nghẽn là 2 yếu tố có trước cho sự hình thành GPQ Thành PQ bịtổn thương do ảnh hưởng trực tiếp của vi khuẩn và do viêm mãn tính, 2 quá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 26trình này tạo thành vòng xoắn bệnh lý luẩn quẩn (vicious-circle hypothesis).Vòng xoắn bệnh lý này đưa đến tổn thương hệ thống thanh lọc nhầy nhungmao, dẫn đến tổn thương thành PQ không hồi phục, gây suy yếu và hậu quảcuối cùng là GPQ [34], [35].
Sơ đồ 1.1: Hệ thống bảo vệ đường hô hấp bình thường của Cole P J (1984) [35]
Các tác giả Hồng Kông đã nghiên cứu các Cytokin tiền viêm trong đờm
và huyết thanh của bệnh nhân bị GPQ lan toả đã nhận thấy: Cytokin 8, 1 và TNF- có vai trò trong đáp ứng viêm mạn tính ở GPQ Đặc biệt IL-8được coi là yếu tố đáp ứng điều trị trong các đợt bùng phát của bệnh nhânGPQ [48], [67], [70], [74]
IL-Ngoài ra, người ta còn thấy rằng:
Nội độc tố của vi khuẩn và các men tiêu đạm, các men này được giảiphóng từ các tế bào viêm của phổi hoặc đang được lưu hành, phức hợp khángnguyên - kháng thể đều có thể làm chất trung gian gây tổn thương phá huỷ
Trang 28Người ta cũng tìm thấy trong dịch rửa phế nang có nhiều men tiêu sợi
đàn hồi của Neutrophil hoạt hoá, cathepsin G và các men chuyển hoá đạm
gian bào của Neutrophil MMP8 Các chất nói trên gia tăng cùng với mức độ
nặng hoặc vừa của GPQ
Giả thuyết cho rằng: có sự tương tác giữa các Chemokin và Cytokines ở
tế bào phế quản dẫn đến hoá ứng động và làm hoạt hoá một số tế bào viêm rồi
điều biến viêm, là yếu tố chính của bệnh [29]
Vi khuẩn cư trú lại lâu ở hệ thống
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 30Sơ đồ 1.2: Vòng xoắn bệnh lý của Cole PJ (1995) [36]
1.5 Lâm sàng của GPQ
1.5.1 Triệu chứng cơ năng
- Ho dai dẳng, khạc đờm mủ hàng ngày: đây là triệu chứng rất quantrọng Theo Ellis và cộng sự (1981) theo dõi số lượng đờm hàng ngày có thể đánhgiá được mức độ nặng của GPQ: nhẹ < 10ml; vừa 10- 150ml; nặng > 150ml Khạcđờm thường tăng lên khi có bội nhiễm PQ Một số trường hợp ho khan hoặc không
ho (GPQ thể khô) Một số khác có dấu hiệu của viêm đa xoang gây ra hội chứngxoang- phế quản Lê Nhật Huy (2010) ho khạc đờm là 82,7%; Nguyễn Thị ThuTrang (2013) là 54,6% [12], [27]
- Đờm có 3 lớp: lớp trên là bọt, lớp dưới là mủ đặc, lớp đáy là nhầy Đờm có thể có mùi thối [22]
- Ho ra máu: trong GPQ thể khô, ho khạc ra máu mà không khạc đờm.Trẻ em ít gặp ho ra máu Ho ra máu tái phát nhiều lần, có thể kéo dài nhiều năm.Nguyên nhân do vỡ động mạch phế quản, nơi tiếp nối với động mạch phổi bị phìnhgiãn hoặc do hoại tử nặng thành phế quản Mức độ ho ra máu có thể ít hoặc nhiều:nhẹ <50ml/ngày; trung bình 50 - 200ml/ngày; nhiều
>200ml/ngày Ho ra máu có thể là triệu chứng duy nhất của bệnh [88].Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Trang (2013) ho máu là 34,2%; Chu KhánhHòa (2015) ho máu là 21% [9], [27]
- Khó thở: là triệu chứng muộn, thường gặp trong GPQ lan toả có pháhuỷ rộng và xơ hoá hoặc GPQ xảy ra ở người cao tuổi có kèm bệnh phổi tắc nghẽnmạn tính, GPQ có giãn phế nang kèm theo Lý Tuấn Hồng (2008) khó thở là 48%;Phạm Văn Thi (2014) là 46,1% [10], [26]
Trang 31- Đau ngực: có thể là dấu hiệu sớm của nhiễm khuẩn phế quản ở vùngGPQ hoặc do dày dính màng phổi Nghiên cứu của Nguyễn Cao Minh Nên
+ Đau do viêm màng phổi 46%
1.5.2 Triệu chứng toàn thân
- Sút cân, thiếu máu, mệt
- Suy hô hấp chỉ xảy ra ở những bệnh nhân có tổn thương GPQ lan toả rộng 2 bên phổi
- Ngón tay dùi trống (gặp 1/3 số trường hợp)
- Các triệu chứng kèm theo: GPQ thường kèm theo các bệnh đường hô hấptrên như viêm mũi xuất tiết, viêm mũi sau (75%), viêm xoang mủ (gặp 30 - 40%)[86] Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Trang (2013) gặp tỉ lệ viêm mũi họng là 23%, viêm xoang 22,1% [27]
- Một vài triệu chứng ít gặp là: viêm mạch có ban xuất huyết ở ngoài da, dấu hiệu móng tay vỏ hến
Trang 32ho.Theo nghiên cứu của Lý Tuấn Hồng (2008) ran ẩm là 50%, Nguyễn Cao Minh Nên (2013) gặp ram ẩm 38,3% [10], [16].
+ Ran rít, ran ngáy không phổ biến, chỉ xuất hiện trong đợt bùng phátcủa GPQ lan toả hoặc GPQ trên bệnh nhân có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
hay BN hen phế quản Nghiên cứu của Lê Nhật Huy (2010) gặp tỉ lệ ran rít, ran ngáy là 30,8% [12]
+ Ran nổ một thì ở bệnh nhân GPQ chiếm ưu thế ở giữa thì hít vào,nhưng 1/3 cuối thì hít vào thường không nghe thấy Theo Phạm Văn Thi
(2014) ran nổ là 42,3% [26]
Khi có ran ẩm, ran nổ khu trú thường xuyên ở đáy phổi trong khi
Xquang phổi lại bình thường thì phải nghĩ đến GPQ
Theo O’regan AV, Berman JS và Cs (2004) thống kê các tỉ lệ như sau [62]
+ Ran nổ: gặp 70% bệnh nhân
+ Ran rít, ngáy: 34%
1.5.4 Tiến triển của giãn phế quản
Các ổ giãn phế quản có thể không phát triển gì thêm trong một thời giandài, nhưng nhiều khi có thể lan rộng ra sau nhiều đợt bội nhiễm
Trong các trường hợp giãn phế quản lan rộng và lan tràn thì sớm hay muộn cũng sẽ phát triển tình trạng xơ phổi,nhiễm khuẩn mủ phế quản-phổi,suy hô hấp, suy tim và bệnh nhân có thể tử vong sau vài năm
1.6 Cận lâm sàng
1.6.1 Chụp Xquang phổi chuẩn
Chụp phổi: (chụp thẳng, chụp nghiêng): khoảng 7 - 30% bệnh nhân GPQ
có hình ảnh Xquang phổi bình thường [60] Số còn lại có thể thấy một số hình
Trang 33ảnh tổn thương trên phim Kết hợp lâm sàng và Xquang phổi chuẩn có thể định hướng chẩn đoán và chẩn đoán thể bệnh của GPQ.
Các hình ảnh Xquang phổi thường gặp là [74]
+ Thành PQ tạo thành các đường song song (đường ray) Theo nghiên cứu Phạm Văn Thi (2014) hình ảnh đường ray là 18/52 (34,6%) [26]
+ Thể tích của thùy phổi có GPQ nhỏ lại, thùy phổi lành giãn ra (giãn phổi bù) + Ở vùng phổi bị GPQ, có viêm phổi tái diễn nhiều lần, hàng năm về mùa lạnh.
+ Có các ổ sáng nhỏ ở một đáy phổi, giống hình ảnh tổ ong, có thể có ổsáng với mực nước ngang kích thước thường không quá 2cm Theo HoàngMinh Lợi (2001) hình ảnh tổ ong là 9,4%, Phạm Văn Thi (2014) là 30,7%,Lynch D.A và CS (1999) là 12,8% [14], [26], [54]
+ Xẹp phổi thùy dưới trái: bóng mờ hình tam giác bị bóng tim che lấp.+ Hình ảnh viêm phổi tái diễn xung quanh khu vực GPQ, gặp nhiều nhất
ở thể GPQ phối hợp (74%) và ở thùy dưới (78,3%) Hình ảnh mực nướcngang gặp ít và nếu có chủ yếu ở thể giãn GPQ hình túi Hình ảnh ngón tay đigăng hay gặp ở GPQ hình ống và ở thùy trên trái Các thể GPQ đều hay gặp hộichứng phế nang (trên 70%) Hội chứng hang tuy ít gặp nhưng độ đặc hiệu cao vàchỉ thấy ở GPQ hình túi, thường là hang tròn đơn độc ở thùy trên phải với mựcnước ngang ít Hội chứng PQ cũng gặp nhiều (87,3%) nhưng không đặc hiệu [20],[60]
+ Các đám mờ hình ống biểu hiện của các PQ bị lấp đầy chất nhầy
+ Hình ảnh các đường mờ mạch máu phổi co tập trung lại do xẹp phổi gây nên với tắc các PQ nhỏ do dịch nhầy
+ Giảm tưới máu phổi, có ở các trường hợp nặng [20], [60]
1.6.2 Chụp cắt lớp vi tính
* Hình ảnh của HRCT phổi bình thường:
Trang 34Mạch máu phổi phân bố đều theo hướng ly tâm, bắt nguồn từ trung thấtphân nhánh tận cùng đến động mạch trung tâm tiểu thuỳ tức là phân cấp lầnthứ 16, có khẩu kính từ 1mm, càng xa càng nhỏ dần và không thấy được nữakhi cách màng phổi thành từ 5-10mm Đó là các chấm nhỏ nếu chạy thẳnggóc với mặt phẳng cắt hoặc là các ống nhỏ nếu chạy ngang với lớp cắt.
Màng phổi lá thành và lá tạng không phân biệt được trên HRCT, tuynhiên có thể phân biệt được chúng với cơ liên sườn, mỡ và mạch máu
* Hình ảnh của HRCT giãn phế quản [61]
+ Hình con dấu, hình nhẫn hoặc hình nhẫn có mặt: do thành PQ dày vàgiãn (vòng nhẫn), trong lúc mạch máu đi kèm không đổi (mặt nhẫn), thấy đượctrên hình cắt ngang
+ Hình ảnh đường ray: thấy được hình PQ cắt dọc
+ Hình tổ ong: PQ giãn chứa khí, tạo nên các ổ sáng nhỏ tập trung ở 2 đáy, ứ đọng chất tiết do tắc nghẽn PQ bởi dịch nhầy, mủ tạo nên
+ Hình giải mờ ruban, hình ngón tay đi găng
+ Hình mức nước hơi nằm ngang, đường kính không quá 2cm
+ Hình ảnh lấp đầy chất nhầy, máu, mủ… trong lòng PQ giãn (mucoidimpaction) với hình ảnh giải tăng tỉ trọng hình chữ Y, chữ V hoặc nốt tròn nằmcạnh cấu trúc mạch máu trên lớp cắt ngang
+ Dày thành PQ: Khi thành PQ dày lên sẽ thấy một vòng tròn dày, hìnhnày dễ phát hiện khi chỉ có một nhánh PQ tổn thương, khó phát hiện khi có nhiềunhánh bị lan toả
Trang 35+ Rối loạn thông khí:
+ Bất thường về tưới máu: Giảm phân bố mạch với giảm kích thước, số lượng mạch máu; PQ và mạch máu sít lại với nhau do phát triển xơ xung quanh PQ.
+ Tổn thương ở phế nang quanh PQ giãn:
Hình ảnh mờ dạng giải do viêm cạnh PQ
Hình mờ tam giác ở cạnh tim phải, sau tim trái do xẹp phổi thùy dưới trái hoặc hội chứng thuỳ giữa do xẹp phổi gặp trong thể xẹp phổi của GPQ
* Tiêu chuẩn chẩn đoán GPQ trên phim HRCT:
Theo Dwyer R (1998) [41] và Naidich và cs (1999) [61] thì tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá GPQ là:
1 Đường kính trong của PQ lớn hơn đường kính ngoài của động mạch đi kèm.
2 Các PQ không nhỏ dần được quy định là khi một PQ trên một đoạn dài 2cm có đường kính tương tự PQ đã phân chia ra PQ đó
3 Thấy được hình PQ ở ngoại vi cách màng phổi thành ngực dưới 1cm
4 Thấy PQ đi sát vào màng phổi trung thất
5 Thành PQ dày hơn so với các nhánh cùng thế hệ, mốc so sánh là PQ bình thường ở bên cạnh nhân đôi
* Trên HRCT có thể phân loại các thể GPQ
+ GPQ thể hình trụ hay hình ống: Thành PQ dày, khẩu kính tăng hơn PQ
bình thường tương ứng, 2 bờ song song nhau tạo thành hình đường ray nếu cắttheo trục dọc PQ; hình nhẫn có mặt nếu cắt theo trục ngang PQ Khi ổ GPQ chứađầy dịch nhầy bên trong tạo nên hình ảnh ngón tay đi găng
Trang 36GPQ hình ống: PQ bình thường giảm khẩu kính
đoạn xa (1) và GPQ (2)
+ GPQ thể hình túi hoặc kén: GPQ hình hang, mất các phân nhánh xung
quanh, bờ có thể dày hoặc mỏng Ta có thể thấy hình tổ ong, hình mức hơi dịch,hình bán nguyệt hoặc hình chùm nho
GPQ hình hang
+ GPQ hình chuỗi hạt: PQ thành dày, bờ không đều, chỗ giãn chỗ thắt lạixen kẽ trông như chuỗi hạt
GPQ hình chuỗi hạtCác hình ảnh phối hợp: hình kính mờ, hình đông đặc trong viêm phổimạn, hình đám mờ, hình giảm thể tích phổi do xơ, hình giãn phế nang, hình ứdịch trong lòng PQ: ngón tay đi găng, hình giải mờ, hình mức nước mức hơi
1.6.3 Nội soi phế quản ống mềm [5]
Trang 37Nội soi PQ ống mềm: dùng để chẩn đoán, với sự trợ giúp của màn hìnhvideo, hình ảnh nội soi PQ thấy rõ và đẹp hơn cho giá trị chẩn đoán cao hơn.Các hệ thống ống soi mới dùng một camera nhỏ gắn ở đầu soi, hình ảnh quansát được truyền trực tiếp về bộ xử lý hình ảnh rồi lên màn hình nên chất lượngquan sát cao hơn nhiều.
Nội soi PQ ống mềm với sự trợ giúp định vị của Xquang có màn hìnhtăng sáng hai chiều, chụp cắt lớp vi tính cho phép sinh thiết chính xác các tồnthương nhỏ ở ngoại vi
Nội soi hình quang với hệ thống ánh sáng trắng và ánh sáng xanh
1.6.3.1 Chỉ định, chống chỉ định nội soi phế quản
* Chỉ định nội soi phế quản [5]
- Nội soi chẩn đoán: Nghi ung thư PQ phổi khi có đám mờ ở ngoại vi; Ho
ra máu, để tìm nguyên nhân và xác định vị trí chảy máu; Nghi lao phổi: xét nghiệmAFB dịch PQ, PCR - BK dịch PQ; Áp xe phổi, tràn mủ màng phổi; Nhiễm khuẩn PQphổi khác: lấy bệnh phẩm tìm vi khuẩn; Bệnh bụi phổi
- Nội soi điều trị: Lấy dị vật khí, PQ; Tắc PQ: nội soi PQ để tìm nguyên
nhân điều trị; Hút dịch tiết gây ùn tắc lòng PQ; Kiểm tra sau cắt thùy phổi;
Điều trị các khối u, sùi gây tắc hẹp khí PQ với các biện pháp như đốt điện đông cao tần, laser, áp lạnh…
* Chống chỉ định nội soi PQ [5], [76].
+ Không có chống chỉ định tuyệt đối
+ Chống chỉ định tương đối trong các trường hợp sau: Thiếu oxy máu;Hen PQ; đang có cơn khó thở; Thiếu máu cơ tim, suy tim; Tắc nghẽn tĩnh mạchchủ trên; Tạng máu chảy, giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu; Suy thận mạn; Dị ứngthuốc tê; Động kinh; Tâm thần
1.6.3.2 Một số hình ảnh nội soi PQ ống mềm ở bệnh nhân
GPQ Theo Ikeda S (1974), Wang K.P (2004) [48], [76].
Trang 38* Hình ảnh nội soi PQ bình thường
Niêm mạc và giải phẫu cây PQ bình thường ở người có thể gặp một sốbiến đổi về giải phẫu cây PQ, nhất lầ ở các phân thùy của thùy trên và thùydưới Thùy trên có thể thêm 1 PQ phụ xuất phát trực tiếp từ khí quản
- Thâm nhiễm niêm mạc PQ
- Niêm mạc PQ nhạt màu hoặc màu hồng, đỏ do xung huyết mạch máu, hình ảnh sắc tố đen
- Đờm, mủ, máu trong lòng PQ
+ Có thể thấy một số nguyên nhân gây GPQ:
- Mất các vòng sụn làm PQ phình ra khi hít vào và xẹp xuống khi thở ra trong hội chứng Williams- Campbell
- Phì đại khí- PQ do khuyết tật cấu trúc tổ chức liên kết ở thành PQ kèm theo GPQ trong hội chứng Mounier- Kuhn
- Hình chít hẹp PQ do xơ sẹo sau lao nội PQ cục bộ hoặc dị vật rơi vào PQ
- Sùi và loét niêm mạc PQ do tổn thương viêm hoặc u
1.6.3.3 Các kỹ thuật lấy bệnh phẩm qua ống nội soi PQ
- Sinh thiết PQ
- Sinh thiết xuyên vách PQ
Trang 391979, được áp dụng rộng rãi vào những năm đầu thập kỷ 80 Rửa PQ - phế nang
là phương pháp chẩn đoán các bệnh phổi kẽ, nhiễm khuẩn cơ hội, ung thư PQ
1.7 Đặc điểm vi khuẩn học và nhiễm khuẩn hô hấp trong GPQ
1.7.1 Nhiễm khuẩn hô hấp trong GPQ: Theo (Winberger S.E 2004) [79]
Nhiễm khuẩn hô hấp được coi là một trong những nguyên nhân chủ yếugây GPQ Đáp ứng viêm của cơ thể trước tình trạng nhiễm khuẩn gây ra tổnthương biểu mô đường hô hấp và làm giảm thanh lọc nhầy nhung mao Tiếptheo, sự tổn thương này sẽ dẫn đến tình trạng vi khuẩn dễ kết dính vào biểu mô,gây viêm thành PQ, dần dần làm cho PQ bị phá huỷ và bị giãn ra Tình trạng ứđọng dịch tiết trong lòng các PQ bị giãn lại là môi trường thuận lợi cho vi khuẩntồn tại và phát triển gây ra những đợt bội nhiễm tái phát nhiều lần làm nặng thêmtổn thương GPQ Quá trình này tiếp diễn tạo vòng xoắn bệnh lý của GPQ
Tình trạng nhiễm khuẩn hô hấp tái diễn chủ yếu do cơ chế bảo vệ của cơthể bị suy giảm Có một số nguyên nhân gây suy giảm cơ chế bảo vệ đó là:
- Tắc nghẽn PQ: vi khuẩn và các chất tiết không được thanh thải ra khỏi các đường thở bị tắc, bởi vậy sẽ phát triển nhiễm khuẩn tái diễn
- Hội chứng rối loạn vận động nhung mao nguyên phát dẫn đến sự phốihợp vận động và hoạt động đẩy về phía trước của nhung mao bị giảm và
Trang 40thanh thải vi khuẩn cũng bị suy giảm theo Hậu quả là nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và dưới tái diễn.
- Xơ hoá kén: các chất tiết bám chặt trong lòng PQ kết hợp sự thanh thải
vi khuẩn bị giảm, dẫn tới nhiễm nhiều loại vi khuẩn hoặc vi khuẩn sống cộng
sinh, đặc biệt là P.aeruginosa, S.aureus, H influenzae, Escherichia Coli và
- Các nguyên nhân gây suy giảm miễn dịch và giảm gammaglobulinmiễn dịch cũng là nguyên nhân gây nhiễm trùng cơ hội nói chung và nhiễm trùng
hô hấp nói riêng [79]
1.7.2 Đường vào phổi của vi khuẩn [44], [75]
- Theo đường hô hấp: các vi khuẩn bình thường cư trú ở vùng hầu họng.Trong điều kiện thuận lợi, chúng được hít vào đường thở Khi ho, hắt hơi các hạtnước bọt bắn vào không khí, chúng nhanh mất nước, trở thành các hạt nhỏ cóđường kính 1- 2mm, khi người lành cũng như bệnh nhân hít phải những hạt này, vikhuẩn nhanh chóng lọt sâu vào các PQ, tiểu PQ tận - phế nang
- Theo đường máu: thường xuất hiện sau nhiễm trùng huyết do tụ cầu vàng, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, viêm tĩnh mạch nhiễm khuẩn
- Theo đường bạch huyết: một số vi khuẩn (P seudomonas, S aureus) có
thể tới phổi theo đường bạch huyết, chúng gây viêm phổi hoại tử và áp xe phổi
1.7.3 Đặc điểm vi khuẩn gây bệnh trong nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới
Có nhiều loại vi khuẩn có thể gây nhiễm trùng đường hô hấp Tuy nhiêntheo Fang và CS (1990) thấy rằng vi khuẩn gây bệnh hay gặp nhất là
Streptococcus pneumoniae, đứng hàng thứ hai là virus và Hemophilus influenzae, tiếp theo là các vi khuẩn thuộc nhóm vi khuẩn Gram (-) và các vi
khuẩn gây bệnh không điển hình [51] Cũng theo tác giả vi khuẩn có khả nănggây bệnh phân lập được từ bệnh phẩm hô hấp thấy có họ vi khuẩn đường ruột
như Klebsiella (K pneumoniae, K terrigena) và Enterobacter (E aerogenes,