BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNHOÀNG VĂN THÌN THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ VỀ NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH CỦA TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI MỘT SỐ XÃ HUYỆ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
HOÀNG VĂN THÌN
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ VỀ NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH CỦA TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI MỘT SỐ XÃ HUYỆN HIỆP
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trongbất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2013
Người cam đoan
Hoàng Văn Thìn
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng quản lý đào tạo Sauđại học và các Phòng ban chức năng của Trường Đại học Y - Dược TháiNguyên đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được học tập và nghiêncứu tại nhà trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Đàm Thị Tuyết - Trưởng Khoa Y
tế công cộng Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên đã trực tiếp, tận tình,hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thànhluận văn tại nhà trường
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy, cô giáo Bộ môn trongkhoa Y tế công cộng, cũng như các Bộ môn liên quan của trường Đại học Y-Dược Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quátrình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ bannhân dân hai xã Lương Phong, Hoàng Vân Huyện Hiệp Hoà - Bắc giang và tậpthể cán bộ trạm y tế của 2 xã nơi mà tôi tiến hành nghiên cứu đã hết sức hợp tác,
hỗ trợ, giúp đỡ tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới lãnh đạo, cán bộ côngchức Phòng Y tế đặc biệt là gia đình, bạn bè, các bạn đồng nghiệp cùng tập thểanh chị em học viên lớp cao học Y học dự phòng khoá 15 đã động viên, ủng hộtôi rất nhiều trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 29 tháng 10 năm 2013
Học viên Hoàng Văn Thìn
Trang 4: Nhiễm khuẩn hô hấp cấp
(Acute Respiratory infection)
: Viêm phổi mắc phải cộng đồng
(Community Acquired Pneumonia)
: Cán bộ y tế: Kiến thức, thái độ, thực hành
( Knowledge, Attitude, Practice)
: Nghiên cứu: Nhiễm khuẩn hô hấp cấp: Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính: Nhân viên y tế thôn bản: Truyền thông giáo dục sức khỏe: Tỷ suất chênh
(Odds Ratio)
: Virus hợp bào hô hấp
( Respiratory Syncytial Vius)
: Hội chứng hô hấp cấp tính
( Severe Acute Respiratory Syndrome)
: Tổ chức Y tế Thế giới: Trung học cơ sở: Trung học phổ thông: Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên
(Upper Respiratory Tract Infection)
: Tổ chức Y tế Thế giới( World health Organization)
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục chữ viết tắt
Mục lục
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ, hình, sơ đồ .
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
1.1.1 Đặc điểm và phân loại bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp
1.1.2 Tình hình mắc bệnh và tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp trên Thế giới
1.1.3 Tình hình mắc bệnh và tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tại Việt Nam
1.2 Căn nguyên và các yếu tố nguy cơ của bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp
1.2.1 Trên Thế giới
1.2.2 Tại Việt Nam
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu mô tả
2.3.2 Nghiên cứu bệnh chứng
2.4 Phương pháp chọn mẫu
2.5 Các chỉ số nghiên cứu
Trang 62.5.3 Chỉ số về các yếu tố nguy cơ đến nhiễm khuẩn hô hấp cấp của trẻ
2.5.4 Phân loại các yếu tố nguy cơ theo mô hình hồi quy logistic
2.5.5 Một số định nghĩa về chỉ số nghiên cứu
2.5.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6 Phương pháp xử lý số liệu
2.7 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
3.2 Thực trạng nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ dưới 5 tuổi tại địa điểm nghiên
3.3 Kết quả về các yếu tố nguy cơ đến bệnh
3.3.1 Nhóm yếu tố nguy cơ thuộc về bà mẹ
3.3.2 Nhóm yếu tố nguy cơ thuộc về bản thân trẻ
3.3.3 Nhóm yếu tố nguy cơ thuộc về môi trường sống của trẻ
Chương 4: BÀN LUẬN
4.1 Tình hình kinh tế – văn hóa – xã hội tại địa điểm nghiên cứu
4.1 Thực trạng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại một số xã huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
4.2 Các yếu tố nguy cơ đến nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
4.2.1 Các yếu tố nguy cơ thuộc về bà mẹ
4.2.2 Các yếu tố nguy cơ thuộc về bản thân trẻ
4.3.3 Các yếu tố nguy cơ thuộc về môi trường sống của trẻ
KẾT LUẬN
KHUYẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 3.2 Phân bố trẻ theo nghề nghiệp của các bà mẹ
Bảng 3.3 Phân bố trẻ theo phân loại nhà ở
Bảng 3.4 Phân bố trẻ theo tình trạng bếp đun trong nhà
Bảng 3.5 Phân bố trẻ theo khoảng cách từ nhà đến chuồng gia súc
Bảng 3.6 Tỷ lệ mắc NKHHCT của trẻ dưới 5 tuổi
Bảng 3.7 Phân bố tỷ lệ NKHHCT theo nhóm tuổi
Bảng 3.8 Phân bố tỷ lệ NKHHCT theo giới
Bảng 3.9 Phân bố tỷ lệ NKHHCT của trẻ theo dân tộc mẹ
Bảng 3.10 Phân bố tỷ lệ NKHHCT của trẻ theo tình hình kinh tế của gia đình
Bảng 3.9 Phân bố tỷ lệ NKHHCT của trẻ theo tình hình kinh tế của gia đình
Bảng 3.11 Phân bố tỷ lệ NKHHCT của trẻ theo trình độ học vấn mẹ
Bảng 3.12 Phân bố tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp trẻ em theo tình trạng vệ sinh nhà ở
Bảng 3.13 Liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ với tỷ lệ mắc NKHHCT
Bảng 3.14 Liên quan giữa nghề nghiệp của mẹ với tỷ lệ mắc NKHHCT
Bảng 3.15 Liên quan giữa dân tộc mẹ với tỷ lệ mắc NKHHCT
Bảng 3.16 Liên quan giữa kiến thức về bệnh NKHHCT của bà mẹ với tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ
Bảng 3.18 Liên quan tỷ lệ mắc NKHHCT với thời gian cai sữa của trẻ
Bảng 3.19 Liên quan tình trạng tiêm chủng của trẻ với mắc NKHHCT
Bảng 3.20 Liên quan giữa loại nhà ở với tỷ lệ mắc NKHHCT
Trang 8Bảng 3.27 Đánh giá các yếu tố nguy cơ theo mô hình hồi quy logistic
Trang 9Biểu đố 1.1 Nhịp thở bình thường của trẻ theo độ tuổi
Biểu đồ 3.1 Phân bố trẻ theo nghề nghiệp của các bà mẹ
Biểu đồ 3.2 Phân bố trẻ theo phân loại nhà ở
Biểu đồ 3.3 Phân bố trẻ theo tình trạng bếp đun trong nhà
Biểu đồ 3.4 Phân bố tỷ lệ NKHHCT theo nhóm tuổi
Biểu đồ 3.5 Phân bố tỷ lệ NKHHCT của trẻ theo tình hình kinh tế của gia đình
Biểu đồ 3.6 Phân bố tỷ lệ NKHHCT của trẻ theo trình độ học vấn mẹ
Hình: Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang 25
Sơ đồ
Sơ đồ 2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng và phân tích tình hình nhiễm
khuẩn hô hấp dưới cấp với yếu tố nguy cơ 26
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp là bệnh phổ biến có tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao
ở trẻ em, khoảng 13 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết mỗi năm trên thế giới, 95%trong số đó ở các nước đang phát triển và một phần ba tổng số ca tử vong donhiễm khuẩn hô hấp cấp, đặc biệt do viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi [28], [36], [66]
Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi trẻ trung bình trong 1 nămmắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp từ 5 - 7 lần, ước tính trên toàn cầu mỗi năm cókhoảng 2 tỷ lượt trẻ em mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp, trong đó khoảng 40triệu lượt là viêm phổi [18], [22], [24]
Tại Việt Nam, hiện nay có khoảng hơn 8 triệu trẻ dưới 5 tuổi Như vậyước tính mỗi năm sẽ có từ 32 đến 40 triệu lượt trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấpcấp và từ 22 đến 24 nghìn trẻ tử vong do viêm phổi [56] Nhiễm khuẩn hô hấpcấp trẻ em tại cộng đồng chiếm khoảng 40,7 %, bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp
có thể mắc nhiều lần trong 1 năm, vì vậy nó còn là nguyên nhân chủ yếu ảnhhưởng đến ngày công lao động của các bà mẹ [60] Ở khu vực miền núi viêmphổi vẫn là nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở trẻ em, khoảng 90 % trườnghợp tử vong do viêm phổi là ở nhóm trẻ dưới 2 tháng tuổi [22] Bệnh nhiễmkhuẩn hô hấp cấp có thể được phân loại theo các cách khác nhau và biểu hiệnbệnh cũng ở các mức độ khác nhau Mức độ nhẹ, chăm sóc trẻ tại nhà, nếunặng cần phải được điều trị tại cơ sở y tế, nếu không đưa trẻ đến cơ sở y tếkịp thời có thể sẽ dẫn đến tử vong [47] Tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi bịnhiễm khuẩn hô hấp cấp ở các nước đang phát triển cao gấp 10 lần so với cácnước công nghiệp phát triển
Nguyên nhân gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp nói chung và viêm phổi nóiriêng ở các nước đang phát triển chủ yếu do virus, vi khuẩn, lao phổi trẻ em,nấm Ngoài ra do tác động của các yếu tố nguy cơ như ô nhiễm môi trường,nhà ở chật trội, khói bếp, khói thuốc lá, trẻ đẻ nhẹ cân, suy dinh dưỡng, tiêuchảy, thay đổi khí hậu đều làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và mức độ nặng của bệnh
Trang 11Cán bộ y tế chưa thực hiện đúng cách xử trí khi trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấpcấp theo phác đồ quy định, đặc biệt là sử dụng thuốc kháng sinh Hiểu biết vềcác dấu hiệu, cách chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp của cộng đồng nóichung và bà mẹ có con nhỏ dưới 5 tuổi nói riêng còn hạn chế, đặc biệt là khuvực miền núi [56].
Tỷ lệ NKHHCT ở trẻ em miền núi theo báo cáo của các cơ sở y tế chothấy không giảm, nhưng thực trạng tỷ lệ này hiện nay là bao nhiêu, nguy cơgây NKHHCT trẻ em khu vực miền núi là gì? Nhất là vùng mà tỷ lệ hộ đóinghèo còn cao, có nhiều các dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ nhận thức củangười dân không đồng đều, khả năng tiếp cận được với các dịch vụ y tế cònhạn chế [20], [27] Do đó để giảm thiểu NKHHCT cho trẻ em, trước hết cầntìm hiểu thực trạng và các yếu tố nguy cơ đến NKHHCT ở trẻ, làm cơ sở choviệc xây dựng các kế hoạch can thiệp nhằm nâng cao chăm sóc và phòngchống NKHHCT cho trẻ tại cộng đồng
Hiệp Hòa là một huyện trung du miền núi nằm ở phía tây của tỉnh BắcGiang, cuộc sống của người dân ở đây còn gặp nhiều khó khăn, công tácchăm sóc sức khỏe cho người dân còn hạn chế Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấptính ở trẻ nhỏ vẫn được các cơ sở y tế địa phương báo cáo là một vấn đề sứckhỏe cần được ưu tiên giải quyết Vậy, tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính củatrẻ ở đây là bao nhiêu, yếu tố nguy cơ nào đến nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ?
Để trả lời vấn đề này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Thực trạng và một số nguy cơ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của trẻ dưới 5 tuổi tại một số xã huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang” nhằm 2 mục tiêu sau:
1. Đánh giá thực trạng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại 2
xã huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
2. Xác định một số yếu tố nguy cơ đến nhiễm khuẫn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại địa điểm nghiên cứu.
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
1.1.1 Đặc điểm và phân loại bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp
1.1.1.1 Đặc điểm bệnh nhiễm khuẩn hô hấp
cấp * Định nghĩa nhiễm khuẩn hô hấp cấp
và các dấu hiệu khác Phần lớn NKHHCT ở trẻ em là nhiễm khuẩn hô hấp cấptrên (2/3 trường hợp) như ho - cảm lạnh, viêm họng, viêm V.A, viêm Amiđan,viêm xoang, viêm tai giữa NKHHC trên thường là nhẹ, còn NKHH dưới tỷ lệgặp ít hơn (1/3 trường hợp) nhưng thường là nặng và dễ tử vong Đó là cácbệnh viêm thanh quản, viêm thanh khí phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi,đặc biệt là viêm phổi cấp tính ở trẻ nhỏ có tỷ lệ tử vong cao nhất Vì vậy phảitheo dõi và phát hiện sớm để điều trị kịp thời [13], [58]
* Ho
Ho là triệu chứng thường gặp nhất trong nhiễm khuẩn hô hấp [56].Trênquan điểm sinh lý bệnh học thì ho được coi là một cơ chế bảo vệ quan trọngcho đường hô hấp Ho làm sạch đờm từ phế quản phổi Do đó trong trườnghợp trẻ em bị NKHHC dưới, ho làm cho bệnh mau khỏi hơn vì vậy khôngnên dùng thuốc giảm ho cho các trẻ này [56]
Trang 13* Thở nhanh
Thở nhanh là một phản ứng sinh lý đối với hiện tượng thiếu ôxy trongviêm phổi, đồng thời khi phổi bị viêm sẽ làm mất tính mềm mại và sự giãn nởcủa phổi kém, vì vậy buộc phải tăng nhịp thở Muốn xác định ngưỡng thởnhanh phải dựa trên cơ sở nhịp thở bình thường của trẻ tuỳ theo lứa tuổi Trẻcàng nhỏ nhịp thở càng nhanh, lúc thức trẻ thở nhanh hơn lúc ngủ [56]
Biểu đồ 1 1: Nhịp thở bình thường của trẻ theo độ tuổi
Nguồn: Tài liệu hấn luyện dành cho cán bộ tuyến tỉnh, huyện [56]
Từ nhịp thở bình thường của trẻ tuỳ theo lứa tuổi cộng thêm 10 nhịp,chúng ta sẽ có ngưỡng thở nhanh của 3 độ tuổi theo quy định như sau:
Trang 14* Rút lõm lồng ngực
Là lồng ngực phía dưới bờ sườn hoặc phần dưới xương ức rút lõm vàokhi trẻ hít vào Nếu chỉ phần mềm giữa xương sườn hoặc vùng trên xươngđòn rút lõm thì đó không phải là rút lõm lồng ngực Ở trẻ dưới 2 tháng tuổinếu chỉ rút lõm lồng ngực nhẹ thì chưa có giá trị chẩn đoán vì lồng ngực củatrẻ nhỏ còn mềm, khi thở bình thường cũng có thể hơi bị rút lõm.Vì vậy ởnhững trẻ này rút lõm lồng ngực mạnh (lõm sâu và dễ nhìn thấy) mới có giátrị Để nhận định dấu hiệu rút lõm lồng ngực cần đặt trẻ ở tư thế nằm thẳng vànên thay đổi tư thế để quan sát kỹ Vì vậy, khi xuất hiện dấu hiệu này chứng
tỏ trẻ bị viêm phổi nặng phải chuyển ngay đến bệnh viện để điều trị [27], [56]
* Các dấu hiệu nguy kịch
Ngoài các dấu hiệu chính để phát hiện viêm phổi nói trên, Tổ chức Y tế Thếgiới (TCYTTG) còn hướng dẫn cán bộ y tế cơ sở phát hiện một số dấu hiệunguy kịch khác Nếu trẻ có một trong các dấu hiệu đó thì chứng tỏ trẻ bị bệnh rấtnặng và cần phải đưa trẻ đến bệnh viện để chẩn đoán xác định và xử trí ngay
- Ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi, các dấu hiệu nguy kịch là: Không uốngđược, co giật, ngủ li bì hoặc khó đánh thức, thở rít khi nằm yên và suy dinhdưỡng nặng Ở trẻ dưới 2 tháng các dấu hiệu nguy kịch là: Bỏ bú hoặc búkém, co giật, ngủ li bì, khó đánh thức, thở rít khi nằm yên, sốt hoặc hạ nhiệt
độ, thở khò khè Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát hiện các dấu hiệunguy kịch nói trên là để giúp cán bộ y tế cơ sở và các bà mẹ biết theo dõi vàphát hiện kịp thời đưa trẻ đến bệnh viện ngay để xử trí [15], [56]
1.1.1.2 Phân loại nhiễm khuẩn hô hấp cấp
Phân loại theo vị trí tổn thương (vị trí giải phẫu)
Ranh giới để phân chia là nắp thanh quản
Trang 15Bộ phận hô hấp bao gồm từ mũi - họng đến thanh quản, khí quản, tiểuphế quản và phổi Dựa vào vị trí các đoạn của bộ phận hô hấp người ta chia
ra đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới Ranh giới để phân chia là nắpthanh quản (đoạn trên nắp thanh quản là đường hô hấp trên, đoạn dưới nắpthanh quản là hô hấp dưới) Nếu tổn thương phía trên nắp thanh quản lànhiễm khuẩn hô hấp trên, tổn thương dưới nắp thanh quản là nhiễm khuẩn hôhấp dưới [11], [13]
Phân loại theo mức độ nặng nhẹ Đây là phân loại thực tế hay dùng
Dựa vào phân loại này cán bộ y tế cơ sở và các bà mẹ có thể đánh giá đúng tình trạng bệnh nhân để xếp loại và có xu hướng xử trí đúng và kịp thời [64]
- Không viêm phổi (nhiễm khuẩn hô hấp nhẹ): Ho - cảm lạnh Trẻ chỉ códấu hiệu ho, chảy mũi, không thở nhanh, không rút lõm lồng ngực Không cần
Trang 16- Viêm phổi (Nhiễm khuẩn hô hấp thể vừa): Trẻ có dấu hiệu thở nhanh,nếu trẻ từ 2 đến < 12 tháng, thở ≥ 50 nhịp trong một phút; trẻ từ 12 tháng đến
5 tuổi, thở ≥ 40 nhịp trong một phút, chỉ cần dùng kháng sinh, có thể điều trịtại nhà [13], [15]
- Viêm phổi nặng hoặc bệnh rất nặng: Là khi trẻ ho hoặc khó thở và cóbất cứ dấu hiệu nào dưới đây:
+ Có bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm toàn thân nào như không uống được hoặc bỏ bú, nôn tất cả mọi thứ, co giật, li bì hoặc khó đánh thức
- Viêm phổi nặng: Rút lõm lồng ngực mạnh hoặc thở nhanh (từ 60 lần /phút trở lên): Đưa cấp cứu bệnh viện, giữ ấm cho trẻ, cho liều kháng sinh đầu
[18], [47] Trẻ cũng có thể không có ho nhưng vẫn bị viêm phổi nặng [18]
- Bệnh rất nặng: Bú kém hoặc bỏ bú, co giật, ngủ li bì hoặc khó đánhthức, thở rít khi nằm yên, khò khè, sốt hoặc hạ nhiệt độ: Đưa cấp cứu bệnhviện, giữ ấm cho trẻ, cho liều kháng sinh đầu [17]
Trang 171.1.2 Tình hình mắc bệnh và tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp trên Thế giới
Hiện nay tại các nước đang phát triển, các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấpvẫn là nguyên nhân mắc bệnh và tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 5 tuổi, chủ yếu
do viêm phổi Viêm phổi mắc phải cộng đồng là một nhiễm khuẩn nặng và phổbiến xảy ra ở tất cả trẻ em trên toàn Thế giới Ở các nước đang phát triển, theo
số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), mỗi trẻ em trung bình trong 1 nămmắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) từ 5 - 7 lần Ước tính trên toàn cầu mỗinăm có khoảng 2 tỷ lượt trẻ mắc NKHHC chiếm 19-20 % số tử vong dưới 5 tuổitrên toàn cầu Tại khu vực Đông Nam Á tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp vẫn lànguyên nhân cao nhất (33,7 %) trong các nguyên nhân gây tử vong ở trẻ, tiếptheo là tiêu chảy (24,7 %) và sơ sinh (32 %) kết hợp với các bệnh khác, còn lại làcác nguyên nhân khác [22], [24] [112]
Hình 1.1 Phân bố tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi theo nguyên nhân của 6 vùng trên Thế giới (WHO – 3/2000, Afr=Châu Phi; Amr=Châu Mỹ; Emr=Trung Cận
Trang 18Theo Ruan I (2005), ước lượng tỷ lệ viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi trênphạm vi toàn cầu trong các nghiên cứu dọc dựa vào cộng đồng cho thấy: tỷ lệmới mắc các đợt viêm phổi ở các nước đang phát triển là 0,29 đợt/năm/trẻ Ởcác nước phát triển là 0,026 đợt/năm/trẻ và trên 95 % các đợt viêm phổi ở trẻ emtrên Thế giới xảy ra ở các nước đang phát triển [103] Năm 2004, MichaelOstapchuk và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tình hình viêm phổi mắc phải ở
cộng đồng thuộc Châu Âu và Bắc Mỹ Tác giả đã đưa ra thuật ngữ “viêm phổi
mắc phải cộng đồng - Community Acquired Pneumonia” (CAP) đề cập tới một
loại viêm phổi xảy ra ở một người trước đó khoẻ mạnh, người mắc phải bệnhnày ở bên ngoài bệnh viện CAP là một trong những nhiễm khuẩn phổ biến vànặng nhất ở trẻ em với số mới mắc hàng năm là từ 34 - 40 ca trên 1000 trẻ ởChâu Âu và Bắc Mỹ [90], [112] Mặc dù tử vong do CAP là hiếm gặp ở cácnước công nghiệp phát triển nhưng lại là bệnh phổ biến nhất ở trẻ dưới 5 tuổi Ởcác nước đang phát triển không những tỷ lệ mắc bệnh này cao mà còn gây tửvong cao [92] Nhiễm khuẩn hô hấp cấp là một trong những nguyên nhân tửvong hàng đầu ở trẻ tại các nước đang phát triển [90] Nghiên cứu của Baqui A
H và cộng sự (2007) ở Bangladesh cho thấy, tỷ lệ nhập viện
ở trẻ dưới 2 tuổi là cao hơn so với trẻ lớn tuổi, khoảng 25 % các trường hợp
tử vong ở trẻ < 5 tuổi và khoảng 40 % tử vong ở trẻ nhỏ liên quan với nhiễmkhuẩn hô hấp cấp [64] Năm 2013 Mohammad Reza Bloursaz nghiên cứu vềdịch tễ học nhiễm khuẩn đường hô hấp ở trẻ cho thấy Nhiễm khuẩn đường
hô hấp là nguyên nhân chính gây bệnh tật và tử vong ở cả các nước phát triển
và các nước đang phát triển Hiểu biết chính xác về dịch tễ học của bệnh này,xác định các yếu tố nguy cơ, nguyên nhân và tính chất mùa của bệnh là rấtquan trọng để điều trị phòng bệnh [91]
Nghiên cứu của Garces-Sanchez M D (2005) về tỷ lệ viêm phổi mắcphải cộng đồng ở Valencia, Tây ban Nha là 30,3 ca/1000 trẻ tuổi < 5 tuổi/năm
Trang 19và tỷ lệ nhập viện là 7,03 ca/1000 trẻ < 5 tuổi/năm [79] Năm 2005, DavidBurgner và cộng sự đã tìm hiểu về tình hình viêm phổi ở trẻ em của Australia,cho thấy viêm phổi ở trẻ em là 5 - 8ca /1000 trẻ/ năm Viêm phổi là nguyênnhân chính dẫn đến nhập viện ở trẻ dưới 5 tuổi [76] Varinder Singh (2005) đã
đề cập đến gánh nặng viêm phổi ở trẻ em Châu Á và cho rằng viêm phổi lànguyên nhân gây tử vong khoảng 2 triệu trẻ em mỗi năm trên toàn Thế giới(20 % trong tất cả tử vong ở trẻ), gần 70 % trong số các trường hợp tử vongxảy ra ở Châu Phi và Đông Nam Châu Á Hầu hết các nước ở Châu Phi vàChâu Á, trẻ em bị viêm phổi cao gấp từ 2-20 lần so với trẻ em ở Hoa Kỳ
phải cộng đồng ở trẻ em Miền Nam Israel, nhằm đánh giá gánh nặng của CAPlên trẻ em và gia đình của chúng bao gồm chi phí và giảm chất lượng sống.Tác giả đưa ra nhận định: Nhiễm khuẩn hô hấp cấp đặc biệt là viêm phổi mắcphải cộng đồng vẫn còn là một bệnh nặng và phổ biến ở trẻ Nó có ảnh hưởngrất lớn đối với xã hội, gây ra gánh nặng cho cả người bệnh và gia đình của họbao gồm chi phí, nghỉ việc và giảm chất lượng cuộc sống [105], [112]
1.1.3 Tình hình mắc bệnh và tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tại Việt Nam
Hiện nay, nhiễm khuẩn hô hấp cấp vẫn là nguyên nhân tử vong cao nhất(31,3 %) trong tổng số các nguyên nhân gây tử vong trẻ em, cao gấp 6 lần sovới tử vong do tiêu chảy (5,1 %) Trong số trẻ tử vong do viêm phổi, chỉ có 52
% trẻ được chăm sóc trước khi tử vong Nguyên nhân trẻ không được chămsóc y tế trước khi tử vong hoặc tử vong trước 24 giờ tại bệnh viện cao là vìcác bà mẹ không phát hiện được dấu hiệu của bệnh, hoặc khi trẻ mắc bệnhkhông được chữa trị đúng đắn, đến khi bệnh nặng chuyển đi bệnh viện thìbệnh đã quá nặng [22]
Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Hữu Kỳ (2003) đã tiến hành nghiên cứu
Trang 20tại Thủy Dương - Hương Thủy- Thừa thiên Huế cho thấy: tỷ lệ mắc NKHHCtại cộng đồng ở đây còn cao (39,7 %), vượt trội hơn so với các bệnh kháccùng thời điểm nghiên cứu và tăng cao ở nhóm trẻ dưới 1 tuổi, tỷ lệ NKHHC
ở trẻ dưới 1 tuổi là 53,3 % ; 2 đến 3 tuổi là 35,9 % và 4 đến 5 tuổi là 28,3 %.Tần suất mắc NKHHC cao nhất từ 4 - 6 lần/năm chiếm 47,5 %, từ 3 lần trởxuống/năm chiếm 36,4 %, trên 6 lần/năm chiếm 16,1 % [58]
Mai Anh Tuấn và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu thực trạng và một sốyếu tố nguy cơ đến NKHHCT của trẻ dưới 5 tuổi tại Chợ Mới, Bắc Kạn đãnhận định rằng: tỷ lệ mắc NKHHC tại cộng đồng ở đây còn cao (40,7 %),vượt trội hơn so với các bệnh khác cùng thời điểm nghiên cứu và tăng cao ởnhóm trẻ trên 12 tháng tuổi, tỷ lệ NKHHC cao nhất ở trẻ từ 12 đến 35 thángtuổi là 45,02 % ; 36 đến 60 tuổi là 42,5 %; 2 đến < 12 tháng tuổi là 32,1% vàdưới 2 tháng tuổi là 25,6 % [60]
Theo Niên giám thống kê Y tế năm 2011 cho thấy, nhiễm khuẩn hô hấpcấp đứng đầu trong 10 bệnh mắc cao nhất trong toàn quốc [28]
Năm 2007, Bệnh viện Lao và bệnh Phổi trung ương, Dự án NKHHC trẻ
em đã tổ chức Hội thảo “Triển khai kế hoạch hoạt động dự án NKHHC trẻ emcác tỉnh trọng điểm năm 2007 và giai đoạn 2007 - 2010” cho thấy, tình hìnhmắc NKHHC ở trẻ của các tỉnh miền núi là cao nhất (62,8 %), sau đó đến cáctỉnh miền Trung (42,9 %), đồng bằng tỷ lệ mắc bệnh ít hơn (34,8 %) Còn đốivới tình hình tử vong ở trẻ do NKHHC thì ở miền núi (0,28 0/00) cao hơn sovới đồng bằng (0,06 0/00) và miền Trung (0 0/00) [7]
Theo báo cáo tại Hà Giang (2007): tỷ lệ trẻ mắc NKHHC ở đây còn cao,chiếm 70,13 % [53], ở Lai Châu, tỷ lệ trẻ mắc NKHHC được điều trị cònthấp, mới chỉ đạt 58,8 % [54], Điện Biên (2007) chỉ tiêu về phòng chốngNKHHC trẻ em đạt thấp hơn so với kế hoạch, chỉ đạt được 55,3 % [52] Theobáo cáo của Trung tâm phòng chống bệnh xã hội, tỉnh Bắc Kạn năm 2007 cho
Trang 21biết, chương trình phòng chống NKHHC (Acute Resoiratory Infecitions(ARI)) mới chuyển về trung tâm phòng chống bệnh xã hội, trước đó chươngtrình ARI thuộc Trung tâm y tế dự phòng tỉnh sau một thời gian dài vì không
có kinh phí nên mạng lưới không hoạt động, hệ thống thống kê báo cáokhông được duy trì, chỉ có khoảng 20 % NVYTTB biết về dấu hiệu, cáchphòng và xử trí đối với bệnh NKHHC [59]
Năm 2012 Sở Y tế tỉnh Bắc Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn và Sơn La báocáo tình hình hoạt động của một số chương trình như: tiêm chủng mở rộng,phòng chống HIV/AIDS, phòng chống lao, phòng chống phong, bảo vệ sứckhỏe tâm thần cộng đồng, phòng chống sốt rét, phòng chống suy dinh dưỡngtrẻ em, phòng chống sốt xuất huyết, phòng chống bệnh đái tháo đường, chămsóc sức khỏe sinh sản, …nhưng không đề cập đến chương trình phòng chốngNKHHC của trẻ [49], [50], [51], [55]
Theo thông tin của Bệnh viện lao và bệnh phổi tỉnh Bắc Giang cho thấy,
từ năm 2006 trở về trước, hàng năm chương trình có tổ chức huấn luyện vàhuấn luyện lại cho nhiều đối tượng là các cán bộ y tế từ huyện đến xã,phường Nhưng từ năm 2007 đến nay do không có kinh phí dành riêng chohoạt động của chương trình NKHHCT nên mọi hoạt động của chương trìnhgần như không hoạt động hoặc nếu hoạt động chỉ mang tính hình thức màkhông đạt hiệu quả như mong muốn [48]
Tại huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, bệnh NKHHC ở trẻ em dưới 5 tuổivẫn là bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất so với tất cả các bệnh mắc ở trẻ em, với tần
số mắc trung bình/năm/trẻ được phát hiện khám và điều trị ở tuyến cơ sởkhoảng 2,3 đến 2,7 lần và bệnh này cũng là nguyên nhân gây tử vong cao nhất
ở trẻ em, chủ yếu là trẻ dưới 1 tuổi [1]
Tóm lại: Qua một số nghiên cứu ở trên Thế giới và Việt Nam cho chúng
Trang 22đang phát triển còn cao Tuy nhiên còn ít nghiên cứu đề cập đến tình hình mắcbệnh và tử vong do NKHHCT ở trẻ em khu vực miền núi Vì thế đây là vấn
đề cần quan tâm nghiên cứu làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp phù hợpcho nghiên cứu tiếp theo nhằm giảm tình trạng nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻem
1.2 Căn nguyên và các yếu tố nguy cơ của bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp
1.2.1 Trên Thế giới
1.2.1.1 Căn nguyên gây bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là một nhóm bệnh rất đa dạng do vi khuẩnhoặc Virus gây ra trên toàn bộ hệ dường hô hấp [24] Virus là nguyên nhânphổ biến nhất gây nhiễm khuẩn hô hấp dưới ở trẻ em và là nguyên nhân hàngđầu của trẻ vào viện và tử vong [67] Virus là nguyên nhân gây nhiễm khuẩn
hô hấp phải nhập viện điều trị chiếm tới 47,2 % [100] Các loại virus thườnggặp là: virus hợp bào hô hấp (RSV), virus cúm, á cúm và Adenovirus trong đóvirus RSV là tác nhân gây bệnh quan trọng nhất đối với nhiễm khuẩn hô hấpdưới [69], [110], [113] Ở các nước đang phát triển, vi khuẩn đóng một vaitrò quan trọng trong việc gây mắc NKHHC, các vi khuẩn chủ yếu là phế cầu
và H influenzae [27],[110].
Kenneth Mcintosh MD (2002) nghiên cứu tại cộng đồng về bệnh viêmphổi mắc phải ở trẻ em, cho rằng vai trò của các vi khuẩn được coi như lànguyên nhân gây viêm phổi nặng ở các nước đang phát triển Những vi khuẩnđược coi là nguyên nhân chính gây viêm phổi nặng ở trẻ em, bao gồm
Streptococcus pneumoniae, Staphylococcus aureus, Haemophylus influenzae
[109], Nizami S Q (2006) ở Parkistan, Baqui A H và cộng sự ở Bangladesh(2007) và một số nghiên cứu khác trên thế giới cũng cho kết quả tương tự
[64], [76], [99],
Trang 23Virus nguy hiểm gần đây đối với trẻ nhỏ đó là H5N1, gây nên hội chứng
hô hấp cấp tính (SARS) nặng là một bệnh đường hô hấp gây tử vong cao, domột loại virus thuộc chủng Coronavirus gây nên, sau thời kỳ ủ bệnh từ 4 đến
5 ngày (dao động từ 2-14 ngày) Bệnh có biểu hiện sốt cao và có các hộichứng giống cúm không đặc hiệu như là đau đầu, mệt mỏi và đau mình mẩy.Một số bệnh nhân có các triệu chứng đường hô hấp nhẹ như ho khan, tiêuchảy, rét run, khó thở, có thể có viêm phổi không điển hình và tiến triển nặngtới suy hô hấp và tử vong [109]
1.2.1.2 Yếu tố nguy cơ đến nhiễm khuẩn hô hấp cấp
Có nhiều yếu tố nguy cơ gây NKHHC ở trẻ em đó là: môi trường tựnhiên - xã hội, hệ thống y tế, kiến thức - thái độ - thực hành (KAP) của bà mẹ
và yếu tố sinh học
* Môi trường tự nhiên - xã hội và hệ thống y tế.
Một số nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ tới nhiễm khuẩn hô hấp cấpcủa trẻ em ở các nước đang phát triển đã đưa ra một số yếu tố như sau:
- Yếu tố kinh tế xã hội:
+ Thu nhập: yếu tố liên quan tới nhiễm khuẩn hô hấp cấp (AcuteRespiratory Infection- ARI) là rất khác nhau giữa các nước Mặc dù trẻ em dưới
5 tuổi ở trên toàn thế giới đều có số đợt NKHHC (Acute Respiratory Infection ARI) xấp xỉ nhau (khoảng 5 đợt cho một trẻ trong một năm) Số trẻ mới mắcviêm phổi hàng năm ở các nước công nghiệp phát triển dao động từ 3 % đến 4 %
-và ở các nước đang phát triển là 10 % đến 20 % Sự khác biệt cũng thấy rõ ngaytrong một thành phố hoặc trong một nước Ở khu vực phía Nam Brazil, tỷ lệ tửvong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp đối với trẻ ở các gia đình có thu nhập dưới 50USD một tháng là 12/1000 trẻ; 16 % trong số những đứa trẻ này vào viện bịnhiễm khuẩn hô hấp cấp xảy ra ở trẻ dưới 20 tháng tuổi Trong số trên 600 trẻ,
Trang 24có một trường hợp tử vong nào do viêm phổi và chỉ 2 % vào viện vì bị nhiễmkhuẩn hô hấp cấp Một vài nghiên cứu khác cũng ở Brazil, Ba Lan, cho thấytrẻ em sống trong gia đình có điều kiện kinh tế thấp thì có nguy cơ nhiễmkhuẩn hô hấp nặng hơn [71], [95], [101].
+ Trình độ học vấn của bố, mẹ: trình độ học vấn thấp của bố, mẹ có liênquan tới sự gia tăng vào viện và tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp của trẻ
[71], [96] và một nghiên cứu khác đã được tiến hành nghiên cứu tạiBangladesh về yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi.Phương pháp Hồi quy logistic được sử dụng trên nhiều biến độc lập để tìmcác yếu tố nguy cơ Kết quả cho thấy tuổi của trẻ, giới tính, trọng lượng cơthể và thiếu hụt vitamin A có nguy cơ đến tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp.Ngoài ra, đặc điểm của mẹ như tuổi tác, suy dinh dưỡng, trình độ học vấn vàtình trạng kinh tế xã hội của gia đình được phát hiện có liên quan với ARI củatrẻ và tác giả đã nhận định rằng: Nâng cao kiến thức về nhiễm khuẩn hô hấpcấp cho các bà mẹ trẻ, giáo dục sức khỏe, bổ sung vitamin A …là một lợi thếcho người nghèo hoặc phụ nữ mang thai sẽ làm giảm tỷ lệ cân nặng khi sinhthấp và sau đó giảm tỷ lệ mắc ARI ở các trẻ em này [87]
Một Nghiên cứu các yếu tố nhân khẩu, xã hội và tỷ lệ hiện mắc ARI ở trẻdưới 5 tuổi sống ở vùng nông thôn và thành phố của huyện Meerut ở Ấn Độ
đã cho kết quả: Tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp được phát hiện thấy là 52% Tỷ
lệ này cao hơn ở trẻ em có tình trạng kinh tế xã hội thấp (35,89%), mẹ khôngbiết chữ (49,14%), điều kiện nhà cửa chật chội đông đúc (70,94%), hệ thốngthông gió kém (74,35%), và bếp đun trong nhà (56,83%), suy dinh dưỡng(26,49) và hút thuốc lá, thuốc lào của cha mẹ (78.20%) và Nghiên cứu này đãđưa ra kết luận rằng: tình trạng kinh tế xã hội thấp, mù chữ của mẹ, tình trạngdinh dưỡng kém, chật chội quá đông đúc, ô nhiễm không khí trong nhà vàthói quen hút thuốc của cha mẹ là những yếu tố nguy cơ xã hội và
Trang 25nhân khẩu học quan trọng gây nên ARI ở trẻ em dưới 5 tuổi Những quan sátnày nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu nhằm vào hệ thống y tế để xácđịnh các phương pháp thích hợp nhất để kiểm soát nhiễm trùng hô hấp cấptính và do đó có thể được sử dụng để tăng cường các chương trình phòngchống ARI [85].
bao gồm phơi nhiễm với khói bụi, nhà ở chật chội đông đúc và nhiệt độ thấp.
+ Ô nhiễm do các chất đốt trong gia đình: người ta dự tính rằng ở cácnước đang phát triển, 30% các hộ gia đình ở thành phố và 90% các hộ giađình ở vùng nông thôn sử dụng củi gỗ, rơm rạ và chất thải động vật như lànguồn đốt chính cho đun nấu, sưởi ấm và nồng độ các chất ô nhiễm trong nhàcao gấp 20 lần so với các nước công nghiệp phát triển Trẻ em người Mỹ gốcbản địa dưới 2 tuổi phơi nhiễm với lò sưởi đốt bằng củi, có nguy cơ viêmphổi cao gấp 5 lần so với trẻ cùng tuổi và cùng giới ở những gia đình khôngdùng lò sưởi này [71] Nghiên cứu của Jonathan Grigg (2007) về việc đốt cácnhiên liệu để nấu ăn và sưởi ấm trong nhà ở các nước đang phát triển chothấy, có mối liên quan giữa ô nhiễm không khí trong nhà ở và gia tăng mắcbệnh đối với nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp ở trẻ [84] Nghiên cứu của JameKilabuko H and Satoshi Nakai (2007) và nghiên cứu của Khin Myat Tun ởMyanmar (2005), cho thấy các nhiên liệu đốt bằng khí sinh học (gỗ, rác thảinông nghiệp) là nguồn năng lượng chính của các nước đang phát triển và ảnhhưởng đến NKHHC ở trẻ nhỏ [88], [94]
+ Khói thuốc lá: mối liên quan giữa khói thuốc và bệnh đường hô hấp ở trẻđược khẳng định trong nhiều nghiên cứu Con của người hút thuốc lá có tỷ lệmắc bệnh hô hấp cao gấp 1,5 đến 2 lần so với con của những người không hútthuốc lá Theo dõi trên 4500 trẻ em Brazil trong 2 năm đầu sau khi sinh chỉ ra
Trang 26trẻ mà cả bố và mẹ đều hút thuốc so với trẻ mà bố, mẹ không hút thuốc Mộtnghiên cứu khác ở vùng đông bắc Brazil cho thấy, trong số những trẻ vào viện
vì viêm phổi thì trẻ sống trong gia đình có người nghiện thuốc lá chiếm 48 %
[71], [81], [95], [98]
+ Chật trội, đông đúc: chật trội, đông đúc thường khá phổ biến ở các nướcđang phát triển, đã được khẳng định có liên quan tới các bệnh đường hô hấp Sựliên quan chặt chẽ giữa mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp với chật chội, đông đúc, sốngười và số con dưới 5 tuổi trong gia đình Nghiên cứu ở Brazil và một sốnghiên cứu khác cho thấy, gia đình có từ 3 con dưới 5 tuổi trở lên có nguy cơ tửvong do viêm phổi cao gấp từ 2 đến 5 lần so với gia đình có ít
con [71],[96],[112]
+ Phơi nhiễm với lạnh và ẩm ướt: nghiên cứu của Simoni M năm 2005(Italia) trong 20.016 trẻ cho thấy, nhà ẩm ướt có liên quan đến bệnh hô hấpcủa trẻ [106]
- Yếu tố dinh dưỡng: các yếu tố dinh dưỡng có thể ảnh hưởng tới nhiễm
khuẩn hô hấp cấp bao gồm cân nặng lúc sinh, tình trạng dinh dưỡng, sữa mẹ,nồng độ vitamin A và các vi chất dinh dưỡng khác [71], [80], [96], [74]
Nghiên cứu của Wayse (2004), ở Ấn Độ cho thấy thiếu hụt vitamin D và nuôicon không hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4 tháng đầu là yếu tố nguy cơ đối vớiARI nặng ở trẻ [111]
+ Cân nặng sơ sinh thấp: một nghiên cứu ở Anh cho thấy, trẻ em có cânnặng sơ sinh thấp có nguy cơ mắc NKHHC cao gấp 2 lần trong những nămđầu sau khi sinh Kết quả các nghiên cứu đều cho thấy sự gia tăng nguy cơtương đối dao động từ 1,5 lần đến 8 lần đối với trẻ có cân nặng sơ sinh thấp.Trẻ đẻ thiếu tháng và trẻ có cân nặng thấp trong thời kỳ mang thai ở Brazilcũng có nguy cơ vào viện tương tự vì viêm phổi trong 1, 2 năm đầu sau khi
Trang 27sinh Những kết quả trên đã đưa tới kết luận là trẻ em có cân nặng sơ sinh thấp sẽ có nguy cơ mắc NKHHC cao hơn [71], [96], [104].
+ Thiếu sữa mẹ: một nghiên cứu đã cung cấp thông tin về tử vong đặchiệu do nhiễm khuẩn hô hấp cấp liên quan tới trẻ nuôi bằng sữa mẹ, những trẻkhông được nuôi bằng sữa mẹ thì có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 3,6 lần so vớitrẻ được nuôi bằng sữa mẹ Nghiên cứu về sự liên quan giữa sữa mẹ và vàoviện do viêm phổi ở Trung Quốc, Brazil, Canada và Argentina đều chỉ ra rằng,trẻ em không được nuôi bằng sữa mẹ có nguy cơ vào viện cao gấp từ 1,5 đến
4 lần [71], [104] [92]
+ Tiêm chủng không đủ hoặc đủ nhưng không đúng lịch: Một nghiêncứu về nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em vùng nông thôn Ai Cập đã nhận địnhrằng Tiêm chủng không đầy đủ là yếu tố nguy cơ đến NKHHCT của trẻ [93].
Một nghiên cứu khác được thực hiên bởi D.Gray and H.J Zar (2010) nghiêncứu về Viêm phổi ở trẻ em ở các nước thu nhập thấp và trung bình Tác giảđưa ra nhận định rằng, Viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tửvong ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới Gánh nặng của bệnh viêm phổi ởtrẻ em xảy ra chủ yếu ở các nước có thu nhập thấp hoặc trung bình Mặc dù
có tiến bộ gần đây trong quản lý và dự phòng nhưng, tỷ lệ thất bại điều trị cao
và tử vong tiếp tục xảy ra ở trẻ em tại các quốc gia như vậy Tác giả tiến hànhnghiên cứu này nhằm mục đích: xem xét các bằng chứng hiện nay về dịch tễhọc và quản lý bệnh viêm phổi ở trẻ em ở các nước thu nhập thấp và trungbình Kết quả cho thấy: mắc viêm phổi cao do khó tìm kiếm dịch vụ chăm sócsức khoẻ, khó tiếp cận với chăm sóc sức khỏe, hệ thống chăm sóc sức khỏekém và chương trình tiêm chủng không đầy đủ [75]
Một số tác giả trên Thế giới đã tiến hành nghiên cứu tổng hợp các yếu tốnguy cơ trên cùng một nhóm cộng đồng: nghiên cứu của Baker R J (2006)
Trang 28hút thuốc lá trong gia đình thì tỷ lệ trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp thườnggặp với tần số nhiều hơn so với những trẻ sống trong nhà không có các yếu tốtrên [62] Nghiên cứu của Broor S và cộng sự năm 2001 (ở Ấn Độ), phân tíchhồi quy logistic thấy rằng trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ, nhiễm khuẩn hôhấp ở mẹ, nhiễm khuẩn hô hấp ở con cái trong nhà, tiêm chủng không đầy đủtheo tuổi và tiền sử nhiễm khuẩn hô hấp trong gia đình là yếu tố đóng góp có
ý nghĩa của nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ dưới 5 tuổi Giới tính của trẻ, tuổicủa bố, mẹ, trình độ học vấn của bố, mẹ, số con trong gia đình, loại nhà ởkhông phải là yếu tố nguy cơ liên quan tới bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp dưới
[68] Vì vậy việc xác định các yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn hô hấp cấp cóthể giúp cho giảm gánh nặng bệnh tật
Nghiên cứu của Macedo S E năm 2007 (Phía nam Brazil) và một số tácgiả khác cho thấy, các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh gồm: giới nam, trẻdưới 6 tháng tuổi, nhà đông người, trình độ học vấn của người mẹ, thu nhậpcủa gia đình, tình trạng nhà ở không tốt, không nuôi con bằng sữa mẹ, bà mẹhút thuốc, là các yếu tố liên quan đến NKHHC ở trẻ dưới 1 tuổi [71], [89],[95], [101]
* Yếu tố về kiến thức - thái độ - thực hành (KAP) của bà mẹ.
Năm 2006, Chan G và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu kiến thức, thái
độ, thực hành về sử dụng kháng sinh của các bà mẹ đối với nhiễm khuẩn hôhấp trên (URTI) ở trẻ em tại Malaysia cho thấy, gần 68 % các bà mẹ trong số
họ tin tưởng rằng kháng sinh rất có ích trong điều trị cảm cúm thông thường,
69 % có ích cho ho và 76 % có ích cho sốt Nghiên cứu này chỉ ra rằng cáccha mẹ thường nhận thức sai lệch về sử dụng kháng sinh đối với URTI cấp ởtrẻ Vì vậy việc nâng cao trình độ học vấn của các ông bố, bà mẹ có thể làmgiảm kê đơn kháng sinh không cần thiết và việc kháng kháng sinh ở cộngđồng [72]
Trang 29Nghiên cứu của Kauchali S năm 2004 để đánh giá khả năng nhận biết vềbệnh hô hấp và xác định niềm tin, thái độ, thực hành về NKHHC của các bà
mẹ ở vùng nông thôn Nam Phi cho thấy, nhận thức về nguyên nhân gây bệnh
là rất khác nhau giữa các bà mẹ Bà mẹ thường sử dụng thuốc đông y điều trịthay thế cho thuốc tây y, miễn cưỡng khi tìm kiếm sự chăm sóc y tế và sửdụng kháng sinh không thích hợp Tác giả đã chỉ ra rằng, nhận thức của các
bà mẹ về NKHHC còn rất yếu Vì vậy, rất cần thiết kế chiến lược truyềnthông giáo dục sức khoẻ (TT- GDSK) cho các nhân viên y tế về bệnh hô hấp
để các bà mẹ tìm kiếm kịp thời dịch vụ chăm sóc y tế cho con khi bị bệnh hôhấp, chăm sóc hỗ trợ tại nhà và tuân thủ quy trình sử dụng kháng sinh [86]
* Yếu tố sinh học.
- Giới tính: trong một số nghiên cứu dựa vào cộng đồng, người ta thấy tỷ
lệ trẻ trai dường như thường hay mắc Acute Respiratory Infecitions (ARI)cao hơn trẻ gái [64], [71]
- Tuổi: nghiên cứu chỉ rõ rằng mắc NKHHC nói chung tuơng đối ổn địnhtrong nhóm trẻ từ 1 đến 5 tuổi, tử vong tập trung ở nhóm trẻ nhỏ Thực tế,khoảng một nửa các trường hợp tử vong do bệnh đường hô hấp ở trẻ dưới 5tuổi xảy ra chủ yếu ở trẻ 6 tháng đầu sau khi sinh [71]
1.2.2 Tại Việt Nam
1.2.2.1 Căn nguyên gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp
Tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng cho kết quả tương tự với các nghiêncứu trên Thế giới Phần lớn NKHHC ở trẻ em là do virus gây ra Các virusnày có ái lực với đường hô hấp, khả năng lây lan của virus rất dễ dàng, tỷ lệngười lành mang virus cao, khả năng miễn dịch với virus ngắn và yếu Cácloại virus thường gặp gây bệnh NKHHC là virus hợp bào hô hấp, virus cúm,
á cúm, adenovirus, rhinovirus, virus đường ruột [14], [47]
Trang 30Việt Nam là nước đang phát triển, vi khuẩn vẫn đóng vai trò quan trọngtrong việc gây bệnh NKHHC ở trẻ em Các vi khuẩn thường gặp là phế cầu
(Streptococcus pneumoniae), Haemophilus influenzae, Clamydia, Mycoplasma, tụ cầu, liên cầu, vi khuẩn đường ruột và các vi khuẩn khác.
Viêm phổi do Clamydia hay gặp ở trẻ dưới 6 tháng tuổi Viêm phổi do
Pneumocystis có thể gặp ở trẻ suy dinh dưỡng và trẻ bị HIV/AIDS Vi khuẩn
có thể có sẵn trong mũi, họng gặp điều kiện thuận lợi có thể gây bệnh hoặc vikhuẩn từ ngoài xâm nhập vào đường hô hấp, nó gây bệnh trên cơ sở sức đềkháng của cơ thể bị giảm sút [18], [14], [47], [56] Nghiên cứu của Trần ThịBiển (1997) và Phan Lê Thanh Hương (2004) cho thấy, vi khuẩn gây bệnh
NKHHC chủ yếu là Staphylococcus aureus, Streplococcus pneumonia,
ho, sốt, đau đầu, viêm mũi, viêm phổi, bệnh tiến triển nhanh, không hỗ trợ kịpthời có thể dẫn đến suy hô hấp và tử vong [33]
1.2.2.2 Yếu tố nguy cơ đến nhiễm khuẩn hô hấp cấp
Ở Việt Nam, mặc dù tử vong do viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi đã cóchiều hướng giảm, nhưng ở những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa viêmphổi vẫn là nguyên nhân cao nhất trong tử vong trẻ em và các yếu tố nguy cơcũng tương tự như nghiên cứu trên thế giới
Trang 31* Yếu tố về sinh học, môi trường tự nhiên - xã hội
Do trẻ càng nhỏ tuổi càng dễ bị NKHHC, đặc biệt là trẻ nhỏ dưới 1 tuổi.Cân nặng lúc sinh thấp, đẻ non, hoặc suy dinh dưỡng bào thai, trẻ suy dinhdưỡng, còi xương, thiếu vitaminA hay nhà ở chật chội, ẩm thấp, ảnh hưởngkhói bếp, khói thuốc lá trong nhà có thể làm tỷ lệ mắc bệnh NKHHC tăng lên
rõ rệt Thời tiết khí hậu thay đổi: NKHHC thường gặp nhiều về mùa đông xuân và những tháng chuyển mùa Ngoài ra, CBYT chưa thực hiện xử tríđúng trẻ mắc NKHHC theo phác đồ quy định, đặc biệt là sử dụng thuốc khángsinh Hiểu biết về các dấu hiệu, cách chăm sóc NKHHC trẻ em của cộng đồngnói chung và bà mẹ có con nhỏ dưới 5 tuổi nói riêng còn hạn chế, do đó các
-bà mẹ hoặc người chăm sóc trẻ phát hiện các dấu hiệu của bệnh chậm nên khichuyển đến cơ sở y tế trẻ đã trong tình trạng bệnh rất nặng, nhiều bà mẹ tự ýdùng thuốc kháng sinh cho trẻ mà không có chỉ định của CBYT [22], [47]
Nghiên cứu về nguyên nhân tử vong của trẻ do viêm phổi ở vùng Đồng BằngSông Hồng cho thấy, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tử vong của trẻ như điềukiện kinh tế, xã hội, phong tục tập quán, dân trí Nhưng chủ yếu là trẻ khôngđến cơ sở y tế kịp thời, trẻ đến cơ sở y tế nhưng không được điều trị đúngđắn Kết quả nghiên cứu đã cho thấy 5,6 % trường hợp đến trạm y tế trongtình trạng bệnh rất nguy kịch, 39,5 % đến khi bệnh đã nặng, chỉ có 28,8 %bệnh còn nhẹ khi mới mắc Điều đáng lưu ý là 26,1 % trẻ chết tại nhà, khôngđược điều trị hoặc gia đình tự chữa [56]
Nguyễn Thanh Hà (2002), nghiên cứu nguy cơ dinh dưỡng liên quan đếnNKHHC ở trẻ em dưới một tuổi và một số giải pháp can thiệp ở một số xã thuộctỉnh Hà Tây, Hải Dương, Hà Nội, đã đưa ra kết luận: trẻ không được bú sữa mẹ,trẻ suy dinh dưỡng, trẻ có cân nặng khi sinh thấp, có nguy cơ bị nhiễm khuẩn hôhấp cao gấp 1,6 đến 2 lần (p < 0,01) so với trẻ bình thường [32]
Trang 32Nghiên cứu của Hà Văn Thiệu và cộng sự (2003) về một số yếu tố nguy
cơ chủ yếu đến NKHHC ở trẻ dưới 5 tuổi ở Thừa Thiên Huế cho thấy, phơinhiễm khói thuốc lá, suy dinh dưỡng, thiếu sữa mẹ, ăn sam sớm, nghèođói là các yếu tố nguy cơ đến NKHHC của trẻ (p < 0,05) [58]
Năm 2002, Hàn Trung Điền: nghiên cứu NKHHC ở trẻ dưới 1 tuổi tạicộng đồng và tác động của TT - GDSK tại Bắc Giang, Hà Tĩnh, Quảng Trị.Kết quả cho thấy, nhóm trẻ nuôi không hoàn toàn bằng sữa mẹ có tỷ lệ lượtmắc viêm phổi (22,8 %) cao hơn nhóm nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ (19,7 %)với (p< 0,05) Khả năng nhận biết dấu hiệu NKHHC của bà mẹ còn hạn chế
Đa số bà mẹ chỉ biết dấu hiệu ho, sốt, mệt mỏi, dấu hiệu thở nhanh, khó thởcòn ít được bà mẹ biết Nguyên nhân cơ bản là do bà mẹ không được truyềnthông, ít được tiếp cận thông tin, nhiều bà mẹ tự mua kháng sinh để chữa chotrẻ và không biết cho con uống thêm nước khi con mắc NKHHC, một số bà
mẹ chỉ đưa trẻ mắc NKHHC đến cơ sở y tế (CSYT) khi tự chữa tại nhà khôngkhỏi Giới tính của trẻ, trình độ học vấn của mẹ, nghề nghiệp của mẹ, số controng gia đình và tuổi của mẹ chưa thấy có mối liên quan đến NKHHC củatrẻ, với p > 0,05) [30]
* Yếu tố về hệ thống y tế
Năm 2007, theo báo cáo của một số tỉnh như: Hà Tĩnh, Bắc Giang, PhúThọ, Hà Nam, Đã Nẵng cho biết, trong thời gian dài chương trình phòng chốngNKHHC trẻ em hầu như không hoạt động, không có kinh phí, không cung ứngthuốc và trang thiết bị, không đào tạo, tập huấn được cho CBYT xã, NVYTTB
về kiến thức, kỹ năng xử trí trẻ NKHHC và kỹ năng TT - GDSK, sử dụng khángsinh không đúng trong điều trị tại các cơ sở y tế (trẻ ho, sốt đơn thuần còn dùngkháng sinh nhiều), không tổ chức giám sát, vì vậy huấn luyện tại chỗ hầu nhưkhông thực hiện được Người nuôi trẻ thiếu hiểu biết về bệnh tật và cách nuôidưỡng trẻ khi bị bệnh Đặc biệt thói quen dùng kháng
Trang 33sinh khi trẻ chỉ có ho, sốt đơn thuần hoặc đau họng là rất phổ biến Nhiều khicác bà mẹ tự ý mua thuốc điều trị cho con, không tuân theo hướng dẫn củaCBYT [2], [3], [4], [5], [6], [8], [9].
* Yếu tố về kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) của bà mẹ
Lê Thị Nga và cộng sự (1995) tiến hành điều tra kiến thức các bà mẹ dântộc Sán Dìu, H’Mông về bệnh NKHHC trẻ em tại xã Nam Hòa - Đồng Hỷ -Thái Nguyên và Cán Tỷ- Quản Bạ - Hà Giang đã đánh giá thực trạng kiếnthức của các bà mẹ về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp nhìn chung còn hạn chế, đặcbiệt các bà mẹ dân tộc H’Mông có kiến thức kém hơn các bà mẹ dân tộc SánDìu Cụ thể là: không biết xử trí khi trẻ bị ho đơn thuần: 65,85 % (H’Mông)
so với 60,4 % (Sán Dìu), không biết các dấu hiệu sớm của viêm phổi: 100 %(H’Mông) so với 55,06 % (Sán Dìu), không biết được sự nguy hiểm của viêmphổi: 94,31% (H’Mông) so với 55,06 % (Sán Dìu), không biết sử dụng khángsinh khi trẻ bị viêm phổi: 91,13 % (H’Mông) so với 58,99 % (Sán Dìu), khôngbiết các triệu chứng cần thiết để đưa trẻ đến viện: 100 % (H’Mông) so với37,64 % (Sán Dìu) [45]
Nguyễn Thị Thanh Hương và cộng sự (2008), nghiên cứu thực hànhchăm sóc tại nhà trẻ dưới 5 tuổi bị NKHHC của các bà mẹ tại huyện QuảngTrạch, Quảng Bình cho thấy, tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức tốt về NKHHC cònthấp (34 %) [40]
Tóm lại: Các nghiên cứu trên Thế giới và Việt Nam đã đề cập đến một sốyếu tố nguy cơ dẫn đến NKHHC như: môi trường tự nhiên xã hội, hệ thống y
tế, kiến thức; thái độ; thực hành của bà mẹ và yếu tố sinh học Nhưng ở khuvực miền núi còn ít nghiên cứu đề cập đến, đây cũng là vấn đề mà chúng tôicần suy nghĩ và quan tâm
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bà mẹ có con dưới 5 tuổi
- Trẻ em dưới 5 tuổi
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 11 /2012 đến 9 /2013
- Địa điểm nghiên cứu: Huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Trang 352.3 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả và nghiên cứu bệnh chứng: áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả để đánh giá thực trạng NKHHCT và nghiên cứu bệnh chứng để xác định các yếu tố nguy cơ đến NKHHCT.
Tiến hành mô tả theo phương pháp khám lâm sàng để đánh giá thựctrạng NKHHC và phân tích một số chỉ số: điều kiện vệ sinh nhà ở, tiêmchủng, cai sữa của trẻ, kiến thức; thái độ; thực hành (KAP) của bà mẹ tại cộngđồng để xác định một số yếu tố nguy cơ đến NKHHCT
Trẻ được chọn vào nghiên cứu
Điều tra cắt ngang
NC bệnh chứng
Nhóm trẻ có yếu tố nguy cơ
ơ
So sánh
Sơ đồ 2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng và phân tích tình hình nhiễm
khuẩn hô hấp dưới cấp với yếu tố nguy cơ
Trang 362.3.1 Thiết kế nghiên cứu mô tả
1. Sử dụng phương pháp điều tra cắt ngang để mô tả thực trạng tình hình NKHHCT tại cộng đồng nghiên cứu [19]
* Cỡ mẫu nghiên cứu mô tả, được tính theo công thức tính cỡ mẫu cho ước lượng một tỷ lệ trong quần thể [37].
Trong đó: n: cỡ mẫu cần có; Z (1- /2): Hệ số giới hạn tin cậy với = 0,05
Z 1
- Cỡ mẫu mô tả cho trẻ:
p: tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp = 40,7% [60]
Nhóm chứng: Trẻ dưới 5 tuổi không mắc NKHHCT
Cỡ mẫu được tính theo công thức sau: [37]
Trang 38n: Cỡ mẫu cần có ở mỗi nhóm
Zα/2: Hệ số giới hạn tin cậy = 1,96
p1: Tỷ lệ cá thể phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ ở nhóm bệnh
Theo 1 nghiên cứu trước đây thì tỷ lệ trẻ cai sữa không đúng thời gian ở nhóm bệnh
- Lập danh sách các xã, thị trấn trong toàn huyện và chọn ngẫu nhiên 2
xã để điều tra hộ gia đình và khám trẻ (xã Lương Phong và xã Hoàng Vân).Chọn ngẫu nhiên bằng phương pháp bốc thăm
- Với mẫu nghiên cứu mô tả: lập danh sách trẻ dưới 5 tuổi trong 2 xãnghiên cứu, thông qua sổ theo dõi của trạm y tế, tổng số có 2021 trẻ Nhómnghiên cứu tiến hành điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên đơn hệ thống dựatheo danh sách trên tổng số có 2021 trẻ, cỡ mẫu cần nghiên cứu là 553 trẻ, vậykhoảng cách mẫu: k = 2021: 553 = 3,6 trẻ > Kết quả thu được 673 trẻ vàodiện nghiên cứu theo khoảng cách mẫu
- Với nghiên cứu bệnh - chứng: theo tỷ lệ 1 bệnh, 2 chứng Theo phươngpháp ngẫu nhiên đơn chọn 197 trẻ mắc NKHHCT vào nhóm bệnh và 394 trẻkhông mắc NKHHCT và nhóm chứng
Trang 392.5 Các chỉ số nghiên cứu
2.5.1 Chỉ số về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu, tình hình kinh
tế văn hóa xã hội của các hộ gia đình.
- Hộ nghèo ở nông thôn: Thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/ người/tháng (4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống [25]
- Hộ không nghèo ở nông thôn: Thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng(4.800.000 đồng/người/năm) trở lên [25]
- Dân tộc
- Nghề nghiệp của bà mẹ
- Trình độ học vấn của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi
+ Mù chữ: là những người không biết đọc, biết viết
+ Biết đọc, biết viết là những người học chưa hết lớp 4/10 hoặc 5/12.+ Tiểu học là những người đã học hết lớp 4/10 hoặc 5/12
+ Trung học cơ sở là những người đã học hết lớp 7/10 hoặc lớp 9/12.+ Phổ thông trung học là những người đã học hết lớp 10/10 hoặc
lớp12/12 (Có bằng tốt nghiệp cấp III)
2.5.2 Chỉ số về tình hình bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ
- Tỷ lệ NKHHCT của trẻ dưới 5 tuổi tại các điểm nghiên cứu
- Phân bố tỷ lệ NKHHCT trẻ em dưới 5 tuổi theo phân loại của
WHO gồm có 3 loại [16], [17], [18]
+ Không viêm phổi: Ho hoặc cảm lạnh
+ Viêm phổi
+ Viêm phổi nặng hoặc bệnh rất nặng
- Tỷ lệ NKHHCT của trẻ dưới 5 tuổi theo các nhóm tuổi: Tỷ lệ NKHHC trẻ em theo các nhóm tuổi: cách tính tuổi theo quy ước của WHO [12].
- Tỷ lệ NKHHCT của trẻ em dưới 5 tuổi theo giới
Trang 40- Tỷ lệ NKHHCT của trẻ em dưới 5 tuổi theo nghề nghệp mẹ.
- Tỷ lệ NKHHC theo học vấn mẹ
- Tỷ lệ NKHHC theo nghề nghiệp mẹ
- Tỷ lệ NKHHC theo tình trạng nhà
- Tỷ lệ NKHHC theo kinh tế hộ gia đình
- Tỷ lệ NKHHC theo hộ gia đình có người hút thuốc lá, thuốc lào trong nhà.
- Tỷ lệ NKHHC theo hộ gia đình có bếp đun nấu hàng ngày trong nhà
- Tỷ lệ NKHHC ở gia đình có chuồng gia súc gần nhà, xa nhà
2.5.3 Chỉ số về các yếu tố nguy cơ đến nhiễm khuẩn hô hấp cấp của trẻ
- Mối liên quan giữa các mức độ kiến thức về chăm sóc trẻ của bà mẹ vớiNKHHCT
- Mối liên quan giữa các mức độ học vấn của bà mẹ với NKHHCT
- Mối liên quan giữa các loại nhà với NKHHCT
- Mối liên quan giữa tình trạng nhà với NKHHCT
- Mối liên quan giữa bếp đun nấu trong nhà với NKHHCT
- Mối liên quan giữa khoảng cách chuồng gia súc với NKHHCT
- Mối liên quan giữa gia đình có người hút thuốc với NKHHCT
- Mối liên quan giữa thời gian cai sữa của trẻ với NKHHCT
- Mối liên quan giữa tình trạng tiêm chủng của trẻ với NKHHCT
- Mối liên quan giữa cân nặng khi sinh thấp của trẻ với NKHHCT
- Mối liên quan giữa các mức độ học vấn của bà mẹ với NKHHCT
2.5.4 Phân loại các yếu tố nguy cơ theo mô hình hồi quy logistic
Dựa vào OR hiệu chỉnh để xác định độ mạnh của yếu tố nguy cơ và loại
bỏ yếu tố nhiễu
2.5.5 Một số định nghĩa về chỉ số nghiên cứu
* Chỉ số về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu, tình hình kinh tế văn hóa xã hội của các hộ gia đình.