khóa luận, tiểu luận, chuyên đề, đề tài, luận văn
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 03
LỜI MỞ ĐẦU 04
A PHẦN 1: CÁC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ I Sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư 05
II Sự phân chia tư bản thành tư bản bất biến, tư bản khả biến Bản chất của tư bản 07
1) Tư bản bất biến và tư bản khả biến 07
2) Bản chất tư bản 08
III Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư 12
1) Tỷ suất giá trị thặng dư 12
2) Khối lượng giá trị thặng dư 13
IV Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và giá trị thặng dư siêu ngạch 14
1) Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 14
a Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối 14
b Sản xuất giá trị thặng dư tương đối 15
2) Giá trị thặng dư siêu ngạch 15
V Sản xuất giá trị thặng dư – quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản 16
Trang 21) Quy luật kinh tế tuyệt đối 16
2) Quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản 16
B PHẦN 2: Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU 18
I Vấn đề sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản hiện nay 18
II Sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh tế của nước ta hiện nay 19
1) Phạm trù giá trị thặng dư trong xã hội chủ nghĩa 19
2) Tính tất yếu khách quan của kinh tế thị trường ở Việt Nam 21
3) Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 23
4) Sản xuất giá trị thặng dư trong thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam 24
a Lao động tạo ra giá trị trong các doanh nghiệp tư nhân 25
b Vấn đề bóc lột giá trị thặng dư 27
5) Một số giải pháp để vận dụng học thuyết giá trị thặng dư nhằm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay 30
a Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên kinh tế quốc dân 30
b Khuyến khích và thu hút vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế 32
c Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư 33
d Nâng cao chất lượng nguồn lao động, phát triển thị trường lao động 34
e Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước về kinh tế 36
C PHẦN 3: KẾT LUẬN 38
Tài liệu tham khảo 40
Trang 5A PHẦN I: QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG XÃ HỘI
TƯ BẢN
I Sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư
1) Quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng trong chủ nghĩa tư bản
Mục đích sản xuất tư bản chủ nghĩa là sản xuất giá trị thặng dư Muốn vậy phải tổchức sản xuất ra hàng hoá có giá trị sử dụng Do vậy, quá trình sản xuất TBCN là sựthống nhất giữa quá trình sản xuất giá trị sử dụng và quá trình sản xuất giá trị thặngdư
2) Quá trình sản xuất giá trị thặng dư
Muốn sản xuất giá trị thặng dư, nhà tư bản buộc người công nhân phải sản xuất giátrị sử dụng của hàng hóa nhất định nào đó Việc sản xuất ra những giá trị sử dụng nằmdưới sự kiểm soát của nhà tư bản, do vậy quá trình sản xuất ở đây là quá trình sản xuất
tư bản chủ nghĩa Nhà tư bản là chủ thể của quá trình sản xuất, sau quá trình sản xuất
sẽ tạo ra hàng hóa mới có giá trị lớn hơn tổng giá trị những tư liệu sản xuất và sức laođộng mà nhà tư bản đã tiêu dùng trong sản xuất
Quá trình này với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra hàng hóa vớiquá trình làm tăng giá trị được phân tích qua một ví dụ sau:
Ví dụ về quá trình sản xuất sợi của nhà tư bản.
Để tiến hành sản xuất nhà tư bản mua các yếu tố sản xuất và giả sử mua đúng giátrị
10kg bông giá : 10 USD
Trang 6Khấu hao máy móc thiết bị : 2 USD
Mua sức lao động : 3 USD/12giờ
Trong 1 giờ người công nhân tạo ra 0,5 USD giá trị mới
Giả sử trong 6h lao động đầu người công nhân đã thực hiện kéo hết 10 kg bôngthành sợi, giá trị của sợi là 15 USD Nếu quá trình sản xuất chỉ dừng ở đây thì sẽkhông tạo ra giá trị thặng dư Tuy nhiên vì nhà tư bản mua sức lao động trong 12h.Tức là trong 6h sau họ vẫn phải lao động tạo ra hàng hoá sợi có giá trị 15 USD Tuynhiên trong quá trình này chi phí nhà tư bản bỏ ra chỉ có 12 USD (không tính thêmchi phí mua sức lao động công nhân)
Vậy, Tổng giá trị sản xuất trong ngày của công nhân 30 USD
Tổng chi phí sản xuất : 15+12= 27 USD
Giá trị thặng dư : m = 3 USD
Từ sự phân tích trên cho phép rút ra kết luận sau: Ngày lao động của công nhânchia làm hai phần, phần thời gian lao động (6h đầu) là thời gian lao động cần thiết (xãhội) (t), Phần còn lại của lao động (6h sau) là thời gian lao động thặng dư (t’)
Giá trị sản phẩm được sản xuất ra bao gồm:
- Giá trị tư liệu sản xuất được lao động cụ thể của công nhân bảo tồn và dichuyển vào sản phẩm mới gọi là giá trị cũ (c)
- Giá trị do lao động trừu tượng của công nhân tạo ra trong quá trình lao độnggọi là giá trị mới, phần giá trị này lớn hơn giá trị sức lao động, nó bằng giá trị sức laođộng (v) cộng với giá trị thặng dư (m)
Trang 7Kết luận: Như vậy, giá trị thặng dư là giá trị mới dôi ra ngoài gía trị sức lao động
do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt, là lao động không công của côngnhân
II Sự phân chia tư bản thành tư bản bất biến, tư bản khả biến - bản chất của tư bản
1) Tư bản bất biến và tư bản khả biến
Trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư, các bộ phận khác nhau của tư bản có vaitrò và tác dụng khác nhau
a Tư bản bất biến: Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất bao gồm
nhà xưởng, máy móc các thiết bị công cụ sản xuất, nguyên liệu, nhiêu liệu, vật liệu,…Giá trị của nó không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất gọi là tư bản bất biến(kí hiệu là c - Constant)
b Tư bản khả biến: Bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động đã có sự biến đổi về
lượng trong quá trình sản xuất Bộ phận tư bản này được gọi là tư bản khả biến (kíhiệu là v - Variable)
- Tham gia tạo ra giá trị thặng dư bao gồm 2 yếu tố, trong đó tư bản khả biếndùng để mua sức lao động có vai trò trực tiếp sáng tạo ra giá trị thặng dư Còn tư bảnbất biến đóng vai trò gián tiếp, nó chỉ là điều kiện vật chất cần thiết cho quá trình sảnxuất, tự bản thân nó không sáng tạo ra giá trị thặng dư
- Nếu kí hiệu giá trị thặng dư là m thì giá trị mới sẽ là (v + m)
Giá trị hàng hóa tư bản chủ nghĩa bằng (c + v + m)
Trang 8Việc phát hiện ra tính hai mặt của lao động trong sản xuất hàng hóa đã giúpC.Mác tìm ra chìa khóa để xác định sự khác nhau giữa tư bản bất biến và tư bản khảbiến C.Mác là người đầu tiên chia tư bản ra thành tư bản bất biến và tư bản khả biến.
Sự phân chia này đã vạch rõ thực chất của bóc lột tư bản chủ nghĩa, chỉ có laođộng của công nhân mới trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư
2) Bản chất của tư bản
C Mác đã vạch ra rằng, tư bản không hề phát minh ra lao động thặng dư, rằng:
"Nơi nào mà một bộ phận xã hội chiếm độc quyền về những tư liệu sản xuất thì nơi đóngười lao động, tự do hay không tự do, đều buộc phải thêm vào thời gian lao động cầnthiết để nuôi sống bản thân mình một số thời gian lao động dôi ra dùng để sản xuấtnhững tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu tư liệu sản xuất" (1) Quy luật kẻ chiếmhữu tư liệu sản xuất bóc lột người lao động không có tư liệu sản xuất, được thực hiệndưới những hình thức và cơ chế khác nhau trong những hình thái xã hội khác nhau.Giai cấp tư sản bước lên vũ đài lịch sử cũng là giai cấp độc chiếm tư nhân những
tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội Khác với cơ chế bóc lột trong hai hình thái kinh tế
- xã hội trước chủ yếu dựa trên quan hệ hiện vật, cơ chế bóc lột tư bản chủ nghĩa dựatrên quan hệ giá trị; nói cách khác là quan hệ trao đổi những vật ngang giá (tức là tuântheo quy luật giá trị) Quan hệ này che dấu sự bóc lột trong một cơ chế trao đổi với vẻ
bề ngoài như là tự do và bình đẳng, chính vì vậy mà các nhà kinh tế học trước C Mác
đã không thành công trong việc lý giải bản chất bóc lột tư bản chủ nghĩa
A Smith và D Ri-các-đô đã quan niệm một cách hời hợt, bề ngoài rằng, mua bángiữa tư bản và công nhân hình như là mua bán lao động nên cả hai ông đều gặp bế tắctrong việc lý giải một cách khoa học bản chất và nguồn gốc của lợi nhuận Chẳng hạn,
Trang 9nếu lao động là hàng hóa thì nó phải được kết tinh vào vật, như vậy là công nhân bánhàng hóa chứ không bán lao động; lao động được xác định là thước đo của mọi giá trịthì không thể tự lấy nó để đo lường giá trị của bản thân nó Mặt khác, nếu mua bán laođộng mà trao đổi ngang giá thì không còn cơ sở tồn tại của lợi nhuận, nhưng thực tếlợi nhuận tồn tại một cách khách quan Vậy, theo các cách giải thích đó, quy luật giátrị mâu thuẫn với quy luật sản xuất ra lợi nhuận và ngược lại
C Mác đã phát hiện rằng, quan hệ mua bán giữa công nhân và tư bản không phải
là mua bán hàng hóa lao động mà là mua bán một loại hàng hóa đặc biệt - hàng hóasức lao động Hàng hóa này có giá trị và giá trị sử dụng khác với các hàng hóa thôngthường Giá trị của hàng hóa sức lao động là giá trị những tư liệu sinh hoạt tối thiểucần thiết để tái sản xuất sức lao động của công nhân và bao hàm những yếu tố tinhthần, lịch sử và dân tộc Giá trị sử dụng của hàng hóa này (tức là tiêu dùng nó trongquá trình sản xuất) có khả năng tạo ra một lượng giá trị lớn hơn giá trị của chính nó làsức lao động Do đó dù nhà tư bản trả đủ giá trị sức lao động cho công nhân trên cơ sởtrao đổi ngang giá thì vẫn thu được phần giá trị dôi ra, biến thành lợi nhuận Như vậy,quy luật giá trị và quy luật sản xuất ra lợi nhuận không phủ định lẫn nhau mà songsong tồn tại: trao đổi giữa tư bản và công nhân tuân theo quy luật ngang giá (quy luậtgiá trị sức lao động) nhưng nhà tư bản vẫn thu được phần dôi ra ngoài giá trị sức laođộng; phần dôi ra đó được C Mác gọi là giá trị thặng dư Như vậy, bóc lột lao độngthặng dư biểu hiện thành bóc lột giá trị thặng dư là quy luật bóc lột đặc thù củaphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và là quy luật tuyệt đối của phương thức sảnxuất đó
Tỷ số giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến hay tỷ số giữa lao động thặng dư vàlao động cần thiết là tỷ suất giá trị thặng dư; tỷ suất đó nói lên mức độ bóc lột giai cấp
Trang 10công nhân Giá trị thặng dư có biểu hiện bề ngoài là một số tiền dôi ra ngoài tư bảnứng trước; số tiền đó có tên gọi là lợi nhuận Phạm trù lợi nhuận che dấu quan hệ bóclột vì nó làm cho người ta dễ lầm tưởng là con đẻ của tư bản ứng trước (c + v) chứkhông phải là con đẻ của tư bản khả biến (v)
Tổng số giá trị thặng dư bóc lột được phân chia thành các loại thu nhập ăn bámtrong xã hội tư bản: lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận thương nghiệp, lợi nhuận ngânhàng; nó còn được phân chia nhỏ hơn nữa thành lợi nhuận doanh nghiệp, lợi tức chovay v.v Quá trình phân chia đó tuân thủ theo quy luật cạnh tranh bình quân hóa tỷsuất lợi nhuận Giá trị thặng dư còn phải phân chia cho chủ sở hữu ruộng đất dướihình thức địa tô Như vậy, tổng số giá trị thặng dư do toàn bộ giai cấp vô sản, côngnhân tạo ra trong các ngành sản xuất bị toàn bộ giai cấp tư bản và địa chủ phân chianhau trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng
Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, đỉnh cao của nó là độc quyền nhànước là chủ nghĩa đế quốc, đã có nhiều biến đổi trong hình thức và cơ chế bóc lột tưbản chủ nghĩa Quy luật sản xuất giá trị thặng dư biểu hiện thành quy luật tỷ suất lợinhuận bình quân trong thời kỳ tự do cạnh tranh thì nay, trong chủ nghĩa tư bản độcquyền, nó biểu hiện thành quy luật tỷ suất lợi nhuận độc quyền cao; quy luật giá trịbiểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất trong thời kỳ tự do cạnh tranh nay biểu hiệnthành quy luật giá cả độc quyền với hệ thống giá bán độc quyền cao, giá mua độcquyền thấp do tư bản độc quyền can thiệp và áp đặt v.v Những bộ phận cấu thành lợinhuận độc quyền cao là: lao động thặng dư, thậm chí một phần lao động cần thiết củacông nhân trong xí nghiệp độc quyền; một phần lao động thặng dư của các xí nghiệpnhỏ và vừa do xí nghiệp độc quyền xén bớt thông qua hệ thống giá cả độc quyền; laođộng thặng dư, thậm chí một phần lao động cần thiết của nông dân và thợ thủ công
Trang 11cũng bị bóc lột thông qua hệ thống giá cả độc quyền; phần quan trọng là siêu lợinhuận thuộc địa dựa trên sự bóc lột nặng nề lao động thặng dư và một phần lao độngcần thiết của nhân dân lao động ở những nước thuộc địa hay phụ thuộc
Cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học - kỹ thuật và của chủ nghĩa tư bảnđộc quyền nhà nước, cơ chế bóc lột đã trở nên phức tạp và tinh vi hơn (chủ nghĩaTaylo, chủ nghĩa Fayol, chủ nghĩa Ford, chủ nghĩa Ford mới v.v., lần lượt xuất hiện đểbiện minh cho tính công bằng, sòng phẳng trong quan hệ giữa tư bản với lao động).Trên thực tế trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, ngày càng có nhiều thủ đoạn và hìnhthức bòn rút lợi nhuận tinh vi để không ít người còn lầm tưởng đến một thứ chủ nghĩa
tư bản mới "nhân văn" hơn trước đây, như "chủ nghĩa tư bản nhân dân", "xã hội thamdự" Điều không thể che dấu được đó là sự hình thành một tầng lớp tư sản ăn bám,quý tộc, thực lợi, tài phiệt; sự thao túng có tính chất toàn cầu của các tập đoàn xuyênquốc gia, tình trạng bất bình đẳng trong các quan hệ thương mại quốc tế; sự xuất hiệncủa cái gọi là chủ nghĩa thực dân kinh tế; sự áp đặt chính sách giữa Đông và Tây, giữacác nước giàu với các nước nghèo
Sự phân hóa xã hội thành giai cấp không lao động nhưng giàu có, đầy quyền lực,thống trị, áp bức đa số người trong xã hội và giai cấp lao động sản xuất ra của cải xãhội nhưng nghèo khổ, bị tước mọi quyền và bị áp bức là sản phẩm tất yếu của mọi xãhội có chế độ người bóc lột người
Kinh tế học tư sản cho rằng mọi tư liệu sản xuất đều là tư bản, người ta coi tư bảnnhư một điều kiện vật chất tồn tại vĩnh viễn, không thay đổi trong các xã hội Điềunày đã che giấu thực chất việc nhà tư bản bóc lột công nhân làm thuê Thực ra, bảnchất các tư liệu sản xuất không phải là tư bản, nó là điều kiện vật chất cần thiết củasản xuất trong bất cứ xã hội nào Tư liệu sản xuất chỉ trở thành tư bản khi nó trở thành
Trang 12tài sản của các nhà tư bản và được dùng để bóc lột lao động làm thuê Khi chế độ tưbản không còn nữa, thì tư liệu sản xuất không còn nữa.
Như vậy, tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làmthuê, tư bản thể hiện quan hệ sản xuất giữa giai cấp tư sản và vô sản, tư bản là phạmtrù lịch sử
III Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư
1) Tỷ suất giá trị thặng dư
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỉ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bảnkhả biến, tức là tỉ lệ theo đó tư bản khả biến tăng thêm giá trị
C Mác dùng chữ m’ để chỉ tỉ suất giá trị thặng dư
m’= (m/v) x 100%
Tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh mức độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân,
nó chỉ rõ trong tổng số giá trị mới do sức lao dộng tạo ra, thì công nhân được hưởngbao nhiêu, nhà tư bản chiếm đoạt bao nhiêu, tuy nhiên chưa nói được vi mô của bóclột tư bản
m’ = (t’/t) x 100%
t’: Thời gian lao động thặng dư
t : Thời gian lao động tất yếu
Tỷ suất giá trị thặng dư còn chỉ rõ, trong một ngày lao dộng, phần thời gian laođọng thặng dư (t’), mà công nhân làm cho nhà tư bản, chiếm bao nhiêu phần trăm sovới thời gian lao động tất yếu (t)
Trang 132) Khối lượng giá trị thặng dư
Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỉ suất giá trị thặng dư với tổng tư bảnkhả biến (V) được sử dụng
Nếu gọi M là khối lượng giá trị thặng dư, ta có công thức
M = m’ x V
V = v x Số lượng công nhân
V: tư bản khả biến đại diện cho tổng giá trị sức lao động
v : tư bản khả biến đại diện cho giá trị một sức lao động
M: phản ánh quy mô sự bóc lột
Khối lượng giá trị thặng dư tùy thuộc vào 2 nhân tố: m’ và V Điều đó có nghĩa làkhối lượng giá trị thặng dư phụ thuộc vào thời gian lao động thặng dư, cường độ laođộng của công nhân và số lượng công nhân mà nhà tư bản sử dụng
Ví dụ: Công nhân ngày làm việc 8h thì tỷ suất giá trị thặng dư là 300% Sau đó
nhà tư bản kéo dài ngày làm việc đến 10h thì tỷ suất giá trị thặng dư thay dổi như thếnào nếu giá trị sức lao động không đổi (V không đổi)
Chú thích: - t : thời gian lao động cần thiết
- t’: thời gian lao động thặng dư
Trường hợp 1:
Ta có công thức :
Trang 14Tỷ suất giá trị thặng dư: m’= (t’/t )x 100% = (8/2) x 100% = 400%
Tỷ suất giá trị thặng dư tăng thêm = m’ (sau) - m’(đầu)
= 400% - 300% =100%
IV Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và giá trị thặng dư siêu nghạch
1) Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
a Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được bằng các kéo dài ngày laođộng hoặc tăng cường độ lao động trong khi thời gian lao động tất yếu, giá trị sức laođộng và năng suất lao động không thay đổi
Trang 15Giới hạn về thể chất, tinh thần: giới hạn này đòi hỏi trong 24h của một ngày đêmngười công nhân cần phải ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí phục hồi sức lao động Với sựphát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa, ngày lao động có xu hướng ngày càng ngắnhơn trước.
Giới hạn về kinh tế - xã hội: về mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn thời gianlao động tất yếu nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinh thần của ngườilao động Về mặt xã hội, trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản mới ra đời, nhà nước ban bốnhiều đạo luật có lợi cho giai cấp tư sản
b Sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian laođộng tất yếu, bằng cách tăng năng suất lao động xã hội, qua đó hạ thấp giá trị sức laođộng và làm tăng tương ứng thời gian lao động thặng dư, trong điều kiện độ dài ngày
lao động và cường độ lao động không đổi.
2) Giá trị thặng dư siêu ngạch
Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do giá trị cá biệt củahàng hóa thấp hơn giá trị xã hội
Những doanh nghiệp nào đi đầu trong đổi mới công nghệ sẽ thu được giá trị thặng
dư Giá trị thặng dư siêu ngạch chính là giá tri thặng dư tương đối do tăng năng suấtlao động mà có nhưng khác ở chỗ giá trị thặng dư tương đối do tăng năng xuất laođộng xã hội, do đó tất cả các nhà tư bản đều được hưởng
Trang 16Còn gía trị thặng dư siêu ngạch là do tăng năng suất lao động cá biệt nên chỉ cónhững nahf tư bản nào có năng suất lao động cá biệt hơn năng suất lao động xã hội thìmới được hưởng giá trị thặng dư siêu ngạch.
V Sản xuất giá trị thặng dư - quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
1) Quy luật kinh tế tuyệt đối
Mỗi phương thức sản xuất bao giờ cũng tồn tại một quy luật phản ánh bản chất củaphương thức sản xuất, quy định sự vận động phát triển của phương thức sản xuất vàđóng vai trò chủ đạo trong hệ thống các quy luật kinh tế gọi là quy luật kinh tế tuyệtđối
2) Quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, quy luật kinh tế tuyệt đối được C Mác xácđịnh là quy luật sản xuất giá trị thặng dư Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa làlàm giàu, là nhân giá trị lên, do đó là bảo toàn giá trị cũ và tạo ra giá trị thặng dư Sảnxuất giá trị thặng dư là mục đích trực tiếp duy nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
Vì mục đích này, các nhà tư bản sản xuất bất kỳ hàng hóa gì, kể cả phương tiện giếtngười hàng loạt, miễn là tối đa hóa giá trị thặng dư
Theo đuổi giá trị thặng dư bằng bất cứ thủ đoạn nào là mục đích, động cơ thúc đẩy
sự hoạt động của mỗi nhà tư bản cũng như của toàn bộ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Giá trị thặng dư xét về bản chất là phạm trù kinh tế riêng của nền sản xuất tưbản chủ nghĩa, trong mọi xã hội, các sản phẩm thặng dư đều có giá trị nhưng chỉ trongnền sản xuất tư bản chủ nghĩa, giá trị của sản phẩm thặng dư mới là giá trị thặng dư.Phần giá trị thặng dư do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra ngoài giá trị sức
Trang 17lao động và bị nhà tư bản chiếm không Phạm trù giá trị thặng dư phản ánh mối quan
hệ giữa tư bản và lao động làm thuê, mối quan hệ cơ bản và sâu sắc nhất của xã hội tưbản, xuyên suốt tất cả quan hệ sản xuất của xã hội đó Do vậy, sản xuất giá trị thặng
dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
3) Vai trò quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
Quy luật giá trị thặng dư tác động quyết định đến mọi mặt của xã hội tư bản, nóquyết định sự phát sinh, tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản, nó là quy luật vậnđộng của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
Quy luật giá trị thặng dư, một mặt thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, phân công lao động xãhội phát triển, làm cho lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng lênnhanh chóng Mặt khác, làm cho các mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản, trướchết là mâu thuẫn cơ bản của nó, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với sựchiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt Mâu thuẫn này diễn biếnngày càng phức tạp, quy định xu hướng lịch sử tất yếu của chủ nghĩa tư bản là sẽnhường chỗ cho một xã hội mới văn minh hơn Do vậy, đối với giai cấp tư sản hiệnđại, việc tìm mọi cách để điều chỉnh, để thích nghi, để tồn tại là vấn đề sống còn củachủ nghĩa tư bản ngày nay
B PHẦN 2 - Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU
I Vấn đề sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản hiện nay
Ngày nay ở các nước TBCN phát triển mức sống của đa số công nhân đã đượcnâng cao hơn trước rất nhiều, không ít người lao động đã mua cổ phiếu, xuất hiện tầnglớp trung lưu đông đảo…đã tạo điều kiện thực tiễn cho nhiều quan điểm phê phán học
Trang 18thuyết giá trị thặng dư của C.Mác Họ cho rằng lý luận giá trị thặng dư của C.Mác chỉđúng trong thời đại công nghiệp cơ khí với lao động thủ công là chủ yếu là lao độngthể lực, sử dụng cơ bắp là chính, hàng hóa chỉ là hàng hóa vật thể, sản phẩm của cácnghành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp… Ngày nay lao động trí tuệ,lao động quản lý trở thành những hình thức lao động có vai trò lớn; khu vực dịch vụ,các hàng hóa phi vật thể, vô hình chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế thì lý luận giátrị thặng dư của C.Mác không còn đúng nữa.
Khi nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư tương đối ta thấy rõ nhờ ứng dụng tiến bộ
kỹ thuật, tăng sức sản xuất của lao động trư¬ớc hết trong những ngành sản xuất ra tưliệu sản xuất để sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, với độ dài ngày lao động không đổi, thờigian lao động tất yếu rút ngắn lại, thời gian lao động thặng dư tăng lên, nhờ đó tăngkhối lượng giá trị thặng dư tương đối, thậm chí còn có thể rút ngắn ngày lao động màvẫn thu được khối lượng giá trị thặng dư nhiều hơn trước Từ đó, đời sống của ngườilao động được cải thiện, nhưng mức độ bóc lột lao động không công lại tăng hơntrước C.Mác cũng đã từng dự báo, khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,nhờ khoa học kỹ thuật con người sẽ ngày càng được giải phóng khỏi những lĩnh vựctrực tiếp sản xuất mà sẽ làm chức năng điều khiển quá trình sản xuất
Những dự báo đó đã được thời đại ngày nay xác nhận cùng với lao động thể lực,lao động trí tuệ, lao động quản lý thì đều là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư Hiệntượng người lao động có cổ phiếu, người lao động nhận được một phần giá trị thặng
dư do họ tạo ra thông qua chính sách xã hội của nhà nước là những hiện tượng vượt rangoài quan hệ giữa tư bản và lao động, mầm mống của những quan hệ kinh tế mới.Tuy nhiên ngày nay những quan hệ đó vẫn chưa thể làm thay đổi bản chất của CNTB.Trong xã hội tư bản hiện nay, theo đuổi lợi nhuận vẫn là mục tiêu và động lực của tư
Trang 19bản và vẫn thu được những khối lượng lợi nhuận khổng lồ là giá trị thặng dư do laođộng làm thuê tạo ra Như vậy, dù đời sống công nhân ở các nước TBCN phát triểnđược nâng cao hơn trước rất nhiều, quan hệ bóc lột giá trị thặng dư vẫn còn tồn tại.Trước đây, do đối lập một cách máy móc CNXH với CNTB đã thịnh hành một quanđiểm cho rằng trong CNXH, thậm chí cả trong thời kỳ qua độ lên CNXH, không cònkinh tế hàng hóa, càng không còn kinh tế thị trường (trình độ phát triển cao của kinh
tế hàng hóa), do đó cũng không còn phạm trù giá trị và giá trị thặng dư Ngày nay, trảiqua thực tiễn chúng ta càng nhận thức rõ rằng: “ Sản xuất hàng hóa không đối lập vớiCNXH, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cầnthiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đã được xây dựng ”
II Sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh tế của nước ta hiện nay
1) Phạm trù giá trị thặng dư trong xã hội chủ nghĩa
Khai thác những di sản lý luận về nền kinh tế hàng hóa.Chính Mác là một trongnhững người nghiên cứu sâu sắc về kinh tế hàng hóa Nền kinh tế hàng hóa nước ta cótính đặc thù riêng nhưng cũng có đặc tính phổ biến Cần khai thác những luận điểmcủa Mác về quá trình sản xuất và phân phối giá trị thặng dư để vận dụng vào việc điềuhành và quản lý nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay Thành phần kinh tế
tư bản tư nhân là một bộ phận cần thiết của nền kinh tế quốc dân, nó trở thành mộtmắt khâu không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội C.Mác từng nói:
“ Chúng ta rất khổ sở vì chủ nghĩa tư bản nhưng cũng rất khổ sở nếu không có nó”.Muốn có thêm lao động thặng dư, sản xuất thăng dư thì suy đến cùng chỉ có cách khaithác lao động trên cả 3 mặt: thời gian lao động, cường độ lao động, năng xuất laođộng Hai mặt trên liên quan đến giá trị thặng dư tuyệt đối, mặt thứ 3 liên quan đếngiá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch Song biện pháp chủ yếu là
Trang 20năng cao năng xuất lao động, nhất là trong những ngành nông nghiệp, công nghiệpsảm xuất hàng tiêu dùng Cần vận dụng những hình thức của chủ nghĩa tư bản nhằmhướng các nhà tư bản trong nước đi theo quỹ đạo của Chủ nghĩa xã hội Đó là một hệthống chính sách góp phần thực hiện xã hội hóa sản xuất về mặt quan hệ sản xuất.Một trong những hình thức mới của chủ nghĩa tư bản nhà nước là mô hình công ty cổphần.
Khai thác lý luận của Mác nói về quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa với tưcách là nền sản xuất lớn xã hội hóa cao để vận dụng vào nền kinh tế nước ta nhắmthúc đẩy quá trình xã hội hóa sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để thực hiệntái sản xuất mở rộng thì cần qui mô vốn sử dụng bằng cách tích lũy và tập trung
Học thuyết giá trị thặng dư là học thuyết về bản chất bóc lột của phương thức tưbản chủ nghĩa, vẫn là cơ sở lý luận để nhận thức chủ nghĩa tư bản hiện đại còn là cơ
sở lý luận để vận dụng vào việc quản lý nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lýcủa nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
2) Tính tất yếu khách quan của kinh tế thị trường ở Việt Nam
Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, nghĩa là nền kinh tế trong
đó mọi chủ thể kinh tế đều hoạt động và quan hệ với nhau dưới sự tác động trực tiếpcủa hệ thống thị trường.Nền kinh tế thị trường chỉ đạt được khi xóa bỏ các quan hệsản xuất phong kiến, tức là trong chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội
Sự ra đời, tồn tại của nền kinh tế hàng hóa và nền kinh tế thị trường là khách quan,phụ thuộc vào những điều kiện vật chất do sự phát triển bản thân nền sản xuất quyếtđịnh, không phải do một lý thuyết kinh tế hay lý thuyết xã hội nào quyết định