1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nông thôn việt nam qua tiểu thuyết thời xa vắng của lê lựu

94 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 202,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời xa vắng là một trong những tiểu thuyết viết về nông thôn xuất sắc của văn học Việt Nam tiền đổi mới.. Những ý kiến bàn riêng về tiểu thuyết Thời xa vắng Năm 1986, cuốn tiểu thuyết T

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHAN THỊ QUYÊN

NÔNG THÔN VIỆT NAM QUA TIỂU THUYẾT

THỜI XA VẮNG CỦA LÊ LỰU

Ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,

VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: GS PHONG LÊ

THÁI NGUYÊN- 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệunêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưatừng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

Xác nhận của khoa chuyên môn

Phan Thị Quyên

Xác nhận của người hướng dẫn

GS Phong Lê

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn

là GS Phong Lê - người đã tận tình hướng dẫn, động viên, tạo điều kiện tốt nhấtcho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoa Ngữ Văn, đặcbiệt là các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy khoá 24 chuyên ngành Văn học ViệtNam, các cán bộ Khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm- Đại học TháiNguyên đã dạy dỗ, tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập

Tôi vô cùng cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình, bạn bè Đó chính

là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Phan Thị Quyên

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Cấu trúc của luận văn 7

Chương 1: THỜI XA VẮNG TRONG BỐI CẢNH CHUNG CỦA TIỂU THUYẾT THỜI KỲ ĐỔI MỚI 8

1.1 Tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 8

1.1.1 Cơ sở thực tiễn của công cuộc đổi mới văn học nghệ thuật 8

1.1.2 Tiểu thuyết nông thôn trong bức tranh chung của tiểu thuyết thời kì đổi mới 10 1.2 Quan điểm nghệ thuật, con đường sáng tạo của Lê Lựu và vị trí của tiểu thuyết Thời xa vắng 20

1.2.1 Quan niệm nghệ thuật 20

1.2.2 Con đường sáng tạo của Lê Lựu 21

1.2.3 Vị trí của tiểu thuyết Thời xa vắng 23

Tiểu kết chương 1 26

Chương 2: NÔNG THÔN TRONG THỜI XA VẮNG - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 27

2.1 Bức tranh hiện thực cuộc sống nông thôn 27

2.1.1 Vùng quê nghèo khó 28

2.1.2 Vùng quê “Đất lề quê thói” 31

Trang 5

2.1.3 Vùng quê chuyển mình 35

2.2 Người nông dân với những bị kịch và khát vọng cá nhân 39

2.2.1 Bi kịch của con người không được sống là chính mình 40

2.2.2 Bi kịch của con người được sống là mình nhưng lại đánh mất chính mình .46

2.2.3 Con người với khát vọng trong tình yêu, hôn nhân 49

Tiểu kết chương 2 54

Chương 3: NÔNG THÔN TRONG THỜI XA VẮNG - NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 55

3.1 Không gian và thời gian nghệ thuật 55

3.1.1 Không gian nghệ thuật 55

3.1.2 Thời gian nghệ thuật 58

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 61

3.2.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình và hành động 61

3.2.2 Nghệ thuật biểu hiện nội tâm 66

3.3 Giọng điệu trần thuật 69

3.3.1 Giọng giễu nhại, mỉa mai 70

3.3.2 Giọng chiêm nghiệm, suy ngẫm 72

3.4 Ngôn ngữ 74

3.4.1 Ngôn ngữ đời thường, cá tính 75

3.4.2 Ngôn ngữ đậm chất triết lý 77

Tiểu kết chương 3 78

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8 cho đến thời kỳ Đổi mới- thậpniên 1980, cơ bản vẫn là một nước thuần nông nghiệp, nông dân vẫn là lựclượng cơ bản trong cấu trúc dân cư Bởi vậy trong văn học, đề tài nông thônbao giờ cũng là một đề tài lớn, luôn có nhiều khoảng trống hứa hẹn và thu hút

sự quan tâm của nhiều thế hệ cầm bút Với sự phản ánh hiện thực nông thôn, từlâu các nhà văn đã thể hiện được phần quan trọng cuộc sống, con người ViệtNam qua các chặng đường phát triển của dân tộc Tuy nhiên ở mỗi thời kì cũng

có những đặc trưng và ràng buộc lịch sử nhất định Lịch sử đã ghi danh nhiềutác giả, tác phẩm tiêu biểu về mảng đề tài này Vấn đề nông thôn và cuộc sốngcủa người nông dân cũng luôn được Đảng và Chính phủ quan tâm đặt lên hàngđầu, đã và đang là vấn đề thuộc định hướng An sinh xã hội

1.2 Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đáp ứng nhu cầu đổi mới toàndiện đất nước Tinh thần đổi mới của Đại hội như một luồng gió mới thổi vàođời sống văn học nghệ thuật, mở ra thời kì Đổi mới của văn học Việt Nam trêntinh thần đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật Văn xuôi nói chung và tiểuthuyết nói riêng viết về nông thôn vì thế cũng có những bước chuyển biến quantrọng trong việc đổi mới tư duy và nghệ thuật biểu hiện Đào sâu vào vấn đềnhận thức và đánh giá lại lịch sử dân tộc, với cái nhìn thế sự, vấn đề nông thôn

và cuộc sống của người nông dân đã xuất hiện trên trang văn với những cungbậc tình cảm, tâm trạng khác nhau Nhà văn, nhà biên kịch Phạm Ngọc Tiến làngười có nhiều say mê, tâm huyết ở mảng đề tài này, cho rằng: “Đất nước ta lànông thôn Chất dân dã của người nông dân tạo nên diện mạo cho nhân vật cónhững tính chất riêng biệt, điển hình, sinh sắc Hình thái sinh hoạt nông thôn dễđưa vào tác phẩm Đề tài nông thôn chứa đựng nhiều vấn đề về nhân sinh, đổiđời, băng hoại đạo đức ” [75] Cùng với đó là cuộc sống riêng tư, số phận conngười được quan tâm- chú ý trong nhiều chiều đã tạo ra ấn tượng tốt, được độcgiả tích cực đón nhận với thái độ trân trọng và chia sẻ

Trang 7

1.3 Lê Lựu là một trong số những nhà văn trưởng thành trong cách mạng

và cũng là một trong số những nhà văn quan tâm đến bước chuyển mình củađời sống nhân dân, đặc biệt là đời sống người nông dân Nói đến nhà văn Lê

Lựu người ta thường nghĩ ngay đến Thời xa vắng, tác phẩm đưa ông trở thành

“sĩ quan” trong làng văn Thời xa vắng là một trong những tiểu thuyết viết về

nông thôn xuất sắc của văn học Việt Nam tiền đổi mới Tác phẩm đặt ra mộtcách sáng rõ cái nhìn mới về nông thôn trong sự soi chiếu nhiều chiều, đưa đếncho người đọc những khám phá, trải nghiệm riêng rất đáng ghi nhận Tìm hiểu

Thời xa vắng của Lê Lựu, ta không chỉ hiểu thêm về bộ mặt của nông thôn Việt

Nam mà còn khẳng định vị trí, sự đóng góp của nhà văn cho sự phát triển nềnvăn xuôi Việt Nam trong những năm đổi mới

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trên bình diện nghiên cứu, phê bình văn học đã có nhiều công trình, bàiviết trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến sáng tác của Lê Lựu nói chung và tiểu

thuyết Thời xa vắng nói riêng Chúng tôi tạm chia các ý kiến thành hai loại:

những đánh giá chung về nhà văn Lê Lựu và sáng tác của ông, và những ý kiến

bàn riêng đến tiểu thuyết Thời xa vắng.

2.1 Những ý kiến chung về Lê Lựu và các sáng tác của ông

Trong sự phát triển không ngừng của văn học đương đại, Lê Lựu ngàycàng khẳng định được vị trí chắc chắn của mình trong lòng độc giả và thu hút

sự quan tâm của giới nghiên cứu phê bình

Nhà thơ Trần Đăng Khoa có những nhận xét độc đáo, tinh tường, khi chorằng: “Lê Lựu biết cuốn hút người đọc bằng một thứ văn đọc không nhạt Ngay

ở những chuyện xoàng xoàng, người đọc vẫn thu lượm được một cái gì đó ( )nghĩa là đọc anh không bị lỗ trắng, cũng bởi Lê Lựu là nhà văn không chấpnhận sự nhạt nhẽo, tầm thường Ở bất kì tác phẩm nào dù lớn hay nhỏ, Lê Lựucũng có vấn đề gì đấy gửi gắm” [56, tr 669]

Trang 8

Nhận xét về tiểu thuyết Lê Lựu, tác giả Lê Hồng Lâm cho thấy: Sở dĩ tác

phẩm của Lê Lựu như Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông, Hai nhà… gây được dư

luận và có chỗ đứng riêng trên văn đàn là “bởi ông luôn viết hết mình như ôngsống, yêu ghét rạch ròi và đặc biệt là đi đến tận cùng tính cách nhân vật (…) Ởmức độ nào đó, nhà văn đã tạo ra những nhân vật điển hình trong những hoàncảnh điển hình” [56, tr.703]

Trần Bảo Hưng cho rằng “Thô mộc hồn nhiên và đầy ắp chất sống - ngay

cả khi nghĩ ngợi triết lí cũng rất hồn nhiên, cũng là triết lí bật lên trực tiếp từđời sống” Ông đánh giá “Tất cả dường như đã trở thành phong cách, thành cátính của Lê Lựu” [28]

Ngô Thảo trong một bài viết Về truyện ngắn Lê Lựu đã nhận định: “Lê

Lựu là một người đang tìm tòi Truyện nào của anh cũng tìm được những néttính cách mới, những hướng khai thác vấn đề mới” [63, 227]

Đinh Quang Tốn đưa ra nhận định về vị trí của nhà văn Lê Lựu “Nếutrong tổng số sáu trăm hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, cứ mười người chọnlấy một người tiêu biểu, thì Lê Lựu là một trong số sáu mươi nhà văn ấy" [56,

tr 663]

Những ý kiến trên đều thống nhất đề cao tâm huyết của Lê Lựu trongsáng tạo nghệ thuật, khẳng định được vị trí, phong cách trong những sáng táccủa ông, góp phần tạo nên diện mạo của văn học Việt Nam thời kì đổi mới

2.2 Những ý kiến bàn riêng về tiểu thuyết Thời xa vắng

Năm 1986, cuốn tiểu thuyết Thời xa vắng “trình làng” đã thu hút được sự

chú ý trong dư luận và được đánh giá là một “cọc tiêu tiền trạm” của công cuộcđổi mới văn học Tác phẩm này nhanh chóng thu nhận nhiều ý kiến đánh giácủa các nhà nghiên cứu, phê bình Cuốn Lê Lựu Tạp ăn (2002) là một côngtrình tổng hợp những bài viết, những bài phê bình văn học của Lê Lựu đối vớicác nhà văn, nghề văn Đặc biệt ở phần 4 cuốn sách đã tập hợp khá nhiều bài

viết của các nhà nghiên cứu, phê bình liên quan đến tiểu thuyết Thời xa vắng.

Đó là Phong Vũ với “Tiểu thuyết đầu tiên của một cây bút viết

Trang 9

truyện ngắn”, là Lê Thành Nghị với “Thời xa vắng - một tâm sự nóng bỏng”, là

Thiếu Mai “nghĩ về một “Thời xa vắng chưa xa”, Nguyễn Hòa “Suy tư từ một

“Thời xa vắng”,…

Giáo sư Phong Lê cho rằng: “Giang Minh Sài thất bại, nhưng cả xã hội thìthắng lợi, cả xã hội đang vật vã trong những chuẩn bị cho cái “thời xa vắng” ấyqua đi Không còn bi kịch của Giang Minh Sài, cho những Giang Minh Sài

khác được sống là mình ngay từ đầu…Thời xa vắng là “sự đón nhận trước yêu

cầu nhìn thẳng vào sự thật và nhận thức lại lịch sử được đề ra với Đại hội VI,cuối năm 1986” [38]

Tác giả Nguyễn Hòa nhận thấy Thời xa vắng là sự: “đi tìm lại những chân giá từng bị đánh mất, từng bị lãng quên” “Viên đại bác Thời xa vắng khoan

thủng các tấm màn vô hình che giấu nhiều điều lâu nay chúng ta không rõ tới.Quá khứ đâu chỉ là chiếc bánh ngọt ngào mà có cả vị đắng cay” [27]

Bàn về vấn đề nông thôn trong sáng tác của Lê Lựu, Trần Đăng người vô cùng quý mến Lê Lựu đã có những nhận xét xác đáng về cuốn tiểuthuyết này: “Lê Lựu đã dựng lên một loạt bức tranh nông thôn đặc sắc Cónhiều trang đạt chuẩn Nam Cao Có thể nói tắt từ Nam Cao qua một chút KimLân đến Nguyễn Khắc Trường và Lê Lựu, chúng ta mới lại có nhà văn nôngthôn thứ thiệt” [56, tr 677]

Khoa-Hoàng Ngọc Hiến trong bài “Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu” đăng trên

Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 4, năm 1987 đã nhận định vấn đề số phận cánhân, số phận người nhà quê trước những biến động của xã hội, cụ thể là cuộcđời, số phận của nhân vật Giang Minh Sài Theo ông thì anh nông dân GiangMinh Sài “người nhà quê” của Lê Lựu phải chịu hai lần khốn khổ, vừa xungđột với hệ tư tưởng gia trưởng, vừa xung đột với thành phố ở bộ phân phức tạpnhất của nó là đàn bà, con gái” [26, tr 119]; vậy nên cuộc sống của Sài mới bếtắc, vướng vào hết bi kịch này đến bi kịch khác Và từ câu chuyện trên, HoàngNgọc Hiến đặt ra những vấn đề bức xúc của xã hội: “Lê Lựu chỉ đụng đến đềtài “người nhà quê và đô thị” một cách ngẫu nhiên: chỉ là câu chuyện thươngtâm một “anh nhà quê” chơi trèo với thành phố bị hại Trên đất nước ta sau khithống nhất, không phải cán bộ tiếp quản nào

Trang 10

cũng trở thành chủ của thành phố, không ít “người nhà quê” khi tiếp xúc với đôthị đã bị hại hoàn toàn, sống dỡ chết dở, điêu đứng bi thảm, sự thất bại của họmang ý nghĩa xã hội sâu sắc [26, tr 119].

Đề tài hậu phương nông thôn miền Bắc trong chiến tranh chống Mỹ cónhiều người viết, nhưng theo đánh giá của Đinh Quang Tốn thì “Lê Lựu làngười viết thành công nhất” [76, tr 22] “Thời xa vắng viết về hậu phương

chống Mỹ cứu nước với cả cái vui và cái buồn, cái nông nhiệt và sự non nớt,những quầng sáng và bóng mờ, có cả nụ cười và nước mắt” [76, tr.18]

Tìm hiểu tiểu thuyết Thời xa vắng, Thiếu Mai khẳng định tài năng xây dựng

nhân vật của Lê Lựu: “Lê Lựu tỏ ra hiểu nhân vật của mình đến chân tơ, kẽ tóc,đến tận những ngọn ngành, sâu thẳm nhất của tình cảm, suy nghĩ” [48, tr 577]

Vương Trí Nhàn trong bài viết Một đóng góp vào việc nhận dạng con người Việt Nam hôm nay cho rằng: “Lê Lựu chỉ nói riêng về con người, những

mối quan hệ giữa người với người Một vấn đề muôn thủa mà cũng là vấn đềchúng ta nói đi nói lại rất nhiều (…) làm thế nào để giúp con người nhận thức

về chính mình đầy đủ hơn từ đó tìm được cách sống hợp lí hơn, đấy là nhiệm

vụ thiêng liêng mà mọi nền văn học chân chính xưa nay muốn đảm nhận” [53]

Bên cạnh các nhận định khẳng định thành công về mặt nội dung cũng như

nghệ thuật của Thời xa vắng, một số ý kiến khác chỉ ra nhược điểm của Lê Lựu

về kết cấu yếu, câu chữ rối, rậm… Theo Thiếu Mai “Thời xa vắng tuy vẫn còn

những nhược điểm, còn thiếu một sự chặt chẽ, nhất quán cần thiết, nhưng với

ưu điểm rất trội của nó, nó là một thành công, nó đóng góp vào nền văn họcđang có đà phát triển khởi sắc” [48, tr 125]

Ngoài ra tiểu thuyết Thời xa vắng nói riêng và những sáng tác của Lê Lựu

nói chung đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều khóa luận và luận văntốt nghiệp Các công trình đã tiếp cận tiểu thuyết Lê Lựu trên các bình diệnnhư: không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật; nghệ thuật trần thuật; yêu cầunhận thức lại; các bi kịch cá nhân… Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về

Lê Lựu đều có tiếng nói khá thống nhất, khẳng định tài năng và tinh thần laođộng miệt mài của nhà văn trên con đường tìm tòi,

Trang 11

sáng tạo một hướng đi mới cho tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới Tuynhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu hình ảnh nông thôn Việt Nam thểhiện trong tác phẩm, mà chỉ chạm tới hoặc chỉ nói qua Vì vậy, trên cơ sởnhững công trình đã nghiên cứu, chúng tôi cố gắng tìm ra những khoảng trống

để tiếp cận, tìm hiểu và xử lý đề tài với mong mỏi góp thêm tiếng nói khẳngđịnh hơn nữa giá trị văn chương Lê Lựu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là nông thôn Việt Nam qua tiểu

thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu Luận văn sẽ khảo sát toàn bộ cuốn tiểu thuyết

Thời xa vắng, và trong một chừng mực nhất định sẽ so sánh, đối chiếu với

những cuốn tiếu thuyết của các nhà văn viết cùng về đề tài nông thôn trước vàsau đó

Cảm thụ toàn diện hơn về hiện thực cuộc sống nông thôn Việt Nam thời kìđổi mới, đồng thời chỉ ra những nét đặc sắc trong phương thức nghệ thuật thể

hiện hình ảnh nông thôn của tiểu thuyết Thời xa vắng so với những cuốn tiểu

thuyết trước và sau đó

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến luận văn

Làm rõ những giá trị của tác phẩm trên phương diện nội dung và nghệ thuật Đánh giá, đối sánh với một số tác phẩm trước và sau thời kì đổi mới cùngviết về nông thôn Việt Nam

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện luận văn, người viết kết hợp vận dụng một số phương phápnghiên cứu cơ bản như sau:

Phương pháp thống kê: Thao tác thống kê mang lại rất nhiều tác phẩm viết

về đề tài nông thông qua các giai đoạn, làm cơ sở cho bước so sánh trong quátrình triển khai nội dung Thao tác phân loại rất quan trọng để lựa chọn ra mộtnhóm tác phẩm phù hợp với đối tượng và mục đích của đề tài

Phương pháp phân tích tổng hợp: Nắm vững đặc trưng, phương pháp luậnloại hình thể loại tiểu thuyết để khái quát bức tranh nông thôn, tìm ra và phântích những vấn đề chung, những biến đổi của xã hội, của con người và những bikịch mà con người phải chịu đựng sau luỹ tre làng

Phương pháp so sánh: Việc sử dụng phương pháp so sánh giúp chúng tôi

có điều kiện so sánh sự chuyển hướng nghệ thuật của Lê Lựu trong thời kỳ đổimới cũng như những điểm nổi trội đặc sắc của tiểu thuyết Lê Lựu so với tiểuthuyết của các tác giả cùng thời

6 Đóng góp của luận văn

Về mặt lí luận, với luận văn này, người viết gắng làm nổi bật nét đặc sắc

về phương thức thể hiện hình ảnh nông thôn Việt Nam trong tiểu thuyết Thời

xa vắng của Lê Lựu.

Về mặt thực tiễn, người viết muốn tìm hiểu những đóng góp mới, riêng

của Lê Lựu về nội dung phản ánh và hình thức thể hiện qua tiểu thuyết Thời xa vắng Thông qua đó góp phần khẳng định tài năng, vị trí của Lê Lựu trong văn

học thời kì đổi mới, đồng thời giúp người đọc có những kiến giải sâu sắc vềnhà văn này

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo Phần Nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Thời xa vắng trong bối cảnh chung của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới Chương 2: Nông thôn trong Thời xa vắng- nhìn từ phương diện nội dung Chương 3: Nông thôn trong Thời xa vắng- nhìn từ phương diện biểu hiện

Trang 13

Chương 1

THỜI XA VẮNG TRONG BỐI CẢNH CHUNG

CỦA TIỂU THUYẾT THỜI KỲ ĐỔI MỚI 1.1 Tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới

1.1.1 Cơ sở thực tiễn của công cuộc đổi mới văn học nghệ thuật

Sau Đại thắng mùa xuân 1975, lịch sử dân tộc ta đã sang một trang mới,cuộc sống thời bình đã mở ra với vô số những biến động của đời thường Quátrình đổi mới của đất nước mở ra những cơ hội, thuận lợi mới cùng nhữngthách thức, khó khăn cho sự phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật Yêu cầumới của đất nước, nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn học, nghệ thuật của nhândân thay đổi, trong đó có những mặt cao hơn; sự thay đổi nhanh chóng, sâu sắctrong mọi mặt đời sống xã hội tác động trực tiếp đến chính quá trình sáng tạo,tiếp nhận văn học, nghệ thuật

Trước những biến chuyển đó của thời đại, văn học tự bản thân cũng xuấthiện những nhu cầu đổi mới Được cổ vũ bởi tinh thần dân chủ của Đại hộiĐảng VI, các cây bút sau 1975 đã có nhiều nỗ lực trong lao động nghệ thuật,tạo được những hướng đi mới táo bạo, độc đáo nhằm đáp ứng nhu cầu, thị hiếucủa văn học và độc giả hiện thời Có thể nói “chưa bao giờ văn xuôi phát triểnmạnh mẽ như bây giờ và cũng chưa bao giờ nhà văn được thành thật như bây

giờ” Sự đổi mới của văn học được thể hiện trên nhiều phương diện và trong

nhiều thể loại

Văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng từ sau Đổi mới đã có nhữngthay đổi đáng kể, với định hướng của Đảng “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giáđúng sự thật, nói rõ sự thật”, văn chương nói chung không còn e ngại hướng vềphản ánh và biểu hiện mặt “suồng sã, thô thám, xô lệch của hiện thực” Bứctranh đời sống với mọi góc khuất sâu kín được đưa vào trong văn học đầy trăntrở, phức tạp Những sáng tạo văn học trở về với qui luật vĩnh hằng của đờisống, coi tính chân thật là phẩm chất quan trọng của văn chương nghệ thuật

Trang 14

Mỗi trang văn không chỉ có không khí hào hùng của những cuộc đấu tranh, vớinhững chiến sĩ anh dũng hi sinh hoặc chiến thắng vẻ vang; mà có cả những ngõcùng xóm nhỏ, những làng quê nghèo khó với những cuộc vật lộn sinh tồn,ghen ghét đố kị, những con người rất bình thường với suy nghĩ, những khaokhát đời thường Có những điều nhỏ bé tưởng chừng chẳng có gì để nói,chẳng có gì đáng nói lại được những ngòi bút tài năng tái hiện trên những trangviết đầy sinh động và ám ảnh.

Các nhà văn đón nhận nhu cầu này như một thách thức trong quá trìnhsáng tạo Không ít nhà văn trăn trở, tìm cách đổi mới tư duy nghệ thuật trongviệc phản ánh hiện thực để đáp ứng nhu cầu đổi mới văn học Nguyễn MinhChâu được coi là nhà văn tiên phong, người mở đầu tinh anh trong công cuộcđổi mới văn học Ông kêu gọi “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệminh họa, các nhà văn phải tự “cởi trói” trong sáng tác” [10] Nhà văn NguyênNgọc đề nghị “Phát huy đầy đủ chức năng xã hội của văn học nghệ thuật” khắcphục tình trạng văn nghệ chỉ làm nhiệm vụ “minh họa chính trị” [50], vì cuộcsống đâu phải phẳng lì, đơn điệu, nó phức tạp, xù xì, gai góc và đó mới làkhuôn mặt đích thực của nó Nhiều nhà văn đánh giá lại sáng tác của chínhmình trên quan điểm đổi mới Nguyễn Khải gọi các sáng tác của mình tronggiai đoạn 1945 - 1975 là “cái thời lãng mạn”; còn nhà văn Lê Lựu cho rằng các

sáng tác của ông trước Thời xa vắng là “văn học sự vụ”, văn học công việc”; và

tuyên bố: “Tôi tự bảo không thể viết như trước được nữa” [59]

Như vậy, những quan niệm mới mẻ về văn hóa, văn nghệ của Đảng làmthay đổi quan điểm, nhận thức về văn học và nhận thức lại thực tại không còn

là nhu cầu của cá nhân nghệ sĩ mà còn là nhu cầu của thời đại Sự nhận thức lại

ở đây không phải là sự phủ nhận hoàn toàn quá khứ, gạt bỏ hết những thànhquả mà chúng ta đã đạt được Yêu cầu của sự nhận thức lại là phải khám phásâu hơn, toàn diện hơn về những mảng hiện thực mà trước đây văn học chưahoặc ít được đề cập

Trang 15

1.1.2 Tiểu thuyết nông thôn trong bức tranh chung của tiểu thuyết thời kì đổi mới

Chặng đường phát triển của văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêngđều trải qua những quy luật phát triển nội tại trước những tác động của bối cảnh

xã hội Đánh giá sự chuyển động đó, nhiều nhà nghiên cứu văn học như Phong

Lê, Nguyên Ngọc, Vũ Tuấn Anh, Bùi Việt Thắng đều thống nhất nhận định:văn xuôi nước ta từ năm 1975 đến những năm 1980 vẫn vận động và phát triểntheo “quán tính” cũ, “vẫn nghiêng về sự kiện, về sự bao quát hiện thực trongmột diện rộng”; và “cảm hứng sử thi vẫn chiếm một vị trí đáng kể trong tư duynghệ thuật” [70] Một số nhà văn đã trình làng một số sáng tác ngay sau chiến

tranh như: Trong cơn lốc (Khuất Quang Thụy), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Nắng đồng bằng (Chu Lai), Mở rừng (Lê Lựu) Tuy nhiên, những tác phẩm trên cơ bản vẫn chưa thoát ra được âm

hưởng, dấu ấn quen thuộc của văn học thời kỳ trước Đến đầu những năm 1980mới xuất hiện một vài tiểu thuyết với những dấu hiệu đổi mới khá rõ rệt trong

cách nhìn nhận và miêu tả hiện thực như: Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Gặp gỡ cuối năm (Nguyễn Khải) Nhưng phải từ năm 1986, dưới sự

tác động của bối cảnh xã hội mới và trên cơ sở kế thừa, phát huy những giá trịtruyền thống, tiểu thuyết Việt Nam mới có những đổi mới thực sự trong quanniệm nghệ thuật về hiện thực, về con người và những cách tân trong kỹ thuậttiểu thuyết

Hiện thực cuộc sống những năm đổi mới với tất cả tính đa dạng, phứctạp của nó đều là chất liệu cho sự sáng tạo của tiểu thuyết Nửa sau thập niên

1980, thập niên 1990 của thế kỷ XX, đời sống văn học xuất hiện một loạt tiểuthuyết “làm cho văn đàn sôi động và sóng gió” Và một trong những điểm nhấnlớn nhất của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới vẫn là đề tài chiến tranh và người lính.Khi chiến tranh đã lùi xa, con người bắt đầu làm quen với cuộc sống đờithường, thì một số nhà văn vẫn hồi ức về chiến tranh, về

Trang 16

những năm tháng ác liệt đã qua Quả thực, trong chiến tranh “tất cả để chiếnthắng” song không phải “tất cả là chiến thắng”, đằng sau “tấm huy chương”còn là bi kịch, là thảm kịch; còn là máu, là nước mắt mà “máu thấm vào lòngđất đã sâu, sao trang giấy lòng anh suy nghĩ cạn?” (Chế Lan Viên).

Một loạt tác phẩm như Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, Nước mắt đỏ của Trần Huy Quang, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Không phải trò đùa của Khuất Quang Thụy, Bến không chồng của

Dương Hướng đã xoáy vào “mặt trái của tấm huy chương” với những “di họachiến tranh” còn ám ảnh, đeo đẳng bao số phận con người Chiến tranh đã lùi

xa nhưng vẫn còn để lại bao hậu quả nghiệt ngã cho con người, nó vẫn là một

“siêu đề tài” cho văn học khám phá, biểu hiện Nói như Giáo sư Phong Lê thì

“còn lâu về sau, chiến tranh vẫn cứ là một đề tài lớn, một kho chất liệu khôngthể nào vơi cạn còn nằm sâu trong ký ức của con người” [46]

Hiện thực trong văn học thời kì đổi mới được nới rộng phạm vi thể hiện.Không chỉ có hiện thực cách mạng, các biến cố trong đời sống cộng đồng màcòn có hiện thực của cuộc sống ngày thường, đời thường với các quan hệ thế sựphức tạp Đó là các vấn đề về văn hoá, phong tục, hủ tục ở nông thôn; vấn đềsản xuất, quản lý kinh tế- xã hội trong thời kỳ đổi mới; những mặt trái của đờisống đô thị, của cơ chế thị trường; đó còn là vấn đề hôn nhân gia đình, tâm lý

xã hội Viết về chủ đề gia đình - nơi gìn giữ những giá trị thiêng của conngười, các nhà văn thời kỳ Đổi mới lại cho thấy gia đình nhiều khi không còn

là nơi “nghỉ ngơi tuyệt đối an toàn” của con người Thời xa vắng (Lê Lựu), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Phố (Chu Lai) Thời xa vắng (Lê Lựu) làm nổi bật bi kịch trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng Sự nhu

nhược, thiếu bản lĩnh cá nhân là nguyên nhân chủ yếu đẩy cuộc đời Sài vào bikịch Nhưng nguyên nhân sâu xa hơn là sự áp đặt của cộng đồng lên cá nhân.Chính gia đình, họ hàng, đơn vị đã đè bẹp ý thức cá nhân của Giang MinhSài

Trang 17

Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới còn gia tăng những chủ đề thời sự Một số tácphẩm đã “áp sát” cuộc sống đời thường, đã bắt chạm đến nhiều góc khuất của đời

sống hiện đại Một thế giới không có đàn bà (Bùi Anh Tấn), Cuộc đời dài lắm (Chu Lai), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Cơ hội của chúa (Nguyễn Việt

Hà) Một số tác giả lại có xu hướng “lật lại quá khứ, soi sáng lịch sử” Chẳng

hạn, Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh) tái hiện khoảnh khắc lịch sử đầy biến động, phức tạp cuối đời Trần An lạc dưới trời (Nguyễn Xuân Hưng) cũng đặt lại

những vấn đề xã hội trong các thời đoạn phức tạp nhất của lịch sử

Sau năm 1986, đất nước đổi mới toàn diện đã từng bước đem lại nhữngbiến chuyển lớn trong đời sống vật chất và trong nếp nghĩ, hành động của mỗingười nông dân Nhà văn từ đó cũng có điều kiện thuận lợi để thể hiện nhữngtrăn trở, suy tư về những vấn đề cốt lõi của nông thôn và nông dân một cáchtrực diện, thấu đáo Viết về nông thôn, các nhà văn vốn đã có thành tựu trước

đó, nay có cơ hội thể nghiệm nghệ thuật mới

Điểm qua các chặng đường phát triển của văn học viết về nông thôn cóthế thấy, ngay ở giai đoạn 1930-1945, một số sáng tác của nhóm Tự lực văn

đoàn đã quan tâm đến đời sống nông thôn như tập truyện Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam, phóng sự Bùn lầy nước đọng của Hoàng Đạo Tuy nhiên, tác

phẩm của họ mới chỉ dừng lại ở sự cảm thông với cảnh sống nghèo khổ, tốităm, do những thói quen, hoặc do trình độ thấp kém

Đến văn học hiện thực phê phán, đề tài nông thôn được khai thác cóchiều sâu và gặt hái nhiều thành tựu Các nhà văn hiện thực phê phán nhưNguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao… đã tái hiện bức tranh hiện thựcnông thôn hiện lên với sự khắc nghiệt của sưu cao thuế nặng, của những thủ

đoạn bóc lột tàn nhẫn, trắng trợn (Tắt đèn, Bước đường cùng) Đó là nông thôn

của những hủ tục nhiêu khê, rườm rà; của những mâu thuẫn, chèn ép giữa các

phe cánh tranh nhau quyền lợi, địa vị (Việc làng) Đó là nông thôn của những

người cùng khổ bị dồn tới chân tường, của những cảnh lầm than,

Trang 18

cơ cực (chị Dậu, anh Pha), của những kiếp sống đau đớn quằn quại (Lão Hạc),hoặc liều lĩnh biến chất (Chí Phèo)… Ở những tác phẩm này, ngoài giá trị hiệnthực còn chứa đựng giá trị nhân đạo hết sức sâu sắc Đó là những đòi hỏi vềquyền sống, quyền làm người Đó là sự quan tâm đến số phận của những người

bé nhỏ, đầy bất hạnh Đó là ý thức phản kháng của nhân vật khi bị dồn vàonhững bước đường không còn lối thoát

Sau Cách mạng tháng 8 - 1945, đề tài nông thôn chủ yếu được viết với cảmhứng ngợi ca, khẳng định, người nông dân không còn là nạn nhân đáng thươngnhư trước mà xuất hiện với tư thế là chủ nhân chân chính của xã hội Trong kháng

chiến chống Pháp, Làng của Kim Lân, Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Đánh trận giặc lúa của Bùi Hiển tái hiện hình ảnh người nông dân gắn bó với quê hương, bám đất giữ làng Tiếp đó, sau 1954, Xung đột của Nguyễn Khải là sự mở

đầu cho các sáng tác về nông thôn thời kỳ hòa bình ở miền Bắc Sau năm 1960,

các tác phẩm Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm của Đào Vũ, với Cái hom giỏ và Gánh vác của Vũ Thị Thường, Đồng tháng năm của Nguyễn Kiên, Mùa lạc, Tầm nhìn xa và Hãy đi xa hơn nữa của Nguyễn Khải…, một nông thôn mới trong hoàn

cảnh mới, con người mới phải tự đấu tranh để điều chỉnh lại mình cho phù hợp với

sự vận động và phát triển của xã hội đang trên đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.Nhìn chung, những sáng tác viết về nông thôn giai đoạn này ngoài những pháthiện mới về bản chất tư hữu ở người nông dân còn những điều kiện và hoàn cảnhmới còn xuất hiện những trang miêu tả khung cảnh lao động sản xuất, nhữngphong tục tập quán cùng những quan hệ làng xóm khá sinh động

Tiểu thuyết viết về nông thôn trong chiến tranh chống Mỹ (1964-1975)mang âm hưởng sử thi anh hùng Đây là thời kỳ tiểu thuyết viết về nông thôn đạtđược nhiều thành tựu cả về tác phẩm cũng như đội ngũ sáng tác Có thể kể tới các

tác giả: Chu Văn với Bão biển và Đất mặn, Nguyễn Thị Ngọc Tú với Đất làng và Buổi sáng, Nguyễn Minh Châu với Cửa sông, Nguyễn Khải với Chủ tịch huyện, Nguyễn Kiên với Vùng quê yên tĩnh, Vụ mùa chưa gặt, Ngô Ngọc Bội

Trang 19

với Ao làng , Vũ Thị Thường với Bông hoa súng và Vợ chồng ông lão chăn vịt… Các tác phẩm này đã bao quát được một khung cảnh hiện thực rộng lớn

với những sự kiện và con người của một thời đáng nhớ, phản ánh được hiệnthực một nông thôn sống động dưới sự lãnh đạo của Đảng

Giai đoạn từ 1975 đến 1985 là giai đoạn xã hội có sự chuyển động lớnlao Bản thân các nhà văn lúc này đã có sự trăn trở, suy nghĩ để cho ra đượcnhững tác phẩm thực sự có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của xã hội vàthời đại Văn xuôi viết về nông thôn đã có sự chuyển mình Các tác phẩm là lờituyên cáo đối với cung cách làm ăn và quản lý nông thôn kiểu cũ, đồng thời đềcập đến lối làm ăn và quản lý nông thôn kiểu mới

Từ sau năm 1986, đề tài nông thôn thời kỳ Đổi mới có sự chuyển mình,đổi mới trong không khí chung của đất nước Tiểu thuyết có sự đổi mới cả vềnội dung và phương thức biểu hiện Đề tài nông thôn một lần nữa được khắchọa rõ nét, chân thực ở tất cả các phương diện, trong sự đa dạng, phức tạp, xấutốt lẫn lộn, đan xen Đề tài nông thôn hấp dẫn đối với nhiều cây bút và thu được

nhiều thành tựu: Lê Lựu với Thời xa vắng (1986), Chuyện làng Cuội (1991), Sóng ở đáy sông (1994), Nguyễn Khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều

ma (1990), Dương Hướng với Bến không chồng (1990), Ngô Ngọc Bội với Ác mộng (1990), Tạ Duy Anh với Lão Khổ (1992), Hoàng Minh Tường với Thủy hỏa đạo tặc, Đáng chú ý là Thời xa vắng của Lê Lựu Tác phẩm ra đời trúng

thời điểm Đổi mới Vừa ra mắt bạn đọc, tác phẩm nhanh chóng phổ biến rộngrãi, chỉ trong mấy tháng đầu đã tái bản 4 lần với số lượng lên đến

80 nghìn bản Thời xa vắng trở thành sự kiện nổi bật trong đời sống văn học lúc

bấy giờ Nó đã tạo đà, khởi hứng và phát triển mạnh mẽ cho một khuynh

hướng nhận thức lại lịch sử nông thôn với cảm hứng phê phán Tác phẩm đãxoáy sâu vào những vấn đề có tính thời sự, nhạy cảm; điều chỉnh lại nhữngquan điểm, cách nhìn không còn phù hợp với thời cuộc Qua sự sàng lọc củathời gian, những vấn đề đặt ra trong tác phẩm được coi là bước đột phá

Trang 20

đầy mới mẻ trong cách nhìn về quá khứ nông thôn, về người nông dân, trả lạinhững giá trị đích thực mà tác giả đã miệt mài sáng tạo.

Bến không chồng của Dương Hướng là một bức tranh về nông thôn, song

những hoạt động sản xuất và đấu tranh ở nông thôn, sự hình thành cuộc sốngmới và con người mới chỉ là “phông nền” mà cái chính vẫn là số phận bithương của Nguyễn Vạn, của Nghĩa, của Hạnh; là sự phá sản của dòng họ

Nguyễn và những người cùng trong tộc họ ở làng Đông Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường cũng đi sâu vào vấn đề họ tộc- một trong những vấn đề rắc rối nhất ở nông thôn Nhưng nếu Bến không chồng là “cuốn gia phả” thì Mảnh đất lắm người nhiều ma chỉ “cắt lấy một khoảnh khắc nhỏ”

của cuốn gia phả đó để quan sát Đó là cuộc xung đột có tính chất “truyền kiếp”giữa hai dòng họ Vũ và Trịnh ở xóm Giếng Chùa Tuy nhiên, xung đột cơ bản ởxóm Giếng Chùa “không phải là cuộc đấu tranh “ai thắng ai”, giữa chủ nghĩa

xã hội hay chủ nghĩa tư bản, mà là “dòng họ nào thắng, người của họ nào sẽnhân danh Đảng nắm quyền lãnh đạo trong làng” [78] Qua những pha tranhchấp, giành giật gay cấn, nhà văn cho bạn đọc thấy: mảnh đất Giếng Chùakhông chỉ lắm người nhiều ma mà còn lắm ma ngay trong bản thân con người

Tạ Duy Anh với Lão Khổ nổi lên với phong cách độc đáo, với những thể

nghiệm mạnh bạo trong cách viết, góp phần tạo nên diện mạo mới cho tiểuthuyết viết về nông thôn Ở tác phẩm này, nhà văn đã thể hiện được sự từng trảihơn, già dặn hơn, kỹ thuật hơn và cũng táo bạo hơn trong việc chiếm lĩnh hiệnthực nông thôn Tác phẩm đã tái hiện được bức tranh toàn cảnh của làng quêBắc Bộ trong những năm 1950-1970 đầy máu và nước mắt

Một số tác phấm khác như Gia phả để lại (Đoàn Lê), Những thiên đường

mù (Dương Thu Hương), Ly thân (Trần Mạnh Hảo), Lời nguyền hai trăm năm (Khôi Vũ), Ác mộng (Điển Y) đều ánh chiếu vào một thời đau thương của quá

khứ nhằm lật xới những mảng tối, những mặt trái, mặt tiêu cực đã bị lờ đi,

Trang 21

bị gác lại Nếu như trước đây văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn chỉ đivào phản ánh những mặt tốt đẹp của đời sống xã hội nông thôn và nông dân, thìnay, những mặt trái của quá khứ nông thôn như cải cách ruộng đất, hợp tác hóanông nghiệp đã được nhìn nhận, đánh giá lại Vấn đề dòng họ, bè phái, phe giáptrong nội bộ, sự ấu trĩ trong việc ngăn cấm làm giàu cá nhân cũng được phanhphui, mổ xẻ

Nhìn chung, văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn ở chặng này đã thểhiện được sự mẫm cảm, tinh nhạy trước công cuộc đổi mới của nông thôn Tiểuthuyết nông thôn bước đầu đánh dấu một mốc son trong hành trình tìm về nôngthôn và nông dân, góp phần tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ ở chặng sau

Đến những năm đầu của thế kỷ XXI, đời sống nông thôn trên con đườngđổi mới vẫn được các nhà văn “thám hiểm” và đạt được những thành tựu đángghi nhận Mốt số cây bút thực sự bứt phá và đi vào hội nhập cùng với dòngchảy của văn học đương đại Ở chặng này, quy tụ nhiều thế hệ sáng tạo Vớimột đội ngũ hùng hậu (trải qua bốn thế hệ) nhà văn, kể cả những cây bút lãothành thuộc thời chống Pháp, Mỹ như Tô Hoài, Lê Lựu, Ngô Ngọc Bội, VũHuy Anh, Cao Năm, Trịnh Thanh Phong, Trần Quang Vinh, Dương Hướng,Nguyễn Hữu Nhàn vẫn dẻo dai, sắc bén trên từng trang viết Tiểu thuyết viết

về nông thôn giai đoạn này đã gặt hái được nhiều thành tựu Nhiều tác phẩmđược nhận giải thưởng từ các cuộc thi hoặc giải thường niên của Hội nhà văn,

có một số tác phẩm không đạt giải nhưng lại được dư luận quan tâm, gây tiếngvang lớn đối với bạn đọc và giới nghiên cứu, phê bình văn học, tạo nên sự sống

động, tươi mới như Cuồng phong (Nguyễn Phan Hách), Thời của thánh thần (Hoàng Minh Tường), Thần thánh và bươm bướm (Đỗ Minh Tuấn), Ba người khác (Tô Hoài), Ma làng (Trịnh Thanh Phong)

Ba cuộc thi tiểu thuyết do Hội nhà văn tổ chức bốn năm một lần (từ năm

1998 - 2010) đã ghi nhận giá trị của mảng tiểu thuyết nông thôn trước và sauthập niên đầu của thế kỷ XXI Nhiều giải thưởng đã được trao tặng cho

Trang 22

các tác giả viết về đề tài này Qua mỗi cuộc thi, mảng tiểu thuyết nông thôn đều

có tác phẩm đoạt giải cao như Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ hai (2002

-2006) có 14 tác phẩm đoạt giải, trong đó có 3 tác phẩm viết về nông thôn:

Dòng sông Mía (ĐàoThắng) đoạt giải A, Cánh đồng lưu lạc (Hoàng Đình Quang) đoạt giải B, Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh) đoạt giải C Cuộc thi

tiểu thuyết lần 3 (2006 - 2010), trong tổng số 51 tác phẩm lọt vào vòng chung

khảo, mảng tiểu thuyết viết về nông thôn chiếm một số lượng lớn: Cách trở âm dương (Vũ Huy Anh), Cuồng phong (Nguyễn Phan Hách), Dưới chín tầng trời (Dương Hướng), Sấp ngửa bàn tay (Nguyễn Tam Mỹ), Màu rừng ruộng (Đỗ Tiến Thụy) Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn đạt giải C, những

đóng góp của một số tiểu thuyết viết về nông thôn dự giải đã góp phần làmphong phú hơn mảng văn học này nói riêng và văn xuôi đương đại nói chung

Tiểu thuyết nông thôn năm đầu thế kỉ XXI tiếp tục có những tìm tòi, thểnghiệm, đổi mới Trong sự mở rộng về chủ đề, nhiều tác phẩm đã tái hiện bộmặt nông thôn và nông dân ở chiều rộng lẫn bề sâu Nông thôn trong các cuộcđấu tranh dành quyền lực nhằm toan tính tư lợi cá nhân, gia đình, dòng tộc;những định kiến cổ hủ, lạc hậu tồn tại dai dẳng trong đời sống nông thôn như

một định mệnh nghiệt ngã (Dòng sông Mía- Đào Thắng, Ma làng-Trịnh Thanh Phong) Những mánh khóe nhằm chiếm dụng của nhà nước, bòn rút của nhân

dân, làm giàu bất chính của một bộ phận cán bộ cấp xã, thôn Nguy cơ xuốngcấp về tư tưởng, đạo đức cũng như lối sống của bộ máy lãnh đạo ở nông thôn,

dĩ nhiên một số người nông dân cũng cùng chung guồng máy đó (Chuyện làng Cuội- Lê Lựu, Cuồng phong- Nguyễn Phan Hách, Đồng sau bão- Hoàng Minh Tường) Nông thôn thời đổi mới với những khởi sắc và cả sự bất ổn, đặc biệt là

quá trình biển đổi sâu sắc trong sự tiếp diễn văn hóa, trong đó khả năng và nănglực hành động của người nông dân trước sự đổi thay của nông thôn trên con

đường hiện đại hóa (Dòng chảy đất đai- Nguyễn

Trang 23

Uyển, Dưới chín tầng trời- Dương Hướng, Dòng sông chở kiếp- Nguyễn Quốc Hùng) Khoảng cách giữa hai thế hệ là một vấn đề đang ngày càng trở nên nhức nhối trong xã hội nông thôn cũng được các nhà văn phản ánh (Lão Khổ- Tạ Duy Anh, Dòng sông Mía- Đào Thắng, Giời cao đất dày- Bùi Thanh Minh).

Chủ đề ngợi ca những nông dân điển hình, những cán bộ xã, thôn tâm huyết, cótầm nhìn xa, có ý thức tự lực, có lòng tự trọng, khát khao dân chủ và nhân văn

và có sự đột phá trong quản lí, trong kinh tế đã góp phần mang lại cho nông

thôn một bình diện mới như Lại Tiến Thịnh, Nguyễn Mạnh Quang trong Dòng chảy đất đai, Thương Huyền trong Dưới chín tầng trời.

Những chủ đề đã được quan tâm trước đó như nông thôn thời chiếntranh, cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp cũng đã quay trở lại Nôngthôn với những cảnh tượng kinh hoàng, long trời lở đất, với những năm đầucách mạng và những năm chiến tranh chống Mỹ đầy gian khổ, đẫm máu và cả

sự hi sinh cao cả của những người nông dân chân lấm tay bùn được hiện rachân thực Nhà văn đề cao sức sống, bản lĩnh và tình đoàn kết, sự tương thântương ái của người nông dân trong việc bảo vệ làng xóm và trong cuộc sống

đời thường (Chuyện làng Cuội - Lê Lựu, Nước mắt một thời - Nguyễn Khoa Đăng, Ba người khác - Tô Hoài, Thời của thánh thần - Hoàng Minh Tường, Giời cao đất dày - Bùi Thanh Minh) Ngoài ra, với sự xuất hiện hai chủ đề về

số phận con người và hạnh phúc cá nhân, đặc biệt là số phận của những ngườiphụ nữ yếu duối, bất hạnh trong cuộc sống hôn nhân gia đình đã đưa tiểu thuyếtnông thôn ở chặng đường này lên ngôi ở chiều sâu và chiều rộng trong phản

ánh hiện thực (Chuyện làng Cuội - Lê Lựu, Dòng sông Mía - Đào Thắng).

Như vậy, tiểu thuyết nông thôn những năm đầu thế kỷ XXI có sự đa dạng

và phong phú về chủ đề Những vấn đề bức xúc, phức tạp trong đời sống nôngthôn đương đại được các nhà văn phản ánh, nhận thức lại một cách chân thực,đầy đủ và sâu sắc Mọi vấn đề có tính cội rễ của đời sống xã hội nông thônđược đặt ra một cách ráo riết, nhằm hướng tới sự quan tâm

Trang 24

của người đọc, giúp mọi người nhận rõ được bộ mặt của nông thôn Việt Namđương đại vừa thanh bình vừa hiện đại, vừa yên ả vừa sóng gió để bạn đọckhông ngừng suy tư, trăn trở.

Tiểu thuyết nông thôn những năm dầu thế kỷ XXI có nhiều tìm tòi, thểnghiệm và cách tân trong hình thức nghệ thuật Hàng loạt cách viết mới của chủnghĩa hiện đại, hậu hiện đại được khai mở như bút pháp nhại, huyền thoại, kì

ảo, nghịch dị, vô thức, những kĩ thuật phân tâm học, kỹ thuật độc thoại nội tâm,dòng ý thức, lắp ghép điện ảnh, nghệ thuật giãn cách, đa giọng điệu, liên vănbản; hình tượng được kiến tạo theo nguyên tắc lạ hóa, sự xáo trộn giữa thực và

hư, giữa siêu nhiên, huyền bí và đời thường đã được các nhà văn thể nghiệm,vận dụng nhuần nhuyễn trong tác phẩm của mình Sự đổi mới đó, trước hết thểhiện ở ý hướng giã từ lối viết theo chủ nghĩa hiện thực và hiện thực xã hội chủ

nghĩa Yếu tố kỳ ảo, huyền thoại được sử dụng dày C h ẳ ng h ạ n , Dòng sông Mía là huyền thoại về Cá thần ở dòng sông Châu Giang vừa hiền lành vừa hung

dữ trừng trị những kẻ phạm đạo Lão Khổ, Dòng chảy đất đai… ôm chứa nhiều thể loại khác như thơ, tục ngữ, thư từ, chuyện kể, nhật ký, tham luận khoa học,

cổ tích, huyền thoại, điển tích Điểm nhìn trần thuật không còn đơn tuyến,(không đơn điệu, duy nhất một điểm nhìn), mà có sự luân phiên phối hợp các

điểm nhìn khác nhau Trong Giã biệt bóng tối, Ba người khác… điểm nhìn trần

thuật được phân tán về mọi phía, mọi góc độ Những đổi mới trong ngôn ngữtrần thuật cũng là nỗ lực sáng tạo đáng ghi nhận của tiểu thuyết thời kỳ đổimới Nổi bật là mô thức trần thuật ở ngôi thứ nhất và sự đan xen giữa các ngôi,

là độc thoại, độc thoại nội tâm, hay kỹ thuật phân tích tâm lý

Trong bức tranh toàn cảnh tiểu thuyết thời kì đổi mới, tiểu thuyết nông thôn

đã hòa vào dòng chảy chung để phán ánh trọn vẹn bức tranh nông thôn đương đạivới nhiều cung bậc cảm xúc, đường nét độc đáo hơn Khi khai thác về một đốitượng không mới trong truyền thống văn học, các nhà văn vẫn khẳng định được tàinăng sáng tạo của mình bằng việc đổi mới tư duy nghệ thuật thông

Trang 25

qua việc lựa chọn đề tài, xây dựng cốt truyện, nhân vật và cá thể hóa ngôn ngữnhân vật Nông thôn Việt Nam vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa cũ vừa mới,vừa bình yên vừa phức tạp hiện lên sinh động, hấp dẫn trong từng trang viết Sựđóng góp đó đã mang lại sức sống mới, chiều sâu mới cho nền tiểu thuyết ViệtNam bằng những trang văn rất riêng, Nó khẳng định tiếng nói, tâm hồn, bảnlĩnh của dân tộc mà các nhà văn đã và đang miệt mài sáng tạo.

1.2 Quan điểm nghệ thuật, con đường sáng tạo của Lê Lựu và vị trí của

tiểu thuyết Thời xa vắng

1.2.1 Quan niệm nghệ thuật

Quan niệm nghệ thuật chính là một phương tiện thiết yếu của sáng tạonghệ thuật Do vậy, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật chính là bước đi thiết thực

để đến với chiều sâu của các tác phẩm, của giá trị văn học Nhà văn Lê Lựu bộc

lộ quan điểm nghệ thuật thông qua những trang viết và chính lời nói của mình.Ông nói: “Tôi là người ít học, ít đọc vì lười nghĩ ngợi Toàn bộ những trang viếtcủa tôi chỉ theo đuổi một nguyên tắc là sự thật Tôi không thể viết được nếukhông bám vào sự thật Tôi chỉ là người kể chuyện, có gì viết nấy” [56, tr.501].Trong một lần “Hỏi chuyện tác giả, tìm hiểu tác phẩm”, ông tiếp tục khẳng địnhvới bạn đọc: “Tôi nghĩ, văn chương phải đối thoại được với cuộc sống, viết thậtlòng không nói dối - nhờ cái thật mà đối thoại được với cuộc đời và người đangsống” [56, tr 547]

Như vậy, chúng ta nên hiểu "sự thật" đó như thế nào Cái thật trong vănhọc, theo quan niệm của Lê Lựu, nó bắt nguồn từ cái thật trong cuộc sống màcuộc sống thời bấy giờ có nhiều sự đổi thay to lớn Người đọc thích nhìn thẳngvào sự thật, nói thật và làm thật Qua văn chương, người đọc muốn hiểu thờiđại lúc bấy giờ ra sao, muốn nhận thức đúng thực chất các mối quan hệ xã hộicủa con người trong một xã hội đầy biến động Ông ý thức rằng, văn học khôngthể tách rời hiện thực mà phải bám sát hiện thực Vậy là đã rõ, “sự thật” chính

là nguyên tắc của Lê Lựu trong việc xây dựng tác phẩm, “Tôi không thể viết

Trang 26

được nếu không bám vào sự thật” Đấy là lời thổ lộ chân thành nhất của ngườicầm bút Và điều này không phải là lời nói suông mà trên hầu hết những trangviết, sự thật hiện lên như nó vốn có Không một chút màu mè Không một chút

tô vẽ Trên hành trình kiếm tìm sự thật ấy, nhà văn đã mạnh dạn phơi bày tất cảnhững gì đang diễn ra, những gì trước nay bị che dấu, bị lờ đi Vì vậy, sự thật

về đời sống, về con người hiện lên rõ nét hơn trong tác phẩm của ông

Là một người nông dân mặc áo lính, Lê Lựu luôn luôn nghĩ về quêhương, ông chú ý đến tất cả mọi điều liên quan đến người nông dân Nông thôn

và người nông dân là mảng đề tài bất tận mà ông khai phá Cho nên, viết về đềtài gì đi chăng nữa thì hình ảnh làng quê với những nhân vật "người nhà quê"vẫn hiển hiện trên từng trang viết Theo nhà nghiên cứu Đinh Quang Tốn: “Đềtài hậu phương nông thôn miền Bắc trong chiến tranh chống Mỹ có nhiềungười viết, nhưng Lê Lựu là người viết thành công hơn cả” [56, tr 663] Hơnthế nữa, Lê Lựu đi nhiều, biết nhiều, vốn sống của ông căng tràn Bản thân làmột người lính nên ông rất dễ hoà đồng với họ Ông hiểu tâm tư tình cảm của

họ một cách tự nhiên Họ chính là ông mà ông cũng chính là họ Ông đã viếtnhững gì mình biết, mình hiểu một cách sâu sắc và tất cả những điều ấy đềuxuất phát từ quan niệm nghệ thuật "tôn trọng sự thật" Do vậy, khi nghiên cứutác phẩm, chúng ta không thể không đề cập đến quan điểm nghệ thuật của nhàvăn

1.2.2 Con đường sáng tạo của Lê Lựu

Lê Lựu sinh vào ngày 12/12/1942 tại một làng ngoài đê sông Hồng, thônMẫn Hoà, xã Tân Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên trong một gia đìnhnông dân bình thường như bao gia đình nông dân đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam.Làng quê mà ông sinh ra và lớn lên là một vùng quê nghèo đói, một vùngchiêm trũng ngập lụt Ông lớn lên giữa lúc miền Bắc được hoàn toàn giảiphóng Người nông dân bước vào công cuộc xây dựng xã hội mới , người cày

có ruộng

Trang 27

Lê Lựu rời ghế nhà trường từ đầu những năm 1960, lúc đó phong trào

“ba nhất” trong quân đội đang hừng hực khí thế Lúc đầu, ông làm báo ở Quânkhu III Tiếp đến là phóng viên báo, công tác tại Mặt trận đường dây 559Trường Sơn thời kỳ chiến tranh, với tư cách một người lính văn hóa

Đến những năm 1970, ông chuyển về tạp chí Văn nghệ quân đội, từng là

biên tập viên văn xuôi, phụ trách thư kí tòa soạn Ở đấy, ông không chỉ làmcông việc của một biên tập viên mà còn sáng tác Trong đời thường Lê Lựuchân thật, hồn nhiên, đôi lúc có phần “lôi thôi lếch thếch”, “luộm thuộm”nhưng bên cạnh đó, ông sống rất gần gũi, chân thật, cởi mở… đó chính lànguồn lực khiến ông không khô khan trong sáng tác văn chương

Khởi đầu sự nghiệp viết văn từ những năm 1960 của thế kỷ XX, Lê Lựuthuộc số ít những nhà văn thế hệ chống Mỹ tiếp tục có những thành tựu nổi bậttrong lao động nghệ thuật từ sau 1975, nhất là từ công cuộc đổi mới văn học từsau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tới nay Gần 40 năm cầm bút với hơn 20tập sách, số lượng tác phẩm của Lê Lựu thuộc loại trung bình Lê Lựu vốn khởinghiệp từ nghề báo nhưng lại thành công trong lĩnh vực văn chương Truyện

ngắn đầu tay của ông là Tết làng Mục (1964), tiếp đến là Người cầm súng (1967), rồi sau đó là tiểu thuyết Mở rừng (1977), Thời xa vắng (1986), Chuyện làng Cuội (1993), Sóng ở đáy sông (1994), Hai nhà (2000),… Ngoài hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết ra, Lê Lựu còn có hai tác phẩm kí gây tiếng vang một thời: Một thời lầm lỗi (1988) và Trở lại nước Mỹ (1989).

So với các nhà văn khác như Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn MinhChâu… thì sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu chưa lớn, số lượng tác phẩm khôngnhiều nhưng Lê Lựu lại được độc giả chú ý không chỉ một hoặc hai tác phẩm.Đây chính là điểm thành công ở ông, một nhà văn có được một tác phẩm đượcđông đảo bạn đọc và giới phê bình văn học quan tâm thì đã được xem là thànhcông và Lê Lựu đã không chỉ có một mà còn nhiều hơn một, ông viết khôngkhỏe nhưng những tác phẩm đều nặng về giá trị

Trang 28

Trong quá trình lao động nghệ thuật miệt mài, nghiêm túc, Lê Lựu đãkhẳng định mình ở nhiều thể loại như: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, ký, tạpvăn,… và thành quả nghệ thuật của ông được khẳng định trong một loạt giải

thưởng như: Giải nhì hội thi Truyện ngắn báo Văn nghệ 1967 - 1968 (không có giải nhất) với truyện ngắn Người cầm súng Giải A cuộc thi viết về thương binh của Hội Nhà văn, Bộ Thương binh với truyện Người về từ đồng cói Đặc biệt với giải thưởng của Hội Nhà văn dành cho Thời xa vắng, đã có hàng loạt bài

phát biểu về tiểu thuyết của ông Có thể nói Lê Lựu đã trở thành một cây bútcủa văn chương đương đại được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Thành công hơn cả đối với Lê Lựu chính là thể loại tiểu thuyết Chính

thể loại này đã làm nên tên tuổi Lê Lựu với một loạt tác phẩm như Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông, Chuyện làng Cuội, Hai nhà…Tác phẩm của ông khai

thác những vấn đề thuộc chiều sâu của xã hội, ông không ngại nói lên nhữngsai lầm của cải cách ruộng đất, không ngại khi nói về những vấn đề của cuộcsống hôn nhân, không ngại nói về lối sống của người thành thị… Tất cả đượcông đưa ra và thêm một lần nữa khẳng định những vấn đề được xem là nhữngvấn đề nóng của xã hội đương đại

Có thể nói, Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội, Sóng ở đáy sông không

những cho bạn đọc biết đến một nhà tiểu thuyết Lê Lựu mà còn khẳng địnhphong cách nghệ thuật cũng như in dấu đậm nét tên tuổi nhà văn trong quátrình vận động của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

1.2.3 Vị trí của tiểu thuyết Thời xa vắng

Lê Lựu là một trong số những nhà văn trưởng thành trong cách mạng vàcũng là một trong số những nhà văn quan tâm đến bước chuyển mình của đờisống nhân dân, đặc biệt là đời sống người nông dân

Sự trình làng của tiểu thuyết Thời xa vắng vào năm 1986 đã làm khuấy

động bầu không khí văn học nước nhà Tác phẩm này thực sự trở thành mộthiện tượng văn học, làm tốn không ít giấy mực của giới phê bình và nghiên

Trang 29

cứu văn học Đây là tác phẩm có ý nghĩa bước ngoặt trong văn nghiệp của LêLựu, tác phẩm giúp nhà văn xác định vị thế chắc chắn của mình trong hàng ngũnhững nhà văn tiêu biểu của thời kỳ Đổi mới, đồng thời là tác phẩm có ý nghĩanhư một dấu mốc quan trọng trong tiến trình vận động và phát triển của vănxuôi nước nhà từ sau 1975.

Khi Thời xa vắng xuất hiện trên văn đàn lập tức tác phẩm đã được đánh giá

như một cọc tiêu tiền trạm của công tác đổi mới văn học Theo Giáo sư Phong Lê

“Thời điểm 1984 khi cuốn sách được viết ra quá muộn so với sự chuyển giai đoạncách mạng diễn ra từ 1975, nhưng vẫn cứ là đóng góp, là sự đón nhận trước cáiyêu cầu “nhìn thẳng vào sự thật” và nhận thức lại lịch sử được đề ra với Đại hội

VI, cuối năm 1986 Cuốn sách có giá trị một đóng góp tiền trạm là thế” [38]

Vấn đề đặt ra ở tác phẩm có một ý nghĩa sâu sắc: nhu cầu nhận thức lại

thực tại Về vấn đề này, Nguyễn Văn Lưu cho rằng: "Tiểu thuyết Thời xa vắng

của Lê Lựu phản ánh sinh động và chân thực quá trình chuyển biến trong nhìnnhận, đánh giá thực tại" [41] Ông cũng đánh giá cao về sức lao động của tácgiả bởi những trang viết xúc động, chân thực về tình cảnh làm thuê của ngườidân làng Hạ Vị và của Sài Nhà văn phản ánh một cách sắc bén, hàm súc,những hoàn cảnh, những thói quen, những tập quán, di sản của xã hội cũ.Những trang tả tuổi thơ của Sài và cuộc sống làm thuê của gia đình anh, của cảdân làng Hạ Vị là những trang chân thực và hết sức sinh động, Ông cũng khẳngđịnh tài năng của Lê Lựu: "Phải là người dân nghèo khổ mới viết được nhữngcâu văn ứa lệ như vậy, đó là những trang văn hay của văn xuôi Việt Nam" [41]

Nói đến nhà văn Lê Lựu mọi người thường nghĩ ngay đến Thời xa vắng,

tác phẩm đã đưa ông trở thành “sỹ quan” trong làng văn Không phải là khó

hiểu khi mọi người lại giành cho Thời xa vắng quá nhiều lời khen chê, lẽ giản

đơn bởi tác phẩm này đã khơi dậy sứ mênh thiêng liêng mà mọi nền văn họcchân chính xưa nay muốn đảm nhiệm Theo nghĩa này, Vương Trí Nhàn đã

khẳng định: "Thời xa vắng nên được xem là cuốn sách biết làm đúng nhiệm vụ

một tác phẩm văn học cần làm” [53]

Trang 30

Thời xa vắng trở thành sự kiện nổi bật trong đời sống văn học lúc bấy

giờ Nó đã tạo đà, khởi hứng và phát triển mạnh mẽ cho một khuynh hướng

nhận thức lại lịch sử nông thôn với cảm hứng phê phán Cuốn gia phả để lại, Những thiên đường mù, Ly thân, Pháp trường trắng, Lời nguyền hai trăm năm,

và Ác mộng… đều ánh chiếu vào quá khứ của một thời đau thương nhằm lật xới

những mảng tối, những mặt trái, mặt tiêu cực đã bị lờ đi, hoặc gác lại Nếu nhưtrước đây văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn chỉ đi vào phản ánh nhữngmặt tốt đẹp của đời sống xã hội nông thôn và nông dân, thì nay, những mặt tráicủa quá khứ nông thôn như cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp đãđược nhìn nhận, đánh giá lại Vấn đề dòng họ, bè phái, phe giáp trong nội bộ,

sự ấu trĩ trong việc ngăn cấm làm giàu cá nhân cũng được phanh phui, mổ xẻ

Trong so sánh với văn xuôi Việt Nam trước và sau 1975, Thời xa vắng

của Lê Lựu vừa như rất cũ, rất gần gũi với văn xuôi thời kỳ chiến tranh, vừanhư rất mới với những yếu tố cách tân trên cả hai phương diện nội dung vànghệ thuật Điều đó xác định tính chất quá độ của tác phẩm trên hành trình đổimới của văn xuôi Việt Nam sau 1975 Tuy không phải là sự cách tân toàn diện

như các tác phẩm của một số tác giả khác trong giai đoạn sau, nhưng Thời xa vắng của Lê Lựu vẫn là tác phẩm có ý nghĩa mở đường, tác phẩm đã đặt dấu

mốc quan trọng trong tiến trình vận động và phát triển của văn xuôi nước nhà,tác phẩm đã đưa nhà văn Lê Lựu lên vị trí danh dự của những nhà văn xuất sắcthời kỳ Đổi mới Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với đánh giá sau đây của một nhànghiên cứu văn học: “Nếu trong tổng số sáu trăm hội viên Hội nhà văn ViệtNam (thời điểm 1986), cứ mười người chọn lấy một người tiêu biểu, thì Lê Lựu

là một trong số 60 nhà văn ấy Nếu về văn xuối hiện đại Việt Nam, chọn lấy 50

tác phẩm, thì có mặt Thời xa vắng Nói thế để thấy, trong văn học Việt Nam

hiện đại, Lê Lựu đã có một vị trí đáng kể” [76]

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, luận văn đã khái quát đặc điểm tiểu thuyết Việt Namtrước thời kỳ Đổi mới và tiểu thuyết nông thôn trong bức tranh chung của tiểuthuyết thời kỳ Đổi mới để từ đó thấy được sự vận động và phát triển của thểloại tiểu thuyết qua các thời kỳ Cũng trong chương này, chúng tôi đi sâu, tìmhiểu về Lê Lựu qua cuộc đời, sự nghiệp sáng tác và những đóng góp của tác giảđối với thể loại tiểu thuyết và đối với nền Văn học đương đại Với những nỗ lựcsáng tạo nghệ thuật, cộng với những thay đổi trong quan niệm về hiện thực vàcon người, Lê Lựu đã khẳng định vai trò tiên phong trong việc đổi mới tư duy

tiểu thuyết, đặc biệt là trong tiểu thuyết Thời xa vắng Tác phẩm đã đưa ông lên

vị trí của những nhà văn xuất sắc thời kỳ Đổi mới

Trang 32

Chương 2

NÔNG THÔN TRONG THỜI XA VẮNG - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN

NỘI DUNG 2.1 Bức tranh hiện thực cuộc sống nông thôn

Hiện thực cuộc sống luôn đa dạng và phức tạp, là “vùng trời, vùng đấtthênh thang” (Lý Hoài Thu), thích hợp cho sự sáng tạo của tiểu thuyết Mảng

đề tài viết về người nông dân có mặt trong các thời kì khác nhau của văn họcViệt Nam Nhiều nhà văn xuất thân từ nông dân, vốn dĩ đã mang trong mìnhhiểu biết và trải nghiệm sâu sắc về cuộc sống ở nông thôn Có tác giả được tônvinh là nhà văn của nông dân như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Kim Lân… Họ cócác sáng tác thể hiện được cái hồn của đời sống người nông dân Bức tranhnông thôn trước Cách mạng tháng 8 hiện lên ảm đạm, thê thiết Người nông

dân bị bóc lột, bần cùng bởi sưu cao thuế nặng (Tắt đèn - Ngô Tất Tố); đời sống xã hội ngột ngạt, con người bị tước đoạt nhân hình, nhân tính (Chí Phèo -

Nam Cao) Cách mạng tháng 8 mang đến cho người nông dân quyền làm chủ

đất nước, cuộc sống bừng lên ánh sáng của niềm tin Tác phẩm Cái sân gạch,

Vụ lúa chiêm (Đào Vũ), Anh Keng (Nguyễn Kiên), Đất làng (Nguyễn Thị Ngọc

Tú)… hướng về ca ngợi nông thôn mới, mô hình hợp tác xã, quyền làm chủ laođộng sản xuất của người nông dân… Bức tranh nông thôn có nhiều đổi mớinhưng đời sống của người nông dân vẫn chưa thoát khỏi đói nghèo

Văn xuôi Việt Nam thời kì Đổi mới nhìn nhận nông thôn với xu hướng

nhận thức lại các vấn đề của nó Tiểu thuyết Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội, Sóng ở đáy sông của Lê Lựu cùng với các tác phẩm khác như Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương Hướng) Phiên chợ Giát, Khách ở quê ra (Nguyễn Minh Châu)… thể hiện một cách

nhìn khác về nông thôn và người nông dân Giáo sư Phong Lê trong bài viết

Nông thôn và ngươi nông dân trong văn học Việt Nam thế kỷ

Trang 33

XX đã ghi nhận sự chuyển mình vàsáng tạo ở mảng đề tài này: "Đó là nông

27

Trang 34

thôn thời hậu chiến; nông thôn trong và sau sự thực thi một mô hình sai lạc vềphát triển xã hội; nông thôn trong các quan hệ làng xã, gia tộc, giòng họ; nôngthôn với sự bảo lưu hoặc thay đổi các tập quán, phong tục Cuối cùng, hoặcbao trùm, đó là nông thôn trong guồng chuyển đô thị hóa khi đất nước bướcvào thời kỳ hội nhập, mở cửa".

2.1.1 Vùng quê nghèo khó

Sinh ra ở một làng quê nghèo khó, ở Lê Lựu có “ngấm chất bùn đất củathôn quê”, ông viết về đề tài nông thôn như món nợ canh cánh với mảnh đấtquê hương quanh năm lụt lội, đói nghèo: “Nông thôn và người nông dân là cộinguồn, là quê hương văn học của anh” [56, tr.656] Thời xa vắng dựng lên bức

tranh sống động về đất nước trước và trong thời kỳ Đổi mới Nhà văn gây ấntượng mạnh mẽ cho bạn đọc ngay ở trang đầu tiên viết về cuộc sống làng quê:

“Làng bập bềnh như trôi trong đêm sương muối Những cây cau thẳng đuột caovóng như chỉ chực lao thẳng đến tận trời chìm ngập giữa âm thầm giá lạnh”[42, tr.5] Không gian lặng lẽ, âm thầm trong đói nghèo Dù đã được giảiphóng, được làm chủ những “tầng tầng phù sa trông ngon như những tảng thịtnạc” nhưng “nạn đói đang có nguy cơ loang bùng khắp xã” [42, tr.21] Làng Hạ

Vị năm nào cũng phải chạy lụt, nước sông ăn lên “lem lém nuốt chửng cả bãixanh non mênh mông lúa lốc và vừng” “Những ngày mưa ngâu ào đến, ào đinhư một trò đùa dai dẳng…” Cảnh chạy lụt hối hả “Tiếng trống thúc ngũ liên,tiếng loa hối hả suốt ngày đêm gọi người lớn đi hộ quai đê, giục trẻ con, ngườigià, trâu bò, lợn gà chạy vào đê chính”, “Làng quay cuồng mù mịt trong nỗihoảng loạn” Thiên tai đẩy cuộc sống của người dân Hạ Vị vào cảnh khốn đốn,màn trời chiếu đất khi đê vỡ “nước đã tràn về ào ạt như gió, trong chốc lát cánhđồng lởm chởm mấp mô đã trắng băng” Năm nào cũng gồng mình trước lụtlội, thiên tai, người dân xem cái nghèo như vốn dĩ cuộc sống phải thế: “gia đìnhphong lưu nhất mới giữ được ngày hai bữa: bữa sáng rong riềng non tèo tẽo vàbữa chiều cháo nấu lẫn với su hào, bắp cải và khoai lang” [42, tr 305]

Trang 35

Nam Cao từng miêu tả cảnh khốn đốn vì miếng ăn của người nông dântrong các truyện ngắn của mình Kim Lân viết về bữa ăn ngày đói với cháo loãng,rau chuối, cháo cám Cùng viết về đề tài nông thôn, nhà văn Nguyễn Khắc Trườngmiêu tả cảnh đói giáp hạt ở xóm Chùa Cái đói làm nhiều người đứt bữa: “Nồiniêu lúc nào cũng há cái miệng rỗng, nhẵn như đầu bụt! Những mặt người haogầy, nhớn nhác hớt hải cứ tưởng vội vã đi đâu, nhưng kì thực chẳng có việc gì hết,

cứ ra vào quanh quẩn với cái bụng sôi èo èo…” Cái đói đã trở thành vấn nạn đedọa cuộc sống người nông dân và là vấn đề đặt ra bức thiết

Nhà văn Lê Lựu thấu hiểu những cơ cực của người nông dân, đau xóttrước thực trạng nghèo đói ở nông thôn, nhưng ông cũng mạnh dạn chỉ ranguyên nhân không chỉ ở thiên tai, mất mùa… mà còn nằm ở chính thói chây ì,dựa dẫm vào việc đi làm thuê của dân làng Hạ Vị Sự nghèo khó hằn vào nếpnghĩ khiến hình thành những cung cách làm ăn không giống ở đâu: “Khônghiểu từ đời nào làng chỉ quen đi làm thuê Miếng cơm thiên hạ bao giờ cũngngon Những người khỏe mạnh có nghề trong tay, dường như mục đích cao cả

và sự sung sướng hồi hộp của họ cũng chỉ là kiếm được miếng ăn giữa tháng bangày tám, sau đấy vợ chồng con cái lại dắt díu nhau về cày bừa vội vã để lạibồng bế ra đi Đến mùa thu hoạch lại về Hết mùa lại đi Cứ thế Khi về lạinhớ cơm thiên hạ Khi đi lại cồn cào thương nhớ từ gốc cau, bụi chuối Họkhông yêu thiết tha đồng ruộng nhưng không đủ sức dứt bỏ những gì quenthuộc từ thuở cha sinh mẹ đẻ ở cái nơi mà ai cũng gọi là quê hương” [42, tr.22] Người ta tranh giành nhau để có được công việc Cu Sài đã biết đi làm thuê

từ bé, biết len đến, luồn lách, kiễng lên án ngữ trước mặt chủ để xin việc, đắc ýđược người ta thuê làm, nhưng miếng cơm của thiên hạ không dễ kiếm: “Cáiphút ấy thằng Sài muốn ứa nước mắt vì bị khinh rẻ, nó hiểu thế nào là thânphận của kẻ đi làm cốt chỉ để kiếm lấy một bữa cơm” [42, tr 29] Suốt một thờigian dài, các mô hình làm ăn đã thay đổi từ “tổ đổi công lên hợp tác thấp, hợptác cao”, từ “khoán trắng, khoán

Trang 36

đen đến năm ba khâu quản” [42, tr 30] nhưng rút cuộc người nông dân vẫn khổ

sở, đói khát, cuộc sống cơ cực không khác trước kia là mấy

Bởi thế, khi có chủ trương thay đổi cung cách làm ăn, buộc người dânkhông được đi làm thuê mà phải canh tác trên chính mảnh đất quê hương mìnhthì họ lại “ấm ức”, họ sợ “gia đình chết đói thì ai chịu trách nhiệm” Cuộc sống

đã thay đổi, đã độc lập tự do nhưng người dân làng Hạ Vị dường như chưa thấy

đó là cơ hội cho sự đổi đời Căn nguyên của tất cả những lo sợ ấy là để duy trìmiếng cơm manh áo cho mỗi người trong gia đình, bởi thế thay đổi họ cũngthật đơn giản: “Thành ra đầu cuộc họp là nỗi khổ, ấm ức, cuối cuộc họp đã là

sự sung sướng thỏa mãn Nếu được một lẻ gạo người nông dân có thể cho mộtthúng lời khen, huống hồ ngày mai mỗi nhân khẩu ít nhất cũng được mười cânthóc thì có thức suốt đêm nay mà khen ông chủ tịch có thấm gì” [42, tr 35].Người nông dân với những tính toán rất chân thật như thế thật đáng thương,đáng trọng

Làng Hạ Vị của Lê Lựu cũng như bao làng quê khác trên mảnh đất ViệtNam nhiều nhọc nhằn này còn thật nhiều gian khó, vất vả chưa dám nghĩ đếnchuyện “ăn no mặc đẹp” Nghèo đói cũng là một trong những nguyên nhânkhiến con người trở nên hèn hạ hơn, bần tiện hơn Người nông dân làng Hạ Vị -những người vốn tắt lửa tối đèn có nhau vậy mà vì tranh nhau kiếm việc màxúc phạm cả đến tình làng nghĩa xóm Và đôi khi “bớt xén ăn xin, ăn nài nắmxôi, quả chuối, vốc lạc, nắm cháy, củ khoai lang mang về cho bố hoặc mẹ, vợhoặc chồng và con cái ở nhà là tất cả tươi vui bừng sáng ” [42, tr 23] Đó lànhững mặt trái của công cuộc đổi mới mà nhà văn Lê Lựu muốn nhìn nhận lạimột cách trung thực

Trước 1945, Nam Cao viết Lão Hạc cũng để thể hiện một niềm tin sâu sắc vào phẩm giá con người Truyện ngắn Lão Hạc không miêu tả không gian

thiên nhiên, làng xóm mà tập trung tái hiện tâm trạng, day dứt của Lão Hạc khimỗi ngày đi qua Và con người ấy đã lựa chọn cái chết để giữ gìn

Trang 37

phẩm giá, giữ gìn trọn vẹn tình yêu với đứa con trai khốn khổ của mình Ngô

Tất Tố viết Tắt đèn giúp người đọc hiểu được nỗi bi kịch khốn khổ của con

người Vì nghèo mà người mẹ hết lòng yêu thương con phải “bán con, bán chó"

để cứu sự sống của cả gia đình trong cơn hoạn nạn Song chị Dậu không vì đóikhổ mà đánh mất nhân cách cao đẹp của mình Với tấm lòng nhân đạo sâu sắc,các nhà hiện thực trước 1945 đã thể hiện niềm tin vững chắc vào nhân cách conngười trong cơn lốc của hoàn cảnh

Cùng với những tác phẩm viết nông thôn và cuộc sống của người nông

dân trước Cách mạng, Thời xa vắng của Lê Lựu cũng có sự kế thừa những sáng

tác viết ở thời kì trước đó trong cách tiếp cận hiện thực Tác phẩm chưa phải đãtái hiện hết cái phức tạp bề bộn của hiện thực nông thôn Nhưng làng quê ViệtNam với những vẻ đẹp, cùng cả những tồn tại vốn thuộc về bản chất nhất cũngđược nhà văn tái hiện cả bề rộng cùng chiều sâu trong những trang văn đầy ámảnh

2.1.2 Vùng quê “Đất lề quê thói”

Nền văn hoá truyền thống Việt Nam được hình thành trên cơ sở của nềnvăn hoá nông nghiệp Cuộc sống của mỗi người Việt Nam đều gắn bó mật thiếtvới xóm làng, quê hương Chính bởi vậy, nói đến văn hoá làng quê là đề cậpđến một bức tranh nhiều màu sắc của sự đa dạng phong phú những phong tụctập quán Trong văn hoá Việt Nam, phong tục có thứ trở thành luật tục, ăn sâu,bén rễ trong nhân dân rất bền chặt, có sức mạnh hơn cả những đạo luật Làngkhông chỉ là những truyền thuyết, cuộc sống thực của các làng quê với sự đadạng, phong phú về các quan niệm, về đời sống tín ngưỡng, về những mối quan

hệ giữa con người với làng, giữa người với người trong đời sống thường nhật cũng là một cái mỏ vô tận cho ta khai thác, thưởng thức

Lê Lựu viết Thời xa vắng đã làm sống lại một thời xa xưa của làng quê

Việt Nam Chuyện ngày hôm qua chưa xa nhưng những lề thói ở đó khiến quêhương của Giang Minh Sài như thuộc về một “thời xa vắng” thực Tục tảo hôn

Trang 38

ở nông thôn khiến bao đứa trẻ vừa lớn dậy đã phải gánh những trọng tráchthiêng liêng và quan trọng quá khả năng của chúng Sài không thể ý thức được

là nó đã có vợ nên khi vợ vô tình giã trẹo vào tay thì ông chồng con đã “thụivào mặt vợ nó” rồi giở giọng đầy hống hách của một đứa trẻ “Bố mày đến đâycũng đếch sợ, ông huých chó nó cắn lồi mắt bố mày ra” Người chồng trẻ con

ấy đã đối xử với “vợ” với tất cả những bực dọc, ấm ức biến thành lời nói, hànhđộng rất trẻ con mà đầy thô bạo Sài chỉ biết rằng nó không thích, nó ghét, nókhó chịu Người ấy là người mà bố mẹ ép phải “cưới”, nhưng nó không hề thấynảy sinh trong lòng một tia tình cảm nào kể cả là lòng thương Đó là một cuộchôn nhân không xuất phát từ tình yêu mà là sự giao ước của hai gia đình; và saubao năm chung sống người vợ vẫn là người con gái trong trắng Đáng sợ nhất là

vì danh dự gia đình, dòng họ mà Sài phải tỏ ra “yêu thương vợ” trước mặt mọingười Gia đình ông đồ Khang xưa nay vẫn được người dân người làng kính nể

“Dăm bẩy tháng nay hòa bình được lập lại có ai khinh rẻ những người cổ hủphong kiến thì vẫn phải nể ông” Sài là con trai trong gia đình, và chàng trai ấy

từ nhỏ đến lớn phải giữ gìn sự đẹp đẽ cao cả cho gia phong của gia đình tổ tiên.Lúc nhỏ thì giữ gìn trong đoàn thể ở xã, huyện; lớn lên đi công tác nó buộcphải “yêu vợ mới được vào Đảng”

Cuộc hôn nhân như một trò đùa của con trẻ - mặc dù được sự tác hợp đầynghiêm túc của hai gia đình, đã bám riết lấy số phận hai con người, hủy diệthạnh phúc và tương lai của họ Lê Lựu bằng bi kịch của cuộc đời Sài đã chỉ ramột “lề thói” ở làng quê xưa: Hôn nhân của con cái phụ thuộc vào sự sắp đặtcủa cha mẹ Họ không tính đến nhu cầu về tình cảm và mong muốn thực sự củacác con “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” là câu tục ngữ đúc kết hủ tục ấy.Không phải ông bà đồ Khang không thương con, chú Hiền, anh Hà cũng vậy-luôn rất mực lo cho sự thành bại về sự nghiệp danh dự của Sài nhưng do sựcứng nhắc lạc hậu trong nhận thức, do sự chi phối của tư tưởng gia trưởngphong kiến mà vô tình họ đã làm khổ Sài suốt cuộc đời

Trang 39

Tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam thời kì đổi mới được sáng táctrong xu hướng “nhận thức lại thực tại”, tái hiện hiện thực nơi những làng quêcòn nặng nề định kiến- những định kiến vô hình nhưng là gông cùm mà mỗingười nông dân lại tự nguyện chịu sự trói buộc Đó là quan niệm về đạo đứccon người gắn với gia thế dòng tộc, con người ta chỉ được coi là tốt khi biếtchấp nhận và sống theo qui tắc của dòng họ Vì sự ép mình đó mà không ítngười đã phải sống cuộc đời đầy bi kịch, đầy những ấm ức, khổ đau Nhân vậtGiang Minh Sài của nhà văn Lê Lựu đã luôn vì danh dự dòng họ gia đình màchấp nhận cuộc hôn nhân cười ra nước mắt, bởi gia đình nề nếp ấy không baogiờ chấp nhận việc Sài ruồng rẫy vợ Anh mất đi tuổi thơ bởi những lo âu vàhậm hực Anh đánh rơi tình yêu, hạnh phúc với Hương, đi nhập ngũ như một sựtrốn chạy vì tai tiếng “trăng hoa” với người khác khi đã có vợ.

Cùng viết về chủ đề này, ta cũng thấy số phận của Vạn trong Bến không chồng (Dương Hướng), những kiếp người như cô Bé, bà Mến, cô Bê lớn trong Dòng sông mía (Đào Thắng) hay cô Luyến trong Thủy hỏa đạo tặc (Hoàng

Minh Tường) Họ đều là những người nông dân, quân nhân, họ sống thuầnphác và khao khát hạnh phúc như bất cứ ai, nhưng định kiến về dòng họ đã đày

ải họ đến những bi kịch của cuộc đời

Cũng như một số nước phương Đông khác, phần đông người dân Việt theotín ngưỡng Phật giáo, có tập tục thờ cúng người chết vì họ tin rằng con người cóphần hồn, phần xác, có kiếp trước, kiếp sau Cái quan niệm ấy có thể khiến người

ta sống tốt hơn, lương thiện hơn để tu nhân tích đức cho hậu thế, tránh quả báo ởđời Thế nhưng, cái suy nghĩ ấy cũng làm hình thành trong nhân dân biết bao điều

mê tín, bao hành động ngây thơ, mù quáng đến là tức cười

Bà đồ Khang thấy con trai bị cảm lạnh, mê man bất tỉnh, không đi kiếmthầy thuốc mà vội vàng ra sân để “gọi hồn, gọi vía” con về Quan niệm dângian cho rằng con người ta, con trai có “ba hồn bảy vía”, con gái có “ba hồnchín vía” Hồn, vía có thể thoát khỏi xác khi giật mình, khi sợ hãi quá, khi ngủ

Trang 40

hoặc là khi ngất xỉu Thằng Sài sợ đòn, trốn cha ngoài cánh đồng trong mộtđêm sương giá nên bị cảm đến mức hôn mê Với niềm tin như thế, bà đồ Khang

và mọi người hốt hoảng cầu gọi: “Ba hồn bẩy vía thằng Sài đâu thì về, bẩy vía

ba hồn Sài ơi về với mẹ đi con”, “Bẩy vía ba hồn thằng Sài ở đâu tthì về với bố,với mẹ Sài ơi” Cũng may, ngoài gọi hồn, gọi vía, người ta còn kết hợp vớinhững cách giải cảm dân gian khác nên thằng Sài mới thoát chết

Những định chế của làng cùng lối sống thuần nông khiến cho cuộc sốngcủa người nông thôn vừa đa dạng vừa vô cùng phức tạp Mối quan hệ giữanhững con người trong làng trong xã cũng vì thế mà mang nhiều sắc thái, vừa

cả nể vừa du di, vừa dễ dãi vừa khe khắt, vừa tình cảm, khắng khít vừa tọcmạch, ti tiện, vừa tự ti vừa tự tôn

Một trong những “lề thói” của người nông thôn là rất thích phô trươngcuộc sống sung túc của mình cho làng xóm thấy Bởi vì, trong tâm thức của họluôn quan niệm rằng: “Con công hơn con quạ cũng là ở bộ lông, chứ vặt trụi đithì ông quyền cao cũng như anh nhọ đít” [31, tr.75] Chính vì thế, người tathích mua sắm, tích cóp được chút tiền nào là lo sắm sửa đồ đạc Thậm chí, đóicũng bóp bụng sắm

Nhà anh Tính ở trong cái làng Hạ Vị lụt lội và cũng chẳng giàu có gì,nhưng trong căn nhà của anh vẫn bầy biện và có cung cách ăn ở như bất cứ mộtnhà khá giả lịch sự nào trên tỉnh Khi có khách quý đến nhà anh, họ sẽ đượcđón tiếp một cách khá long trọng, bài bản, đến nỗi, khách dù ăn cơm hay chỉuống một cốc nước bột sắn cũng không có cảm giác làng Hạ Vị úi xùi Sở dĩnhư vậy là vì, trong khi cả làng Hạ Vị người ta không thể chấm thịt gà bằng thứnước chấm gì khác ngoài món tiết luộc thì nhà Tính, dưới sự cố vấn của thằngcháu đã được đi tập huấn, tham quan cửa hàng ăn trên huyện, đã có đầy đủnhững nguyên liệu bếp núc cần thiết như: hành, tỏi, hồ tiêu, ca ri, ớt khô,chanh, dấm, dâu ngâm, sắn dây, rượu thuốc Khách đến sẽ được hưởng nhữngmâm cỗ thịnh soạn, thức nào ra thức ấy, chứa chan tình cảm và kiến

Ngày đăng: 27/11/2020, 11:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w