MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Xây dựng nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng là những nội dung rất quan trọng trong quy trình lãnh đạo của Đảng. Quy trình lãnh đạo ấy gồm các bước chủ yếu: xây dựng nghị quyết, tổ chức thực hiện nghị quyết và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết. Xây dựng nghị quyết đúng và tổ chức thực hiện nghị quyết đúng sẽ đem lại thành công to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, là chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của Đảng. Bởi vì, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội, nhằm quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, tạo ra những điều kiện vật chất và tinh thần cần thiết để thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Điều kiện cơ bản để Đảng giữ vững vị thế cầm quyền của mình là Đảng có đường lối đúng đắn, phát huy được vai trò của Nhà nước và sức mạnh của toàn dân tộc để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Trong điều kiện hiện nay, con đường cơ bản nhất để nghị quyết của Đảng thành hành động của toàn dân là Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hoá nghị quyết của Đảng để toàn dân thực hiện. Đảng xây dựng nghị quyết, đồng thời lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa nghị quyết, song Đảng không khoán trắng cho Nhà nước làm việc này. Đảng lãnh đạo, chỉ đạo, đồng thời Đảng phải cụ thể hóa nghị quyết. Để nghị quyết của Đảng được cụ thể hóa, thể chế hóa và được thực hiện đạt kết quả cao thì điều quan trọng là nghị quyết của Đảng phải có chất lượng, việc tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng phải đúng đắn, khoa học. Thế nhưng trên thực tế, việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng đến nay vẫn là khâu yếu, hạn chế không nhỏ thành tựu của công cuộc đổi mới. Bởi vậy, nâng cao chất lượng xây dựng nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết là rất cần thiết và cấp bách. Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) Khoá VIII, về một số vấn đề cơ bản, cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay đã khẳng định điều này và coi đó là một nhiệm vụ trọng yếu của cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Nghị quyết chỉ rõ: “Cải tiến việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết… Đảng chỉ ra nghị quyết, chỉ thị khi cần thiết, nghị quyết phải ngắn gọn, rõ ràng, các cấp uỷ và tổ chức đảng, từng ngành có thể thực hiện được ngay, giảm bớt thời gian chờ đợi, hướng dẫn, cụ thể hoá ở các cấp”5, tr.34. Nghị quyết đúng đắn của Đảng chỉ có thể được thực hiện thắng lợi khi các cấp ủy địa phương, trên cơ sở nghị quyết của Đảng, đề ra nghị quyết đúng đắn, phù hợp với từng địa phương và tổ chức thực hiện đạt kết quả cao. Tức là việc thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng, phụ thuộc và được quyết định bởi chất lượng xây dựng nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của các cấp ủy địa phương. Thực tế cho thấy, chỉ một số ít nghị quyết của cấp ủy địa phương chất lượng thấp, việc tổ chức thực hiện các nghị quyết ấy hạn chế; thậm chí ở nhiều nơi nghị quyết của cấp ủy đạt chất lượng tốt, song việc tổ chức thực hiện còn nhiều yếu kém đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thực hiện nghị quyết đúng đắn của Đảng. Bởi vậy, nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của cấp ủy địa phương thực sự là vấn đề rất cấp thiết trong điều kiện hiện nay. Là một tỉnh miền núi Nam Tây Nguyên có xuất phát điểm kinh tế xã hội thấp, cho đến nay, Lâm Đồng đã trở thành một tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm trên 12%, đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã từng bước được nâng cao, tình hình chính trị, xã hội ổn định. Để có được thành công đó là nhờ công sức của toàn thể nhân dân trong tỉnh, của cả hệ thống chính trị, trong đó sự lãnh đạo của Tỉnh ủy là đặc biệt quan trọng. Trong công tác lãnh đạo của Tỉnh ủy, việc xây dựng nghị quyết và tổ chức thực hiện các nghị quyết về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng Đảng là nhân tố quyết định sự phát triển mọi mặt của tỉnh trong thời gian qua. Tỉnh ủy đã xây dựng các nghị quyết đúng, sát hợp với tình hình, đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội địa phương, lựa chọn các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm trong từng thời kỳ, từng địa phương trong tỉnh, tổ chức và chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy. Nhờ đó, các nghị quyết của Tỉnh ủy đã thành hiện thực, phát huy mạnh mẽ vai trò, tác dụng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và công tác xây dựng Đảng của Tỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nêu trên, chất lượng việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Một số nghị quyết còn có những điểm thể hiện ý chí chủ quan, thiếu thông tin, thiếu luận cứ khoa học, chưa được sự đồng thuận cao trong nhân dân; việc tổ chức thực hiện nghị quyết có lúc còn hình thức, thiếu sáng tạo, dập khuôn máy móc; sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành còn thiếu đồng bộ; việc sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy còn chậm, chất lượng thấp… Những yếu kém trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ phát triển mọi mặt của tỉnh Lâm Đồng và công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh. Việc nghiên cứu, tìm giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy hiện nay là rất cần thiết. Là một cán bộ của Trường Chính trị Tỉnh Lâm Đồng được học tập, nghiên cứu có hệ thống khoa học xây dựng Đảng tại Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, tôi luôn suy nghĩ và mong muốn góp phần vào giải quyết vấn đề cần thiết nêu trên. Do đó, tôi chọn và thực hiện đề tài luận văn thạc sỹ: “Nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy Lâm Đồng trong giai đọan hiện nay”.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng là những nộidung rất quan trọng trong quy trình lãnh đạo của Đảng Quy trình lãnh đạo ấygồm các bước chủ yếu: xây dựng nghị quyết, tổ chức thực hiện nghị quyết vàkiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết Xây dựng nghị quyết đúng và tổchức thực hiện nghị quyết đúng sẽ đem lại thành công to lớn cho sự nghiệp cáchmạng của Đảng, là chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của Đảng Bởi vì, trong quá trìnhlãnh đạo cách mạng, Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội, nhằm quy tụ sứcmạnh của toàn dân tộc để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, tạo ra nhữngđiều kiện vật chất và tinh thần cần thiết để thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng Điều kiện cơ bản để Đảng giữ vững vị thế cầm quyền của mình là Đảng
có đường lối đúng đắn, phát huy được vai trò của Nhà nước và sức mạnh củatoàn dân tộc để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, giữ vững ổn địnhchính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đem lại ấm no,hạnh phúc cho nhân dân Trong điều kiện hiện nay, con đường cơ bản nhất đểnghị quyết của Đảng thành hành động của toàn dân là Đảng lãnh đạo Nhànước thể chế hoá nghị quyết của Đảng để toàn dân thực hiện Đảng xây dựngnghị quyết, đồng thời lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa nghị quyết, song Đảngkhông khoán trắng cho Nhà nước làm việc này Đảng lãnh đạo, chỉ đạo, đồngthời Đảng phải cụ thể hóa nghị quyết Để nghị quyết của Đảng được cụ thểhóa, thể chế hóa và được thực hiện đạt kết quả cao thì điều quan trọng là nghịquyết của Đảng phải có chất lượng, việc tổ chức thực hiện nghị quyết củaĐảng phải đúng đắn, khoa học
Thế nhưng trên thực tế, việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyếtcủa Đảng đến nay vẫn là khâu yếu, hạn chế không nhỏ thành tựu của công
Trang 2cuộc đổi mới Bởi vậy, nâng cao chất lượng xây dựng nghị quyết và tổ chứcthực hiện nghị quyết là rất cần thiết và cấp bách
Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) Khoá VIII, về một số vấn đề cơ bản,cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay đã khẳng định điều này vàcoi đó là một nhiệm vụ trọng yếu của cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốnĐảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Nghị quyết chỉrõ: “Cải tiến việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết… Đảng chỉ ranghị quyết, chỉ thị khi cần thiết, nghị quyết phải ngắn gọn, rõ ràng, các cấp uỷ
và tổ chức đảng, từng ngành có thể thực hiện được ngay, giảm bớt thời gianchờ đợi, hướng dẫn, cụ thể hoá ở các cấp”[5, tr.34]
Nghị quyết đúng đắn của Đảng chỉ có thể được thực hiện thắng lợi khicác cấp ủy địa phương, trên cơ sở nghị quyết của Đảng, đề ra nghị quyết đúngđắn, phù hợp với từng địa phương và tổ chức thực hiện đạt kết quả cao Tức
là việc thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng, phụ thuộc và được quyếtđịnh bởi chất lượng xây dựng nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết củacác cấp ủy địa phương Thực tế cho thấy, chỉ một số ít nghị quyết của cấp ủyđịa phương chất lượng thấp, việc tổ chức thực hiện các nghị quyết ấy hạn chế;thậm chí ở nhiều nơi nghị quyết của cấp ủy đạt chất lượng tốt, song việc tổchức thực hiện còn nhiều yếu kém đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thựchiện nghị quyết đúng đắn của Đảng Bởi vậy, nâng cao chất lượng xây dựng
và tổ chức thực hiện nghị quyết của cấp ủy địa phương thực sự là vấn đề rấtcấp thiết trong điều kiện hiện nay
Là một tỉnh miền núi Nam Tây Nguyên có xuất phát điểm kinh tế - xãhội thấp, cho đến nay, Lâm Đồng đã trở thành một tỉnh có tốc độ tăng trưởngkinh tế hàng năm trên 12%, đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã từngbước được nâng cao, tình hình chính trị, xã hội ổn định Để có được thànhcông đó là nhờ công sức của toàn thể nhân dân trong tỉnh, của cả hệ thốngchính trị, trong đó sự lãnh đạo của Tỉnh ủy là đặc biệt quan trọng
Trang 3Trong công tác lãnh đạo của Tỉnh ủy, việc xây dựng nghị quyết và tổchức thực hiện các nghị quyết về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh,quốc phòng, xây dựng Đảng là nhân tố quyết định sự phát triển mọi mặt củatỉnh trong thời gian qua Tỉnh ủy đã xây dựng các nghị quyết đúng, sát hợpvới tình hình, đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội địa phương, lựa chọn cácnhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm trong từng thời kỳ, từng địa phương trongtỉnh, tổ chức và chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy Nhờ
đó, các nghị quyết của Tỉnh ủy đã thành hiện thực, phát huy mạnh mẽ vai trò,tác dụng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội và công tác xây dựng Đảng của Tỉnh
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nêu trên, chất lượng việc xây dựng
và tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy vẫn còn những hạn chế, yếu kém.Một số nghị quyết còn có những điểm thể hiện ý chí chủ quan, thiếu thông tin,thiếu luận cứ khoa học, chưa được sự đồng thuận cao trong nhân dân; việc tổchức thực hiện nghị quyết có lúc còn hình thức, thiếu sáng tạo, dập khuônmáy móc; sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành còn thiếu đồng bộ; việc
sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy còn chậm, chất lượngthấp… Những yếu kém trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ phát triểnmọi mặt của tỉnh Lâm Đồng và công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh.Việc nghiên cứu, tìm giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thựchiện nghị quyết của Tỉnh ủy hiện nay là rất cần thiết
Là một cán bộ của Trường Chính trị Tỉnh Lâm Đồng được học tập,nghiên cứu có hệ thống khoa học xây dựng Đảng tại Học viện Chính trị -Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, tôi luôn suy nghĩ và mong muốn gópphần vào giải quyết vấn đề cần thiết nêu trên Do đó, tôi chọn và thực hiện đề
tài luận văn thạc sỹ: “Nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện
nghị quyết của Tỉnh ủy Lâm Đồng trong giai đọan hiện nay”.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trang 4Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, cóthể chia ra thành các nhóm nghiên cứu sau:
* Các công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề nâng cao năng lực vàsức chiến đấu của Đảng trong quá trình đổi mới gồm có:
- GS Đặng Xuân Kỳ (2004), “Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự
chỉnh đốn”, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng, số 3.
- Hà Đăng (2010) “Tự chỉnh đốn, tự đổi mới là nhiệm vụ cấp bách của
Đảng”, Báo Lao động, số 27 ngày 02 tháng 2 năm 2010.
- GS TS Nguyễn Trọng Chuẩn, “Tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng để đảm
bảo cho sự thành công của công cuộc phát triển đất nước”, Tạp chí Tiếng Việt của Viện Triết học.
- Bùi Đức Lại ( 2003), “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 12.
- GS Đặng Xuân Kỳ (2004), “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Nhà nước”, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý luận, số 10.
- Nguyễn Phú Trọng (2004), “Xây dựng Đảng cầm quyền: một số kinh
nghiệm từ thực tiễn đổi mới ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 5, tháng 3
-2004
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến vị trí vai trò lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước và khẳng địnhvấn đề thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, đổi mới phương thứclãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội là yêu cầu tất yếu của quátrình lãnh đạo của Đảng Đây chỉ là những bài viết, song nó đã cung cấp một
số vấn đề về mặt lý luận cho việc nghiên của đề tài
* Các công trình khoa học nghiên cứu về đổi mới, nâng cao chất lượngcông tác của văn phòng cấp ủy
- Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, “Về công tác văn phòng cấp ủy Đảng”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội.
Trang 5- Quách Đức Hùng (2003), Tiếp tục đổi mới công tác thông tin tổng hợp của văn phòng Tỉnh ủy Phú Thọ trong thời kỳ mới, Luận văn tốt nghiệp Đại
học Chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
- Bùi Đức Hiếu (2006), Chất lượng Văn phòng cấp ủy quận, huyện ở thành phố Hà nội trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Khoa học
Chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Các công trình nghiên cứu khoa học này đã làm rõ công tác của vănphòng cấp ủy Đảng, trong đó có việc soạn thảo văn bản của Đảng nói chung
và soạn thảo nghị quyết Đảng nói riêng, đề ra những giải pháp nâng cao chấtlượng soạn thảo văn bản của cấp ủy Đảng
* Các công trình khoa học nghiên cứu về việc xây dựng và tổ chức thựchiện nghị quyết của các cấp ủy Đảng
- Phân viện Hà Nội (2002), Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh Bắc Trung bộ, Đề tài
ra nghị quyết của Đảng, cũng như tình hình thực tiễn các địa phương đã tácđộng đến việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của các cấp ủy
mà các tác giả đã nghiên cứu; đồng thời nêu lên những giải pháp nhằm đổi
Trang 6mới việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của các cấp ủy được
đề cập trong các công trình nghiên cứu
Các luận văn thạc sỹ của Nguyễn Đình Hiếu, Ngô Xuân Minh liên quantrực tiếp hơn đến đề tài luận văn, song chủ yếu bàn đổi mới việc ra nghị quyết
và tổ chực thực hiện nghị quyết của các cấp ủy huyện ở một vài tỉnh, chưa cóđiều kiện và cũng không cần thiết (theo yêu cầu của đề tài) phải bàn đến chấtlượng ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy
Ngoài ra còn có các bài viết đăng trên các báo, tạp chí:
- Lê Thế Đạt (20/01/2005), “Triển khai, quán triệt Nghị quyết thế nào
cho có hiệu quả, Báo điện tử ĐCS VN
- Nguyễn Thế Tư (13/09/2009), “Bác Hồ nói về xây dựng nghị quyết và
tổ chức thực hiện nghị quyết”, Báo Quảng trị online.
- Nguyễn Thế Tư (24/01/2008), “Để xây dựng Nghị quyết Đảng đúng
đắn hợp lòng dân”, Báo Cần thơ online.
- Bùi Đức Lại (2009) Khắc phục bệnh thành tích trong dự thảo báo cáo của
ban chấp hành tại đại hội đảng bộ các cấp”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 12.
- Phạm Thị Hạnh (23/01/2009) “ Chất lượng nghị quyết phản ánh hiệu
quả hoạt động của HĐND”, Báo điện tử Người đại biểu nhân dân.
- Luyện Hạnh (09/03/2009), “ Nguyên nhân làm cho chất lượng nghị
quyết của HĐND cấp xã chưa cao”, Báo điện tử Người đại biểu nhân dân
- TS Nguyễn Mậu Dựng (10/07/2006), “ Để sớm đưa Nghị quyết của Đại
hội Đảng vào cuộc sống” Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử.
- ThS Cao Ngọc Hải (20/11/2009), “Để tổ chức thực hiện tốt nghị quyết
của chi bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử.
- TS Nguyễn Minh Tuấn (20/06/2009), “Nâng cao hiệu quả nghiên cứu,
quán triệt, triển khai nghị quyết của Đảng”, Tạp chí Tuyên giáo điện tử;
- Nguyễn Quang Song (19/4/2007), “Ra nghị quyết và thực hiện nghị
quyết chi bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử.
Trang 7- Trần Văn Toán (9/9/2009), “ Đổi mới việc học tập nghị quyết của Đảng
cần có lộ trình và bước đi cụ thể”, Tạp chí Tuyên giáo điện tử.
- TS Phạm Công Khâm (19/9/2009), “Tổ chức thực hiện nghị quyết của
Đảng”, Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử.
- Đỗ Thu Bình (1/11/2009), “Bắc Bình đổi mới, nâng cao chất lượng
công tác triển khai nghị quyết”, Tạp chí Tuyên giáo
Các tác giả các công trình nghiên cứu trên tuy chưa đề cập một cách toàndiện về vấn đề xây dựng nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết củaĐảng, song trong từng bài viết đã chỉ ra những ưu điểm, những hạn chế trongviệc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của cấp ủy Đảng các cấp,đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trên, đề xuấtđược một số giải pháp nhằm khắc phục những yếu kém, nâng cao chất lượngtrong việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng cũng nhưcủa các cấp ủy địa phương, đơn vị mà các tác giả đề cập
Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nàonghiên cứu về việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủyLâm Đồng
Tóm lại, các nhóm nghiên cứu trên đã cung cấp một số chiều cạnh của vấn
đề ra nghị quyết và thực hiện nghị quyết của các cấp ủy Đảng, làm tư liệu tham
khảo cho việc nghiên cứu và thực hiện đề tài “Nâng cao chất lượng xây dựng
và tổ chức hiện nghị quyết của Tỉnh ủy Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay”.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích của luận văn:
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng, nângcao chất lượng việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủyLâm Đồng, luận văn đề xuất những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượngxây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy đến năm 2020
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến đề tài luận văn
Trang 8+ Khảo sát đánh giá thực trạng phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninhcủa tỉnh Lâm Đồng và công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh với tư cách làkết quả, là thể hiện của chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết củaTỉnh ủy; đánh giá thực trạng chất lượng ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghịquyết của Tỉnh ủy, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và những kinh nghiệm.+ Đề xuất phương hướng và các giải pháp có tính khả thi nâng cao chấtlượng xây dựng tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy Lâm Đồng đến năm2020.
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất lượng xây dựng và tổ chứcthực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy Lâm Đồng, gồm các nghị quyết về pháttriển kinh tế - xã hội và về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chínhtrị
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn từ 2001 đến nay
- Phương hướng và các giải pháp đề xuất trong luận văn có giá trị đếnnăm 2020
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở những quan điểm lý luận của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về xâydựng Đảng
- Cơ sở thực tiễn của luận văn là thực tiễn hoạt động xây dựng nghịquyết, tổ chức thực hiện nghị quyết và nâng cao chất lượng xây dựng nghịquyết, tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy Lâm Đồng Các báo cáo tổngkết về vấn đề này của các cấp ủy trong tỉnh và các tỉnh liên quan
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, ngoài
ra còn sử dụng các phương pháp khác như: nghiên cứu tài liệu, khảo sát, tổngkết thực tiễn; phân tích - tổng hợp; phương pháp thống kê, lịch sử - lôgic,phương pháp chuyên gia…
Trang 96 Những đóng góp của luận văn
Góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận về chất lượng xây dựng nghịquyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh Lâm Đồng; các giải phápnâng cao chất lượng việc xây dựng nghị quyết và tổ chức thực hiện nghịquyết của Tỉnh ủy Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho quá trình xây dựng nghịquyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy Lâm Đồng nói riêng và cáccấp ủy Đảng trong tỉnh nói chung
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảophục vụ nghiên cứu, học tập tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng và các trungtâm bồi dưỡng chính trị huyện trong tỉnh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Chương 1
CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỰC THỰC HIỆN
NGHỊ QUYẾT CỦA TỈNH ỦY LÂM ĐỒNG - NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 TỈNH ỦY LÂM ĐỒNG VÀ VIỆC XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT CỦA TỈNH ỦY
1.1.1 Khái quát về tỉnh Lâm Đồng và Tỉnh ủy
1.1.1.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng
Điều kiện tự nhiên:
Lâm Đồng là một tỉnh miền núi Nam Tây Nguyên, nằm ở tọa độ địa lý
11057’ vĩ bắc, 1080 27’ kinh đông, trên các bậc địa hình có độ cao từ 300 m(các huyện phía Tây Nam) đến 1500m (Đà Lạt) so với mặt nước biển, cóđiểm cao nhất là đỉnh Bi - Đúp cao 2.287m Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnhĐắc Lắc, Đắc Nông Phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận Phía Tây giáp tỉnh Bình
Trang 10Phước Phía Đông giáp tỉnh Ninh Thuận Phía Đông Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa
và phía Tây Nam giáp tỉnh Đồng Nai Tỉnh lỵ Lâm Đồng là thành phố Đà Lạt.Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 9.772,19 km2, chiếm 2,97% tổng diện tích
tự nhiên cả nước Lâm Đồng gồm ba cao nguyên hợp thành, phần phía Bắctỉnh là cao nguyên Lâm Viên, giữa tỉnh là cao nguyên Đơn Dương - LiênKhương, phía Nam tỉnh là cao nguyên Di Linh - Bảo Lộc Các cao nguyêncủa Lâm Đồng là đầu nguồn của 7 hệ thống sông lớn trong khu vực như: sông
Đa Nhim, sông Krông Nô, sông Đồng Nai, sông Lũy, sông cái Phan Rang… Lâm Đồng hội đủ các yếu tố tự nhiên như: khí hậu, thảm thực vật, thổnhưỡng với những cảnh quan phong phú và đa dạng, có tiềm năng rất lớn vềthuỷ điện
Việc giao lưu và thông thương giữa Lâm Đồng với các địa phương khácchủ yếu bằng đường bộ Các đường giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnhLâm Đồng gồm: quốc lộ 20 đi Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh; quốc lộ 27
đi Đắc Lắc và các tỉnh Tây Nguyên; quốc lộ 28 đi Ninh Thuận Ngoài ra, LâmĐồng còn có sân bay Liên Khương đi Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, ĐàNẵng và nối liền với mạng lưới sân bay quốc tế
Hiện nay, Lâm Đồng có hai vườn quốc gia là vườn quốc gia Bidoup Núi Bà và vườn quốc gia Cát Tiên - những nơi có tài nguyên động - thực vậtphong phú, có giá trị về mặt nghiên cứu khoa học Thành phố Đà Lạt là một
-đô thị trẻ, thơ mộng có nhiều danh lam, thắng cảnh, ở độ cao 1.500 m so vớimặt biển, ít bị tàn phá và xáo trộn do chiến tranh, ẩn trong rừng thông, nhiềuhoa, cỏ, cây, hồ, suối, thác nước, tạo nên cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, khíhậu mát mẻ Thành phố Đà Lạt nổi tiếng bởi được xây dựng với nhiều kiểukiến trúc độc đáo, có lợi thế về du lịch và nghỉ dưỡng
Thế mạnh của Lâm Đồng là đất đỏ bazan, với diện tích lớn, phân bổ ở cáchuyện Bảo Lộc, Bảo Lâm, Di Linh, Đức Trọng và Lâm Hà, rất thích hợp với câycông nghiệp dài ngày, như: chè, cà phê, ca cao, các loại cây ăn quả Nhóm đất
Trang 11phù sa có diện tích khoảng 55.000 ha phân bố dọc sông suối ở huyện Cát Tiên,
Đạ Tẻh, loại đất này thích hợp với việc trồng lúa và cây công nghiệp ngắn ngày.Đất nông nghiệp ở Lâm Đồng tăng lên rất nhanh trong những năm gần đây, từchỗ có khoảng trên 100.000 ha trong những năm 1990 nay đã có trên 250.000
ha
- Đặc điểm về xã hội:
Dân số 1.191.300 người (thống kê 2009), mật độ dân số 123 người/km2
Lực lượng lao động ở Lâm Đồng có khoảng 723.800 người Dân số trong độtuổi lao động chiếm tỷ lệ cao, đa số là lao động trong khu vực nông nghiệp -nông thôn Số lượng lao động của tỉnh như sau: Công nhân kỹ thuật: 31.400;trung cấp chuyên nghiệp: 6.000; cao đẳng và đại học 35.660; trên đại học 350người Số lao động có trình độ trên đại học chủ yếu làm việc trong khu vựckinh tế quốc doanh và giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng và các việnnghiên cứu của Trung ương đóng trên địa bàn thành phố Đà Lạt, như: TrườngĐại học Đà lạt, Viện Nghiên cứu Hạt nhân, Viện Sinh học Hữu cơ, Học việnLục quân, Trường Đại học Yersin, Trường Chính trị, Trường Cao đẳng Sưphạm Đà Lạt… [xem phụ lục 3]
Lâm Đồng có 12 đơn vị hành chính gồm: thành phố Đà Lạt, thành phốBảo Lộc và 10 huyện (Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà, ĐamRông, Di Linh, Bảo Lâm, Đạ Hoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên)
Lâm Đồng là một trong những tỉnh có số lượng dân tộc thiểu số kháđông, chiếm tỉ lệ 21% dân số cả tỉnh, thuộc nhiều bộ tộc khác nhau: ngườiKơho, người Mạ, Ra Glai trong đó người Cơho có số dân đông nhất Họđịnh cư ở nhiều vùng khác nhau của tỉnh và đông nhất là ở huyện Di Linh
Đặc điểm kinh tế
Về nông nghiệp: Lâm Đồng đã hình thành và phát triển nhiều vùng
chuyên canh cây công nghiệp, là nơi cung cấp nguyên liệu lớn cho côngnghiệp chế biến nông sản, đứng đầu cả nước về diện tích chè, với 26.700 ha,
Trang 12chiếm trên 33% diện tích chè cả nước, khả năng phát triển lên đến 28.000 ha,sản lượng chè búp tươi đạt trên 182.900 tấn, cung cấp cho công nghiệp chếbiến khoảng 25.000 tấn thành phẩm/năm Tỉnh có 128.200 ha cà phê, sảnlượng trên 273.000 tấn, đứng thứ hai cả nước về diện tích Nhiều nhà máy chếbiến cà phê xuất khẩu có chất lượng tốt đã và đang được đầu tư mở rộng vàđầu tư mới Tỉnh có 6.300 ha dâu tằm, cho sản lượng ổn định từ 100 -120ngàn tấn/năm Chế biến sữa cũng là một tiềm năng lớn của Lâm Đồng Đếnnay đàn bò sữa hiện có 3.400 con, sẽ phát triển lên 6.000 con, sản lượng sữatươi đạt khoảng 6.900 - 8.000 tấn.
Về lâm sản: Lâm Đồng hiện có 566.492 ha rừng trong số 601.477 ha đất
lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng trồng trên 49.000 ha Khả năng khai thácnguyên liệu cho phép để cung cấp cho công nghiệp chế biến hàng năm là40.000 - 50.000m3 gỗ Ngoài ra còn có các loại tre, nứa, lồ ô đủ khả năngcung cấp nguyên liệu cho sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ
Về khoáng sản: Lâm Đồng là vùng đất có nhiều loại khoáng sản với trữ
lượng lớn chưa được khai thác Theo thống kê, toàn tỉnh có 25 loại khoángsản, gồm Bauxite, Bentonite, Kaolin, Diatomite, than bùn… có khả năng khaithác ở qui mô công nghiệp Chỉ riêng Bauxite đã có trữ lượng hơn 1,2 tỷ tấnvới chất lượng tốt Ngoài ra còn có 38 điểm quặng vàng, chủ yếu là vàng sakhoáng, 7 điểm quặng saphia, 32 điểm mỏ thiếc sa khoáng có trữ lượng hàngchục ngàn tấn, 19 mỏ đất sét và một số mỏ nước khoáng Đây là nguồn tàinguyên để phát triển và thu hút các dự án đầu tư khai thác chế biến
Về năng lượng: Lâm Đồng có tiềm năng phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ
và phong điện [nguồn www.lamdong.gov.vn ]
1.1.1.2 Khái quát về Tỉnh ủy Lâm Đồng và vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Tỉnh uỷ
* Đảng bộ Tỉnh Lâm Đồng:
Trang 13Đảng bộ Tỉnh Lâm Đồng đến cuối năm 2009 có 20 tổ chức đảng trựcthuộc, trong đó có 10 đảng bộ huyện, 2 Đảng bộ thành phố (thành phố Đà Lạt
và Bảo Lộc), 6 đảng bộ khối, 2 đảng bộ cơ sở (Viện nghiên cứu hạt nhân vàĐại học Đà Lạt) Đảng bộ có 807 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 251 đảng bộ
cơ sở, 556 chi bộ cơ sở, 6 đảng bộ bộ phận, 2.347 chi bộ trực thuộc Trong đó:
- Các tổ chức cơ sở đảng xã , phường, thị trấn là 148: gồm 144 đảng bộ
và 4 chi bộ cơ sở Dưới chi, đảng bộ cơ sở có 1049/1270 chi bộ thôn, khuphố Còn 210/1270 thôn, khu phố có đảng viên, nhưng chưa đủ điều kiện đểthành lập chi bộ; hiện vẫn còn 11/1270 thôn, khu phố chưa có đảng viên
- Có 315 TCCSĐ trong cơ quan hành chính
- Có 162 TCCSĐ trong các đơn vị sự nghiệp
- Có 40 TCCSĐ trong doanh nghiệp cổ phần do Nhà nước chi phối
- Có 32 TCCSĐ trong các công ty cổ phần
- Có 04 TCCSĐ trong công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tưnhân
- Có 12 TCCSĐ trong công ty cổ phần tư nhân
- Có 4 TCCSĐ trong công ty có vốn đầu tư nước ngoài
- Có 20 TCCSĐ trong quân đội và 39 TCCSĐ trong công an…
Tổng số đảng viên hiện có là 28.097 đồng chí, trong đó có 7957 đảngviên là nữ, chiếm 28,32%; 2576 đảng viên là người dân tộc thiểu số, chiếm9,17%; 1882 đảng viên theo các tôn giáo, chiếm 6,7%; 4.776 đảng viên làđoàn viên TNCS HCM; chiếm 17% và 4124 đảng viên là quân nhân xuất ngũ,chiếm 14,68% Riêng ở xã, phường thị trấn có 16697 đảng viên, chiếm59,43% đảng viên của Đảng bộ [85]
* Đặc điểm của Tỉnh ủy Lâm Đồng:
- Tỉnh ủy Lâm Đồng khóa VII (2000 - 2005) có 44 đồng chí, trong đó
dưới 46 tuổi có 1 đồng chí (2,3%), từ 46 đến 55 tuổi có 24 đồng chí (54,54%),
từ 56 tuổi trở lên có 19 đồng chí (43,16%); có 29 đồng chí Tỉnh ủy viên khóa
Trang 14VI tiếp tục tham gia và 15 đồng chí mới tham gia, nữ có 3 đồng chí ( 6,82%),dân tộc thiểu số có 02 đ/c, 55%); số cấp ủy công tác ở khối Đảng cấp tỉnh có
7 đồng chí (15,9%), khối nhà nước cấp tỉnh có 17 đồng chí (38,6%), khốiđoàn thể cấp tỉnh có 3 đồng chí (6,82%), khối huyện, thị, thành phố có 10đồng chí (22,7%) Khối sản xuất kinh doanh có 2 đồng chí (4,6%).[73, tr 1-2]
- Tỉnh ủy Lâm Đồng khóa VIII (2005 - 2010) có 49 đồng chí, trong đó,dưới 46 tuổi có 05 đồng chí (10,02 %), từ 46 đến 55 tuổi có 37 đồng chí(75,51%), từ 56 tuổi trở lên có 7 đồng chí (14,47%); về cơ cấu Ban Chấphành: có 30 đồng chí Tỉnh ủy viên khóa VII tiếp tục tham, gia chiếm(61,22%) và 19 đồng chí mới tham gia, chiếm 38,88%; nữ có 4 đồng chí(8,16%), dân tộc thiểu số có 02 đ/c ( 4,08%); số cấp ủy công tác ở khối Đảngcấp tỉnh có 13 đồng chí (26,53%), khối các cơ quan nhà nước cấp tỉnh có 19đồng chí (38,76%), khối đoàn thể cấp tỉnh có 05 đồng chí (10,20%), khối các
cơ quan nội chính 04 đồng chí, chiếm (8,16%) khối huyện, thị, thành phố có 8đồng chí (16,33%).[xem phụ lục 6]
- Tỉnh ủy Lâm Đồng có truyền thống đoàn kết đấu tranh cách mạng trong
hai cuộc chống Pháp và chống mỹ, ngày nay tiếp tục phát huy truyền thống cáchmạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu đưa Lâm Đồng trở thành mộttỉnh có đời sống kinh tế xã hội phát triển ở mức trung bình của cả nước
* Vị trí, vai trò Tỉnh ủy Lâm Đồng:
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng gọi tắt là Tỉnh ủy Lâm Đồng là
cơ quan chấp hành của Đảng bộ tỉnh do Đại hội Tỉnh Đảng bộ tỉnh Lâm Đồngbầu ra Tỉnh ủy có nhiệm vụ lãnh đạo toàn diện các lĩnh vực của đời sống xãhội: kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng; xây dựng hệ thống chínhtrị của tỉnh và xây dựng Đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh Trong giai đoạnhiện nay, được thể hiện ở những mặt sau:
Một là, Trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng
và Nhà nước, Tỉnh ủy lãnh đạo việc quán triệt và tổ chức thực hiện cương lĩnh
Trang 15chính trị, nghị quyết, Điều lệ Đảng, Hiến pháp, pháp luật trên địa bàn tỉnh,đưa đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật đó thành hiện thực Tỉnh ủythông qua chính quyền và các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhằm độngviên sức người, sức của vào việc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh -quốc phòng, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, thu hút vốn đầu tư trong và ngoàinước theo đường lối chung của Đảng.
Hai là, Tỉnh ủy là người lãnh đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi toàn bộ
hoạt động của Đảng bộ tỉnh, từ xây dựng nội bộ Đảng đến lãnh đạo các tổchức trong hệ thống chính trị của tỉnh và lãnh đạo các lĩnh vực của đời sống
xã hội, trong đó xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, lãnh đạo kinh tế lànhiệm vụ trọng tâm
Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy là lãnh đạo chính trị, tức là đề ra chủ trương,quyết định; cụ thể hóa và lãnh đạo tổ chức thực hiện mọi chủ trương, quyếtđịnh đó Tỉnh ủy không quyết định quá sâu vào các hoạt động của chínhquyền, các đoàn thể chính trị - xã hội, mà định hướng chính trị cho hoạt độngcủa các tổ chức đó, tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các tổ chứcđảng và đảng viên
Ba là, Tỉnh ủy là cơ quan lãnh đạo cấp trên trực tiếp của các đảng bộ,
đảng ủy trực thuộc, trực tiếp lãnh đạo công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo cáchoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, các lĩnh vực của đời sống
xã hội trên địa bàn toàn tỉnh; kiểm tra, giám sát các hoạt động của tổ chứcđảng, đảng viên thuộc Đảng bộ tỉnh trong việc thực hiện nghị quyết, Điều lệĐảng, thực hiện nhiệm vụ được giao; kịp thời biểu dương, khen thưởngnhững tổ chức, cá nhân tích cực, những điển hình tiên tiến trong phong trào
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đồng thời uốn nắnnhững biểu hiện lệch lạc trong hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viêncấp dưới
* Chức năng, nhiệm vụ của Tỉnh ủy Lâm Đồng
Trang 16Chức năng:
Điều 19, Điều lệ Đảng quy định cấp ủy tỉnh lãnh đạo thực hiện nghị quyếtđại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên Như vậy, Tỉnh ủy Lâm Đồng cóchức năng lãnh đạo các tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên trong tỉnh, lãnh đạochính quyền, Mặt trận các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, xã hội nghề nghiệp; lãnh đạo các lĩnh vực của đời sống xã hội
Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với các hoạt động trên là lãnh đạo toàn diện:
từ việc đề ra chủ trương, quyết định, cụ thể hóa các chủ trương, quyết địnhđó; lãnh đạo công tác tư tưởng, tổ chức thực hiện, tổ chức kiểm tra, giám sát,
sơ kết tổng kết, rút kinh nghiệm Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đảm bảo cho chínhquyền, các đoàn thể theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng, đúng địnhhướng XHCN Tỉnh ủy không can thiệp quá sâu vào công việc thuộc chứcnăng, nhiệm vụ của các tổ chức đó, mà phát huy vai trò chủ động, sáng tạocủa họ để hoạt động đạt hiệu quả cao
-Ban hành nghị quyết về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháplớn về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch thu chi ngânsách dài hạn và hàng năm của tỉnh; thảo luận và ban hành nghị quyết chuyên
đề về một số lĩnh vực quan trọng; cho chủ trương dự án đầu tư quan trọng củaquốc gia trên địa bàn; những chủ trương lớn, quan trọng, những phươnghướng, nhiệm vụ dài hạn và hàng năm về quốc phòng, an ninh, về xây dựngĐảng, chính quyền và công tác quần chúng
Trang 17- Quyết định về chủ trương xây dựng ngân sách Đảng; quyết định dựtoán và quyết toán ngân sách Đảng hàng năm.
- Bàn và quyết định những vấn đề mà Điều lệ Đảng quy định như chuẩn
bị và triệu tập Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh ; đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bíthư cho phép và tiến hành bầu cử bổ sung Tỉnh ủy viên, ủy viên Ban Thường
vụ Tỉnh ủy, bí thư, các phó bí thư, ủy viên Uỷ ban Kiểm tra và chủ nhiệm Uỷban Kiểm tra Tỉnh ủy, xét thi hành kỷ luật tỉnh ủy viên
- Giới thiệu nhân sự ứng cử các chức danh chủ chốt trong Hội đồng nhândân, Uỷ ban nhân dân tỉnh và nhân sự Đoàn Đại biểu Quốc hội của tỉnh
- Thảo luận về việc chia tách hoặc thành lập mới các đơn vị hành chínhcấp huyện, những vấn đề liên quan đến thay đổi địa giới hành chính của tỉnh
- Định kỳ nghe báo cáo về tình hình hoạt động của Ban Thường vụ Tỉnh
ủy và các ban của Tỉnh ủy
- Quyết định về chủ trương xây dựng ngân sách Đảng; dự toán và quyếttoán ngân sách Đảng hàng năm
1.1.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy
1.1.2.1.Quan niệm về nghị quyết của Tỉnh ủy và phân loại
Quan niệm về nghị quyết của Đảng.
Khái niệm nghị quyết: Theo Từ điển Tiếng Việt trực tuyến, “Nghị quyết
là quyết định làm một việc gì đó của một hội nghị” [100]
Như vậy nghị quyết là một loại văn bản ghi lại quyết định của một hộinghị về một công việc nào đó nhằm định ra một tổ chức, quyết định một côngviệc nào đấy, định ra một đường lối, chiến lược phát triển đất nước hay mộtngành, một lĩnh vực nhất định, hoặc quyết định những giải pháp nhằm tạo đàphát triển cho một chương trình, kế hoạch cụ thể… Hình thức thông qua nghịquyết là được số đại biểu tham dự thông qua theo quy định đa số Nghị quyếtđược thông qua có giá trị pháp lý đối với mọi tổ chức và cá nhân trực thuộc
cơ quan, tổ chức ban hành nghị quyết
Theo Lênin:
Trang 18Tất cả các quyết định của đại hội và tất cả các cuộc bầu cử màđại hội đã tiến hành đều trở thành quyết nghị của đảng mà tất cả các
tổ chức của đảng nhất thiết phải tuân theo Không ai được viện lý donào để kháng nghị những điều quyết nghị đó, và chỉ có đại hội lầnsau của đảng mới có thể bãi bỏ hoặc sửa đổi mà thôi [29, tr.224].Nghị quyết thể hiện ý chí, tình cảm, trách nhiệm, trình độ, lương tâm,danh dự của các đại biểu tham dự, nhằm bàn bạc, quyết định một nhiệm vụnào đó Vì thế Lê nin cho rằng:
Nghị quyết ấy biểu hiện chính cái thiện chí của tất cả nhữngngười cách mạng… Nghị quyết ấy có giá trị ngang như một lờidanh dự mà nghị quyết đó phải bảo đảm làm sao cho những cônglao lớn lao, những nỗi nguy hiểm và những món chi phí về đại hộiđều không hóa ra vô ích… Nghị quyết đó nói trước rằng mọi thái độkhông thừa nhận những nghị quyết và những cuộc bầu cử của đạihội đều coi như làm tổn hại đến sự tín nhiệm [29, tr.224]
Theo quyết định số 31- QĐ/TW, ngày 01/10/1997, của Bộ chính trị, KhóaVIII, ban hành quy định về thể loại, thẩm quyền ban hành văn bản và thể thứcban hành văn bản của Đảng thì: “Nghị quyết là văn bản ghi lại các quyết địnhđược thông qua ở đại hội, hội nghị cơ quan lãnh đạo đảng các cấp, hội nghịđảng viên về đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch hoặc các vấn đề cụthể” [2, tr.2]
Vai trò của nghị quyết:
Nghị quyết của Đảng là một văn bản lãnh đạo của tổ chức đảng cấp trênđối với các cơ quan, tổ chức đảng và đảng viên thuộc quyền lãnh đạo của tổchức mình Do đó: “Việc thảo ra những nghị quyết sách lược đúng lại có một
ý nghĩa trọng đại đối với một chính đảng muốn lãnh đạo giai cấp vô sản theotinh thần những nguyên tắc Macxit kiên định, chứ không phải chỉ có chạy lẽođẽo theo đuôi các sự biến” [30, tr.6]
Trang 19Nghị quyết ở cấp Trung ương là văn kiện cô đúc về nhận định tình hìnhquyết định chủ trương, quan điểm, chính sách và giải pháp lớn về một hoặcnhiều lĩnh vực công tác của Đảng Nghị quyết ở cấp đảng bộ ngành, địaphương là sự cụ thể hoá Nghị quyết của Trung ương hay của đảng uỷ cấp trênthành những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho một lĩnh vực của đời sống xã hội,cho một địa bàn khu vực, cũng như từng địa phương, đơn vị.
Các nghị quyết là sự cụ thể hoá của đường lối Do vậy, để có quan niệmđúng đắn về “nghị quyết” chúng ta không thể không lưu ý đến làm rõ bảnthân quan niệm về đường lối
Đường lối chiến lược cách mạng vô sản theo Lênin, đó là khoa học, nghệthuật lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh nhằm cảibiến bằng cách mạng đối với xã hội cũ, từng bước hình thành xã hội mới - xãhội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Nó xác định những mục tiêu chủyếu, những phương hướng chủ yếu trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấpcông nhân, của chính đảng thuộc giai cấp đó và của các lực lượng cách mạngnói chung ở một giai đoạn tương đối dài Đường lối cũng chỉ ra những kẻ thùchủ yếu, những người bạn đồng minh của giai cấp vô sản trong cuộc đấutranh để đạt được mục tiêu Đồng thời đường lối cũng chỉ ra những động lực,những hình thức, những phương tiện cơ bản để đạt được những mục tiêuchiến lược trong từng giai đoạn chiến lược cách mạng
Giữa đường lối và Nghị quyết có sự đồng nhất và khác nhau: với ý nghĩa
là sự cụ thể hoá của đường lối vào một ngành, một địa phương, một cơ sở …thì giữa nghị quyết Trung ương cũng như của các đảng bộ các cấp, các ngành
và đường lối có sự đồng nhất về nội dung cơ bản xét về mức độ của tính toàndiện, về sức bao quát và phạm vi tác động Về mức độ của tính phổ biến, thì
so với đường lối, mọi nghị quyết đều mang tính giới hạn, các nghị quyết chỉ
đề cập đến những mục tiêu, nhiệm vụ, những động lực, những giải pháp cơbản … ứng với từng ngành, từng địa phương, từng cơ sở Phạm vi bao quát
Trang 20của Nghị quyết này hẹp bao nhiêu, thì những nội dung trên càng mang tính cụthể bấy nhiêu.
Như vậy, nghị quyết của Tỉnh ủy là văn bản của Tỉnh ủy thể hiện các quyết định được thông qua tại hội nghị Tỉnh ủy nhằm cụ thể hóa đường lối chủ trương chính sách, kế hoạch của Đảng cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của địa phương trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị trong toàn tỉnh
* Phân loại nghị quyết của Tỉnh ủy Lâm Đồng
- Xét theo mục đích của việc ban hành nghị quyết, thì nghị quyết củaTỉnh ủy chia làm hai loại:
Thứ nhất, loại nghị quyết về chương trình hành động triển khai thực hiện
các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương trên địa bàn tỉnh (ví dụ: Nghịquyết Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 6 (khóa VIII), ngày 20 tháng 10 năm 2006, vềtiếp tục thực hiện Nghị quyết số 17- NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương(khóa IX) về “ Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã,phường, thị trấn”
Thứ hai, loại nghị quyết lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh
tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng tổ chức, cán bộ… theo yêu cầu lãnhđạo thực tế của Tỉnh ủy nhằm thực hiện nhiệm vụ do Nghị quyết Đại hộiĐảng bộ tỉnh đề ra trong nhiệm kỳ Ví dụ: Nghị quyết Hội nghị Tỉnh ủy lầnthứ 5 (Khóa VIII), ngày 21 tháng 5 năm 2006, về phương hướng, mục tiêu,nhiệm vụ và giải pháp đột phá, tăng tốc phát triển kinh tế du lịch - dịch vụ dulịch giai đoạn 2006 - 2010
- Xét theo chủ thể ban hành nghị quyết của Đảng trên địa bàn tỉnh, có thểphân thành ba loại:
Thứ nhất, nghị quyết do Đảng bộ tỉnh ban hành Loại nghị quyết này có
ý nghĩa chiến lược đề ra đường lối lãnh đạo toàn diện đời sống xã hội của tỉnh(kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng hệ thống chính trị và
Trang 21xây dựng Đảng) Loại nghị quyết này có: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộTỉnh Lâm Đồng lần thứ VII, VIII Nghị quyết Hội nghị Đảng bộ tỉnh LâmĐồng giữa nhiệm kỳ VII, VIII…
Thứ hai, Nghị quyết do Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành, loại nghị
quyết này nhằm cụ thể hóa các nghị quyết của Trung ương trên địa bàn tỉnh
và thực hiện nhiệm vụ của nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra
Thứ ba, Nghị quyết do Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Loại nghị
quyết này nhằm tổ chức thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Nhànước và nghị quyết của Tỉnh ủy Căn cứ vào các chỉ thị, nghị quyết của Trungương và của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy thảo luận và quyết định nhữngnhiệm vụ chủ trương, biện pháp, chính sách chủ yếu trên các lĩnh vực theoquy chế làm việc của Tỉnh uỷ
1.1.2.2 Quan niệm về xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy
* Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và quy trình lãnh đạo:
Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Lâm Đồng trong việc xây dựng và thực hiện
nghị quyết là quá trình Tỉnh ủy, Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy xácđịnh nội dung lãnh đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ của các văn kiện Đại hộiĐại biểu Toàn quốc, các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương,các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; phát triển kinh tế - xãhội, an ninh - quốc phòng của tỉnh; quyết định giao cho cơ quan, đơn vị nàochịu trách nhiệm soạn thảo nghị quyết của Tỉnh ủy, đơn vị nào tham gia ýkiến, thẩm định, thẩm tra nội dung nghị quyết; bảo đảm thời gian và tínhchính xác về nội dung và thể thức văn bản; triển khai học tập và quán triệtnghị quyết của Tỉnh ủy đến cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân; tổchức huy động mọi nguồn lực để đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống;kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết
Trang 22Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy nói chung và đối với việc xây dựng và tổ chứcthực hiện nghị quyết nói riêng có vai trò quan trọng hàng đầu trong công táclãnh đạo của Tỉnh ủy Trên cơ sở chương trình hoạt động toàn khóa của BanChấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và nhằm thực hiện thắng lợinhiệm vụ chính trị được xác định trong nghị quyết của Đại hội đại biểu tỉnhĐảng bộ, Tỉnh ủy lãnh đạo xây dựng chương trình công tác của Tỉnh ủy, gồm:chương trình công tác toàn khóa, chương trình công tác năm, chương trìnhcông tác quý và chương trình công tác tháng.
Trong chương trình công tác toàn khóa của Tỉnh ủy, Ban Thường vụTỉnh ủy xác định rõ các nội dung công việc nhằm lãnh đạo toàn diện trên cáclĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng hệthống chính trị, xây dựng Đảng… Chương trình công tác toàn khóa được xácđịnh cho các năm (5 năm), trong đó xác định số nghị quyết sẽ được ban hànhtrong toàn nhiệm kỳ và dự định thực hiện trong từng năm; xác định rõ số hộinghị Tỉnh ủy sẽ được tiến hành nhằm thảo luận và quyết định các chủ trương,chính sách quan trọng; sơ kết, tổng kết thực hiện các nghị quyết của Trung ương,các nghị quyết lãnh đạo của Tỉnh ủy; xác định chương trình công tác kiểm tracủa Tỉnh ủy về việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết Tỉnh ủy…Chương trình công tác năm là việc cụ thể hóa chương trình công tác toànkhóa của Tỉnh ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Trên cơ sở quy chế làm việc vàchương trình công tác toàn khóa, Tỉnh ủy đề ra chương trình công tác năm,tập trung chỉ đạo các nhiệm vụ cụ thể trong từng quý của năm, trong đó cóviệc xây dựng và tổ chức thực hiện các nghị quyết lãnh đạo của Tỉnh ủy.Chương trình công tác quý của Tỉnh ủy là sự cụ thể hóa Chương trìnhcông tác năm của Tỉnh ủy Trong chương trình công tác quý, Tỉnh ủy xác địnhnhiệm vụ chủ yếu trong các tháng của năm Trong đó, việc xây dựng và tổchức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy cũng được xác định rõ trong tháng nào
Trang 23thì ban hành nghị quyết lãnh đạo trên lĩnh vực gì? Việc học tập, quán triệtnghị quyết được tổ chức vào tháng nào?
Chương trình làm việc tháng là việc xác định nội dung công việc củaTỉnh ủy, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy phải thực hiện trong tháng Trên cơ sởnội dung chương trình làm việc của quý trong năm, Tỉnh ủy xác định nộidung công việc phải thực hiện trong tháng Việc tổ chức hội nghị Tỉnh ủynhằm thảo luận và thông qua các nghị quyết của Tỉnh ủy (nếu có) được dựđịnh trong chương trình làm việc tháng
Quy trình lãnh đạo của Tỉnh ủy là tổng thể công việc đã được xác định
trước bao gồm các bước, các khâu trong quá trình lãnh đạo của Tỉnh ủy Cácbước đó bao gồm từ việc xác định nội dung lãnh đạo; cụ thể hóa nội dung lãnhđạo bằng nghị quyết lãnh đạo (xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp lãnh đạo);
tổ chức lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính… nhằm tổchức thực hiện nhiệm vụ chính trị đã đề ra; kiểm tra, giám sát việc tổ chức thựchiện nghị quyết; sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm quá trình lãnh đạo của Tỉnhủy
Nội dung lãnh đạo của Tỉnh ủy là những công việc phải làm của Tỉnh ủy
đã được xác định Từ đó, xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp sẽ được thểhiện trong nghị quyết của Tỉnh ủy Nghị quyết đó nhằm triển khai thực hiệnchương trình hành động thực hiện nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hànhTrung ương hay nghị quyết lãnh đạo xây dựng phát triển kinh tế - xã hội,củng cố quốc phòng - an ninh… của tỉnh Việc xác định đúng nội dung lãnhđạo có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thể thức văn bản của Tỉnh ủy sẽban hành Tùy từng nội dung lãnh đạo, tầm quan trọng của nó mà lựa chọnhình thức văn bản thể hiện
Nghị quyết của Tỉnh ủy là văn bản có giá trị pháp lý cao sau nghị quyếtcủa Đại hội Đảng bộ tỉnh, thường được sử dụng nhằm quán triết và cụ thể hóacác nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương; nghị quyết, chỉ thị của BộChính trị, Ban Bí thư trên địa bàn tỉnh; lãnh đạo thực hiện phương hướng,
Trang 24mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp lớn về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội, kế hoạch thu, chi ngân sách dài hạn, hàng năm của tỉnh và để quyếtđịnh một số lĩnh vực quan trọng trên địa bàn tỉnh, trong Đảng bộ tỉnh
* Quan niệm và quy trình xây dựng nghị quyết của Tỉnh ủy
Quan niệm về xây dựng nghị quyết của Tỉnh ủy
Theo từ điển Tiếng Việt trực tuyến, xây dựng có các nghĩa sau:
1 Làm nên, gây dựng nên: xây dựng nhà máy, công trường, xây dựngchính quyền, xây dựng hợp tác xã, xây dựng gia đình
2 Tạo ra cái có giá trị tinh thần, có nội dung nào đó: xây dựng cốt truyệnxây dựng đề cương
3 (Thái độ, ý kiến) có tinh thần đóng góp, làm tốt hơn: ý kiến xây dựngthái độ xây dựng.[100]
Xây dựng nghị quyết là hoạt động nhằm tạo ra một quyết định lãnh đạo
của Đảng Sứ mệnh của Đảng Cộng sản Việt Nam là lãnh đạo giai cấp côngnhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc tiến hành cuộc cách mạng lật đổchính quyền của thực dân phong kiến, giành độc lập dân tộc, tự do cho nhândân, giành chính quyền về tay giai cấp công nhân, nhân dân lao động Giànhđược chính quyền, Đảng mới hoàn thành nhiệm vụ đầu tiên, nhiệm vụ tiếptheo của Đảng là lãnh đạo nhân dân cải tạo xã hội cũ xây dựng thành côngchế độ xã hội mới, đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Đây làcông việc đầy khó khăn, gian nan, thử thách, có khi phải chịu tổn thất nặng nềtạm thời Để hạn chế những tổn thất trong quá trình lãnh đạo, đòi hỏi Đảngphải nhận thức được quy luật vận động khách quan của đời sống kinh tế,chính trị, xã hội để từ đó đề ra đường lối lãnh đạo phù hợp với thực tiễn đangdiễn ra Do đó, việc xây dựng nghị quyết đúng đắn, khoa học sẽ là điều kiệnquan trọng để tổ chức thực hiện nghị quyết thành công Như vậy, xây dựngnghị quyết của Đảng là quá trình Đảng nhận thức mọi điều kiện khách quantác động đến đối tượng lãnh đạo xác định mục tiêu, nhiệm vụ và đề ra giải
Trang 25pháp để tác động vào đối tượng lãnh đạo, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu,nhiệm vụ đã được xác định.
Xây dựng nghị quyết của Tỉnh ủy Lâm Đồng là quá trình thu thập và xử
lý thông tin, lựa chọn nội dung lãnh đạo của Tỉnh ủy trong từng giai đoạnnhất định, nhằm cụ thể hóa sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương, BộChính trị, Ban Bí thư trên địa bàn tỉnh; thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của nghịquyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng các khóa đề ra về phát triển kinh tế -
xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của tỉnh, xây dựng hệ thốngchính trị, xây dựng Đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh toàn diện; lựa chọn
và giao cho các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền soạn thảo và lấy ý kiếnđóng góp xây dựng nghị quyết lãnh đạo của Tỉnh ủy; là quá trình thảo luậndân chủ của các Tỉnh ủy viên trong Hội nghị Tỉnh ủy nhằm xác định mục tiêu,nhiệm vụ và giải pháp lãnh đạo và thông qua nghị quyết theo quy định củaĐảng
Như vậy, xây dựng nghị quyết của Tỉnh ủy là toàn bộ hoạt động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, của các cơ quan tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy theo một quy trình đã được xác định tạo nên một quyết định cuả Tỉnh uỷ, nhằm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng Đảng, hệ thống chính trị… của tỉnh.
Quy trình xây dựng nghị quyết Tỉnh ủy là các hoạt động của Tỉnh uỷ, các
cơ quan tham mưu và các tổ chức có liên quan theo một quy định thống nhất
về các bước, trình tự thủ tục, các chủ thể tham gia, thời gian tiến hành để tạonên quyết định lãnh đạo của Tỉnh uỷ Quy trình đó bao gồm: xác định chủtrương ban hành nghị quyết của Tỉnh ủy; giao cho cơ quan, đơn vị có nănglực, thẩm quyền chủ trì soạn thảo, các cơ quan, đơn vị tham gia phối hợp soạnthảo, cơ quan, đơn vị thẩm định văn bản; lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức
cá nhân cho bản dự thảo; mở hội nghị Tỉnh ủy dân chủ thảo luận góp ý cho
Trang 26bản dự thảo; hoàn chỉnh văn bản sau khi góp ý trình hội nghị Tỉnh ủy lần sau,hoặc Thường trực xem xét; trình tự thủ tục biểu quyết thông qua văn bản nghịquyết; trình ký, đóng dấu nghị quyết đã được hội nghị thông qua và ban hànhnghị quyết.
* Quan niệm và quy trình tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy.
Tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy là quá trình đưa nghị quyết của
Đảng vào thực hiện trong thực tiễn nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,giữ vững an ninh chính trị, trất tự an toàn xã hội, xây dựng Đảng, chínhquyền, đoàn thể trên địa bàn tỉnh theo mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đãđược đề ra
Xây dựng nghị quyết đúng đắn, khoa học mới chỉ là bước đầu của quá
trình lãnh đạo của Đảng Để đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trởthành hiện thực phải tổ chức quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách đócho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nâng cao nhận thức, sự nhấttrí với đường lối, chủ trương, chính sách, thúc đẩy họ thực hiện
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, cách mạng là sự nghiệp củaquần chúng Đảng không có lợi ích riêng cho bản thân, mục đích của Đảng là
vì hạnh phúc của nhân dân, vì lợi ích của nhân dân và dân tộc Đảng hànhđộng theo ý chí và nguyện vọng của nhân dân Đảng chỉ là người lãnh đạo,người tổ chức, còn lực lượng tham gia to lớn làm nên mọi thắng lợi là ở nơinhân dân Sự nghiệp cách mạng do Đảng khởi xướng và lãnh đạo chỉ đi đếnthành công khi được đông đảo nhân dân nhiệt tình tham gia thực hiện Tức lànhân dân tham gia thực hiện các nghị quyết của Đảng Sự tham gia ấy doĐảng tổ chức, lãnh đạo Chỉ như thế, nghị quyết của Đảng mới được tổ chứcthực hiện
Quy trình tổ chức thực hiện nghị quyết là tổng thể các hoạt động đưa
nghị quyết vào cuộc sống của các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chứcchính trị - xã hội để nghị quyết thành hiện thực Mỗi hoạt động của quy trình
Trang 27này có những nội dung cụ thể Có thể khái quát quy trình tổ chức thực hiệnnghị quyết gồm: tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết; cụ thể hóa nghị quyếtcủa Tỉnh ủy về mặt Nhà nước để tổ chức thực hiện; xây dựng và thực hiệnchương trình hành động thực hiện nghị quyết; kiểm tra, giám sát việc thựchiện nghị quyết; sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết.
Tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết của Tỉnh ủy là hoạt động tổ chứccho cán bộ, đảng viên và nhân dân nghiên cứu, tìm hiểu, nắm vững những nộidung lãnh đạo của Tỉnh ủy được thể hiện trong nghị quyết Đó là những vấn
đề về: quan điểm chỉ đạo, nguyên tắc hoạt động, mục tiêu dự kiến đạt được,đối tượng lãnh đạo, phương hướng thực hiện, nhiệm vụ, giải pháp tiến hành
Tổ chức học tập quán triệt nghị quyết là một hoạt động phối hợp đồng bộ,gồm hoạt động lãnh đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, việc tổ chức học tập,quán triệt nghị quyết của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ và sự phối hợp của các cấp
ủy, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể các cấp, các phương tiện thông tin đạichúng trong tỉnh theo chức trách, nhiệm vụ của từng tổ chức nhằm làm chonghị quyết của Tỉnh uỷ được quán triệt trong toàn Đảng và nhân dân
Hình thức tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết rất đa dạng, phong phúphù hợp với từng đối tượng Trước hết, đối với cán bộ, đảng viên việc học tậpquán triệt nghị quyết được chia ra thành nhiều lớp đối tượng khác nhau:
- Lớp cho cán bộ chủ chốt của tỉnh, bao gồm: trưởng, phó ban, ngành,đoàn thể trực thuộc tỉnh; uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Ban Thường vụcác huyện, thị, thành phố thuốc tỉnh và các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy; cácphó chủ tịch Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trưởng, phó các ban xâydựng Đảng, giám đốc, phó giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện,thị, thành phố của tỉnh; trưởng, phó các khoa, phòng của Trường Chính trịtỉnh; các cán bộ nguyên là uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy các khóa và cácphó chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã nghỉ hưu
Trang 28- Lớp cán bộ chủ chốt cấp huyện và tương đương bao gồm các đối tượng
là cán bộ chủ chốt cấp huyện và tương đương: các đồng chí huyện ủy viên;báo cáo viên của cấp huyện; trưởng, phó các cơ quan, ban, ngành, đoàn thểhuyện; các giám đốc, phó giám đốc các công ty, lâm trường, xí nghiệp đóngchân trên địa bàn; các bí thư, phó bí thư các TCCS đảng trực thuộc huyện ủy;các chủ tịch, phó chủ tịch HĐND - UBND các xã
- Các lớp mở cho đảng viên cơ sở bao gồm bộ đảng viên trong đảng bộ,
có thể mở rộng đến các đối tượng là cán bộ chủ chốt các đoàn thể cấp xã,phường, thị trấn chưa phải là đảng viên
- Các lớp học cho phóng viên, văn nghệ sỹ và giáo viên được mở nhờ sựphối hợp của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy với Hội Nhà báo, Hội Văn học - Nghệthuật, Sở Giáo dục - Đào tạo
- Đối với quần chúng nhân dân, việc quán triệt nghị quyết của Tỉnh ủyđược thực hiện thông qua hoạt động tuyên truyền của Mặt trận Tổ quốc và cácđoàn thể từ tỉnh xuống đến xã, phường, thị trấn, thông qua báo chí, đài phátthanh, truyền hình, panô, khẩu hiệu, áp phích…
Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh lãnh đạo UBND tỉnh cụ thể hóa nghị quyếtcủa Tỉnh ủy thành kế hoạch, chương trình, mục tiêu của chính quyền, trìnhThường trực HĐND xem xét, cho ý kiến và đưa ra HĐND thảo luận, ra nghịquyết Các cấp, ngành, đơn vị trong tỉnh căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giaoxây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, thiết thực trình cấp có thẩm quyền phê,duyệt để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp mà nghị quyết Tỉnh ủy đã đềra
Các cấp ủy Đảng, các ban của Tỉnh ủy, các đồng chí tỉnh ủy viên có tráchnhiệm lãnh đạo tổ chức học tập quán triệt nghị quyết và xây dựng chươngtrình, kế hoạch thực hiện nghị quyết phù hợp chức năng, nhiệm vụ và tìnhhình cụ thể trong phạm vi, lĩnh vực mình phụ trách; định kỳ báo cáo Thường
vụ Tỉnh ủy kết quả thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy
Trang 29Kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện nghị quyết Tỉnh ủy Nghị quyếtcủa Tỉnh ủy thường được thực hiện trong thời gian nhất định, có những nghịquyết được thực hiện trong thời gian dài và chia làm nhiều giai đoạn Trong quátrình thực hiện không tránh khỏi những thay đổi, bất cập so với mục tiêu, giảipháp đề ra ban đầu, kể cả những vướng mắc, sai lầm có thể mắc phải Vì vậy,cần kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện những thay đổi, bất cập, những sailầm để kịp thời chấn chỉnh, sửa chữa, thay đổi phương án, giải pháp cho phùhợp.
Sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện nghị quyết củaTỉnh ủy là hoạt động theo định kỳ được dự kiến trước Kết thúc mỗi giai đoạnthực hiện nghị quyết, cần sơ kết rút kinh nghiệm: đánh giá những kết quả tổchức thực hiện nghị quyết, xác định đúng những ưu điểm, những hạn chế,nguyên nhân từ đó đề ra những giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợimục tiêu do nghị quyết đã đề ra Kết thúc chương trình kế hoạch thực hiệnmỗi nghị quyết Tỉnh ủy, cần được tổng kết đánh giá toàn bộ hoạt động, rútkinh nghiệm cho công tác lãnh đạo của Tỉnh ủy
1.2 CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT CỦA TỈNH ỦY LÂM ĐỒNG
1.2.1 Quan niệm về chất lượng nghị quyết và chất lượng xây dựng nghị quyết, những nhân tố đảm bảo
1.2.1.1 Quan niệm về chất lượng nghị quyết
Chất lượng theo Từ điển Triết học trực tuyến:
Phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sựvật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phânbiệt nó với các sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của
sự vật Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó làcái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vậtnhư một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật
Trang 30Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chấtlượng của nó Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sựvật về căn bản Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tínhquy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quyđịnh ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của chất lượng và
số lượng.[14]
Xem xét chất lượng nghị quyết theo khái niệm trên, ta thấy chất lượngcủa một văn bản nghị quyết có thể được xem xét trên hai khía cạnh: nội dungbên trong và hình thức bên ngoài Nội dung bên trong của nghị quyết gồm:nội dung của nghị quyết; về thẩm quyền và thể thức văn bản; về thời gian; vềngôn ngữ văn phong Hình thức của nghị quyết gồm hình thức và kỹ thuậttrình bày nghị quyết
Về nội dung nghị quyết: Nội dung là thành phần quan trọng nhất của
nghị quyết Yêu cầu về nội dung của nghị quyết bao gồm hai mặt:
+ Những thông tin đưa vào nghị quyết phải được xử lý và bảo đảm chínhxác Thông tin phản ánh trong nghị quyết của Tỉnh ủy là thông tin phục vụcho công tác lãnh đạo của Tỉnh ủy Số lượng thông tin đó phải đảm bảo tínhchính xác, đầy đủ, trung thực, khách quan Số lượng thông tin đầy đủ có nghĩa
là lượng thông tin được đưa vào nghị quyết không nhiều quá, cũng không ítquá Thông tin nhiều quá sẽ dẫn đến việc xử lý phức tạp, khó khăn cho đốitượng tiếp thu và thi hành Nội dung của thông tin lãnh đạo phải quán triệtchủ nghĩa Mác - lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với đường lối, quanđiểm, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và phù vớihoàn cảnh thực tế của tỉnh
+ Nội dung của những vấn đề cần lãnh đạo trong nghị quyết Tỉnh ủy phảitương xứng với hình thức biểu hiện của nó - nghị quyết Tỉnh ủy Chỉ cónhững vấn đề có ý nghĩa quan trọng, cấp thiết, ảnh hưởng sâu rộng đến đờisống kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng Đảng, chính quyền, xây
Trang 31dựng hệ thống chính trị… trên toàn tỉnh thì mới cần ban hành nghị quyết Tỉnh
ủy Những vấn đề khác có thể lựa chọn các thể thức văn bản lãnh đạo khác có
ý nghĩa pháp lý thấp hơn như nghị quyết, chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy,kết luận của Tỉnh ủy…
Về thẩm quyền và thể thức văn bản: nghị quyết của Tỉnh ủy là văn bản
lãnh đạo của Tỉnh ủy có giá trị pháp lý trong toàn Đảng bộ tỉnh Việc lựa chọnđúng thể thức văn bản đó là nghị quyết chứa đựng các quyết định lãnh đạoquan trọng của Tỉnh ủy sẽ là yếu tố rất quan trọng làm nên chất lượng của vănbản nghị quyết Tỉnh ủy Nếu vấn đề gì cũng đưa ra Tỉnh ủy thảo luận và ranghị quyết thì sẽ không đủ thời gian cũng như điều kiện để tổ chức hội nghịTỉnh ủy, đồng thời nó sẽ làm giảm hiệu lực pháp lý của nghị quyết Bởi vì,nghị quyết không phải đơn thuần chỉ là hình thức biểu hiện của nó, mà hơn
cả là nội dung liên quan đến giá trị thông tin của văn bản Một nghị quyết củaTỉnh ủy không đầy đủ về nội dung, nghèo nàn về thông tin sẽ làm giảm giá trịpháp lý của nó
Về thời gian: Thời gian ra đời một nghị quyết có vai trò quan trọng đối
với chất lượng nghị quyết Nghị quyết được ban hành có kịp thời cho công táclãnh đạo của cấp ủy không Bởi vì, mỗi một vấn đề, mỗi một sự việc đều cótính thời điểm của nó Nghị quyết ra đời đúng lúc, kịp thời, tác động vàonhững vấn đề, sự việc khi nó đang trong tình trạng trì trệ, thụt lùi, cần đượccủng cố thì chất lượng giá trị của nghị quyết được nâng lên Còn ngược lại,nghị quyết ra đời sớm hơn hay muộn hơn so với yêu cầu của thực tiễn thì giátrị, tác động thấp Do đó, khi xem xét chất lượng nghị quyết Tỉnh ủy khôngthể bỏ qua thời điểm ra đời của các nghị quyết
Về ngôn ngữ, văn phong: Ngôn ngữ, văn phong góp phần quan trọng vào
chất lượng nghị quyết Tỉnh ủy Ngôn ngữ, văn phong được sử dụng trongnghị quyết của Tỉnh ủy phải là văn phong chính luận Sử dụng ngôn ngữ trongnghị quyết phải ngắn gọn, cô đúc, chứa nhiều lượng thông tin trong mộtlượng ngôn ngữ tối thiểu Ngôn ngữ phải chặt chẽ, chính xác, đơn nghĩa tạo
Trang 32thuận lợi cho việc truyền đạt quán triệt nghị quyết Phải viết đúng ngữ pháptiếng Việt, sử dụng câu thường ngắn gọn, xúc tích, tuy nhiên khi cần trình bàytrọn vẹn nội dung nhiều mặt, nhiều khía cạnh, cũng có thể sử dụng những câudài, có kết cấu phức tạp với các thành phần đồng chức, móc nối với nhau.
Về hình thức và kỹ thuật trình bày nghị quyết: nghị quyết của Tỉnh ủy
phải được thể hiện trang nghiêm, tính thẩm mỹ cao Kỹ thuật trình bày phảitheo đúng quy định trong mục IV bản Hướng dẫn số 11-HD/VPTW, ngày 28tháng 5 năm 2004, của Văn phòng Trung ương Đảng Đánh máy, in, sao phảisáng sủa, rõ ràng, không tẩy xóa Sử dụng giấy tốt, bền dai, không thấm nước,
ẩm mốc Hình thức và kỹ thuật trình bày nghị quyết tuy là yếu tố bên ngoài,nhưng nó là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá chất lượng nghị quyết nóichung và chất lượng nghị quyết Tỉnh ủy nói riêng
Nghị quyết thường được cấu tạo gồm ba phần:
- Đánh giá tình hình: trên cơ sở đánh giá khái quát tình hình và thựctrạng vấn đề cần lãnh đạo, phân tích nguyên nhân tình hình đó, làm rõ lý docần ban hành nghị quyết
- Phương hướng, nhiệm vụ: Trình bày một cách xúc tích, rõ ràng, chính xácnhững kết luận của hội nghị Tỉnh ủy về nhận định tình hình trong thời gian qua,thời gian tới, xác định phương hướng, nhiệm vụ lãnh đạo trong tình hình mới
- Các giải pháp tổ chức thực hiện: nêu những giải pháp chủ yếu nhằm tổchức thực hiện, trách nhiệm của các cơ quan công tác và các cơ quan trực tiếp
có liên quan, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, báo cáokết quả với Tỉnh ủy
1.2.1.2 Quan niệm về chất lượng xây dựng nghị quyết
Mỗi nghị quyết được ra đời là kết quả hoạt động ra quyết định lãnh đạocủa Đảng trên một hay nhiều lĩnh vực, là kết quả của nhận thức của Đảng đốivới hiện thực khách quan Nghị quyết được thông qua tại hội nghị Tỉnh ủy làkết quả của nhiều hoạt động trong một thời gian nhất định, là kết quả lao động
Trang 33của nhiều tổ chức, cá nhân tham gia dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, BanThường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy Mỗi tổ chức, cá nhân tham gia vớivai trò, chức năng, nhiệm vụ riêng theo một quy trình đã được định sẵn nhằmhuy động tối đa tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo, chủ động, dân chủ, khoahọc trong việc đề ra nghị quyết của Tỉnh ủy.
Như vậy, có thể quan niệm chất lượng xây dựng nghị quyết của Tỉnh uỷLâm Đồng là tổng hợp các hoạt động của Tỉnh uỷ, các cơ quan tham mưu, các
tổ chức có liên quan trong thực hiện quy trình xây dựng nghị quyết nhằm đưa
ra các quyết định của Tỉnh uỷ về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, anninh trên địa bàn Tỉnh và về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thểcủa tỉnh, được thể hiện tập trung nhất ở chất lượng nghị quyết của Tỉnh uỷ.Xem xét chất lượng xây dựng nghị quyết của Tỉnh ủy là việc đánh giátoàn bộ hoạt động xây dựng nghị quyết của Tỉnh ủy Bao gồm số lượng nghịquyết được ban hành trong mỗi nhiệm kỳ Đại hội, chất lượng của các văn bảnnghị quyết được ban hành Số lượng và chất lượng các nghị quyết của Tỉnh ủyđược ban hành trong mỗi nhiệm kỳ Đại hội được coi là kết quả của hoạt độngxây dựng văn bản của Tỉnh ủy Số lượng nghị quyết đó được so sánh vớinhiệm vụ xây dựng nghị quyết của Tỉnh ủy đã được đề ra trong chương trìnhhoạt động toàn khóa của Tỉnh ủy
Đánh giá chất lượng của các văn bản nghị quyết của Tỉnh ủy là một việclàm khó Bởi vì, nghị quyết của Tỉnh ủy là biểu hiện của hoạt động lãnh đạocủa Đảng trên địa bàn tỉnh, cho nên đánh giá chất lượng các văn bản nghịquyết không chỉ đánh giá riêng hoạt động xây dựng nghị quyết mà còn phảiđánh giá cả hiệu quả tác động của nghị quyết đối với toàn bộ đời sống xã hội
và công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể Vì vậy, khi xem xét chấtlượng xây dựng nghị quyết của Tỉnh ủy phải xem xét trên hai mặt: Thực trạngkinh tế - xã hội, an ninh-quốc phòng, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thốngchính trị, với ý nghĩa là kết quả của việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị
Trang 34quyết và số lượng, chất lượng văn bản nghị quyết của Tỉnh ủy đã được banhành trong hai nhiệm kỳ(VII và VIII) làm đối tượng xem xét, đánh giá, chỉ ranhững mặt ưu điểm, hạn chế trong việc xây dựng nghị quyết của Tỉnh ủy
1.2.1.3 Những nhân tố đảm bảo chất lượng xây dựng nghị quyết
Thứ nhất, sự lãnh đạo của Tỉnh ủy: Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy là yếu tố
quan trọng nhất tạo nên chất lượng xây dựng nghị quyết, là công việc đầutiên trong quy trình xây dựng nghị quyết của Tỉnh ủy Trong chương trìnhhoạt động toàn khóa của Tỉnh ủy, số lượng nghị quyết, nội dung lãnh đạocủa nghị quyết cần phải được xây dựng và ban hành đã được xác định Trên
cơ sở chương trình kế hoạch hoạt động chung, Thường trực Tỉnh ủy chỉđạo các đơn vị chủ trì, tham gia soạn thảo nghị quyết và thông qua theođúng dự kiến Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy bằng chương trình kế hoạch làmviệc là cơ sở để các tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị trực thuộc căn cứvào đó để xây dựng chương trình kế hoạch công tác của mình; là cơ sở đểchỉ đạo, theo dõi, kiểm tra, giám sát, đôn đốc các tổ chức, cơ quan, đơn vịtrực thuộc thực hiện công việc Tỉnh ủy giao, trong đó có việc xây dựngnghị quyết Tỉnh ủy
Thứ hai, thông tin trong xây dựng nghị quyết: Chúng ta đang sống trong
thế giới bùng nổ thông tin, thông tin đa dạng, nhiều chiều Hàng ngày, hàngtuần có một khối lượng thông tin rất lớn từ cấp trên xuống, từ các ban, ngành,đoàn thể, từ cấp dưới, từ nhân dân… chuyển tới Những thông tin đó là cầnthiết, nhưng không thể sử dụng tất cả cho công tác soạn thảo nghị quyết, màthông tin phải được xử lý và chọn lọc Vì vậy mà phải phân loại, phân tích,tổng hợp lại thông tin Thông tin của cấp ủy Đảng thường có ba loại: thông tin
có ý nghĩa chiến lược, thông tin có ý nghĩa điều hành và thông tin có ý nghĩa
cơ sở, ban đầu Thông tin phục vụ cho công tác xây dựng nghị quyết lãnh đạo
là loại thông tin có ý nghĩa chiến lược Tuy nhiên, loại thông tin cơ sở, cơ bảncũng luôn phát triển, có thể thành thông tin điều hành và thông tin chiến lược,
Trang 35nên trong việc nắm bắt thông tin phải luôn theo dõi, nắm bắt để kịp thời xử lý,đánh giá chất lượng thông tin để phục vụ cho công tác lãnh đạo của Đảng Mộtthông tin có chất lượng cao phải bảo đảm các yêu cầu sau: trung thực, chínhxác, kịp thời, đầy đủ Chỉ những thông tin như thế mới thực sự là căn cứ quantrọng để đưa vào trong nghị quyết của Tỉnh ủy Nếu thông tin không trungthực có thể làm sai lạc sự đánh giá tình hình đối tượng lãnh đạo, dẫn tới cácmục tiêu, giải pháp đề ra trong nghị quyết không phù hợp với thực tế Thôngtin sử dụng trong nghị quyết phải kịp thời, vì tình hình kinh tế - xã hội… luônchuyển biến Nếu sử dụng thông tin cũ, lạc hậu sẽ không phản ánh đúng thựctrạng của đối tượng tác động Từ đó, các quyết định lãnh đạo sẽ giảm hiệu quả,thậm chí còn gây hại Thông tin sử dụng trong nghị quyết không đầy đủ sẽ lànguyên nhân đưa đến các đánh giá nửa vời, không có đủ căn cứ để ra cácquyết định chính xác, hệ thống giải pháp đồng bộ, hoàn hảo.
Thứ ba, chất lượng soạn thảo nghị quyết của đơn vị chủ trì soạn thảo.
Để có chất lượng của toàn bộ hoạt động xây dựng nghị quyết của Tỉnh ủy, thìviệc soạn thảo nghị quyết Tỉnh ủy của đơn vị được giao chủ trì là rất quantrọng Công việc soạn thảo nghị quyết bao gồm việc tổ chức thu thập thôngtin, xây dựng dự thảo, sửa chữa và hoàn chỉnh dự thảo thành văn bản chínhthức Quá trình này gồm hai giai đoạn:
Giai đoạn xây dựng dự thảo nghị quyết Giai đoạn này xác định mục đích và
nội dung của nghị quyết, thu thập, xử lý thông tin, xây dựng dự thảo nghị quyết
Giai đoạn kiểm tra sự đúng đắn của văn bản Giai đoạn này thu thập ý
kiến các bộ phận, các cơ quan, cá nhân có liên quan tham gia vào dự thảo; sửachữa, hoàn chỉnh dự thảo nghị quyết
Chất lượng của dự thảo nghị quyết Tỉnh ủy được thể hiện trên một số yêucầu chính sau:
Trang 36- Dự thảo nghị quyết phải đáp ứng nhu cầu lãnh đạo của Tỉnh ủy, phùhợp với yêu cầu thực tế đòi hỏi của tỉnh; nội dung trình bày phù hợp với thểthức văn bản của Đảng là nghị quyết.
- Bảo đảm tính cụ thể, tính khoa học Thông tin được xử lý chính xác vàtrúng; đó là cơ sở để đảm bảo nghị quyết có tính khả thi
- Trình bày đúng thể thức văn bản nghị quyết của Đảng, đúng thẩmquyền ban hành của Tỉnh ủy
- Bảo đảm lôgic chặt chẽ, ngôn ngữ chính xác
Việc lấy ý kiến rộng rãi của các cơ quan, đơn vị, tổ chức quần chúng, củanhân dân, của các chuyên gia, các nhà khoa học vào dự thảo nghị quyết củaTỉnh ủy, nhất là đối với các nghị quyết về vấn đề phát triển kinh tế - xã hộicủa tỉnh có liên quan, ảnh hưởng rộng rãi đến đời sống nhân dân là rất cầnthiết Các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc Tỉnh ủy theo chức năng, nhiệm vụđược phân công phối hợp trong soạn thảo nghị quyết của Tỉnh ủy phải cótrách nhiệm tham gia, đóng góp ý kiến, trả lời bằng văn bản theo yêu cầu củađơn vị soạn thảo theo quy định của Tỉnh ủy Sự tham gia của các cơ quan, đơn
vị, tổ chức vào dự thảo nghị quyết đảm bảo tính lãnh đạo toàn diện của nghịquyết, đảm bảo tính thống nhất cao trong việc ra quyết định lãnh đạo của Tỉnh
ủy cũng như trong tổ chức thực hiện nghị quyết sau này Sự tham gia rộng rãicủa nhân dân, của các chuyên gia, các nhà khoa học vào dự thảo nghị quyếtTỉnh ủy sẽ đảm bảo tính khoa học và đáp ứng nhu cầu lợi ích chính đáng củanhân dân Đặc biệt đối với các quyết định có tác động lớn đến đời sống kinh
tế - xã hội, môi trường như xây dựng các khu công nghiệp, chỉnh trang đô thị,khai thác tài nguyên thiên nhiên…
Mỗi nghị quyết (dự thảo) trình Tỉnh ủy kèm theo báo cáo tình hình,nhiệm vụ và tờ trình Nội dung của tờ trình tóm tắt mục đích, yêu cầu, phạm vicủa nghị quyết, quá trình xây dựng nghị quyết, những nội dung cơ bản củanghị quyết Trong những vấn đề trình lãnh đạo thì vấn đề nào đạt được sự nhất
Trang 37trí, vấn đề nào còn có ý kiến khác nhau, kiến nghị với Tỉnh ủy những vấn đềcần thảo luận để đi đến kết luận Để thông tin đầy đủ cho Tỉnh ủy cần gửithêm các tài liệu tham khảo (số liệu thông kê, kết quả khảo sát thực tế, kết quảđiều tra dư luận xã hội…)
Thứ tư, hội nghị Tỉnh ủy dân chủ, trách nhiệm thảo luận góp ý dự thảo nghị quyết và biểu quyết thông qua Đây có thể coi là khâu quan trọng quyết
định đến chất lượng xây dựng nghị quyết của Tỉnh ủy Trước khi hội nghịTỉnh ủy được mở, các văn bản xin ý kiến cho dự thảo nghị quyết của Tỉnh ủyphải được gửi tới các đồng chí Tỉnh ủy viên trước ít nhất 03 ngày Hội nghịdân chủ thảo luận, cho ý kiến về các vấn đề được trình bày trong bản dự thảo,các ý kiến được ghi lại và đơn vị chủ trì soạn thảo hoàn chỉnh, trình các hội nghịlần sau, thông qua nghị quyết theo quy định Các nghị quyết được thảo luận sôinổi, nhiệt tình, trách nhiệm cao, sẽ tạo được sự thống nhất cao trong hội nghị,tránh được các sai sót trong dự thảo, tạo được sự nhất trí cao trong việc thôngqua nghị quyết, chất lượng của văn bản nghị quyết ban hành được nâng cao
1.2.2 Quan niệm về chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyết và những nhân tố đảm bảo
1.2.2.1 Quan niệm về chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy
Tổ chức thực hiện nghị quyết là quá trình tác động đến nhận thức của cán
bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, thúc đẩy họ hành động theo mục tiêu,nhiệm vụ và các giải pháp đã được đề ra trong nghị quyết, làm chuyển biếnmọi mặt của đời sống xã hội Tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy baogồm nhiều hoạt động, là sự phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành, các tổchức trong tỉnh
Do đó, có thể quan niệm chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyết củaTỉnh ủy là tổng hợp các hoạt động của việc thể chế hoá nghị quyết, đưa nghịquyết vào cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện thắng lợi nghị quyết Các
Trang 38hoạt động đó gồm: chất lượng việc văn bản hóa nghị quyết thành các văn bảnpháp quy của Nhà nước để tổ chức triển khai rộng rãi trong nhân dân toàntỉnh; việc xây dựng, tổ chức thành công các chương trình phát triển kinh tế -
xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng trên địa bàn tỉnh; nâng cao hiệu lực,hiệu quả quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh; việctuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnhđược thể hiện bằng việc chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tham gia tích cực vào cácchương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự trênđịa bàn
Chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy phản ánh kết quảcao của hoạt động tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy Do đó, khi đánhgiá chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy, không thể khôngxem xét đến thực trạng của tình hình kinh tế - xã xội, an ninh chính trị, trật tự,
an toàn xã hội của tỉnh Các kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra từ các giaiđoạn trước, coi đó là kết quả của quá trình lãnh đạo của Đảng trên địa bàntỉnh - kết quả của việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy.Những thành tựu về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh,những kết quả tiến bộ về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chínhtrị là phản ánh đầy đủ nhất, tập trung nhất của chất lượng xây dựng nghị quyết
và chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh uỷ
1.2.2.2 Những nhân tố đảm bảo chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy
- Vai trò của Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy Đây là nhân tố hàng
đầu cho chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy Sau khi cácnghị quyết của Tỉnh ủy được banh hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng kếhoạch tổ chức thực hiện nghị quyết, Ban Thường vụ phân công các đồng chí ủyviên Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy phụ trách các mảng công tác theo
Trang 39chức năng, nhiệm vụ được phân công, xây dựng chương trình, kế hoạch triểnkhai thực hiện nghị quyết Tỉnh ủy; chỉ đạo chặt chẽ quá trình triển khai thực hiệnnghị quyết; duy trì nắm bắt thông tin, yêu cầu thực hiện đúng quy định thỉnh thị,báo cáo của các cấp, các ngành, cho ý kiến trong quá trình tổ chức thực hiện;lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm.
- Vai trò của các ban, ngành, chính quyền các cấp trong tỉnh Các cơ
quan này có vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa các nghị quyết Tỉnh ủythành các chương trình, kế hoạch, dự án và triển khai thực hiện nhằm đạtđược mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học - côngnghệ, chính sách xã hội, an ninh, trật tự… mà các nghị quyết Tỉnh ủy đã đề
ra Đây là nhân tố quan trọng làm nên chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyếtcủa Tỉnh ủy Bởi vì, mọi sự lãnh đạo của Đảng đều phải được thông qua cáccấp chính quyền để triển khai ra ngoài xã hội, thực hiện quản lý xã hội bằng
hệ thống văn bản pháp luật, bằng các nguồn lực của Nhà nước Các nghịquyết Tỉnh ủy đều phải được các cơ quan Nhà nước trên địa bàn tham gia tíchcực Có như vậy việc tổ chức thực hiện nghị quyết mới đạt kết quả cao
- Vai trò của Ban Tuyên giáo, phối hợp với các ban Đảng Ban Tuyên
giáo có vai trò chủ đạo phối hợp với các ban Đảng trong việc tổ chức học tậpquán triệt nghị quyết Tỉnh ủy cho cán bộ, đảng viên toàn Đảng bộ Thực hiện
sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo xây dựng kế hoạch
tổ chức học tập quán triệt nghị quyết cho toàn bộ cán bộ, đảng viên trong tỉnh.Trực tiếp mở các lớp học cho các đối tượng là cán bộ chủ chốt của tỉnh, chỉđạo các Ban Tuyên giáo cấp huyện xây dựng kế hoạch mở lớp cho các đốitượng do cấp huyện, cấp cơ sở quản lý
- Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp có vai trò tích
cực trong việc tuyên truyền, tổ chức học tập quán triệt nghị quyết, xây dựngchương trình hành động thực hiện nghị quyết Tỉnh ủy Mặt trận Tổ quốc, các
tổ chức chính trị - xã hội, với chức năng của mình xây dựng kế hoạch tổ chức
Trang 40quán triệt nghị quyết Tỉnh ủy cho các thành viên, đoàn viên, hội viên củamình; xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể thực hiện theo chức năng,nhiệm vụ của tổ chức mình, nhằm đem lại lợi ích thiết thực cho các đoànviên, hội viên trong phong trào thi đua thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy.
- Vai trò của các cơ quan báo chí, đài phát thanh, truyền hình trong việc
tuyên truyền nghị quyết đến đông đảo quần chúng nhân dân Các cơ quan báochí, đài phát thanh, truyền hình nắm giữ các phương tiện thông tin đại chúng,
là nơi định hướng và dẫn dắt dư luận xã hội Thông qua hoạt động của báochí, đài phát thanh, truyền hình nhân dân nắm bắt được đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việc đăng tải nội dung nghịquyết Tỉnh ủy và các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xâydựng quốc phòng - an ninh của tỉnh trên các phương tiện thông tin đại chúng
có tác dụng tạo niềm tin cho quần chúng nhân dân, hướng họ tham gia vàocác chương trình, dự án của Nhà nước được triển khai ở địa phương, cơ sở
1.2.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy
1.2.3.1 Tiêu chí đánh giá chất lượng xây dựng nghị quyết của Tỉnh ủy
Để đánh giá chất lượng xây dựng nghị quyết của Tỉnh uỷ có thể dựa vàohai nhóm tiêu chí sau:
* Nhóm tiêu chí thứ nhất:
Sự đúng đắn của nghị quyết Điều này thể hiện rõ qua tổ chức thực hiệnnghị quyết Kinh tế - xã hội và công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thốngchính trị của tỉnh phải có chuyển biến mạnh mẽ Tức là phải căn cứ vào sự pháttriển kinh tế - xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của Đảng bộ, hệ thống chính trị
* Nhóm tiêu chí thứ hai là việc đáp ứng các nhân tố đảm bảo chất lượngxây dựng nghị quyết, gồm:
- Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đối với việc xâydựng nghị quyết Tỉnh ủy