1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

lý thuyết trò chơi và áp dụng phân tích chiến lược của các doanh nghiệp sữa tại việt n

89 199 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

6 LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI VÀ ÁP DỤNG PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SỮA TẠI VIỆT NAM .... 45 CHƯƠNG III: VẬN DỤNG LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI VÀO PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

1

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU 4

DANH MỤC ĐỒ THỊ 5

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT 6

LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI VÀ ÁP DỤNG PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SỮA TẠI VIỆT NAM 11

PHẦN MỞ ĐẦU 11

1 Mục tiêu nghiên cứu: 11

2 Câu hỏi nghiên cứu 12

3 Đối tượng nghiên cứu: 12

4 Phạm vi nghiên cứu: 12

5 Phương pháp nghiên cứu: 12

6 Kết cấu đề tài: 12

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI 14

I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI 14 1 Quá trình hình thành của lý thuyết trò chơi: 14

2 Các bước phát triển: 14

II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI: 15

1 Lý thuyết trò chơi trong kinh doanh: 15

a Player (Người chơi): 15

b Added Value (Giá trị gia tăng): 16

c Rules (Những quy tắc): 17

d Tactics (Chiến thuật): 17

e Scope (Phạm vi): 17

2 Biểu diễn trò chơi: 18

a Dạng chuẩn tắc: 18

b Dạng mở rộng: 19

3 Phân loại trò chơi: 19

a Dựa vào kết quả trò chơi: 19

b Dựa vào thông tin trò chơi: 20

III ÁP DỤNG LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI TRONG KINH DOANH: 20

IV ỨNG DỤNG CỤ THỂ CỦA LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI TRONG KINH DOANH: 21

CHƯƠNG II: SỬ DỤNG MÔ HÌNH LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI TRONG KINH DOANH VÀO PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA VINAMILK 23

Trang 3

2

I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG SỮA VIỆT NAM: 23

II TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA VINAMILK THEO MÔ HÌNH BRANDENBURGER VÀ NALEBUFF: 24

1 Vinamilk: 25

a Qúa trình hình thành và phát triển: 25

b Tình hình hoạt động của Vinamilk từ 2008 – 2012: 26

c Tài sản và nguồn vốn: 27

d Sơ đồ tổ chức và cơ cấu quản lý: 28

e Sản phẩm: 29

f Nhà máy và trang trại: 29

g Các công ty con và công ty liên kết nước ngoài: 29

h Hệ thống tủ đông, tủ lạnh: 30

2 Nhà cung cấp: 30

a Fonterra: 30

b Hoogwegt International: 30

c Tetra Pak Indochina: 31

d Đội ngũ lao động: 32

e Nguồn nguyên liệu sữa trong nước: 33

f Vùng nguyên liệu tự chủ của Vinamilk: 33

3 Khách hàng: 33

a Thị trường nội địa: 33

b Thị trường xuất khẩu: 35

c Khách hàng khác: 35

4 Đối thủ cạnh tranh: 35

a Thị trường sữa bột: 35

b Thị trường sữa nước: 36

c Sữa chua: 37

d Sữa đặc: 37

e Khái quát về các đối thủ cạnh tranh của Vinamilk theo cơ cấu doanh thu: 38

5 Người bổ trợ: 38

a Chính phủ: 38

b Các doanh nghiệp sữa khác: 40

III THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA VINAMILK: 41

1 Thuận lợi: 41

2 Khó khăn: 42

IV TỔNG KẾT CHƯƠNG II: 45

CHƯƠNG III: VẬN DỤNG LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI VÀO PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SỮA TẠI VIỆT NAM 46

Trang 4

3

I THỊ TRƯỜNG SỮA BỘT CÔNG THỨC TRẺ EM: 46

1 Tổng quan về thị trường sữa bột: 46

2 Triển vọng ngành sữa bột: 47

3 Chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp: 48

a Cuộc chiến của thương hiệu và giá: 49

b Cuộc chiến sản phẩm: 61

4 Ảnh hưởng của nhà nước đến việc điều tiết thị trường sữa: 64

a Chính sách quản lý giá: 64

b Chính sách tiếp thị, quảng cáo và ghi nhãn hàng hóa: 66

II THỊ TRƯỜNG SỮA NƯỚC TẠI VIỆT NAM: 66

1 Tổng quan về thị trường sữa nước: 66

2 Triển vọng ngành sữa nước: 67

3 Cuộc chiến của Vinamilk và Friesland Campina: 69

4 TH Group và cuộc chiến với Vinamilk: 70

a TH Group: 70

b Cuộc chiến giữa Vinamilk và TH Group: 73

III TỔNG KẾT CHƯƠNG III: 78

1 Thị trường sữa bột: 78

2 Thị trường sữa nước: 78

CHƯƠNG IV: SỬ DỤNG LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG SỮA VIỆT NAM TỪ THÁNG 4/2014 – 2020 VÀ GIẢI PHÁP CHO CHÍNH PHỦ ĐỊNH HƯỚNG THỊ TRƯỜNG SỮA 80

I DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG SỮA VIỆT NAM TỪ THÁNG 4/2014 – 2020: 80

1 Thị trường sữa bột: 80

2 Thị trường sữa nước và chiến lược của các doanh nghiệp trong việcphát triển thị trường: 81

II SỬ DỤNG LÝ THUYẾT TRÒ CHƠIĐỀ RA GIẢI PHÁP CHO CHÍNH PHỦ TRONG VIỆC TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC ĐẾN THỊ TRƯỜNG SỮA TẠI VIỆT NAM: 82 1 Partner (Người chơi): 83

2 Added Value (Giá trị gia tăng): 84

3 Rules (Những quy tắc): 85

4 Tactics (Chiến thuật) và Scope (Phạm vi): 85

5 Kết luận: 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

I SÁCH, TÀI LIỆU: 88

II WEBSITE: 88

Trang 5

4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Những dòng sản phẩm của các doanh nghiệp kinh doanh sữa Trang 22 Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng kép bình quân của Vinamilk từ 2008 – 2012 Trang 25 Bảng 3: Bốn doanh nghiệp mang lại nguồn lợi lớn nhất cho SCIC năm 2013 Trang 37 Bảng 4: Thị phần theo doanh thu của các doanh nghiệp kinh doanh sữa bột thức trẻ em năm 2008 Trang 46 Bảng 5: Biến động giá sữa bột thế giới, tỷ giá hối đoái, lạm phát và giá sữa trong nước so với mốc năm 2006 Trang 49 Bảng 6: Biến động của các yếu tố ảnh hưởng đến giá sữa (Giữa năm sau so với năm trước) Trang 49 Bảng 7: Bảng phân tích ảnh hưởng của lạm phát, tỷ giá VND/USD, biến động giá sữa thế giới đến sự thay đổi giá sữa của các doanh nghiệp (Denta P thật) so với 2006 Trang 59 Bảng 8: Thị phần sữa nước của các doanh nghiệp theo doanh thu Trang 66

Ma trận 1: Biểu diễn tổng quát quyết định của Vinamilk và Friesland Campina Trang 51

Ma trận 2: Biểu diễn quyết định của Vinamilk và Friesland Campina vào năm 2009

Trang 6

5

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Đồ thị 1: Tình hình tài sản và nguồn vốn của Vinamilk giai đoạn 2008 – 2013 Trang 26

Đồ thị 2: Cơ cấu lao động của Vinamilk 31/12/2012 Trang 31

Đồ thị 3: Hai kênh phân phối sản phẩm của Vinamilk Trang 33

Đồ thị 4: Thị phần sữa bột tại Việt Nam năm 2012 Trang 34

Đồ thị 5: Thị phần sữa nước Việt Nam năm 2013 Trang 35

Đồ thị 6: Cơ cấu doanh thu của Vinamilk năm 2012 Trang 35

Đồ thị 7: Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố của Vinamilk T9/2012 Trang 42

Đồ thị 8: Doanh thu ngành sữa bột 2004 – 2009 Trang 45

Đồ thị 9: Tiêu thụ sữa bình quân 2008 Trang 46

Đồ thị 10: Doanh thu đầu người của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013 Trang 46

Đồ thị 11: Thị phần sản lượng sữa bột năm 2008 Trang 51

Đồ thị 12: Doanh thu ngành sữa nước 2004 – 2009 Trang 65

Đồ thị 13: Thị phần sữa bột của Vinamilk và Friesland Campina giai đoạn 2009 -2012 Trang 68

Trang 7

6

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

A – M: Abbott – Mead Johnson

CAGR: Compound annual growth rate – Tỷ lệ tăng trưởng kép hằng năm

ESOP: Employee Stock Ownership Plan – Kế hoạch thực hiện quyền sở hữu cổ

phần cho người lao động

GDP: Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội

SCIC: State Capital and Investment Corporation – Tổng Công ty Đầu tư và Kinh

doanh Vốn Nhà nước

V – FC: Vinamilk – Friesland Campina

Trang 8

7

Mẫu SV-06 Thông tin kết quả nghiên cứu của đề tài

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI VÀ ÁP DỤNG PHÂN TÍCH CHIẾN

LƯỢC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SỮA TẠI VIỆT NAM

- Sinh viên thực hiện: NGUYỄN HOÀNG TÙNG

- Lớp: DH12KI02 Khoa: KINH TẾ VÀ LUẬT Năm thứ: 2 Số năm đào tạo: 4

- Người hướng dẫn: Ts Lê Văn Chơn

2 Mục tiêu đề tài:

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm áp dụng lý thuyết trò chơi để phân tích những chiến lược của các doanh nghiệp sữa tại thị trường Việt Nam Thông qua trung tâm trò chơi là Vinamilk, chúng ta sẽ có cái nhìn khách quan về diễn biến của thị trường Từ đó sử dụng tiếp lý thuyết trò chơi nhằm đưa ra những dự báo về chiến lược của các doanh nghiệp trong tương lai và giải pháp cho Chính phủ để định hướng thị trường sữa đi theo hướng có lợi nhất cho Chính phủ và người tiêu

dùng Việt Nam

3 Tính mới và sáng tạo:

Đây là đề tài đầu tiên áp dụng công cụ “Lý thuyết trò chơi” để giải quyết một vấn đề kinh tế tham gia nghiên cứu khoa học tại trường đại học Mở TP Hồ Chí Minh kể từ năm 2004 Vì thế, đề tài sẽ đưa ra những lý lẽ, giải thích,… hoàn toàn mới mẻ so với những công cụ trước đây Nó sẽ đưa ra nhiều sự lựa chọn hơn cho các nhà kinh tế trong việc tác động hay điều chỉnh một vấn đề kinh tế nào đó

4 Kết quả nghiên cứu:

Đề tài đã được thực hiện và đạt được đầy đủ những kết quả theo dự tính ban đầu:

Trang 9

 Dự đoán thị trường sữa Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2020

 Áp dụng “Lý thuyết trò chơi” đưa ra giải pháp cho Nhà nước trong việc điều khiển thị trường sữa bột tại Việt Nam

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng

và khả năng áp dụng của đề tài:

Đóng góp về mặt kinh tế:

 Giúp Nhà nước kiểm soát được thị trường sữa Việt Nam, đặc biệt là phân khúc sữa bột và sữa nước bằng “Bàn tay vô hình” của thị trường và “Bàn tay hữu hình” của nhà nước

 Giúp người tiêu dùng Việt Nam sử dụng sản phẩm sữa với giá cả phải chăng, phù hợp với thu nhập trung bình của người dân Việt Nam

Khả năng áp dụng của đề tài:

 Nếu đề tài được các doanh nghiệp sữa quan tâm, đó sẽ là công cụ hữu hiệu

để các doanh nghiệp có thể đưa ra những chiến lược riêng của mình

 Nếu đề tài được các cấp chính quyền nhà nước quan tâm, đó sẽ là công cụ để Nhà nước nắm hoàn toàn chủ động khi đưa ra những giải pháp nhằm làm chủ thị trường sữa mà không làm ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Nhà nước và các doanh nghiệp cũng như mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam

và các nước xuất khẩu nguyên liệu sữa bột sang Việt Nam

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên

tạp chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):

Trang 10

Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên

thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):

Trang 11

10

Mẫu SV-07 Thông tin về sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: NGUYỄN HOÀNG TÙNG

Sinh ngày: 26 tháng 05 năm 1994

Nơi sinh: Pleiku – Gia Lai

Lớp: DH12KI02 Khóa: 2012 – 2016

Khoa: Kinh tế và luật

Địa chỉ liên hệ: 106/31 Bình Lợi, P.13, Q Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh

Điện thoại: 0985475963 Email: nguyenhoangtung2651994@gmail.com

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang học):

* Năm thứ 1:

Ngành học: Kinh tế Khoa: Kinh tế và luật

Kết quả xếp loại học tập: Trung bình – Khá

Sơ lược thành tích:

* Năm thứ 2:

Ngành học: Kinh tế Khoa: Kinh tế và luật

Kết quả xếp loại học tập: Trung bình – Khá

Trang 12

Kể từ năm 1986, Việt Nam đã chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang mô hình “Kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, nhiệm vụ trước mắt của Đảng và nhà nước là xây dựng kinh tế thị trường khi nền kinh tế tập trung không hiệu quả Đứng trước mục tiêu và nhiệm vụ của Đảng và nhà nước, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi tư duy để hội nhập với thế giới trong bối cảnh cạnh tranh, hợp tác trong thế kỷ XXI Vai trò của các doanh nghiệp Việt Nam trong thế kỷ XXI là rất quan trọng, doanh nghiệp vừa cung cấp sản phẩm cho người tiêu dùng trong nước, vừa quảng bá hình ảnh Việt Nam thông qua sản phẩm chất lượng, uy tín Tuy nhiên, trải qua hơn một thập kỷ, các doanh nghiệp Việt Nam đang để mất thị trường vào các doanh nghiệp nước ngoài Thêm vào đó, các sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam chưa mang một đặc thù riêng biệt “Made in Vietnam” để quảng bá hình ảnh Việt Nam đến bạn bè quốc tế Vì thế, việc nghiên cứu và vận dụng lý thuyết trò chơi trong kinh doanh sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam vạch ra chiến lược cụ thể giải quyết bài toán trên

Thị trường sữa Việt Nam về bản chất là thị trường độc quyền nhóm, việc lựa chọn chiến lược của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chiến lược của doanh nghiệp khác Thị trường sữa Việt Nam được chia thành nhiều thị trường sữa nhỏ Trong đó, cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất đến từ hai thị trường sữa sau: Thị trường sữa bột với sự cạnh tranh gay gắt giữa Abbott – Mead Johnson và Vinamilk – Friesland Campina; thị trường sữa nước với sự cạnh tranh của Vinamilk – Friesland Campina – TH Group

Có thể nói, thị trường sữa Việt Nam như một bức tranh thu nhỏ về sự cạnh tranh bình đẳng giữa những doanh nghiệp trong nước và những doanh nghiệp nước ngoài

Nhận thấy sự cấp thiết của thực tế, tôi quyết định chọn đề tài: “Lý thuyết trò chơi

và áp dụng vào phân tích chiến lược của các doanh nghiệp sữa tại Việt Nam”

1 Mục tiêu nghiên cứu:

Trang 13

12

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm áp dụng lý thuyết trò chơi để phân tích những chiến lược của các doanh nghiệp sữa tại thị trường Việt Nam Thông qua trung tâm trò chơi là Vinamilk, chúng ta sẽ có cái nhìn khách quan về diễn biến của thị trường Từ đó sử dụng tiếp lý thuyết trò chơi nhằm đưa ra những dự báo về chiến lược của các doanh nghiệp trong tương lai và giải pháp cho Chính phủ để định hướng thị trường sữa đi theo hướng có lợi nhất cho Chính phủ và người tiêu dùng Việt Nam

2 Câu hỏi nghiên cứu

Vì sao Vinamilk thống trị thị trường sữa Việt Nam?

Vì sao tồn tại độc quyền nhóm trong thị trường sữa Việt Nam?

Các doanh nghiệp sữa cạnh tranh nhau như thế nào?

Các giải pháp can thiệp của Chính phủ đối với thị trường sữa bột có hiệu quả không?

Làm thế nào để Chính phủ có thể định hướng thị trường sữa đi theo hướng có lợi nhất cho Chính phủ và người tiêu dùng trong nước?

3 Đối tượng nghiên cứu:

Các doanh nghiệp lớn trong thị trường sữa tại Việt Nam: Vinamilk, Abbott, Mead Johnson, Friesland Campina, TH Group

4 Phạm vi nghiên cứu:

Phân tích chiến lược của các doanh nghiệp sữa tại Việt Nam từ năm 2004 – 2013

và dự báo chiến lược của các doanh nghiệp và diễn biến thị trường từ năm Tháng 4/2014 – 2020

5 Phương pháp nghiên cứu:

Thu thập thông tin, tổng hợp, phân tích số liệu từ điều tra thực tế, Internet, chương trình giảng dạy, các bài nghiên cứu,…

6 Kết cấu đề tài:

Đề tài sẽ được chia thành bốn chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về lý thuyết trò chơi

Chương II: Sử dụng mô hình lý thuyết trò chơi trong kinh doanh vào phân tích tình hình hoạt động của Vinamilk

Trang 14

13

Chương III: Vận dụng lý thuyết trò chơi vào phân tích chiến lược của các doanh nghiệp sữa tại Việt Nam

Chương IV: Sử dụng lý thuyết trò chơi dự báo thị trường sữa từ Tháng 4/2014 –

2012 và giải pháp cho chính phủ định hướng thị trường sữa

Trang 15

14

Chương I: Cơ sở lý luận về lý thuyết trò chơi

I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI:

1 Quá trình hình thành của lý thuyết trò chơi:

Lý thuyết trò chơi là một nhánh của Toán học ứng dụng Nội dung chủ yếu của lý thuyết trò chơi là nghiên cứu các tình huống chiến thuật, trong đó mỗi người chơi lựa chọn các chiến lược khác nhau dựa trên các chiến thuật của người chơi khác để đưa ra chiến thuật tốt nhất

Có các ý kiến cho rằng Antoine Augustin Cournot là người đầu tiên đưa ra cơ sở phương pháp luận chung về lý thuyết trò chơi thông qua cuốn sách “Nghiên cứu về những định luật toán học của lý thuyết tài sản” vào năm 1838 Tuy nhiên, vào thời kỳ

đó, Cournot chưa thuyết phục được các nhà khoa học về lý thuyết độc quyền và lưỡng độc quyền Mãi đến năm 1944, khi John von Neumann và Oskar Morgenstern xuất bản cuốn sách “Lý thuyết trò chơi và các hành vi kinh tế” vào năm 1944, ứng dụng của lý thuyết trò chơi được thừa nhận và sử dụng rộng rãi như một công cụ giải thích các hành vi kinh tế Vì thế, có thể nói rằng: John von Neumann và Oskar Morgernstern là những người đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của lý thuyết trò chơi

2 Các bước phát triển:

Mặc dù John von Neumann và Oskar Morgenstern là những người được biết đến lần đầu tiên khi hình thành lý thuyết trò chơi nhưng trong những buổi đầu sơ khai hình thành lý thuyết trò chơi, nội dung của hai nhà khoa học trên chủ yếu phân tích trò chơi có sự hợp tác, khi các bên luôn luôn tuân thủ các điều khoản ban đầu, không có

sự lừa đảo nào xuất hiện trong trò chơi, qua đó tổng lợi ích của các bên bằng 0 Có nhiều tài liệu cho rằng một trong những ứng dụng thực tiễn nhất của lý thuyết trò chơi

là các chiến thuật hải quân Anh sử dụng để phá hủy Hải quân phát xít Đức trong thế chiến thứ II Người có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong quá trình phát triển của lý thuyết trò chơi là nhà toán học lừng danh John Nash Năm 1994, ông nhận được giả thưởng Nobel kinh tế về lý thuyết trò chơi Nghiên cứu của John Nash tập trung vào “Trò chơi bất hợp tác” và “Trò chơi có tổng lợi ích khác 0 John Nash đã đưa ra “Thuyết

Trang 16

15

cân bằng”, lý thuyết này được ứng dụng trong vấn đề ngã giá, trong vấn đề bán đấu giá và đặc biệt là chống độc quyền Gần đây nhất, lý thuyết trò chơi càng được công nhận với sức ảnh hưởng to lớn của nó thông qua giải Nobel 2005 của hai nhà kinh tế học: Thomas Schelling và Robert Aumann Nội dung nghiên cứu của hai nhà kinh tế trên chủ yếu phân tích sự cạnh tranh và hợp tác trong nền kinh tế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay

Ngày nay, ở những nước phát triển, lý thuyết trò chơi được áp dụng cho nghiên cứu về hành vi động vật, Đạo đức học, Triết học, Khoa học máy tính và đặc biệt là Kinh tế Ảnh hưởng của kinh tế đối với sự phát triển của các cá nhân và tổ chức trong

bộ máy nhà nước là hết sức to lớn Vì thế, lý thuyết trò chơi còn được nhiều nhà khoa học ngày nay sử dụng như là một công cụ hữu hiệu trong chính trị

II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI:

1 Lý thuyết trò chơi trong kinh doanh:

Theo Adam M Brandenburger và Barry J Naleuff (2006), lý thuyết trò chơi trong kinh doanh xoay quanh 5 yếu tố sau: PARTS (Partner: Người chơi Added Value: Giá trị gia tăng Rules: Những quy tắc, Tactics: Chiến thuật, Scope: Phạm vi)

a Player (Người chơi):

Là tất cả những người tham gia vào cuộc chơi Công cụ hữu hiệu nhất để biểu diễn Người chơi là Mạng giá trị

Mạng giá trị là bản đồ thể hiện tất cả những người chơi với các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa họ

Dưới đây là mạng giá trị của 1 doanh nghiệp

Khách hàng

Đối thủ cạnh tranh Doanh nghiệp Người bổ trợ

Nhà cung cấp

Trục đứng:

Trang 17

Người chơi sẽ là đối thủ cạnh tranh của bạn nếu khách hàng đánh giá sản phẩm của bạn thấp hơn khi họ có cả sản phẩm của người đó so với khi họ chỉ có sản phẩm của bạn

b Added Value (Giá trị gia tăng):

Giá trị gia tăng là chìa khóa để hiểu được ai là người thực sự nắm quyền lực trong

bất kỳ trò chơi nào

Công thức tính giá trị gia tăng:

Giá trị gia tăng = (Kích thước chiếc bánh khi bạn tham gia trong trò chơi) –

(Kích thước chiếc bánh khi bạn đứng ngoài cuộc chơi) Chúng ta có thể hiểu rằng: Cái bạn mang ra vào trò chơi bị hạn chế bởi cái mang vào cuộc chơi (Giá trị gia tăng của bạn) Nếu bạn giành phần lớn hơn, phần còn lại để chia những người khác sẽ nhỏ hơn chiếc bánh mà họ có thể tạo ra mà không có bạn Vì thế, bạn không thể giành lấy phần nhiều hơn giá trị gia tăng của bạn

Có nhiều ứng dụng của giá trị gia tăng trong kinh doanh: Những chiếc xe máy có giá trị gia tăng rất lớn vì hầu như người Việt Nam nào cũng sử dụng xe máy cho nhiều mục đích, nhưng những doanh nghiệp sản xuất xe máy lại không có giá trị gia tăng lớn như vậy Nếu không có Honda, chúng ta vẫn có thể sử dụng xe của Toyota, Suzuki,…

Có một ví dụ khác về giá trị tăng: Các diễn viên đóng phim có giá trị gia tăng rất lớn Có lẽ chúng ta đều biết đến diễn viên nhí Culkin trong bộ phim “Ở nhà một mình” Lần đầu đóng phim, Culkin chỉ có giá trị gia tăng đúng bằng thù lao cậu bé đạt được: 100.000 USD Qua bộ phim này, hãng phim 20th Century – Fox nhận được lợi nhuận 286 triệu USD Vì thế, qua bộ phim “Ở nhà một mình”, Culkin có giá trị gia

Trang 18

17

tăng rất lớn Nếu hãng phim 20th Century – Fox muốn công chiếu phần tiếp theo của series phim “Ở nhà một mình”, hãng phim phải tiếp tục sử dụng Culkin nếu không muốn mất đi viên ngọc sáng vào tay những hãng phim khác Vì thế, trong đợt đóng phim “Ở nhà một mình phần 2”, Culkin đã nhận được thù lao 5 triệu USD cộng thêm 5% doanh thu trong nước của bộ phim

Để thay đổi các quy tắc, doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện sự thay đổi đối với các nhà cung cấp hay khách hàng của mình thông qua hai điều khoản sau: Điều khoản “Tối huệ khách” hoặc điều khoản “Khớp giá cạnh tranh”

d Tactics (Chiến thuật):

Chiến thuật là các hành động mà những người chơi thực hiện để tạo hình cho cảm nhận của những người chơi khác Đây là yếu tố quan trọng nhất trong cuộc chơi Mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn những chiến lược cho mình phụ thuộc vào những chiến lược của những doanh nghiệp khác để đạt được lợi ích tốt nhất cho doanh nghiệp mình Cảm nhận đóng vai trò rất quan trọng trong thương lượng Người bán cố gắng thuyết phục khách hàng rằng sản phẩm của họ là tốt nhất trong khi người mua luôn nghi ngờ về điều đó Để nắm được cuộc chơi, các doanh nghiệp sẽ phải thay đổi cảm nhận của khách hàng Những nhà cung cấp luôn cố gắng thuyết phục nguyên vật liệu của họ là tốt nhưng doanh nghiệp lại có những cảm nhận khác Doanh nghiệp luôn cố gắng gửi thông điệp trực tiếp hay gián tiếp tới những đối thủ cạnh tranh rằng họ chỉ muốn kinh doanh nhưng những đối thủ cạnh tranh nhiều khi không cho là vậy khi có

sự bất thường trên thị trường

e Scope (Phạm vi):

Phạm vi là ranh giới giữa các cuộc chơi Tuy nhiên, mọi cuộc chơi đều có liên quan đến nhau, không có trò chơi nào tồn tại độc lập và riêng lẻ Vì thế, trò chơi của nơi này sẽ ảnh hưởng đến trò chơi của những nơi khác Phạm vi là yếu tố cuối cùng của trò chơi và những nhà kinh tế học thường xây dựng trò chơi thông qua về hệ quả

Trang 19

18

của những trò chơi Ví dụ: Có rất nhiều trò chơi nhỏ, các trò chơi nhỏ hợp lại sẽ trở thành trò chơi lớn Điều này cũng giải thích rất nhiều vấn đề khi người chơi thường bỏ một vài trò chơi nhỏ để tập trung vào trò chơi lớn

Chúng ta có thể thấy rõ điều đó ngay trong ví dụ sau đây:

Vào năm 1989, thị trường máy in tại Mỹ được chia làm ba dòng máy in phân theo thị trường cấp thấp, trung bình, cấp cao lần lượt là: Máy in kim chiếm 80% sản lượng, máy in phun mực chiếm 15% sản lượng, máy in laser chiếm 5% sản lượng Giá bán lẻ của máy in kim là 550 USD, giá của máy in mực là 650 USD và máy in laser có giá là 2.200 USD Vào thời gian đó, Epson kiểm soát thị trường máy in kim trong khi HP nắm giữ thị trường máy in laser và máy in phun mực Đến tháng 8 năm 1989, Epson bước chân vào thị trường laser (Cấp cao) với giá vừa phải Epson đã châm ngòi cho một cuộc chiến về giá bởi vì ngay sau động thái nhảy vào phân khúc do mình làm chủ,

HP đã hạ giá sản phẩm có giá thấp hơn rất nhiều so với Epson Cuộc chiến về giá đã giúp Epson chiếm được 5% thị phần trong phân khúc cấp cao vào tháng 12 năm 1989 Sức ép từ việc giảm giá máy in laser đã khiến HP ngay lập tức phải giảm giá dòng sản phẩm máy in cấp trung bình - Máy in phun mực vì HP không muốn mức giá dòng sản phẩm cấp cao – laser chênh lệch thấp hay ngang bằng với dòng sản phẩm cấp thấp hơn – máy in phun mực Chúng ta cũng đã dự đoán được kết cục của thị trường máy in cấp thấp – máy in kim khi dòng máy in phun mực giảm giá mạnh Nếu Epson không hành động, giá thành của sản phẩm của máy in phun mực sẽ có mực chênh lệch thấp hoặc ngang bằng giá với máy in kim Lúc đó, người tiêu dùng sẽ chuyển qua sử dụng dòng sản phẩm trung bình – máy in phun mực Vì thế, Epson đã phải hạ giá mạnh sản phẩm máy in kim Sau quyết định sai lầm nhảy vào cuộc chiến về giá ở thị trường cấp cao – laser, Epson đã tự bắn vào chân mình vì mảng kinh doanh cốt lõi của Epson bị thu hẹp lại còn một nửa Như vậy, Epson đã chiến thắng trong trò chơi nhỏ - Thị trường máy in cấp cao mà thua cuộc trong trò chơi lớn – Thị trường máy in

2 Biểu diễn trò chơi:

Theo giáo trình môn “Lý thuyết trò chơi” của giảng viên Bùi Dương Hải trong chương trình giảng dạy NEU năm 2010, Lý thuyết trò chơi sẽ được biểu diễn dưới những dạng sau:

a Dạng chuẩn tắc:

Dạng chuẩn tắc sẽ cho chúng ta biết thông tin về những đối thủ (P), chiến lược và lợi ích/thiệt hại (Payoff) của người chơi Dạng chuẩn tắc thường xuất hiện ở những trò chơi mà những người chơi không biết hành động của nhau

Trang 20

19

Người chơi 2 (P2) Chiến lược 1 Chiến lược 2 Chiến lược 3 Chiến

lược 1

Payoff 1 (P2) Payoff 1 (P1)

Payoff 2 (P2) Payoff 1 (P1)

Payoff 3 (P2) Payoff 1 (P1)

Payoff 2 (P2) Payoff 2 (P1)

Payoff 3 (P2)

Payoff 2 (P1) Chiến

lược 3

Payoff 1 (P2) Payoff 3 (P1)

Payoff 2 (P2) Payoff 3 (P1)

Payoff 3 (P2)

Payoff 3 (P1)

b Dạng mở rộng:

Ngoài dạng chuẩn tắc, chúng ta có thể biểu diễn trò chơi ở 1 dạng nữa: Dạng mở rộng Chúng thường được xuất hiện ở những trò chơi mà những người chơi biết rõ hành động của nhau nếu tình huống xảy ra Thông thường, các nhà kinh tế hay sử dụng dạng chuẩn tắc hơn

3 Phân loại trò chơi:

Theo giáo trình môn “Lý thuyết trò chơi” của giảng viên Bùi Dương Hải trong chương trình giảng dạy NEU năm 2010, trò chơi được phân loại như sau

a Dựa vào kết quả trò chơi:

Trò chơi có tổng lợi ích bằng 0:

Trong trò chơi có tổng bằng 0, với bất kỳ chiến lược nào, thu hoạch của tất cả người chơi cộng lại đều bằng 0 Chúng ta có thể thấy những trò chơi có tổng bằng 0 như trò chơi Poker: Số tiền của người thua sẽ chuyển qua số tiền của người thắng, có rất nhiều trò chơi có tổng lợi ích bằng 0, điển hình nhất là những trò chơi bài, cờ vua,

cờ tướng,…

Trò chơi có tổng lợi ích khác 0:

Là những trò chơi mà với từng chiến lược cụ thể, thu hoạch của tất cả người chơi cộng lại khác không Chúng ta có thể thấy những trò chơi có tổng khác không như trò chơi “Chiến tranh lạnh” giữa Liên Xô và Mỹ Kết thúc của cuộc chiến tranh lạnh là mỗi bên gánh chịu tổn thất nặng nề về chi phí cho vũ khí Trong trò chơi giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành sản xuất, tổng lợi ích của trò chơi sẽ có thể khác

Trang 21

20

không vì có thể xảy ra 1 trong 2 trường hợp sau: Cùng thắng (Win – Win) hay cùng thua (Lose- Lose)

b Dựa vào thông tin trò chơi:

Trò chơi thông tin hoàn hảo:

Là trò chơi mà mọi đối thủ đều biết tất cả các nước đi mà tất cả các đối thủ khác

đã thực hiện Thông thường, trò chơi thông tin hoàn hảo chỉ xuất hiện trong những trò chơi có tổng lợi ích khác không, các chiến lược xảy ra tuần tự, một người chơi ra chiến lược rồi chờ người chơi khác ra chiến lược

Trò chơi thông tin không hoàn hảo:

Là trò chơi mà các đối thủ không biết trước được các nước đi của các đối thủ khác Trò chơi thông tin không hoàn hảo được nghiên cứu ở những trò chơi có tổng lợi ích khác không, chúng thường được áp dụng trong kinh tế, đặc biệt là trong kinh doanh

III ÁP DỤNG LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI TRONG KINH DOANH:

Từ năm 1994, khi John Nash nhận giải Nobel kinh tế về trò chơi bất hợp tác, lý thuyết trò chơi đã trở thành 1 công cụ vô cùng hữu hiệu để phân tích kinh tế Những ý nghĩa quan trọng nhất của nó là: Ngã giá, chống độc quyền

Theo quan điểm Adam M Brandenburger và Barry J Nalebuff, trường phái kinh doanh cổ điển: “Thương trường là chiến trường”, nghĩa là tổng lợi ích phải bằng 0: Một bên sẽ giành tất cả, một bên sẽ không còn gì Điều đó được giải thích cho những doanh nghiệp độc quyền của Mỹ vào Thế kỷ XIX – Đầu Thế kỷ XX Qua đó, để giành phần thắng, các doanh nghiệp phải sử dụng tất cả các nguồn lực để khuếch trương danh thế, dùng mọi thủ đoạn để hạ gục đối thủ Biểu hiện kinh điển và rõ ràng nhất là

“Cuộc chiến về giá”, các doanh nghiệp đua nhau giảm giá cho đến lúc 1 trong 2 bên không còn đủ sức kéo dài cuộc chiến nữa Vì thế, trong nhiều trò chơi, mặc dù mục đích bản đầu hướng tới tổng lợi ích bằng 0, tuy nhiên kết quả cuối cùng sẽ là trò chơi tổng lợi ích khác không: Lose – Lose Vì thế, trường phái cổ điển chỉ có thể áp dụng ở những trò chơi có phạm vi nhỏ, bên trong một lãnh thổ hay một quốc gia

Bước sang thế kỷ XXI, khi thế giới có xu hướng mở cửa, kinh tế hội nhập, trường phái kinh doanh mới xuất hiện: “Tranh hợp” Qua đó, các doanh nghiệp hợp tác với nhau để xây chiếc bánh và tranh giành với nhau để chia phần chiếc bánh đó Vì vậy, lý thuyết trò chơi khẳng định vị thế của mình khi có thể xây dựng những trò chơi để các doanh nghiệp vừa có thể đạt lợi nhuận cao mà không phải đánh bật đối thủ của mình ra

Trang 22

đa giá trị gia tăng của mình khi hạn chế cung cấp sản phẩm cho khách hàng như cửa hàng Wal – Mart mặc dù nhu cầu của sản phẩm tăng cao Nitendo độc quyền thị trường trò chơi điện tử lúc bấy giờ Tuy nhiên, với công nghệ 8 bit lạc hậu, mức lợi nhuận cao và sự khan hiếm của thị trường đã thúc đẩy những người chơi mới muốn giành phần bánh với Nitendo Kẻ thách thức đó chính là Sega Thị trường trò chơi điện

tử 8 bit là của riêng Nitendo, những người chơi khác không thể mong đợi kiếm thêm cho dù một mẩu bánh Vì thế, nếu muốn đặt chân vào thị trường trò chơi điện tử, những người chơi mới phải tạo cho mình thị trường ở phân khúc cao hơn phân khúc 8 bit Sega đã làm được điều đó Năm 1988, Sega đã tung ra thị trường dòng sản phẩm chú nhím Sonic trên bộ vi xử lý 16 bit Bộ vi xử lý 16 bit của Sega có rất nhiều ưu điểm vượt trội so với bộ vi xử lý 8 bit của Nitendo như màu sắc, âm thanh tốt hơn,… Ngay lập tức, Sega đã chiếm lĩnh thị trường trò chơi điện tử 16 bit Thực chất, Nitendo

đã hoàn thành xong trò chơi điện tử 16 bit từ năm 1980, nhưng tại sao mãi đến năm

1989, khi Sega đã thống lĩnh thị trường 16 bit được một năm, Nitendo mới cạnh tranh với Sega?

Nếu theo phân tích thông thường, ngay khi Sega vừa phát hành sản phẩm với bộ vi

xử lý 16 bit, Nitendo sẽ phải ngay lập tức nhảy vào cạnh tranh quyết liệt với đối thủ để giành thị phần Tuy nhiên, khi phân tích theo lý thuyết trò chơi, chúng ta sẽ có cái nhìn khác Khi Sega mở ra thị trường 16 bit, Nitendo vẫn còn giữ độc quyền về thị trường 8 bit Nếu ngay lập tức, Nitendo cạnh tranh với Sega, họ sẽ rơi vào cuộc chiến về giá Từ

từ, giá của sản phẩm 16 bit sẽ chênh lệch thấp hay ngang bằng với giá sản phẩm 8 bit Lúc đó, người tiêu dùng sẽ chuyển sang sử dụng sản phẩm 16 bit Người bị thiệt chính

là Nitendo khi họ sẽ bị mất thị trường 8 bit vì cạnh tranh với thị trường 16 bit Vậy, sau một năm nhường thị trường 16 bit cho Sega, Nitendo sẽ được lợi gì? Các dòng sản phẩm 16 bit mới xuất hiện trên thị trường sẽ có giá cao, Nitendo rất muốn giá cao vì họ

Trang 23

22

đang tập trung ăn sạch chiếc bánh 8 bit Trong thời gian một năm, Nitendo sẽ cố gắng vắt kiệt nguồn lợi từ thị trường 8 bit để thị trường 16 bit vẫn đạt giá cao Một năm sau, Nitendo cạnh tranh với Sega ở thị trường 16 bit khi thị trường này đang hoạt động ở giá cao Cuộc chiến về giá để giành thị trường bắt đầu Vì khởi điểm của thị trường 16 bit là giá cao nên phải mất một thời gian dài, giá của dòng sản phẩm 16 bit mới ngang bằng giá sản phẩm 8 bit Trong thời gian cộng thêm đó, Nitendo càng có thể rút kiệt nguồn lợi từ thị trường 8 bit Đối với những nhà phân tích thông thường, chiến lược tốt nhất Nitendo nên đưa ra ngay khi Sega mở thị trường 16 bit là cạnh tranh khi nó bắt đầu Tuy nhiên, đối với một lý thuyết gia trò chơi, chiến lược tốt nhất là vừa có thể ăn hết chiếc bánh 8 bit, vừa có thể tham gia giành thị trường 16 bit

Trang 24

23

Chương II: Sử dụng mô hình lý thuyết trò chơi trong kinh doanh vào phân tích tình hình hoạt động của Vinamilk

I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG SỮA VIỆT NAM:

Kể từ khi doanh nghiệp nước ngoài đầu tiên (Friesland Campina) bước chân vào lĩnh vực kinh doanh sữa tại Việt Nam năm 1995, thị trường sữa tại Việt Nam có xu hướng tăng trưởng rất cao Tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu thị trường sữa chỉ thật sự nghiêm túc kể từ năm 2006 khi sự cạnh tranh gay gắt đến từ các doanh nghiệp sữa nội

và các doanh nghiệp sữa ngoại Theo số liệu của EMI (2009), trong giai đoạn 2004 –

2009, sữa là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong ngành thực phẩm (Tốc độ tăng doanh thu trung bình là 15.3%) với doanh số năm 2009 là 18,503 tỷ đồng Thị trường sữa được chia thành nhiều phân khúc với những thị trường nhỏ hơn: Thị trường sữa bột, sữa nước, sữa chua, sữa đặc,… Trong đó, chỉ có Vinamilk là doanh nghiệp sữa nội duy nhất tham gia vào tất cả thị trường trên

Bảng 1: Những dòng sản phẩm của các doanh nghiệp kinh doanh sữa

Sữa bột Sữa nước Sữa chua Sữa đặc

Trang 25

24

I

II TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA VINAMILK THEO MÔ HÌNH BRANDENBURGER VÀ NALEBUFF:

Mạng giá trị của Vinamilk:

Thị trường nội địa

 Fonterra

 Hoogwegt International BV

 Perstima Bình Dương

 Tetra pak Indochina

 Nguồn nguyên liệu sữa trong nước

 Đội ngũ lao động

Trang 26

25

I

1 Vinamilk:

Đứng giữa mạng giá trị là doanh nghiệp, chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về Vinamilk

để có cái nhìn tổng quát nhất về công ty này Công ty cổ phần sữa Việt Nam có tên giao dịch Quốc tế là: Vietnam Dairy Products Joint – Stock Company Công ty được thành lập năm 1976 trên cơ sở tiếp quản ba nhà máy Sữa của chế độ cũ để lại Công ty

có trụ sở chính tại Số 10 phố Tân Trào, Phường Tân Phú, Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh Cơ cấu tổ chức gồm 17 đơn vị trực thuộc và 1 văn phòng Tổng số Cán bộ công

nhân viên 4,500 người Chức năng chính: Sản xuất sữa và các chế phẩm từ Sữa

Nhiều năm qua, với những nỗ lực phấn đấu vượt bậc, Công ty trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam trên tất cả các mặt Thành tựu của Công

ty đã đóng góp tích cực vào sự phát triển sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước

a Qúa trình hình thành và phát triển:

Giai đoạn 1976 – 1986 :

Sau khi tiếp quản 3 nhà máy Sữa do chế độ cũ để lại sau năm 1975: nhà máy sữa Thống Nhất (tiền thân là nhà máy Foremost); nhà máy sữa Trường Thọ (tiền thân là nhà máy Cosuvina) và nhà máy sữa Bột Dielac (Nestle), tình hình sản xuất gặp nhiều khó khăn phức tạp: máy móc thiết bị hư hại nhiều, phụ tùng thiếu thốn, nguyên liệu trống không Cán bộ công nhân viên đã năng động hiến kế, nhiều giải pháp kỹ thuật ra đời như đổi hàng lấy nguyên liệu cho sản xuất; liên kết với các đơn vị trong nước vừa khôi phục nhà máy, vừa sản xuất và phân phối sản phẩm Trong điều kiện đó, công ty vẫn đảm bảo một lượng hàng nhất định để phục vụ người tiêu dùng, đối tượng chủ yếu là người già, người bệnh và trẻ em Ghi nhận thành tích trong giai đoạn này, năm

1986, công ty được Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng Ba

Giai đoạn 1987 – 2005 :

Thời kỳ 1987 – 1996 : đây là giai đoạn khó khăn trong sản xuất kinh doanh nói chung của đất nước, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp còn khá nặng nề làm giảm nhịp độ phát triển của nền kinh tế Trước tình hình đó, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) ra nghị quyết 217/HĐBT ngày 14/11/1987 về trao quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh cho các xí nghiệp Quốc doanh Theo đó, các xí nghiệp quốc doanh phải tự hạch toán kinh tế, lấy thu bù chi và nhà nước không bù lỗ

Đặc biệt từ năm 1991, nhận thức rõ tầm quan trọng chủ trương của Đảng về “Phát triển Nông – Lâm - Ngư nghiệp gắn với Công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn

Trang 27

26

mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình Kinh tế - Xã hội”, công ty

đã tạo lập vùng nguyên liệu nội địa, đầu tư phát triển chăn nuôi bò sữa trong nông thôn, thực hiện chủ trương của Đảng về liên minh Công – Nông, làm cơ sở cho chuyển dịch cơ cấu Công – Nông nghiệp theo đường lối kinh tế mới của Đảng Cuộc

“Cách mạng trắng” đã được hình thành Với việc đạt nhiều thành tựu theo cơ chế mới, năm 1991, công ty được tặng Huân chương lao động hạng Nhì và năm 1996 được Nhà nước tặng Huân chương lao động Hạng Nhất

Thời kỳ 1996 – 2005: Giai đoạn này công ty đã mở được thị trường xuất khẩu sang các nước Trung đông, thị trường khó tính EU và Bắc Mỹ, kim ngạch xuất khẩu trong 6 năm (bắt đầu xuất khẩu từ 1 năm 1998) đạt 479 triệu đô la Mỹ Năm 2003, công ty chuyển sang hoạt động theo mô hình cổ phần hóa nhằm thực hiện chủ trương của Nhà nước tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều sở hữu

Giai đoạn 2005 – đến nay :

Công ty đã nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm Để đẩy mạnh tăng trưởng, Vinamilk đã chọn hướng đón đầu công nghệ mới, dần dần thay thế sức lao động con người bằng lao động may móc, đi theo cách vận hành của thế giới

Đặc biệt, Vinamilk đã tích cực tham gia vào các công tác hoạt động xã hội, các quỹ từ thiện để giành được cảm tình lớn từ người tiêu dùng trong nước Vậy nên, trong những năm gần đây, Vinamilk đã trở thành doanh nghiệp sữa 1 của Việt Nam

về sữa và nằm trong top 53 doanh nghiệp sữa lớn nhất thế giới

b Tình hình hoạt động của Vinamilk từ 2008 – 2012:

Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng kép bình quân của Vinamilk từ 2008 – 2012

(Tỷ đồng) 2008 2009 2010 2011 2012 CAGR

(%/năm) Tổng doanh thu 8.381 10.820 16.081 22.071 27.102 34% Lợi nhuận trước thuế 1.371 2.731 4.251 4.979 6.930 50%

(Nguồn: Họp định kỳ Đại hội đồng cổ đông Vinamilk, 2013)

Nhìn vào bảng số liệu trên, ta có thể thấy hoạt động kinh doanh của Vinamilk rất thành công Mặc dù phải trải qua một trong những đợt khủng hoảng lớn nhất thời đại: Cuộc đại hủng hoảng 2008, tiếp đó là bất ổn lớn từ nợ công Hy Lạp năm 2009, các doanh nghiệp trên thế giới có xu hướng đi xuống, làm ăn thua lỗ Việt Nam chúng ta cũng không ngoại lệ khi đỉnh điểm năm 2011, có tới 79.000 doanh nghiệp làm ăn thua

lỗ dẫn tới phá sản (Theo Tổng cục Thống Kê, 2011) Vậy mà trong giai đoạn khó

Trang 28

Tài sản ngắn hạn tính đến hết ngày 30/09/2013 là 11.634 tỷ đồng Trong đó, các

khoản mục có tính thanh khoản cao như tiền và tương đương tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn chiếm gần 40% Vinamilk hoàn toàn có khả năng xoay sở tài chính trong điều kiện khó khăn với lượng thời gian ngắn

Tài sản cố định tính đến hết ngày 30/09/2013 đạt 8.360 tỷ đồng Trong kỳ,

Vinamilk đã thực hiện kết chuyển khoảng 3.716 tỷ đồng từ chi phí xây dựng cơ bản

dở dang sang tài sản cố định hữu hình và bắt đầu tính khấu hao, chủ yếu là do 2 siêu nhà máy của Vinamilk đã bắt đầu được đưa vào vận hành

Các khoản đầu tư tài chính dài hạn giảm mạnh từ 593 tỷ xuống còn 248 tỷ sau

một năm (2012-2013) do doanh nghiệp chỉ giữ lại khoản đầu tư vào các công ty liên

Trang 29

28

doanh, liên kết và thanh lý hầu hết các khoản đầu tư dài hạn khác (chủ yếu là đầu tư

cổ phiếu, trái phiếu và đầu tư dài hạn khác)

Nợ phải trả chỉ chiếm 18,3% trên tổng nguồn vốn Trong cơ cấu nợ phải trả thì nợ

ngắn hạn chiếm đến hơn 98%, chủ yếu là các nghĩa vụ phải trả đối với người bán,

người lao động và thuế phải nộp Kể từ năm 2011, doanh nghiệp đã hầu như tất toán

tất cả các khoản vay ngắn và dài hạn

d Sơ đồ tổ chức và cơ cấu quản lý:

Bộ máy tổ chức và quản lý của Vinamilk rất chặt chẽ, tất cả đều phụ thuộc lẫn

nhau Tất cả các ban ngành đều được kiểm tra và quản lý bởi Ban kiểm toán nội bộ và

Tổng giám đốc Đại hội đồng cổ đông quản lý các hoạt động của Hội đồng quản trị

nhưng chỉ trong chừng mực cho phép và dưới sự theo dõi của Ban kiểm soát Ngoài

ra, Ban Kiểm soát cũng có nhiệm vụ theo dõi mọi hoạt động của Kiểm toán nội bộ

Có thể thấy, tất cả các bộ phận trong bộ máy của Vinamilk đều gắn kết với nhau, mỗi

hoạt động của bộ phận này đều được giám sát bởi các bộ phận khác Vì thế, rất ít khi

thấy sai phạm của các nhân viên và phòng ban của Vinamilk Tuy nhiên, khi chú ý kỹ,

Trang 30

29

ta sẽ phát hiện ra ở khâu quản lý giữa hội đồng quản trị và Tổng giám đốc, ta không thấy bất kỳ sự kiểm soát của bên thứ 3 nào cả Nguyên nhân là người giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc là một người: Bà Mai Kiều Liên

Nhắc đến một doanh nghiệp, ngay lập tức, chúng ta sẽ tập trung chú ý vào những người lãnh đạo Nhắc đến Vinamilk, chúng ta phải nhắc đến người phụ nữ đầy quyền lực: Mai Kiều Liên Gắn bó với Vinamilk từ năm 1976, làm Tổng giám đốc công ty năm 1992, trở thành Chủ tịch Hội đồng quản trị năm 2003, bà Mai Kiều Liên là người

có tiếng nói lớn trong công ty, vạch ra chiến lược hoạt động kinh doanh để biến Vinamik trở thành thương hiệu sữa số 1 tại Việt Nam hiện nay Bà là một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc nhất tại Việt Nam và nằm trong Top 50 nữ doanh nhân quyền lực nhất Châu Á tính đến tháng 3/2012

e Sản phẩm:

Vinamilk thực hiện chiến lược đa dạng hóa khi tung ra hơn 200 nhãn hiệu lớn nhỏ trên thị trường bằng những sản phẩm từ sữa: Sữa bột, sữa nước, sữa chua, sữa đặc, nước uống giải khát,… tại mọi phân khúc Đây là chiến lược “Bỏ trứng nhiều giỏ”, giảm thiểu rủi ro cho công ty trong những điều kiện xấu

Bên cạnh đó, Vinamilk cũng tập trung vào vài sản phẩm chủ chốt và chiến lược của công ty, tạo dựng thương hiệu cho: Sữa bột Dielac, sữa tươi 100%, sữa đặc Ông Thọ, nước giải khát V Fresh

f Nhà máy và trang trại:

Vinamilk hiện có 13 nhà máy quy mô khác nhau trên cả nước Trong đó có 2 siêu nhà máy thuộc loại bậc nhất Đông Nam Á: Nhà máy sữa bột Việt Nam có công suất thiết kế 54.000 tấn/năm và Nhà máy sữa Việt Nam với công suất thiết kế 400 triệu lít sữa/năm

Vinamilk hiện sở hữu 5 trang trại bò sữa với quy mô 8.200 con, cung cấp 90 tấn sữa/ngày (Con số quá nhỏ để đáp ứng nguồn cung)

g Các công ty con và công ty liên kết nước ngoài:

Vinamilk được đánh giá cao hơn khi sở hữu những người bổ trợ là các công ty con

và công ty liên kết danh tiếng Vì những doanh nghiệp này không những là nguồn cung cấp sữa cho Vinamilk mà còn có tác dụng đánh bóng cho Vinamilk trên trường quốc tế và đặc biệt là ngay tại thị trường trong nước với tâm lý sính ngoại của người tiêu dùng tại Việt Nam

 Đầu tư vào công ty sữa Miraka (New Zealand)

Trang 31

30

 Mua lại công ty Driftwood (Mỹ)

 Liên kết với nhà phân phối sản phẩm BPC Trading (Campuchia)

h Hệ thống tủ đông, tủ lạnh:

Tại các điểm bán lẻ trên toàn quốc của mình, Vinamilk có lợi thế rất lớn nhờ hệ thống tủ đông, tủ lạnh Hệ thống này giúp cho người tiêu dùng đánh giá cao sản phẩm của Vinamilk hơn sản phẩm của những doanh nghiệp sữa khác khi các sản phẩm của các doanh nghiệp sữa ngoài Vinamilk chỉ trưng bày ở bên ngoài, tạo cảm giác chuyên nghiệp trong khâu bảo quản sản phẩm của Vinamilk

2 Nhà cung cấp:

a Fonterra:

Fonterra là một tập đoàn đa quốc gia hàng đầu trên thế giới trong lĩnh vực về sữa

và xuất khẩu các sản phẩm sữa, tập đoàn này nắm giữ 1/3 khối lượng mua bán trên toàn thế giới Đây chính là một trong những nhà cung cấp chính bột sữa chất lượng cao cho nhiều công ty nổi tiếng trên thế giới cũng như Công ty Vinamilk

Fonterra là "người khổng lồ trong làng sữa" khi cung cấp khoảng 80% nguyên liệu sữa cho toàn thế giới, nên hầu hết các công ty sản xuất, chế biến sữa lớn đều nhập từ hãng này

Hiện nay Fonterra là một trong hai nhà cung cấp nguyên liệu sữa lớn nhất của Vinamilk Vì thế, tầm ảnh hưởng của Fonterra đối với Vinamilk là vô cùng to lớn Để đặt mối quan hệ hợp tác với Fonterra đã khó, trong trường hợp Fonterra có động thái ngừng cung cấp nguyên liệu cho Vinamilk hay Fonterra gặp vấn đề gì đó với sản phẩm của mình thì Vinamilk sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn

Ngày 3/8/2013, Fonterra chính thức thông báo nguyên liệu sữa của mình nhiễm khuẩn “Whey prottein concentrate” Ngay lập tức, Vinamilk khẳng định không nhập khẩu nguồn nguyên liệu “Whey protein concentrate” từ Fonterra mà nhập khẩu từ Mỹ

và Eu Fonterra đã xác nhận thông tin này là đúng Sự việc trên cho chúng ta thấy giá trị gia tăng của Fonterra đối với Vinamilk là rất lớn Ngay cả khi biết nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ Fonterra nhiễm khuẩn, Vinamilk cũng chưa thể tìm được các nhà cung cấp khác

b Hoogwegt International:

Hoogwegt International đóng vai trò quan trọng trên thị trường sữa thế giới và được đánh giá là một đối tác lớn chuyên cung cấp bột sữa cho nhà sản xuất và người tiêu dùng ở Châu Âu nói riêng và trên toàn thế giới nói chung Với hơn 40 năm kinh

Trang 32

Hoogwegt International là một phần của Hoogwegt Group, một nhóm sữa toàn cầu với doanh thu hàng năm hơn 2 tỷ euro Bao gồm tất cả các châu lục, Tập đoàn Hoogwegt là một đối tác nổi tiếng trong việc tiếp thị của các thành phần sữa, sữa lỏng, pho mát, và các thành phần chức năng Hoogwegt International là công ty điều hành lớn nhất của nhóm

Hoogwegt duy trì các mối quan hệ với các nhà sản xuất hàng đầu và tăng cường mối quan hệ này thông qua các buổi hội thảo phát triển sản phẩm mới hơn là đưa ra các yêu cầu với đối tác Vinamilk và các công ty nổi tiếng trên toàn thế giới đều có mối quan hệ chặt chẽ với Hoogwegt

Việc bắt tay với Hoogwegt International chứng tỏ rằng Vinamilk đã có ý định giảm giá trị gia tăng của Fonterra Đây là chiến lược “bỏ trứng vào nhiều giỏ”, hạn chế rủi ro

Hai nhà cung cấp lớn Fonterra và Hoogwegt International cung cấp nguyên vật liệu sữa bột cho Vinamilk Trong khi đó, nguồn nguyên liệu nhập khẩu của Vinamilk từ hai nhà cung cấp này chiếm 70% tổng nguồn nguyên liệu của Vinamilk Fonterra và Hoogwegt đang có giá trị gia tăng rất lớn đối với Vinamilk vì nếu không có nguồn nguyên liệu của hai nhà cung cấp này, hệ thống sản xuất sữa bột của Vinamilk hoàn toàn bị sụp đổ trong một thời gian vì không thể kiếm được nguồn nguyên liệu sữa thay thế tạo sản phẩm cung ứng cho thị trường Đối với một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm, đánh mất thị trường trong thời gian ngắn báo hiệu sự sụp đổ của doanh nghiệp trong tương lai

c Tetra Pak Indochina:

Tetra Pak là một trong những công ty chuyên cung cấp giải pháp về công nghệ trong chế biến và đóng gói thực phẩm dạng lỏng Và ngày nay, Tetra Pak là công ty hàng đầu trên thế giới trong lĩnh vực này

Trang 33

32

Tetra Pak Indochina luôn kết hợp chặt chẽ với khách hàng và nhà cung cấp để đưa

ra những giải pháp an toàn, sáng tạo và thân thiện với môi trường, đáp ứng được nhu cầu của người dân trên hơn 170 quốc gia trên toàn thế giới

Hiện nay, các sản phẩm sữa tươi tiệt trùng của Vinamilk đang sử dụng bao bì của Tetra Pak Indochina, các loại bao bì này đều được sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại, tiên tiến bậc nhất thế giới Các sản phẩm sữa thành phẩm sau đó được đóng gói trong bao bì giấy tiệt trùng 6 lớp ở môi trường hoàn toàn vô trùng, trong đó mỗi lớp sẽ có một chức năng khác nhau

Giá trị gia tăng của Tetra Pak đối với Vinamilk là tương đối lớn vì các doanh nghiệp đã có thương hiệu trong lĩnh vực này là không nhiều Tetra Pak còn có ảnh hưởng đến một chiến lược phát triển của Vinamilk:

Ngày 10.9.2013, tại Bình Dương, Công ty Vinamilk đã tổ chức lễ khánh thành Công trình Nhà máy sữa Việt Nam Đây là một trong những nhà máy sản xuất sữa nước hiện đại bậc nhất Thế giới được Vinamilk đầu tư chuyên sản xuất sữa nước cho thị trường trong nước và xuất khẩu Điều đáng nói ở đây là công trình này Vinamilk

đã liên kết, sử dụng công nghệ của Tetra Pak Vì thế, thật không quá lời khi Tetra Pak

đã giúp Vinamilk từng bước vươn lên tầm thế giới

Trang 34

33

tăng rất lớn Về lâu dài, doanh nghiệp sẽ phải phụ thuộc vào những lao động trình độ cao ít ỏi Vì thế, Vinamilk đã rất thành công trong công tác phân bổ lao động, không

có lao động nào có giá trị giá trị gia tăng lấn át, tất cả lao động sẽ phải nỗ lực hết mình

để giữ được một vị trí trong công ty

e Nguồn nguyên liệu sữa trong nước:

Mặc dù có một hệ thống trang trại riêng nhưng Vinamilk chưa thể tự chủ nguồn cung Vì vậy, Vinamilk phải thu mua nguyên liệu sữa từ các hộ nuôi bò trong nước khi liên kết với 5.000 hộ nuôi bò và hơn 61.000 con trên cả nước để thu mua trung bình 460 tấn sữa/ngày Trong năm 2013, Vinamilk đã tiêu thụ tổng cộng khoảng 201.000 tấn sữa nguyên liệu, chiếm 48% lượng sữa tươi nguyên liệu của các nước

 Tỉ lệ tự chủ nguyên liệu (thu mua và tự cấp) của Vinamilk đạt 28% - 30%

Nguồn nguyên liệu tự cung của Vinamilk còn rất hạn chế, thấp hơn rất nhiều so với nguồn nguyên liệu thu mua trong nước Trong khi đó, Vinamilk còn gặp phải sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp sữa tươi khác để thu mua nguyên liệu sữa từ các hộ chăn nuôi bò sữa, đặc biệt là Friesland Campina Vì vậy, giá trị gia tăng của các chủ

hộ nuôi bò trong cả nước đối với Vinamilk là khá lớn vì nếu không có nguồn nguyên liệu sữa trong nước, Vinamilk sẽ sẽ phải nhập thêm nguyên liệu từ nước ngoài, giá cả

sẽ lớn hơn rất nhiều

f Vùng nguyên liệu tự chủ của Vinamilk:

Về dự án phát triển vùng nguyên liệu, lợi nhuận đem lại cho công ty không cao nhưng nó là sự bổ trợ vô cùng to lớn đối với doanh nghiệp vì trong dài hạn, Vinamilk

có thể tự cung nguồn nguyên liệu sữa nếu phát triển mô hình nông trại.Theo nguồn tin

từ Vinamilk, Công ty đang quản lý 5 trang trại bò sữa, bao gồm trang trại Tuyên Quang, Nghệ An, Thanh Hóa, Bình Định và Lâm Đồng với tổng diện tích 170ha và

tổng đàn có 8.200 con

3 Khách hàng:

a Thị trường nội địa:

Trong giai đoạn 5 năm vừa qua (2008 – 2013), tiêu thụ trong nước chiếm đến 87% tổng doanh thu cả Vinamilk với tốc độ tăng trưởng bình quân (CAGR) đạt 31.2%

Trang 35

34

Đồ thị 3: Hai kênh phân phối sản phẩm của Vinamilk

(Nguồn: Vinamilk, 2013))

Vinamilk có 2 kênh phân phối chủ yếu tại thị trường nội địa:

 Kênh phân phối truyền thống: 240 nhà phân phối và hơn 200.000 điểm bán

lẻ khắp cả nước Các khách hàng của Vinamilk có trong tay rất ít giá trị gia tăng bởi vì Vinamilk là một doanh nghiệp lớn, làm nhà phân phối của Vinamilk rất khó, nếu có điểm bán lẻ nào rút lui thì sẽ có các điểm bán lẻ khác sẵn sàng nhảy vào cuộc Tuy nhiên, một vài điểm bán lẻ tại những khu vực phát triển cao như tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,… có giá trị gia tăng lớn hơn cả vì nếu để mất họ, Vinamilk sẽ có thể bị mất điểm bán lẻ chiến lược vào tay những đối thủ cạnh tranh trực tiếp

 Kênh phân phối hiện đại: Hệ thống siêu thị và các cửa hàng chuyên doanh

 Ngoài ra còn có một số nhỏ phân phối trực tiếp đến các khách hàng là các khách hàng, xí nghiệp, khu vui chơi giải trí

Trang 36

35

b Thị trường xuất khẩu:

Hoạt động xuất khẩu sữa sang các nước chiếm khoảng 13% doanh thu của Vinamilk

Các thị trường xuất khẩu của Vinamilk:

 ASEAN:Cambodia, Philippines, Việt Nam

 Trung Đông: Iraq, Kuwait, UAE

 Phần còn lại: Úc, Maldives, Suriname, Mỹ

c Khách hàng khác:

 State Company for Foodstuff Trading,Baghdad (24.2% doanh thu năm

2005, 18.2% doanh thu năm 2006)

 Abdulkarim Alwan Foodstuff Trading (LLC) (5.1% doanh thu năm 2007)

4 Đối thủ cạnh tranh:

a Thị trường sữa bột:

Thị trường sữa bột là sân chơi của các doanh nghiệp sữa ngoại Nếu so sánh với các doanh nghiệp sữa bột trong nước, Vinamilk hoàn toàn không có đối thủ ở phân khúc này

Trang 37

36

(Nguồn: Bộ Công Thương, 2012)

Vinamilk hiện tại gặp rất nhiều khó khăn khi phải cạnh tranh với các doanh nghiệp sữa nước ngoài về phân khúc đem lại lợi nhuận rất lớn này Tính đến tháng 7/2013, Vinamilk chiếm thị phần khoảng 30% về mặt sản lượng, 18% về mặt giá trị Thị trường sữa bột tại Việt Nam mang tính “Độc quyền nhóm” tiêu biểu cho thị trường sữa Việt Nam nói chung khi 70% thị phần còn lại rơi vào tay các doanh nghiệp sữa ngoại, tiêu biểu là Abbott, Mead Johnson, Friesland Campina Các doanh nghiệp sữa bột ngoại kể trên đều là những thương hiệu lớn trên trường quốc tế Thêm vào đó, với tâm lý sính ngoại của người tiêu dùng Việt Nam, các doanh nghiệp sữa bột nổi tiếng nước ngoài có giá trị gia tăng rất lớn

b Thị trường sữa nước:

Trang 38

37

(Nguồn: Nielsen, 2013)

Theo đánh giá của Nielsen Việt Nam (Công ty nghiên cứu thị trường) thì đến tháng 7/2013, thị phần sữa nước hiện nay chủ yếu nằm trong tay của Vinamilk và Friesland Campina Tuy nhiên Thị trường sữa nước còn có sự thách thức lớn đến từ Tập đoàn TH Chỉ trong 3 năm hoạt động từ 2010 – 2013, Tập đoàn TH đã giành được 8% thị phần Trong tương lai, TH sẽ là đối thủ đáng gờm đối với Vinamilk

c Sữa chua:

Theo Vinamilk, doanh nghiệp này đang chiếm lĩnh thị trường sữa chua tại Việt Nam với 90% thị phần Phần còn lại thuộc về Friesland Campina, TH – True Milk và các doanh nghiệp khác

Đối thủ chính của Vinamilk ở ở phân khúc sữa chua là Friesland Campina và

“hiện tượng” TH – True Milk

d Sữa đặc:

Theo Vinamilk, hiện nay doanh nghiệp này vẫn đang chiếm lĩnh ở phân khúc sữa đặc với 75% thị phần

Friesland Campina và các doanh nghiệp khác chiếm khoảng 25% thị phần còn lại

và Friesland Campina cũng là đối thủ chính của Vinamilk trên phân khúc sữa đặc

Trang 39

sự đến từ các doanh nghiệp sữa hàng đầu thế giới

Trang 40

(Nguồn: HSX, Báo cáo tài chính, 2013)

Trên đây là bốn doanh nghiệp mang lại lợi nhuận cao nhất cho SCIC trong 7 tháng đầu năm 2013 Trị giá của Vinamilk cao vượt trội so với ba doanh nghiệp còn lại Theo bảng xếp hạng 1,000 doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất năm 2013 (V1.000) được Vietnam Report công bố, CTCP Sữa Việt Nam – Vinamilk đứng thứ tám trong mười doanh nghiệp đứng đầu đóng thuế thu nhập doanh nghiệp nhiều nhất năm 2012 với hơn 2,900 tỉ đồng

Do đó, giá trị gia tăng của Vinamilk đối với SCIC là rất lớn Nếu "SCIC không Vinamilk" thì lợi nhuận của SCIC sẽ mất đi một khoản cổ tức tới 1,000 tỷ, chiếm 25% toàn bộ lợi nhuận của SCIC Và quan trọng hơn, giá trị thị trường danh mục đầu tư của SCIC sẽ chỉ còn 5,995 tỷ đồng thay vì 58,969 tỷ đồng trong bốn công ty đem lại lợi nhuận lớn nhất cho SCIC, kéo theo giá trị tăng thêm của danh mục đầu tư so với giá trị đầu tư ban đầu sẽ chỉ bằng 1/8 so với hiện tại Nói cách khác, nếu không nhờ vào cổ phiếu Vinamilk, thành tích hoành tráng của SCIC công bố hồi đầu năm sẽ bị

"thổi bay" Tệ hơn nữa, SCIC sẽ mất đi mộ thương hiệu Việt đang ngày càng vươn ra tầm quốc tế (Vinamilk hiện xếp thứ 53 các doanh nghiệp ngành sữa thế giới)

Nhìn vào chiều ngược lại, “Giá trị gia tăng” của SCIC đối với Vinamilk là như thế nào?

Chúng ta sẽ nhìn một chút về SCIC: Với chức năng quản lý, đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, sự ra đời của SCIC nằm trong tiến trình cải cách kinh tế nói chung và cải cách doanh nghiệp nhà nước nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước SCIC là đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp, thực hiện đầu

tư vào các ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế nhằm tăng cường vai trò chủ

Ngày đăng: 25/11/2020, 21:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w