1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thái trên địa bàn tỉnh nghệ an

117 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 734,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan, Luận văn Thạc sĩ quản lý công: “Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HÀ THỊ THÙY LINH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA DÂN TỘC THÁI

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 8 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THỊ HƯỜNG

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, Luận văn Thạc sĩ quản lý công: “Quản lý nhà nước

về văn hóa dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên

cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Hường, Phó trưởng khoaQuản lý nhà nước về Xã hội - Học viện Hành chính Quốc gia

Các thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực

Tác giả

HÀ THỊ THÙY LINH

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1.CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ 9

1.1 Khái quát chung về văn hóa dân tộc thiểu số tại Việt Nam 9

1.1.1 Khái niệm cơ bản về văn hóa 9

1.1.2 Khái niệm dân tộc thiểu số và văn hoá dân tộc thiểu số 11

1.1.3 Nhận diện văn hoá dân tộc thiểu số 13

1.1.4 Những vấn đề đặt ra đối với văn hoá dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay 15

1.2 Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số 17

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số 18

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước đối về văn hóa dân tộc thiểu số 20

1.2.3 Những yêu cầu chung về quản lý Nhà nước đối với văn hoá dân tộc thiểu số 25

1.2.4 Sự cần thiết trong quản lý về văn hoá dân tộc thiểu số 26

1.2.5 Vai trò của Nhà nước đối với việc quản lý văn hoá dân tộc thiểu số 28

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về văn hoá dân tộc Thái tại một số địa phương 28

1.3.1 Kinh nghiệm rút ra quản lý và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Thái một số địa phương 31

1.3.2 Kinh nghiệm thực tế đối với quản lý văn hoá dân tộc thiểu số tại địa bàn Nghệ An 32

Tiểu kết chương 1 33

Trang 6

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA DÂN

TỘC THÁI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 34

2.1 Khái quát về văn hóa dân tộc Thái tại Nghệ An 34

2.1.1 Đặc điểm dân tộc Thái tại Nghệ An 34

2.1.2 Văn hoá dân tộc Thái Nghệ An 37

2.1.3 Những thách thức trong điều kiện hiện nay 40

2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc Thái tại Nghệ An 41

2.2.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật đối với việc phát triển văn hóa dân tộc Thái 41

2.2.2 Huy động các nguồn lực trong việc bảo tồn phát triển văn hóa dân tộc Thái 43

2.2.3 Thanh tra, kiểm tra xử lý các hoạt động về văn hóa dân tộc Thái 44

2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An 46

2.3.1 Ưu điểm 46

2.3.2 Hạn chế 50

2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại trên 57

2.3.4 Những vấn đề đặt ra cần được giải quyết 59

Tiểu kết chương 2 62

Chương 3.QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA DÂN TỘC THÁI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 63

3.1 Quan điểm, mục tiêu quản lý nhà nước về văn hoá dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An 63

3.1.1 Quan điểm chung về quản lý nhà nước đối với văn hoá dân tộc thiểu số 63

3.1.2 Quan điểm về quản lý nhà nước về văn hoá dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Nghệ An 65

Trang 7

3.2 Mục tiêu và một số định hướng lớn trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc

văn hóa của dân tộc Thái ở Nghệ An hiện nay 70

3.2.1 Mục tiêu giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở Nghệ An hiện nay 70

3.2.2 Những định hướng lớn nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở Nghệ An hiện nay 75

3.3 Một số giải pháp quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An 77

3.3.1 Hoàn thiện chính sách, pháp luật về văn hóa 77

3.3.2 Tăng cường chất lượng bộ máy quản lý nhà nước 80

3.3.3 Huy động nguồn lực xã hội trong quản lý văn hóa dân tôc Thái 83

3.3.4 Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý trong quản lý văn hóa dân tộc Thái 90

3.3.5 Mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa 93

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 102

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT

1 BCH

2 CLB

: Ban chấp hành: Câu lạc bộ

3 CNH-HDH: Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

: Nghị quyết- Trung ương: Nghị định- Chính phủ: Hỗ trợ phát triển chính thức: Ủy ban Nhân dân

14 VHTTDL:Văn hóa thể thao du lịch

15 VH - TT : Văn hóa - Thể thao

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Văn hóa dân tộc là linh hồn, là giá trị tinh thần to lớn đối với mỗi dân tộc,được đúc kết qua hàng thế kỷ Trong những năm gần đây, tình hình thế giới đầybiến động, xu thế toàn cầu hóa đang như một cơn lốc cuốn hút tất cả các quốc giatrên thế giới Việt Nam không thể đứng ngoài dòng chảy này Sự phát triển và dunhập văn hóa có mặt tiêu cực và tích cực tới nền văn hóa cộng đồng các dân tộcViệt Nam, trong đó có văn hóa dân tộc Thái ở Nghệ An

Dân tộc Thái tại tỉnh Nghệ An là một trong những thành phần dân tộcthiểu số chiếm tỷ lệ lớn nhất, với những giá trị văn hóa phong phú, độc đáo vàchứa đựng những giá trị tinh thần to lớn

Bên cạnh những giá trị tốt đẹp trong văn hóa truyền thống của ngườiThái, còn có những yếu tố không phù hợp với thời đại Trước tác động củanền kinh tế thị trường, sự giao lưu văn hóa giữa các vùng miền, nền văn hóatruyền thống cộng đồng dân tộc Thái ở Nghệ An chịu ảnh hưởng không hềnhỏ Tình trạng mai một, pha trộn, lai căng về văn hoá dẫn đến nguy cơ đánhmất bản sắc riêng

Bên cạnh đấy sự bùng nổ của tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự phát triển đadạng của các phương tiện nghe nhìn, sự phát triển nhanh về kinh tế - xã hộicủa địa phương đã làm thay đổi phương thức sản xuất, nếp sống, phong tục,tập quán các dân tộc thiểu số trên địa bàn, tập quán các DTTS trên địa bàntỉnh, sự giao lưu văn hoá giữa các vùng miền phần nào làm cho văn hoá có sựthay đổi lớn trên nhiều phương diện

Hiện nay, Đảng và nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sáchnhằm phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa truyền thống dân tộc trên khắp cảnước, tạo điều kiện cho các vùng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyềnthống dân tộc riêng Đẩy mạnh sự đóng góp cho sự phát triển đồng đều giữa

Trang 10

các vùng miền trong thời kỳ hội nhập và đẩy mạnh kinh tế CNH - HĐH đấtnước.

Mặt khác, xu thế tìm hiểu, giữ gìn và phát triển văn hóa đang được pháthuy mạnh ở tại các huyện miền núi của Nghệ An Trước tình hình đó, việcquản lý giữ gìn văn hóa, bản sắc dân tộc Thái ở Nghệ An là vấn đề có tínhthiết yếu, cấp bách nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, cùng với niềm

tự hào với những bản sắc của một người con dân Thái, để đóng công sức nhỏ

bé vào mục tiêu cả nước nói chung, và tỉnh Nghệ An nói riêng, tôi chọn đề tài

“ Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An”

cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ quản lý công

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Lĩnh vực văn hoá dân tộc thiểu số đã nhận được sự quan tâm nghiêncứu, tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam

Cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam" của GS.TS Trần Ngọc Thêm (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001) đã tái hiện bức tranh tổng quan về văn

hóa Việt Nam, đề cập đến một số lĩnh vực văn hóa như văn hóa vật chất, vănhóa tinh thần và các vùng văn hóa Việt Nam

"Bản sắc văn hóa Việt Nam" của Phan Ngọc, Nxb Văn hóa thông tin,

2004 Cuốn sách đã làm rõ bề dày văn hóa của con người Việt Nam, bản sắcvăn hóa Việt Nam trong giao lưu văn hóa, nền tảng của giao lưu quốc tế.Đồng thời, đặt ra vấn đề bảo vệ và phát huy văn hóa trong cuộc tiếp xúc vănhóa hiện nay

“Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam” PGS.TS Nguyễn Quốc Phẩm - GS.TS Trịnh Quốc Tuấn, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội (1999), Các tác giả đưa ra sự lý giải về một số khái niệmliên quan đến vấn đề dân tộc và trình bày thực tiễn vấn đề dân tộc và chínhsách dân tộc Việt Nam hiện nay

Trang 11

Nghiên cứu dưới góc độ văn hoá các dân tộc thiểu số có các công trình;

“Tìm hiểu các văn hóa vùng các dân tộc thiểu số” của Lò Giàng Páo,

Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997

"Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam" của Ngô Văn Lệ, Nxb Giáo

dục, Hà Nội, 1998, cuốn sách đã giới thiệu những nét văn hóa của cộng đồng cácdân tộc Việt Nam và ý nghĩa của nó trong đời sống tinh thần của con người

"Bản sắc văn hoá dân tộc”, Nxb Văn hóa Thông tin, 2003, trong đó tác

giả Hồ Bá Thâm đã đề cập đến bản sắc và động lực phát triển của văn hoá,văn hoá và bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, tư duy triết học trong văn hoátruyền thống

“Nét đẹp văn hoá các dân tộc thiểu số” của tác giả Vi Hoàng, Nxb Văn

hoá dân tộc, năm 2008.Tác giả giới thiệu những nét đẹp trong văn hoá ứng xửcủa đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam, bao gồm ứng xử giữa con ngườivới người, ứng xử giữa con người với loài vật và ứng xử giữa con người vớithiên nhiên

Nghiên cứu văn hóa dân tộc Thái có các công trình:

Theo “Lịch sử văn hóa tộc người Thái Việt Nam là một bài viết (tiêu đề gốc: Lịch sử văn hóa tộc người) trong sách Văn hóa tộc người Thái do nhà xuất bản quân đội nhân dân xuất bản năm 2010, các tác giả đã phân tích lịch

sử văn hóa tộc người Thái Việt Nam nêu tổng quan nhất về dân tộc Thái tạiViệt Nam, bao gồm: lịch sử hình thành các nhóm Thái, văn tự, sơ lược lịch sửngười Thái Việt Nam chung nhất từ khoảng thế kỷ XI

“Các dân tộc ở Việt Nam tập 2 Nhóm ngôn ngữ Tày-Thái kađai của

Vương Xuân Tình (chủ biên), 2016, Cuốn sách là tập thứ hai của bộ sách 4

tập : “Các dân tộc ở Việt Nam”.Tiếp theo tập 1, ở tập 2 tác giả đã trình bày

tình hình nghiên cứu của mỗi dân tộc trong đó có nhóm ngôn ngữ Tày-Tháikadai, gồm 12 dân tộc: Tày, Thái, Nùng, Sán chay (Cao Lan-Sán Chi), Giáy,Lào, Lự, Bố Y, La Chí, La Ha, Cơ Lao, Pu Péo Đồng thời đi sâu phân tích

Trang 12

hoạt động kinh tế, đời sống xã hội, văn hoá và những biến đổi của mỗi dân tộctrong bối cảnh mới

Theo “Văn hóa tộc người Thái”, Nxb Quân đội nhân dân năm 2016

(Cầm Trọng - Chu Thái Sơn Chủ biên) tác giả viết về lịch sử hình thành,những nét văn hoá nổi bật nhất của người Thái Đồng thời phân tích xu hướngphát triển văn hoá trong thời kỳ sắp tới

“Văn hóa Thái Việt Nam”, Cầm Trọng, Phan Hữu Dật, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1995 “Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam hiện nay” Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1996 “Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An”, của

Nguyễn Đình Lộc, Nxb Nghệ An, 2009 nêu cụ thể các văn hóa dân tộc thiểu

số trên địa bàn tỉnh Nghệ An

“Đặc trưng văn hoá và truyền thống cách mạng các dân tộc ở Kỳ Sơn Nghệ An” của tác giả Trần Tất Chủng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1995,

-tác giả đã trình bày về đặc trưng và truyền thống cách mạng của các dân tộc ở

Kỳ Sơn - Nghệ An Khái quát về thiên nhiên và con người của các dân tộcThái, Khơ-mú, Hmông, nghiên cứu từng dân tộc về các mặt kinh tế, xã hội,hôn nhân và văn nghệ dân gian Đồng thời tập trung nghiên cứu về truyềnthống cách mạng của các dân tộc từ trước tới nay, điều xây dựng nên nền vănhoá truyền thống tốt đẹp

“Một số nét khái quát về dân tộc Thái Quỳ Châu - Nghệ An” của nhà

nghiên cứu Vi Ngọc Chân trong sách Văn hóa và lịch sử người Thái ở ViệtNam - Đại học Quốc gia Hà Nội - 1998.Tác giả phân tích và làm rõ các nétđẹp, lịch sử hình thành, quan niệm trong văn hoá dân tộc Thái đặc sắc vùngQuỳ Châu, Nghệ An

Ngoài ra, còn có rất nhiều bài viết bàn về vấn đề này được đăng tải trêncác tạp chí Dân tộc học, Nghiên cứu lịch sử Có thể nói, các công trình đều

đã đi vào khai thác những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa, văn hóa cácdân tộc thiểu số, văn hóa của các dân tộc ở nước ta

Trang 13

Liên quan đến quản lý nhà nước về văn hoá dân tộc thiểu số, cũng cónhiều công trình nghiên cứu đề cập đến.

Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công “Quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Thái vùng Tây Bắc - Nghệ An”, của

Nguyễn Anh Tuấn, Hà Nội, 2013 Luận văn đã rà soát và hệ thống hoá cácvăn bản quản lý nhà nước ở vùng Tây Bắc - Nghệ An, cũng như chỉ ra thựctrạng của hoạt động quản lý cũng như những bất cập, đồng thời đưa ra một sốgiải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả quản lý về bảo tồn và phát huy bảnsắc văn hoá dân tộc nói chung và văn hoá dân tộc Thái vùng Tây Bắc - Nghệ

Hà Mạnh Thắng (2014), “Quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động hệ thống trung tâm văn hoá, thể thao, du lịch trong giai đoạn hiện nay” - Luận

văn thạc sỹ quản lý hành chính công Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạnghoạt động quản lý nhà nước của Bộ VHTTDL về tổ chức và hoạt động hệthống thể thao, văn hóa trong thời gian qua, đề xuất một số phương hướng,nâng cao hiệu quả quản lý

Nhìn chung các công trình, tác phẩm đã đi khai thác những đặc điểmchung về bản sắc văn hóa dân tộc Thái, bước đầu tiếp cận về các hoạt động

Trang 14

quản lý nhà nước đối với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộcThái trên địa bàn một vùng lãnh thổ thuộc Nghệ An Chính vì vậy đề tài

"Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc Thái tại Nghệ An" không bị trùng lặp

với bất cứ công trình nghiên cứu nào đã được công bố trước đó

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Nghiên cứu văn hóa dân tộc Thái và thực trạng quản lý nhà nước vềvăn hóa dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An làm cơ sở đề xuất các giảipháp hữu hiệu trong quản lý nhà nước nhằm quản lý, bảo tồn, ý thức tìm hiểubảo tốt các giá trị tốt đẹp và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở Nghệ Antrong bối cảnh hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Để triển khai đề tài, luận văn sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Một là: Xây dựng cơ sở lý luận về văn hóa dân tộc Thái, quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc Thái

- Hai là: Phân tích và đánh giá về văn hóa cộng đồng dân tộc Thái trênđịa bàn tỉnh Nghệ An và thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc Thái

ở Nghệ An hiện nay

- Ba là: Đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An phù hợp với thực tiễn và xu thế phát triển

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu tìm hiểu về các nội dung xâydựng chính sách pháp luật, tổ chức bộ máy nhà nước, huy động nguồn lực và

Trang 15

hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý trong quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc nói chung, dân tộc Thái nói riêng.

- Phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tìm hiểu cứu hoạtđộng quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An.(Tập trung ở vùng Tây Bắc Nghệ An)

- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước

về văn hóa dân tộc Thái giai đoạn 2002 đến nay (2019)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, quy nạp, diễn dịch, so sánh nhằm thực hiện mục tiêu mà đề tài đặt ra

- Tham khảo cán bộ văn hóa và các chuyên gia dân tộc học tại địa phương

6 Đóng góp khoa học của luận văn

Trang 16

+ Tái hiện bức tranh toàn cảnh về văn hóa dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An;

+ Cung cấp nguồn tài liệu sơ cấp về văn hóa dân tộc Thái trên địa bàntỉnh Nghệ An, là tài liệu tham khảo hữu ích cho hoạt động quản lý nhà nước

về văn hóa dân tộc Thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dung của luận văn được kết cấu bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Khái quát chung về văn hóa dân tộc thiểu số tại Việt Nam

1.1.1 Khái niệm cơ bản về văn hóa

Thuật ngữ “văn hoá”, người ta sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau củađời sống xã hội và con người nên có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau vềvăn hoá Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóaViệt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuấtbản Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trịvật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử"[37]

Theo khái niệm văn hóa của Hồ Chí Minh nêu văn hóa là toàn bộnhững giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra với phương thức

sử dụng chúng, nhằm đáp ứng lẽ sinh tồn, đồng thời đó cũng là mục đích củacuộc sống loài người

Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.

Theo văn kiện của Đảng: Đề cương Văn hóa Việt Nam năm 1943, NQ

TW 5/ khóa 8, NQ33 “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày một quan niệm giản

dị nhưng mang tính nguyên lý, có ý nghĩa cơ bản, lâu dài là: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, với nội hàm hết sức sâu sắc, gồm các yếu tố: (1)

Trang 18

Xây dựng tâm lý: Tinh thần độc lập, tự cường (2) Xây dựng luân lý: biết hysinh mình, làm lợi cho quần chúng (3) Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp cóliên quan đến phúc lợi nhân dân trong xã hội (4) Xây dựng chính trị: dânquyền (5) Xây dựng kinh tế”

Định nghĩa về văn hóa theo Tổng giám đốc UNESCO (Fedirico Mayor)

đã đưa ra như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn , vật chất , tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật,

cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin [41]

Theo cuốn sách bài giảng Đại cương văn hoá Việt Nam, chủ biên Lê Thị Vĩnh Phúc -ThS Hoàng Thị Thanh Loan đưa ra khái niệm: “Văn hoá là toàn bộ sự hiểu biết của con người, đúc kết thành phần các chuẩn mực và giá trị xã hội, thành truyền thống và thị hiếu, gọi chung là hệ giá trị xã hội Hệ giá trị ấy biểu hiện thông qua hoạt động và toàn bộ sản phẩm của con người

đã tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn - lịch sử Đó chính là cơ sở để làm nên bản sắc riêng về văn hoá của một cộng đồng xã hội nhất định [21]

Chúng ta hiểu cơ bản Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa

được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội.Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bềnvững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khácthông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quátrình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ pháttriển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức

tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất

và tinh thần mà do con người tạo ra

Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọimặt của cuộc sống (mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng

Trang 19

như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệthống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dântộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa trong phát triển Người đã từng

dạy: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa” (Hồ Chí Minh: Về văn hóa Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1997, tr.11) “Văn hóa không thể đứng ngoài, mà phải trong kinh tế và chính trị ” (Hồ Chí Minh

toàn tập T6, tr.367 - 369; NXB Chính trị quốc gia, 2002) Kinh tế là nền tảngvật chất, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; kinh tế và văn hóa trong Tưtưởng Hồ Chí Minh cuối cùng đều phục vụ nhiệm vụ chính trị là xây dựngmột xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, đạo đức, văn minh

1.1.2 Khái niệm dân tộc thiểu số và văn hoá dân tộc thiểu số.

Dân tộc thiểu số là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trênthế giới hiện nay Các nhà học giả cho rằng đây là một thuật ngữ chuyênngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít.Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với

“dân tộc lạc hậu”,” dân tộc kém phát triển” có nhiều nguyên nhân, trong đó có

sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia.Trên thực tế, khái niệm DTTS chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân sốtrong một quốc gia đa dân tộc

Thuật ngữ dân tộc đa số và dân tộc thiểu số được hiểu như sau:

Dân tộc đa số là dân tộc có số người đông nhất trong cộng đồng các dântộc Việt Nam, tức tộc Kinh, dùng thuật ngữ này là nói trên phạm vi cả nướcchứ không phải là nói trên địa bàn vùng miền hoặc địa phương nào đó Dântộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư nước ta, có trình độ và điều kiệnphát triển cao, là lực lượng đoàn kết, đóng vai trò chủ lực và đi đầu trong quátrình lâu dài dựng nước và giữ nước Góp phần to lớn vào việc hình thành,củng cố, và phát triển cộng đồng dân tộc Việt Nam

Trang 20

Dân tộc thiểu số, thuật ngữ này không đồng nghĩa với dân tộc chậm pháttriển, khái niệm là chỉ những dân tộc có số ít người hơn so với dân tộc đa số.

Mặt khác văn hoá dân tộc thiểu số được hiểu như sau:

Trước hết theo khoản 2 điều 4 nghị định số 05/2011 NĐ-CP về côngtác dân tộc ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc có định nghĩa:

“Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.[9]

Rõ ràng, quan niệm về DTTS và “dân tộc đa số” cũng như nội hàm củachúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó được vận dụng vàxem xét linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan điểm và mối quan

hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc song, những nội dung đã phântích ở trên về cơ bản tương đối thống nhất không chỉ ở nước ta mà trong cảthế giới nghiên cứu dân tộc học trên thế giới

Vậy Văn hóa dân tộc thiểu số là toàn thể các yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng và đặc thù dân tộc, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người này với tộc người khác (GS Ngô Đức Thịnh trong cuốn sách Văn hoá, văn hoá tộc người và Văn hoá Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 2006 [31]

Văn hóa dân tộc là chỉ toàn bộ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thểcủa các dân tộc thiểu số có quá trình sinh sống lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam,

là biểu hiện của sự thích ứng và sáng tạo của con người trong môi trường,hoàn cảnh tự nhiên và xã hội cụ thể; các giá trị đó vừa phản ánh những nétthống nhất, sự giao thoa văn hóa dân tộc người trong phạm vi quốc gia vàquốc tế Bao gồm các dạng thức văn hóa sau:

Văn hóa vật thể: Văn hóa vật thể là cái hữu hình, tồn tại dưới dạng vật

chất, chứa đựng những hồi ức sống động của loài người, là bằng chứng củacác nền văn hóa, văn minh nhân loại Văn hóa vật thể bao gồm cấu trúc thônbản, nhà cửa, trang phục, đồ ăn, thức uống, đồ thủ công, vật dụng sinh hoạt,công cụ sản xuất, phương tiện vận chuyển

Trang 21

Văn hóa phi vật thể: Là các sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn

hóa, khoa học được lưu giữu bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truyền bằngmiệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác Baogồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, khoa học, ngữ văn,truyền miệng diễn xướng, dân gian lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghềthủ công, truyền thống tri thức về y, dược học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, vềtrang phục truyền thống dân tộc và những trí thức dân gian khác

1.1.3 Nhận diện văn hoá dân tộc thiểu số

Dân tộc nào cũng có nền văn hóa truyền thống, đó là tổng hợp nhữnghiện tượng văn hóa - xã hội bao gồm các chuẩn mực giao tiếp, các khuôn mẫuvăn hóa, các tư tưởng xã hội, các phong tục tập quán, các nghi thức, thiết chế

xã hội… được bảo tồn qua năm tháng, trở thành thói quen trong hoạt độngsống của mỗi con người, cũng như của toàn xã hội, được chuyển giao từ thế

hệ này qua thế hệ khác

Bản sắc văn hóa dân tộc được hình thành và phát triển phụ thuộc vào đặcđiểm tộc người, điều kiện lịch sử, tự nhiên, môi trường cư trú, thể chế chínhtrị cũng nhự sự giao lưu với các nền văn hóa khác Nói đến văn hóa là nói đếndân tộc đã sáng tạo ra nền văn hóa đó Bản sắc văn hóa cũng chính là bản sắcvăn hóa của dân tộc ấy

Mỗi khi nghe một làn điệu dân ca, âm thanh của một nhạc cụ, hay xemmột điệu múa là ta có thể nhận biết được sắc thái của dân tộc đó Không cómột nền văn hóa nào hình thành và phát triển được nếu không thể hiện đượctâm hồn, trí tuệ, bản lĩnh, sức sáng tạo của dân tộc ấy Văn hóa chỉ tồn tại vàphát triển khi chứa đựng và thể hiện gần đầy đủ bản sắc dân tộc đã sáng tạo ra

nó Mỗi dân tộc trong quá trình lựa chọn thái độ, phương thức sống và hoạtđộng để ứng phó với hoàn cảnh, vừa tiếp thu, tiếp biến các giá trị để nâng caotinh thần tự chủ, tự cường, tạo nên các tố chất riêng biệt của dân tộc, cái riêng

ấy chính là bản sắc văn hóa dân tộc Nó không chỉ được biểu hiện bên ngoài

Trang 22

như cung cách ứng xử, phong thái sinh hoạt, nghệ thuật kiến trúc mà cònđược biểu hiện ở cái bên trong như năng lực sáng tạo, tư duy, chiều sâu tâmhồn, truyền thống đạo lý, thế giới quan, nhân sinh quan.

Thông qua số lượng dân cư, khu vực lưu trú các tỉnh vùng núi, cáchthành phố trực thuộc trung ương một khoảng cách xa, phương thức lao độngsản xuất chưa hiện đại, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên canh tác Ngôn ngữriêng, trang phục độc đáo tự tay may mặc, văn hóa sinh hoạt cộng đồng đặcsắc, văn hóa ẩm thực riêng biệt

Vùng đồng bào dân tộc thiểu số là những vùng có lịch sử chinh phụcthiên nhiên là bài ca hùng tráng, thể hiện sự sáng tạo và sức sống mãnh liệt,vượt lên mọi trở ngại thích ứng với điều kiện tự nhiên để sản xuất, tồn tại vàphát triển của từng dân tộc Với điều kiện địa lý tự nhiên (địa mạo, đất đai, khíhậu ) khác nhau, các dân tộc đã tìm ra phương thức ứng xử thiên nhiên khácnhau

Ở vùng thấp của miền núi, các dân tộc trồng lúa nước kết hợp với sảnxuất trên khô để trồng lúa nương, trồng ngô, bước đầu trồng các cây côngnghiệp lâu năm (cây hồi, cây quế ), thay thế cho rừng tự nhiên Họ sống trênnhững nếp nhà sàn, mặc quần, váy, áo màu chàm với nhiều mô típ hoa văn môphỏng hoa rừng, thú rừng Đồng bào có tục uống rượu cần thể hiện tình cảmcộng đồng sâu sắc Người uống ngây ngất bởi hơi men và đắm say bởi tìnhngười

Ở vùng cao, đồng bào chọn phương thức phát rừng làm rẫy, là cách ứng

xử thiên nhiên của thời đại tiền công nghiệp Vùng cao, khí hậu á nhiệt đới, việctrồng trọt chủ yếu thực hiện trong vụ hè thu Để tranh thủ thời tiết và quay vòngđất, từ ngàn xưa người vùng cao đã phát triển xen canh gối vụ, vừa tăng thu nhậpvừa bảo vệ đất khỏi bị xói mòn bởi những cơn mưa rào mùa hạ Bàn tay khéo léo

và tâm hồn thẩm mỹ của các cô gái đã tạo ra những bộ trang phục: váy, áo vớinhững hoa văn sặc sỡ hài hoà về màu sắc, đa dạng về mô típ, mềm

Trang 23

mại về kiểu dáng, thuận cho lao động trên nương, tiện cho việc đi lại trênđường đèo, dốc Núi rừng hoang sơ cùng với phương thức canh tác lạc hậu làmảnh đất phát sinh và phát triển các lễ nghi đầy tính huyền bí, huyền ảo Hầuhết các cư dân đều có tục làm lễ cúng Giàng (trời), cầu xin sự phù hộ củaGiàng cho người sức khoẻ, cho gia súc và cho mùa màng bội thu Đây cũng làvùng tiềm ẩn nhiều truyện thần thoại, nhiều sử thi anh hùng mà giá trị của nó

to lớn và nhận diện dễ dàng nhất trong sự đa dạng về văn hoá trên nước ta

Nhờ có sự đóng góp của văn hóa dân tộc thiểu số, nền văn hóa giữđược tính thống nhất với những biểu hiện đa dạng; Sinh hoạt văn hóa của mộtdân tộc thiểu số tạo nên một môi trường xã hội mang tính tộc người một cách

rõ nét Môi trường ấy là một cái nôi để một dân tộc tồn tại và phát triển;Chính văn hóa dân tộc thiểu số làm nên diện mạo văn hóa vùng, diện mạo vănhóa vật thể, phi vật thể quốc gia

Văn hóa dân tộc thiểu số Việt Nam là một bộ phận không thể tách rờitrong nền văn hóa Việt Nam

1.1.4 Những vấn đề đặt ra đối với văn hoá dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay

Thế giới toàn cầu hóa là một không gian kinh tế, xã hội, văn hóa vàchính trị dưới sự tác động của quá trình hội nhập quốc tế do đông đảo cácquốc gia dân tộc và các chủ thể quan hệ quốc tế khác triển khai Chiều sâu củaquá trình hội nhập quốc tế được thể hiện ở số lượng, sự đa dạng, quy mô vàmục tiêu hoạt động của các thể chế liên kết Các quốc gia, dân tộc ngày càngtrở nên gắn kết với nhau chặt chẽ hơn, trở thành bộ phận cấu thành của hệthống, ràng buộc và phụ thuộc nhau bởi các quy định hay các nguyên tắcchung Đây là xu thế phát triển tất yếu của thế giới dưới tác động và thúc đẩymạnh mẽ của cách mạng khoa học - kỹ thuật, khoa học quản lý đã tạo ra lựclượng sản xuất và quá trình phân công lao động mới Văn hoá Việt Nam,

Trang 24

trong đó bao gồm cả văn hoá dân tộc thiểu số cũng không nằm ngoài vòng xoay thay đổi.

- Hội nhập toàn cầu - Dân tộc và vấn đề dân tộc là sự đối thoại, xâmnhập, đan xen, trao đổi, tác động qua lại và có chút pha trộn giữa các yếu tốnội sinh và ngoại sinh Không có nền văn hóa nào trên thế giới lại tuyệt đốiđơn lẻ, thuần khiết và không bị ảnh hưởng bởi bất cứ nền văn hóa nào khác.Không hội nhập với thế giới bên ngoài thì sớm hay muộn cũng sẽ suy thoái.Những vấn đề là ở chỗ cách thức hội nhập với thế giới như thế nào thì mớiđem lại hiệu quả

- Nhận thức, suy nghĩ, tình cảm của người dân, thậm chí của cả cán bộchịu tác động xấu từ bên ngoài bằng rất nhiều hình thức khác nhau, vật chất,tinh thần, tâm linh, trực tiếp và gián tiếp , đòi hỏi chúng ta phải nắm bắtđược những diễn biến tâm tư, tình cảm của họ Từ những tác động đó, dần dầnhình thành tâm lý, nguy cơ phân hóa, cực đoan, chủ nghĩa dân tộc là nhữngmầm mống nảy sinh gây mất đoàn kết dân tộc Thực tế đã có những sự việcnhỏ trong đời sống kinh tế - xã hội bị vướng mắc trong quan hệ giữa các cánhân, cộng đồng nhỏ đã bị đẩy lên thành vấn đề quan hệ dân tộc, chính trị hóa

từ sự việc quan hệ kinh tế - dân sự

- Trong khi yếu tố hiện đại phần lớn là những yếu tố ngoại lai, các giátrị văn minh và lối sống công nghiệp Điểm mấu chốt là giải quyết mối quan

hệ đó như thế nào, giữ lại cái gì, tiếp nhận cái gì, hòa trộn thế nào là nhữngcâu hỏi khó

- Vấn đề bản sắc và đồng hóa tự nhiên hoặc có chủ định cũng là vấn đềlớn đặt ra Bản sắc khẳng định giá trị và sự tồn tại của một quốc gia dân tộcnhưng cũng không thể giữ bản sắc theo nghĩa tuyệt đối, khép kín mà phải cóyếu tố hòa nhập

Trang 25

- Vấn đề phát triển và phát triển bền vững là những yêu cầu mà mỗiquốc gia dân tộc phải lựa chọn con đường đi, sách lược phù hợp nhằm giảiquyết hợp lý mối quan hệ giữa lợi ích trước mắt và lâu dài.

Những tác động tiêu cực và âm mưu của các thế lực thù địch đối với vấn đề dân tộc thiểu số ở nước ta

Một là, các dân tộc thiểu số là một bộ phận của quốc gia có đời sống

còn nhiều khó khăn so với mặt bằng chung Nguyên nhân kinh tế là yếu tố dễđem ra để so sánh, kích động, dễ nhận biết để lồng vào đó cách giải thích khácnhau nhằm tạo ra sự nghi kỵ, từ đó phá hoại khối đoàn kết giữa các dân tộc,

đa số với thiểu số; thiểu số với thiểu số

Hai là, mặt bằng học vấn của đồng bào các dân tộc thiểu số không

đồng đều, nhận thức còn những hạn chế nên dễ bị các thế lực thù địch lợidụng để xuyên tạc sự thật về các vấn đề phát triển và quan hệ dân tộc

Ba là, trình độ quản lý nhà nước về công tác dân tộc của hệ thống chính

trị bên cạnh thành tựu vẫn còn hạn chế, chưa sâu sát, chưa bền vững, xuấtphát từ nhiều nguyên nhân, như nhận thức, cán bộ, cơ chế quản lý, chính sách,xuất phát điểm của các dân tộc trong phát triển

Bốn là, xuất phát từ quan điểm chiến lược (thuộc bản chất) của các thế

lực thù địch khi đi xâm lược một thuộc địa hay chiếm đoạt quốc gia kháctrước khi chiếm tài nguyên là chinh phục “người dân bản địa, bản xứ” thôngqua con đường có tính mũi nhọn là “tôn giáo” và “dân tộc” Lợi dụng đặcđiểm quan hệ tộc người trong điều kiện các quốc gia đa tộc người; áp dụngchính sách “chia để trị” để kích động phá hoại khối đoàn kết dân tộc

1.2 Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số

Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số bao gồm cả văn hóa cộngđồng dân tộc Thái Chính vì vậy, trong khuôn khổ luận văn, người viết tậptrung trình bày cơ sở lý luận QLNN về văn hóa dân tộc thiểu số

Trang 26

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số

Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thểquản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổchức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức [15]

Quản lý nhà nước: “Là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các

cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [15].

Quản lý Nhà nước về văn hóa: Về cơ bản, quản lý nhà nước về văn hóa

là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thốngpháp luật và bộ máy nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi

cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan

Từ cách hiểu trên, có thể làm rõ thêm nội hàm quản lý nhà nước về vănhóa, các thành tố cấu thành hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa

Thứ nhất, chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa là Nhà nước, được tổ

chức thống nhất từ trung ương đến địa phương, quyền quản lý được phân cấp:cấp trung ương, cấp tỉnh (tỉnh và các thành phố trực thuộc trung ương), cấphuyện (huyện thuộc tỉnh, quận thuộc thành phố), cấp xã (xã thuộc huyện,phường thuộc quận) Quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp nào thì cơ quan nhànước cấp ấy là chủ thể quản lý Quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp xã thìUBND xã là chủ thể quản lý nhà nước Công chức văn hóa - xã hội xã đượcgiao nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa giúp UBND xã có thể được coi làchủ thể quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn xã

Thứ hai, khách thể quản lý nhà nước về văn hóa là văn hóa và các cơ

quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hóa hoặc có liên quanđến lĩnh vực văn hóa Văn hóa với tư cách là khách thể quản lý được hiểu theonghĩa cụ thể là: các hoạt động văn hóa (trong đó có các dịch vụ văn hóa,

Trang 27

hoạt động sáng tạo…) và các giá trị văn hóa (cụ thể là các di sản văn hóa vậtthể và phi vật thể) Mặt khác, theo sự phân công trong hệ thống các cơ quannhà nước các cấp, không phải toàn bộ hoạt động văn hóa hiểu theo nghĩa rộngđều do ngành văn hóa quản lý Văn hóa giáo dục, khoa học công nghệ… do

cơ quan giáo dục, khoa học công nghệ quản lý

Thứ ba, mục đích quản lý nhà nước về văn hóa là giữ gìn và phát huy

những giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xâydựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nângcao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, trong hoạt độngquản lý nhà nước về văn hóa ở từng cấp, từng địa phương, từng hoạt động cụthể thì mục đích quản lý nhà nước về văn hóa phải được xác định cụ thể sátvới yêu cầu nhiệm vụ và hoàn cảnh cụ thể Ví dụ, quản lý nhà nước chươngtrình mục tiêu xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở thì cấp trung ương mục đích

là gì, cấp tỉnh, quận huyện, xã phường là gì phải được xác định một cách cụthể Có như vậy hoạt động quản lý mới hiệu quả

Thứ tư, cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về văn hóa là hiến pháp,

luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác Như vậy quản lý nhà nước nóichung và quản lý nhà nước về văn hóa nói riêng có công cụ là hệ thống luật

và các văn bản có tính pháp quy Quản lý bằng pháp luật chứ không phải bằng

ý chí của nhà quản lý

Thứ năm, cách thức quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ

đích chứ không phải là việc làm có tính thời vụ, cũng không phải là sự thụđộng của nhà quản lý, càng không phải là hoạt động đơn lẻ, tùy tiện của nhàquản lý

Quản lý Nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số là sự tác động liên tục,

có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máynhằm phát triển văn hóa dân tộc thiểu số, điều chỉnh hoạt động của mọi cơquan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa dân tộc thiểu số và liên quan

Trang 28

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước đối về văn hóa dân tộc thiểu số

1.2.2.1 Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách và văn bản pháp luật về văn hoá dân tộc thiểu số.

Chính sách văn hoá được hiểu là tổng thể những nguyên tắc thể hiện tưtưởng chủ đạo của Nhà nước về đường lối, phương hướng xây dựng và pháttriển nền văn hoá Chính sách văn hoá đặt ra các nguyên tắc chung của sựnghiệp phát triển văn hoá phù hợp với mục tiêu phát triển văn hoá chung củađất nước Các chính sách về quản lý và phát triển văn hoá hiện nay có thể kểđến: sáng tạo các giá trị văn hoá, đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ

sỹ, đảm bảo ngân sách, điều kiện pháp lý cho văn hoá, nâng cao tính tự quản

và phân cấp quản lý văn hoá Chính sách văn hoá có ý nghĩa quan trọng trongcông tác quản lý nhà nước về văn hoá song chính sách văn hoá không thể thaythế pháp luật

Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật nhằm phát huy tác dụng củavăn hoá tới sự hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thầncủa con người chẳng hạn, trong quản lý nhà nước về văn hoá nghệ thuật, nhànước ban hành các chính sách phát triển văn hoá sâu rộng trong quần chúngnhân dân, phát huy khả năng sáng tạo Hay, nhà nước còn thực hiện chínhsách bảo trợ vật chất ở mức độ khác nhau cho những loại hình văn hoá nghệthuật không tự tồn tại và phát triển trong quan hệ kinh tế thị trường như sânkhấu tuồng cổ, nghệ thuật chèo Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho mọi công dân

có quyền bình đẳng trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật và sáng tạo nghệthuật thì phải được quy định rõ trong luật Củ thế, Điều 60 Hiến pháp 1992

quy định: “Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp” Trong quản lý nhà nước về văn hoá - xã hội, nhà nước ban hành các

chính sách nhằm ổn định trật tự xã hội, giữ gìn những nét đẹp văn hoá truyền

Trang 29

thống, xây dựng nếp sống văn hoá mới Bên cạnh đó cũng ban hành nhiềuvăn bản pháp luật quy định những khuân mẫu ứng xử trong xã hội như Nghịđịnh số 87/2001/NĐ - CP ngày 21/11/2001 về xử phạt vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực hôn nhân gia đình; hay Quy chế thực hiện nếp sống văn minhtrong tiệc cưới, việc tang lễ và lễ hội do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày25/11/2005.

Trong quản lý nhà nước về di sản văn hoá: nhà nước ban hành các chínhsách và pháp luật để phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản vănhoá Luật Di sản văn hoá năm 2001 là một văn bản pháp lý quan trọng

1.2.2.2 Tổ chức và vận hành bộ máy quản lý nhà nước về văn hoá các dân tộc thiểu số.

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa cấp từ trung ương đến địaphương được thể hiện rõ trong Nghị Định Quy định chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ văn hóa, thể thao và du lịch số:79/2017/NĐ-CP

1 Vụ Tổ chức cán bộ

2 Vụ Kế hoạch, Tài chính

3 Vụ Pháp chế

4 Vụ Đào tạo

5 Vụ Thi đua, Khen thưởng

6 Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường

Trang 30

21 Ban Quản lý Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.

22 Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

23 Báo Văn hóa

24 Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật

25 Trung tâm Công nghệ thông tin

26 Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch

Các đơn vị quy định từ khoản 1 đến khoản 21 Điều này là các đơn vịhành chính giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước, các đơn vịquy định từ khoản 22 đến khoản 26 Điều này là các đơn vị sự nghiệp phục vụchức năng quản lý nhà nước của Bộ

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Thủ tướng Chính phủban hành các quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu

tổ chức của Tổng cục Thể dục thể thao, Tổng cục Du lịch và Ban Quản lýLàng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam và quyết định ban hành danhsách các đơn vị sự nghiệp khác hiện có thuộc Bộ

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan, đơn Vị thuộc Bộ, trừ cácđơn vị quy định tại các khoản 19, 20 và 21 Điều này

Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Phápchế có 03 phòng; Vụ Kế hoạch, Tài chính có 07 phòng; Thanh tra Bộ có 05phòng; Văn phòng Bộ có 09 phòng

Trang 31

Cục Di sản văn hóa, Cục Điện ảnh, Cục Hợp tác quốc tế, Cục Mỹ thuật,Nhiếp ảnh và Triển lãm có văn phòng và 04 phòng.

Cục Nghệ thuật biểu diễn có văn phòng và 05 phòng

Cục Bản quyền tác giả có văn phòng và 06 phòng

Cục Văn hóa cơ sở có văn phòng và 08 phòng

1.2.2.3 Huy động nguồn lực

Việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cũng phải dựa trên triết lý xuấtphát từ nguyện vọng của nhân dân, phục vụ nhân dân và do chính nhân dânxây dựng, phải do chính đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện với ý thức tựgiác, sự tự tôn, tự hào dân tộc Tuy nhiên, giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộcthiểu số là mục tiêu đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề trong thời gian dài vàcần có sự đầu tư lớn về nhân lực cũng như vật lực nên việc tăng cường cácnguồn lực đầu tư để tạo nguồn sức mạnh tổng hợp cho quá trình này là vôcùng cần thiết Nhà nước cần tiếp tục có những chính sách huy động sự thamgia, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức, cộng đồng xã hội chung tay giúp sức chocông cuộc phát triển kinh tế và văn hóa

Tăng cường các nguồn lực đầu tư cho quá trình phát triển vùng đồngbào các dân tộc thiểu số cần được xem xét một cách toàn diện: tăng về sốlượng, quy mô, chất lượng, hiệu quả; đa dạng loại hình nguồn lực: vốn, laođộng, kỹ thuật, công nghệ, năng lực tổ chức quản lý, tâm huyết, trí tuệ ; huyđộng được nhiều nguồn lực theo hướng tăng cường xã hội hóa (ngoài nguồnngân sách nhà nước huy động được nguồn lực của các doanh nghiệp, sự đónggóp của nhân dân, nguồn viện trợ của các cá nhân, tổ chức trong nước và quốc

tế và các nguồn vốn hợp pháp khác); huy động sự tham gia của nhiều lựclượng xã hội (các nhà quản lý, các nhà văn hóa, các nhà kinh tế, các nhà khoahọc, các doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân ở trong và ngoài nước)

Sở phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành trong việc tuyên truyền,vận động, huy động các nguồn lực từ nhân dân về quản lý, bảo tồn và phát

Trang 32

huy tốt giá trị của các di tích trên địa bàn Việc tuyên truyền, huy động, sửdụng các nguồn lực xã hội hóa được tiến hành dân chủ, công khai, minh bạch,tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, các tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ, tu

bổ, tôn tạo di tích văn hóa Các di tích văn hóa được tu bổ, tôn tạo, chốngxuống cấp bằng nguồn xã hội hóa luôn thực hiện theo đúng quy định của phápluật; bảo quản, giữ gìn tối đa được yếu tố gốc; nâng cao tính bền vững, sự tồntại lâu dài của di tích

1.2.2.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực văn hoá

Đây là một hoạt động có vai trò quan trọng trong công tác quản lý nhànước về văn hoá, sự tác động trực tiếp của các cơ quan kiểm duyệt và thanhtra có vai trò đặc biệt quan trọng Bởi vì văn hoá có mối quan hệ trực tiếp vớichính trị, nó có tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cáchcon người

Trong xu hướng xã hội văn hoá hiện nay, các tác động tiêu cực nảysinh ngày càng nhiều, vì vậy, hoạt động thanh tra, kiểm tra cần được quan tâm

và thực hiện một cách nghiêm túc, có kế hoạch phối hợp tổ chức một cáchchặt chẽ với các bộ, ngành khác Như vậy mới có khả năng thực hiện tốt chứcnăng và nhiệm vụ mà công tác quản lý nhà nước về văn hoá đã đề ra

Theo Nghị Định số: 71/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động củaThanh tra văn hóa, Thể thao và Du lịch; Nội dung thanh tra về các hoạt độngvăn hóa du lịch trong đó có văn hóa quần chúng, Văn hóa dân tộc thiểu số.Hình thức thanh tra, phương thức hoạt động thanh tra, quyền và nghĩa vụ giữacác bên tham gia hoạt động văn hóa một hành lang pháp lý chi tiết cho việcquản lý văn hóa diễn ra hiệu quả

Lãnh đạo và Thanh tra Bộ VHTTDL đã tổ chức 20 đoàn kiểm tra thựchiện Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 5/2/2015 của Ban Bí thư và Công điện số229/CĐ-TTg ngày 12/2/2015 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường côngtác quản lý, tổ chức lễ hội tại các địa phương

Trang 33

Trên các lĩnh vực hoạt động khác trong phạm vi của ngành, Thanh tra

Bộ VHTTDL đã triển khai 145 cuộc thanh tra, kiểm tra, trong đó có 7 cuộcthanh tra hành chính trên lĩnh vực quản lý, thực hiện dự án đầu tư xây dựng

cơ bản; quản lý sử dụng tài chính ngân sách; chấp hành các quy định của phápluật về quản lý, sử dụng đất đai đối với các dự án xã hội hóa

Công tác thanh tra của ngành cũng tập trung việc chấp hành các quyđịnh của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan, điện ảnh, triển lãm mỹthuật, quảng cáo, biểu diễn nghệ thuật, công tác gia đình, phòng, chống tệ nạn

xã hội; hoạt động kinh doanh lữ hành, lưu trú và hoạt động bảo vệ môi trường

du lịch; kiểm tra hoạt động dịch vụ thể dục, thể thao, tổ chức giải thi đấu

1.2.3 Những yêu cầu chung về quản lý Nhà nước đối với văn hoá dân tộc thiểu số

Văn hoá là một vấn đề rộng lớn và hết sức nhảy cảm như vấn đề dântộc và tôn giáo do vậy trong quản lý nhà nước về văn hoá là phải có nhữngquy tắc riêng để đảm bảo quản lý một cách hiểu quả nhất

Thứ nhất, quản lý nhà nước về văn hoá gắn liền với quyền lực, thiết chếnhà nước, trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng cần có nhà nước quản lý, nhằm địnhhướng cho văn hoá phát triển một cách đúng hướng, đúng với mong muốncủa dân và bảo vệ những giá trị tốt đẹp không bị mai một

Thứ hai, Tăng cường trách nhiệm của Nhà nước trong việc trực tiếpquản lý các công trình văn hoá, cơ sở vật chất Trực tiếp đưa ra các chínhsách, nhiệm vụ đối với cán bộ văn hoá, nghệ nhân trong công cuộc quản lýcác công trình văn hoá

Thứ ba: Văn hoá thuộc về nhân dân, văn hoá từ nguồn gốc nhân dân mà

ra, nên khích lệ, nêu cao giá trị sở hữu mà nhân dân cần quan tâm, để nhândân tự ý thức về những giá trị tốt đẹp nâng cao và phát triển

Thứ tư: văn hoá đa dạng, phong phú và phù hợp từng điều kiện khác nhau

vì vậy nhà nước cần có biện pháp quản lý riêng cho từng loại hình văn hoá

Trang 34

Thứ năm: Việc hiệu quả kinh tế kết hợp chính trị thúc đẩy đưa văn hoálên một bậc cao mới Khi kinh tế phát triển, chính trị ổn định thì văn hoá đượcduy trì những giá trị tốt đẹp.

1.2.4 Sự cần thiết trong quản lý về văn hoá dân tộc thiểu số.

Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương, chính sách nhằm ưutiên, phát triển vùng DTTS và miền núi với quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, cácdân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, yêuthương, trân trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển Tuy nhiên, khoảngcách chênh lệch về trình độ phát triển giữa vùng DTTS và miền núi với cáckhu vực khác đang càng ngày có xu hướng cách biệt, vùng miền núi và DTTScòn có nhiều khó khăn, thách thức lớn về cả kinh tế, đời sống và văn hoá

Đảng ta luôn coi trọng vấn đề dân tộc và đã đề ra chủ trương, chínhsách dân tộc với nguyên tắc nhất quán: các dân tộc “bình đẳng, đoàn kết,tương trợ nhau cùng phát triển Chính sách của Đảng được đồng bào các dântộc ủng hộ, đón nhận và ra sức thực hiện, tạo động lực to lớn, góp phần quantrọng vào thắng lợi của cách mạng dân tộc, dân chủ và những thành tựu to lớncủa cách mạng XHCN Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu của công cuộcđổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước và hội nhập quốc tế với những thời cơ vàthách thức đan xen, việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc có ý nghĩa quantrọng trong xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phấnđấu vì mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh

Quản lý nhà nước về văn hóa DTTS trong điều kiện phát triển kinh tếthị trường là một trong những lĩnh vực có rất nhiều vấn đề đặt ra Việc xácđịnh vấn đề nào là trọng tâm trong quản lý nhà nước về văn hóa DTTS hiệnnay có ý nghĩa quan trọng, làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp hữu hiệunâng cao hiệu quả quản lý

Trong thực tiễn hoạt động nhiều năm qua, đặc biệt trong thời kỳ đổimới, một vấn đề lớn đặt ra là: Phát triển văn hóa chưa đồng bộ với phát triểnkinh tế dẫn đến nhiều hệ lụi phát triển xã hội, đồng thời làm cho phát triển

Trang 35

kinh tế thiếu bền vững Nguyên nhân vấn đề đó là : Nhận thức chưa đầy đủ vềvăn hóa trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt trong hoạt động quản lý nhà nước

có của nó Quan niệm ấy dẫn đến sự tồn tại những lệch lạc trong nhìn nhậnquản lý nhà nước về văn hóa: Quản lý hay không quản lý văn hóa cứ pháttriển theo con đường đi của nó

Đổi mới nhận thức về quản lý nhà nước bất cập so với phát triển vănhóa Các hoạt động văn hóa ngày càng đa dạng, các dịch vụ văn hóa cũng pháttriển khá mạnh, một mặt đáp ứng nhu cầu xã hội, mặt khác cũng gây nhiều hệlụy với những đánh giá khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, gây tâm trạngbất an trong xã hội Quản lý nhà nước không theo kịp sự phát triển, thêm vào

đó tồn tại nhưng sai lệch trong nhìn nhận về văn hóa

Qua nhiều năm thực hiện chính sách văn hoá đối với vùng đồng bàoDTTS đã đạt nhiều thành tựu nhất định: Nhận thức cán bộ, đảng viên và cáctầng lớp nhân dân về văn hoá được nâng lên một bước Đời sống văn hoá cơ

sở đã có bước phát triển, ở vùng núi, hải đảo tuy chậm hơn nhưng có sự pháttriển rõ rệt Công tác giữ gìn văn hoá được phát triển có quy mô hơn, chiềusâu hơn Nhiều dự án lớn về sưu tầm đã được thực hiện Xây dựng thiết chế

về văn hoá ở các vùng dân tộc thiểu số được tăng cường, cơ sở vật chất cónhững bước thay đổi mới, hiệu quả quản lý nâng cao hơn

Tại các vùng miền núi, làng, bản được Nhà nước quan tâm hỗ trợ đểxây dựng các Nhà văn hoá làm nơi sinh hoạt, tổ chức các hoạt động văn hoávăn nghệ và hội họp chung đồng Công tác đào tạo đội ngũ những người hoạt

Trang 36

động văn hoá, nghệ thuật được chú trọng Tổ chức các lễ hội văn hoá thườngxuyên, quy mô lớn để các vùng dân tộc thiểu số giao lưu học hỏi lẫn nhaunhững văn hoá mới thắt chặt tình đoàn kết dân tộc, đồng thời khơi dậy niềm

tự hào về dân tộc để tiếp tục phát huy những giá trị tốt đẹp

1.2.5 Vai trò của Nhà nước đối với việc quản lý văn hoá dân tộc thiểu số

Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội; là nănglực sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người; trụ cột phát triển bềnvững của mỗi quốc gia, dân tộc và nhân loại

Trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa thì quản lý văn hóa đóng vaitrò rất quan trọng Trên phương diện vĩ mô, hoạt động quản lý văn hóa sẽ gópphần định hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiệnthực hóa các chủ trương, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng cầm quyền,

từ đó tác động đến mục tiêu, bản chất của văn hóa dân tộc Trên phương diện

vi mô, hoạt động quản lý văn hóa trong các lĩnh vực, địa bàn, nhóm dân cư cụthể sẽ giúp kiểm soát sự tùy tiện, sai lệch trong khi thực thi các cơ chế, chínhsách của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa Những năm qua, quán triệt tinhthần: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực pháttriển bền vững đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chínhtrị, xã hội” của Đảng, hoạt động quản lý văn hóa ở Việt Nam đã có những kếtquả khả quan Việc xây dựng, hoàn thiện thể chế văn hóa ngày càng được kiệntoàn theo hướng thiết thực, hiệu quả Ngành văn hóa đã tập trung xây dựng,ban hành và trình các cấp có thẩm quyền ban hành hệ thống văn bản quyphạm pháp luật tương đối đồng bộ, có giá trị pháp lý cao trên lĩnh vực vănhóa, tạo điều kiện để hoạt động quản lý ngày càng thuận lợi

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về văn hoá dân tộc Thái tại một

số địa phương

Bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc Thái được biết đến tại các địaphương vùng Tây Bắc, đặc biệt là tỉnh Điện Biên, Mai Châu - Hòa Bình,

Trang 37

vùng văn hoá dân tộc Thái có nét đặc sắc độc đáo riêng và cách xây dựngquản tại địa phương cần được triển khai mô hình lưu giữ nét văn hoá rộngkhắp các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

Tại Điện Biên Phủ, chính quyền triển khai nhiều cách thức để bảo tồnnét đẹp văn hoá đang có nguy cơ bị lai căng, mai một Phòng văn hoá phốihợp với UBND các xã, phường xây dựng đội văn nghệ bản; hỗ trợ khôi phục,dàn dựng các điệu múa truyền thống dân tộc Thái; bảo tồn và phát huy một sốloại hình dân ca, dân vũ và nhạc cụ dân tộc; tổ chức các hoạt động văn hoá thểthao lồng ghép các trò chơi dân gian, thể thao dân tộc chào mừng kỷ niệm cácngày lễ lớn Vì vậy, hầu hết đội văn nghệ các bản hoạt động thường xuyên, tựchủ được chương trình biểu diễn Tiêu biểu như đội văn nghệ bản Him Lam

II, phường Him Lam Đội đã thành lập được gần 10 năm, không chỉ phục vụcác hoạt động văn hoá, lễ tết của bản mà còn làm dịch vụ giao lưu văn nghệ,đáp ứng nhu cầu du khách đến tham quan, trải nghiệm tại các nhà hàng, kháchsạn trên địa bàn

Việc khôi phục các lễ hội truyền thống cũng được quan tâm chú trọng.Nhiều lễ hội được bảo tồn, phục dựng như: Lễ hội Xên Pang tại bản Mớ,phường Thanh Trường; Lễ hội Lạn Chượng khai phá Mường Thanh, Lễ hộiHạn Khuống tại bản Him Lam II, phường Him Lam Đồng thời, Phòng đã đềnghị cấp trên đưa Lễ hội Hạn khuống của dân tộc Thái đen ở TP Điện BiênPhủ vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Bên cạnh các lễ hộilớn, các nghi thức có phạm vi tổ chức hẹp trong gia đình như lễ mừng cơmmới, cúng tổ tiên cũng vẫn được duy trì Trên địa bàn thành phố còn nhiềungười am hiểu văn hóa dân tộc Thái, đặc biệt có 2 nghệ nhân nghệ thuật trìnhdiễn dân gian dân tộc Thái là Mào Ết và Hoàng Thím đã được Nhà nướcphong tặng nghệ nhân ưu tú

Ngoài việc Nhà nước đầu tư khôi phục, gìn giữ, người dân địa phươngcũng đã có ý thức bảo vệ, truyền nối nét đẹp của dân tộc cho thế hệ sau

Trang 38

Mới đây, ngày 7/4, HĐND TP Điện Biên Phủ ban hành Nghị quyết số37/NQ-HĐND thông qua kế hoạch tiếp tục bảo tồn và phát triển văn hóa cácdân tộc trên địa bàn thành phố gắn với phát triển kinh tế - xã hội, giai đoạn

2016 - 2020, định hướng đến năm 2025 Trong đó có đề cập việc gìn giữ,phục dựng và tổ chức duy trì thường xuyên một số di sản văn hóa tiêu biểunhư: Lễ kin lẩu nó, lễ hội tung còn, xên bản, dân ca, dân vũ, trò chơi truyềnthống dân tộc Thái; hỗ trợ phát triển nghề dệt thổ cẩm của phụ nữ Thái Một

số giải pháp được đưa ra là lồng ghép các làn điệu dân ca, trò chơi dân giandân tộc Thái vào chương trình giáo dục chính khóa, ngoại khóa và hoạt độngtập thể trong trường học; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; tậphuấn cho các hộ dân về bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống vànghiệp vụ đón tiếp, phục vụ khách nhằm hướng đến phát triển du lịch cộngđồng tại các bản văn hóa dân tộc Thái

Tại huyện Mai Châu- Hòa Bình nhằm bảo tồn và phát triển bản sắc vănhóa dân tộc Thái, Phòng văn hóa huyện đã tham mưu cho UBND huyện đề ánbảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc Thái Huyện Mai Châu gắn vớibảo tồn và phát huy văn hóa Thái qua hoạt động du lịch Mai Châu hình thànhđược nhiều bản du lịch của người Thái như bản Lác, bản Văn, bản Hịch, bảnPom Coọng…Vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Thái được đưa vào quychế hoạt động của các homestay Các hộ gia đình làm du lịch homestay phảinghiêm túc thực hiện các quy định như đón tiếp khách phải mặc trang phụcdân tộc Thái, homestay phải là nhà sàn, chăn, đệm phải là sản phẩm thổ cẩm.Các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ du khách cũng phải là những lànđiệu dân ca, dân vũ của người Thái

Bản Lác là bản du lịch nổi tiếng của người Thái Mai Châu Đến với bảnLác, du khách được nghỉ tại những ngôi nhà sàn Thái Tất cả vẻ đẹp của vănhóa Thái biểu hiện trong ngôi nhà sàn ấy Du khách sẽ được thưởng thức ẩmthực Thái, gia đình sẽ phục vụ những món ăn Thái như thịt nướng, cá đồchua, cơm lam, thịt gà măng chua đậm hương vị hạt cây, rau thơm ở rừng

Trang 39

Càng về khuya, không khí ở bản càng đông vui tấp nập Bản có 8 đội vănnghệ, mỗi đội 15 người chủ yếu là các bà, các cô phục vụ cho nhu cầu hưởngthụ văn hóa của các đoàn khách Du khách còn được thưởng thức hát đối đáp,biểu diễn khèn bè, sáo và một số điệu múa cổ gắn với các lễ hội lớn của ngườiThái như múa chá chiêng, múa khăn, múa khèn Uống rượu cần, múa sạp, xòevòng là những sinh hoạt tập thể rất vui diễn ra trong lòng nhà sàn Thái Contrai Thái giỏi khèn, con gái Thái giỏi múa, tiếng khèn gọi bạn, bước chân của

cô gái Thái gọi bạn, rượu cần say men lá, chếnh choáng nhà sàn, thổ cẩm, bếplửa, khung cửi, trống chiêng và nụ cười đôn hậu của người Thái hiếu kháchníu giữ chân bạn Bản Lác đã làm mềm lòng du khách, ai đã lên một lần lạimuốn lên nữa Văn hóa truyền thống Thái từ đó được giữ gìn và phát triển

Cũng như tại xã Chiềng Cọ - thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã mạnhdạn đầu tư, thực hiện mô hình nhà nghỉ du lịch cộng đồng, mỗi năm thu húthàng ngàn lượt du khách tới tham quan, trải nghiệm Qua đó, góp phần bảotồn, quảng bá và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái nơi đây

1.3.1 Kinh nghiệm rút ra quản lý và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Thái một số địa phương.

Những thành quả mà tỉnh Điện Biên, Hòa Bình, Sơn La trong quá trìnhxây dựng và quản lý nét văn hoá đặc sắc được đánh giá cao đáng để học tập

và phát huy

Đề cao và tôn trọng những nét văn hoá đã được giữ gìn, bảo tồn, thứctỉnh chính niềm tự hào dân tộc, tự khôi phục lại những nét văn hoá cổ thôngqua các hình thức dễ ghi nhớ như văn hoá, văn nghệ, lễ nghĩa gia đình, lễ hộidân tộc, gia đình văn hoá, thôn bản văn hoá tạo ra nhiều phương diện tiếpcận mới mẻ và hứng thú hơn

Đầu tư và phát triển mạnh mẽ thông qua các hình thức quảng bá về dulịch cộng đồng, dựa vào sự phát triển công nghệ thông tin hiện đại để quảng

bá nhiều hơn tới giới trẻ khắp cả nước và thu hút du lịch thế giới

Trang 40

Việc khôi phục các lễ hội truyền thống cũng được quan tâm chú trọng

và nâng tầm quan trọng trong đề cử những di sản văn hóa phi vật thể quốcgia, thúc đẩy quá trình khôi phục những giá trị văn hóa trong sự tự hào và cốgắng phát triển

Nhà nước đầu tư khôi phục, gìn giữ những giá trị văn hóa thông qua sựđầu tư kĩ càng hơn trong việc đề cập xây dựng các chính sách, chiến lược pháttriển văn hóa, đầu tư về ngân sách để bảo tồn, tổ chức lễ hội, lưu giữ hình ảnh

tế lâu dài, ổn định chính trị, đầu tư ngân sách vào phát triển văn hoá

Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, tập huấn cho các hộdân về bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống và nghiệp vụ đóntiếp, phục vụ quảng bá nhằm hướng đến phát triển du lịch cộng đồng tại cácđịa bàn dân tộc Thái sinh sống

Tìm ra những lợi thế về điều kiện địa phương và kết hợp với thế mạnhđặc sắc riêng để đầu tư và phát triển du lịch văn hóa cộng đồng

Huy động các nguồn lực về tổ chức bộ máy, cán bộ phụ trách văn hoá,

tổ chức nhiều cuộc thi lớn có sự kết hợp nhiều dân tộc thiểu số trong tỉnhtham gia, học tập tham gia các lễ hội dân tộc trong cả nước về quốc tế để họctập mô hình hướng tới phát triển văn hoá lâu dài

Ngày đăng: 25/11/2020, 20:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w