1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề trong triết học phật giáo trần nhân tông

62 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 587,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt Làm rõ bối cảnh hình thành triết học Phật giáo Trần Nhân Tông. Phân tích một số tư tưởng nổi bật triết học Phật giáo của Trần Nhân Tông Từ khoá Triết học phật giáo, Phật giáo, Tư tưởng triết học, Trần Nhân Tông, Triết học

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN

KHOA TRIẾT HỌC

-

PHẠM LINH NHI

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO CỦA TRẦN NHÂN TÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN

KHOA TRIẾT HỌC

-

PHẠM LINH NHI

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO CỦA TRẦN NHÂN TÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

Lời cám ơn

Đề tài “Một số vấn đề cơ bản trong triết học Phật giáo của Trần Nhân

Tông” là nội dung tôi chọn để nghiên cứu và làm khóa luận tốt nghiệp sau bốn năm

theo học chương trình cử nhân chuyên ngành Triết học tại trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội

Để hoàn thành quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận này, lời đầu tiên

tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến Cô PGS.TS.Lê Thị Lan thuộc Viện Triết học -

Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã trực tiếp chỉ bảo và hướng dẫn tôi

trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thiện khóa luận này Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Triết học đã đóng góp những ý kiến quý báu cho khóa luận này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên tôi hoàn thành khóa học và bài khóa luận này

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH VÀ TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG HÌNH THÀNH TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO CỦA TRẦN NHÂN TÔNG 7

1.1 Bối cảnh Phật giáo thời Trần 7

1.1.1 Những chính sách buổi đầu của nhà Trần 8

1.1.2 Vài nét về đời sống tư tưởng đời Trần 9

1.2 Một số tiền đề tư tưởng cho sự hình thành triết học triết học Phật giáo Trần Nhân Tông 11

1.2.1 Trần Thái Tông – Trần Thánh Tông, hai vị Hoàng đế đầu đời Trần và những chủ trương đối với Phật giáo 12

1.2.2 Tinh thần siêu thoát của Tuệ Trung Thượng Sĩ 23

1.2.3 Trần Nhân Tông và việc khai sinh ra dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử 25

Tiểu kết chương 1 29

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ QUAN NIỆM TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO CỦA TRẦN NHÂN TÔNG VÀ CON ĐƯỜNG TU TẬP GIẢI THOÁT 30

2.1 Quan niệm của Trần Nhân Tông về Phật, Phật tính, niết bàn 30

2.1.1 Quan niệm của Trần Nhân Tông về “Phật” 30

2.1.2 Quan niệm của Trần Nhân Tông về “Phật tính” 33

2.1.3 Quan niệm của Trần Nhân Tông về “niết bàn” 40

2.2 Một số quan niệm về nhân sinh và con đường tu tập giải thoát của Trần Nhân Tông 43

2.2.1 Quan niệm của Trần Nhân Tông về nhân sinh 43

2.2.2 Quan niệm của Trần Nhân Tông về con đường tu tập và giải thoát 47

Tiểu kết chương 2 55

KẾT LUẬN 56

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật công nghệ ngày nay, bên cạnh những thành tựu vĩ đại mà cả nhân loại đã đạt được trong nền văn minh vật chất thì những giá trị về mặt văn hóa, tinh thần, tôn giáo không hề bị xem nhẹ Mà ngược lại nó ngày càng được coi trọng và quan tâm hơn Cùng với thay đổi của xã hội, trong điều kiện lịch sử mới, các tôn giáo không ngừng thay đổi để ngày càng thích ứng và phù hợp hơn Chính sự phát triển và giao lưu giữa các tôn giáo đã góp thêm phần thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa trong các lĩnh vực Vì vậy, việc nghiên cứu về tôn giáo nói chung là không thể bỏ qua

Bước vào giai đoạn hậu công nghiệp, hay nền văn minh trí tuệ, nền kinh tế tri thức, bên cạnh những điểm mạnh mà công nghệ khoa học kỹ thuật đem lại thì đời sống tinh thần của con người trong xã hội lại ngày càng phải đối mặt với những áp lực, những khổ nạn mới như: sự phân hóa giàu nghèo, cạnh tranh và xung đột, ô nhiễm môi trường, sự tha hóa về mặt đạo đức, lối sống Để giúp con người giải thoát được những khổ nạn ấy, dường như chúng ta không thể không nhắc tới Phật giáo với những giá trị nhân bản trong việc giải thoát cho con người về mặt nhu cầu tâm linh, bù lấp khoảng trống và nỗi thất vọng trong lòng con người trong một thế giới vong thân Với khả năng điều chỉnh sự cân bằng trong nội tâm, Phật giáo có thể giúp con người sống hài hòa, an vui hơn trong thực tại

Ngày nay, có một điều ngạc nhiên khi mà nhân loại, đặc biệt là các nước Phương Tây đang có trào lưu hướng về Châu Á, nhất là hướng về đạo Phật Vì sao vậy? Điều này có thể lý giải một phần từ những giá trị nhân sinh của đạo đức Phật giáo Hơn nữa, Phật giáo đã thực sự nhập thế trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, kể

cả trong các hoạt động kinh tế, tưởng như rất xa lạ với giáo lý Phật giáo Hơn thế, Phật giáo hiện đại không dạy con người ta xa rời cuộc sống để làm thần, làm thánh hay xuất gia để làm hòa thượng nơi chùa chiền, rừng xa mà hướng tới cải tạo xã hội, cải tạo thế giới bằng đạo đức, làm cho con người chúng ta ngày càng nhân văn hơn

Trang 6

Phật giáo du nhập vào Việt Nam ta từ khá sớm và đã nhanh chóng hòa quyện với tín ngưỡng bản địa, trở thành một tôn giáo của dân tộc Trải dài suốt lịch sử phát triển Việt Nam, Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc Các thiền sư Việt Nam, đặc biệt là dưới các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần đã tích cực khi đem tài năng và trí tuệ của mình phục vụ cho đất nước, cho dân tộc mà không hề cầu lợi, luôn giữ thái

độ xuất thế Phật giáo do vậy còn tạo nên những yếu tố quan trọng của bản sắc văn hóa Việt Nam Cho đến hiện nay, vẫn còn rất nhiều tranh cãi về triết học Phật giáo, điển hình trong đó là Triết học Phật giáo Trần Nhân Tông có những đặc điểm và nội dung gì, tính hiện đại của triết học Trần Nhân Tông nằm ở vấn đề nào ? Để đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi này, cùng với sự say mê nghiên cứu Phật giáo Việt

Nam, tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số vấn đề trong triết học Phật giáo Trần Nhân

Tông” làm đề tài khóa luận của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Là một tôn giáo – triết học lớn, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước, Phật giáo có một khối lượng đồ sộ các công trình nghiên cứu tổng quan hay các khía cạnh khác nhau

Về khái niệm triết học Phật giáo cũng đã có nhiều bài viết, tiêu biểu là Đỗ

Quang Hưng với “Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hóa” (tạp

chí Khoa học xã hội số 9/006, tr58-66) Trong đây, tác giả đã rất đề cao vai trò của Phật giáo trong xã hội hiện đại và những thay đổi của Phật giáo nói chung cho phù hợp với thời đại Từ đó, tác giả đã chỉ ra nhiệm vụ của Phật giáo trong giai đoạn hiện nay Tác giả cũng nhấn mạnh, Phật giáo hiện nay là Phật giáo nhập thế Khái niệm “nhập thế” được tác giả phân tích, chứng minh là không đồng nhất với khái niệm “thế tục hóa” của phương tây, xu hướng nhập thế của Phật giáo được tác giả phân tích, chứng minh là không đồng nhất với khái niệm “thế tục hóa” của phương Tây

Tác giả Nguyễn Thị Minh Ngọc với “Phật giáo dân gian: con đường nhập thế

của Phật giáo Việt Nam” (tạp chí nghiên cứu tôn giáo số 8/2008, tr25-32) đã đi

phân tích rất cụ thể về khái niệm nhập thế dưới góc độ chức năng, nhiệm vụ của

Trang 7

tăng ni, Phật tử và đi đến kết luận: Phật giáo nhập thế là Phật giáo từ bi và đắc dụng Sau đó, tác giả đi làm rõ tinh thần nhập thế của Phật giáo dân gian Việt Nam,

Nhắc đến Phật giáo Việt Nam nói chung cũng như triết học Phật giáo nói riêng , chúng ta không thể không nhắc tới Trần Nhân Tông Ông đã kế thừa dòng chảy của những vị tiền bối đi trước và vận dụng linh hoạt nó vào tư tưởng Thiền giáo Nghiên cứu về ông cũng như về tư tưởng Thiền học có khá nhiều công trình như sau:

Tác giả Lê Mạnh Thát cũng có khá nhiều bài báo, bài nghiên cứu về Thiền học

hay cũng như những bài viết về Trần Nhân Tông Cụ thể là cuốn “Toàn tập Trần

Nhân Tông” (Nxb Tp HCM, 2000), qua khái quát tổng hợp toàn bộ những tư tưởng

và hành động của Trần Nhân Tông trong công cuộc dựng và giữ nước, đặc biệt tác giả đi nhấn mạnh vào tài khéo léo ứng dụng đạo Phật trong công cuộc trị quốc, an dân của Trần Nhân Tông Ngoài ra Lê Mạnh Thát còn viết một số cuốn sách như

cuốn “Trần Nhân Tông, con người và tác phẩm” (1999, Nxb Tp HCM); bài viết

“Một số vấn đề tư tưởng của Trần Nhân Tông” (ngày đăng: Thứ 7, ngày

10/8/2013); Ở đây, tác giả đã đi nghiên cứu tìm hiểu về Trần Nhân Tông nói chung cũng như là triết học Phật giáo Trần Nhân Tông nói riêng

Tác giả Nguyễn Tài Thư với điển hình trong cuốn “Xu hướng nhập thế trong

tư tưởng Phật giáo Trần Nhân Tông” (tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 11/2009,

tr.13-20) Tư quá trình phân tích lập luận tác giả đi đến kết luận: Ở Trần Nhân Tông thể hiện rõ sự thống nhất hai mặt ở con người ông là con người của triều thần và con người của Phật tử

Tiếp đến là những công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tài Đông, trong

“Việt Nam hóa Phật giáo ở Trần Nhân Tông” (Tạp chí triết học số 12/2008, tr

38-46), tác giả đã đi làm rõ tư tưởng “tức tâm tức Phật” của Trần Nhân Tông Từ đó đi phân tích và nhấn mạnh vào vai trò của Trần Nhân Tông trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông và tinh thần cởi mở của ông trong việc kết hợp tam giáo, trong đó lấy Phật giáo làm xương sườn cho vận mệnh quốc gia Tác giả cũng đi

Trang 8

khẳng định, Thiền học ở Trần Nhân Tông không thoát ly cuộc sống mà lúc nào cũng thấm đẫm hơi thở của cuộc sống, tất cả vì nhân sinh Cùng với đó là một số

bài báo, như “Việt Nam hóa Phật giáo ở Trần Nhân Tông” của tác giả Nguyễn Tài

Đông (Tạp chí triết học, số 12 (211), tháng 12 – 2008),

Tác giả Thích Chân Tuệ thì đã cho xuất bản hai cuốn “Cư trần lạc đạo” (Nhà

xuất bản Tôn giáo PI2551 – DL 2007) để giới thiệu cho độc giả một khái khái lược

và bao quát nhất về Trần Nhân Tông Trong cuốn sách tác giả đã đi vào từng phần một như: An lạc hạnh phúc, Bát chánh đạo, Bát phong, Bất tuy phong biệt, chánh kiến và chánh tín,… hay ở tập II, tác giả đã giới thiệu cho độc giả về Chánh ngữ, Giác ngộ và giải thoát, hay là Làm sao gặp Phật?

Tác giả Nguyễn Hùng Hậu với “Tinh thần nhập thế của Phật giáo Việ Nam

thời Lý – Trần” (Viện nghiên cứu Tôn giáo Hà Nội, 1990, tr39-45) Tác giả đã đưa

lăng kính thời kỳ Lý – Trần để nhìn nhận về tinh thần nhập thế của Trần Thánh Tông Và cho độc giả thấy rõ , nhập thế là sự lựa chọn tích cực của Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Lý – Trần nói riêng, trong đó Trần Nhân Tông là một nhân vật điển hình

Ngoài những tác giả đã nêu trên, còn có rất nhiều những công trình nghiên cứu

về Phật giáo Việt Nam nói chung, cũng như Phật giáo Trần Nhân Tông nói riêng Một trong số đó có một nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể như trong luận án của Bùi Huy Du “Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông” số 6222.80.01 Trong luận án này, tác giả đã đi nghiên cứu và hệ thống lại toàn bộ những tư tưởng triết học trọng tâm của Trần Nhân Tông như: thế giới quan trong tư tưởng triết học Trần Nhân Tông (tr 86-113), nhân sinh quan và triết lý đạo đức (tr.114-122) Hay Nguyễn Kim

Sơn với “Cội nguồn triết học của tinh thần Thiền nhập thế Trần Nhân Tông”;

Nguyễn Lang với Việt Nam Phật giáo sử luận” (Nxb Văn học, Hà Nội, 2008); Đỗ Trung Lai với “Trần Nhân Tông, nhân vật kiệt xuất nhất trong sơ đồ Phật giáo Việt Nam” (Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 1/2008) và rất rất nhiều công trình nghiên cứu cũng như các bài viết khác

Trang 9

Như vậy, cho đến nay đã có khá nhiều luận văn, luận án, cũng như các sách báo của các tác giả đi nghiên cứu về Phật giáo, Triết học Phật giáo nói chung, cũng như là triết học của Trần Nhân Tông nói riêng Với giới hạn nhận thức của bản thân cũng như giới hạn của bước đầu nghiên cứu, khóa luận của tôi kế thừa và phát huy

kết quả từ những công trình nghiên cứu đi trước, từ đó xây dựng nên “Một số vấn

đề cơ bản trong triết học Phật giáo của Trần Nhân Tông”

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của khóa luận là đi tìm hiểu về bối cảnh ra đời thiền phái Trúc Lâm, cũng như làm rõ một số vấn đề triết học Phật giáo của Trần Nhân Tông

Để hoàn thành mục đích trên, khóa luận của tôi sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau: Làm rõ bối cảnh hình thành triết học Phật giáo Trần Nhân Tông

Phân tích một số tư tưởng nổi bật triết học Phật giáo của Trần Nhân Tông

4 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu các tài liệu về bối cảnh Phật giáo Việt Nam thế kỷ XIII và các tác phẩm triết học Phật giáo của Trần Nhân Tông

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp luận của triết học Mác - Lênin và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, nghiên cứu văn bản để lập luận

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, tiểu kết và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận gồm 2 chương và 4 tiết

Trang 10

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH VÀ TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG HÌNH THÀNH

TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO CỦA TRẦN NHÂN TÔNG

1.1 Bối cảnh Phật giáo thời Trần

Bắt tay nghiên cứu vào Phật giáo mà bỏ qua Phật giáo thời Trần, thì quả là một thiếu sót vô cùng lớn Vì Phật giáo đời Trần là thời đại mà Phật giáo thật sự hoà nhập từ hình thức lẫn nội dung, yếu tố đưa đến thành công và những đặc sắc của đạo Phật

Đạo Phật thật sự đã được gieo mầm từ lâu và đã trải qua hàng bao thế kỷ, nó

đã thích nghi với con người và phong tục Việt Nam, đến đời Trần là đỉnh cao để Phật giáo Việt Nam đơm hoa kết nụ sau thời gian dài được Việt Nam hóa Phật giáo

đã trở thành cốt tuỷ và hoà nhập với nền văn hóa dân tộc Do đó nó hoàn toàn phù hợp với tâm tư nguyện vọng của dân tộc Việt Nam ta

Khi chiến tranh chống ngoại xâm Nguyên Mông, đạo Phật là trí tuệ tập hợp những tâm hồn yêu nước, thương dân, đoàn kết mọi người một lòng với ông Bụt từ

bi và giáo lý thực tiễn không tách rời cuộc sống bằng thân, khẩu, ý Đặc sắc của Phật giáo đời Trần là tính tích cực nhập thế, đạo không tách rời đời và đời cũng không thiếu vắng đạo, nó trở thành một hợp thể linh động, sáng tạo và diệu dụng trong mọi hoàn cảnh Có thể nói rằng các vị vua, các thiền sư đã sử dụng đúng tiềm năng của đạo Phật, khiến cho nó trở thành Phật giáo Việt Nam mà không phải Phật giáo Trung Hoa hay Ấn Độ từ cách nhìn, suy nghĩ cho đến hành động

Trang 11

1.1.1 Những chính sách buổi đầu của nhà Trần

Triều Lý1 tàn tạ và bất lực trong quản lý đất nước đã trở nên cần thiết phải được thay thế bằng một triều đại khác Nhà Trần2 đã thay thế nhà Lý cai trị đất nước, ban hành nhiều chính sách nhằm phát triển kinh tế và củng cố vương quyền của dòng họ Trần Do vậy, các vua Trần đã nhanh chóng phục hồi nền kinh tế của Đại Việt lúc bấy giờ, đồng thời đưa Đại Việt lên vị trí thành một cường quốc ở

Với những quyền lực to lớn về kinh tế, chính trị, quân sự… của quí tộc biểu hiện những yếu tố phân tán còn tồn tại trong xã hội đời Trần Tuy nhiên, những yếu

tố đó không những không gây ra tình trạng cát cứ chống lại chính quyền trung ương, mà về nhiều mặt còn làm tăng thêm sức mạnh cho triều đình Sự củng cố quan hệ họ hàng, bà con trong hoàng tộc bằng lợi ích kinh tế có tác dụng thắt chặt tinh thần cố kết trong giai cấp thống trị Điều đó cũng thể hiện rõ trong lời nói của

Trần Thánh Tông với các tôn thất : “Thiên hạ là thiên hạ của Tổ tông, người nối

nghiệp của Tổ tông nên cùng với anh em trong họ cùng hưởng phú quý Tuy bên ngoài thì cả thiên hạ tôn thờ một người, nhưng bên trong thì ta cùng các khanh là đồng bào ruột thịt, lo thì cùng lo, vui thì cùng vui” 3

1 Triều nhà Lý: niên đại kéo dài từ 1009 - 1225

2 Triều nhà Trần: niên đại kéo dài từ 1225 - 1400

3 Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Viện KHXHVN, Nxb KHXH, Hà Nội, 1998

Trang 12

Những bước phát triển mới trong chính sách buổi đầu của nhà Trần không những củng cố thêm cơ sở vật chất của quốc gia phong kiến, mà còn có tác dụng quan trọng nâng cao đời sống của người dân và tăng thêm sức mạnh quốc phòng của đất nước

1.1.2 Vài nét về đời sống tư tưởng đời Trần

Theo như chúng ta đã biết, Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ và truyền sang các nước Đông Á theo hai đường đó là: phía bắc sang Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên; phía đông sang Miến Điện, Thái Lan, Indonexia và miền nam Đông Dương Từ đó đã hình thành hai phái Phật giáo đại thừa và Phật giáo tiểu thừa

Trước tiên là Phật giáo đại thừa, Phật giáo đại thừa truyền sang nước ta vào

khoảng đầu công nguyên và phát triển mạnh trong các thế kỷ VII, VIII, IX Thời bấy giờ đã có những cao tăng người Việt xuất thân từ tầng lớp hào trưởng Từ khi nhà nước dành độc lập, Phật giáo tiếp tục phát triển và được coi là quốc giáo

Trị vì từ năm 968 đến 97, Đinh Tiên Hoàng đã phân phẩm hàm cho nhà sư và cấp tự điền cho nhà chùa Thời Tiền Lê, sư tăng ngày càng có vai trò quan trọng trong triều đình, được đặc biệt ưu đãi, thường giữ việc đi sứ hoặc tiếp sứ Đến thời

Lý, Phật giáo bước vào giai đoạn hưng thịnh nhất Và cho đến thời Trần thì Phật giáo thời bấy giờ đã chi phối xã hội một cách mạnh mẽ Bấy giờ, chùa chiền được dựng lên ở khắp nơi, từ kinh đô Thăng Long cho đến mọi miền của đất nước Cũng bấy giờ số người xuất gia tu hành rất đông, trong số đó có cả những người trong hoàng tộc, thậm chí là cả hoàng đế Trong hoàng tộc, nhiều người rất mộ Phật Họ thường thỉnh các bậc cao tăng về tư dinh để được nghe giảng đạo Phật giáo đời Trần đã có những đóng góp lớn lao, ưu điểm lớn nhất của Phật giáo là tinh thần khoan dung và tự do Phật giáo không bao giờ chống đối và chỉ trích Nho giáo và Đạo giáo Phật giáo đã để cho Nho giáo và Đạo giáo phát triển Chính những Phật

tử thuần thành nhất như Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông đã mở rộng Nho giáo Năm 1253, Trần Thái Tông lập Quốc học viện ở kinh sư và tạc tượng Chu Công, Khổng Tử, Mạnh Tử, cùng vẽ tranh 72 vị tiền hiền để thờ cúng Trần Thánh Tông

Trang 13

đã cho hoàng đệ là Trần Ích Tắc mở trường dạy Nho học Nhà Trần đãi kẻ sĩ một cách khoan dung, không hẹp hòi, hoà vị mà có lễ phép, cho nên nhân sĩ thời ấy ai cũng biết tự lập anh hào tuấn vì vượt ra ngoài lưu tục, làm cho quang vinh cả sử sách, không thẹn với trời đất

Bấy giờ, cùng chung thời thịnh với Phật giáo là Đạo giáo Đền miếu được dựng lên ở khắp nơi Số lượng đạo sĩ cũng khá đông đảo Trên vũ đài chính trị và tư tưởng của nước nhà, nhất là trong thời hùng mạnh của triều Trần, sau vị trí chi phối của Phật giáo chính là vị trí quan trọng của Đạo giáo Tuy nhiên, gắn liền với sự phát triển của Phật giáo và Đạo giáo đến thế kỷ XIV, Nho giáo vươn lên lấn át ưu

thế của Phật giáo Với các thuyết “Thiên mệnh” “Chính danh”, Nho giáo khuyên

người ta ở đời hãy chấp nhận danh phận của mình, trực tiếp bảo vệ trật tự quân chủ, biện hộ cho quyền áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị

Ở các thế kỷ X – XIV, Phật giáo ở Việt Nam đã phát triển cực thịnh Trong khi Nho giáo chưa trở thành ý thức hệ chính thống của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, thì Phật giáo đã có tác dụng thống nhất nhân tâm tạo điều kiện cần thiết để củng cố và phát triển nhà nước quân chủ Do vậy, Phật giáo ở các thế kỷ này có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ sinh hoạt văn hoá đương thời và in dấu rõ nét trong văn học, nghệ thuật Thế nhưng từ giữa thế kỷ XIV thì vị trí đó nó đã thay đổi hoàn toàn đó là Nho giáo đứng vị trí quan trọng nhất, kế đến là Phật giáo, sau cùng

là Đạo giáo Đến đầu thế kỷ XV, tình hình đó lại biến đổi nữa đó là từ đây trở đi Nho giáo chiếm vị trí độc tôn, còn Phật giáo và Đạo giáo tuy vẫn tiếp tục phát triển, thậm chí là không hề thua kém trước đó nhưng đã lùi ra khỏi vũ đài chính trị, tư tưởng để phát triển ở trong lòng xã hội Đây là nét mới trong đời sống tư tưởng của đời Trần Có một số người cho rằng như thế là Phật suy, Đạo suy là không đúng Bởi vì nó không còn có mặt trên vũ đài chính trị và tư tưởng Sự phát triển của một tôn giáo không phải là tôn giáo đó có bao nhiêu người làm quan Điều đáng nói trong đời sống tư tưởng là chủ nghĩa yêu nước lúc này là dòng chủ lưu nhưng đã góp phần làm cho chủ nghĩa yêu nước phát triển Trong đó có cả sự cống hiến của nhà Phật

Trang 14

“Nhân loại vĩnh viễn mắc vào ba vấn đề cơ bản: Xung đột với thiên nhiên; Xung đột với tha nhân; Xung đột với chính mình” Bertrand Russell đã nhận xét

Nhờ có đủ tài đức mà các vị vua Trần đã động viên được sự đoàn kết ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân Do đó đã lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống quân xâm lược đạt đến thành công rực rỡ Lịch sử cho chúng ta thấy, mỗi khi tổ quốc đứng trước những thử thách khắc nghiệt một mất một còn thì mọi người cùng đoàn kết bên nhau để bảo vệ sự sống còn của bản thân mình và sự tồn tại của quê hương

xứ sở Nhưng muốn thu phục được toàn dân thì các nhà lãnh đạo phải có thực tài thực đức Đó là những yếu tố rất tiên quyết mà các vì vua đầu đời Trần đều có đủ Nhờ vậy mà họ đã thành công Theo đà của những cuộc chiến thắng, mọi người đều phấn khởi tinh thần, do đó đất nước phát huy được nhiều mặt tích cực, như nền kinh tế mở mang, pháp luật nghiêm minh, chính trị ổn định, võ bị vững chắc, ngoại giao thắng lợi, văn học khởi sắc, giáo dục được củng cố.v.v… Tất nhiên không loại trừ cơ hội thuận lợi nhất cho việc phát triển tôn giáo, đê cao và quảng bá chính pháp Các nhà lãnh đạo quốc gia lúc bấy giờ vốn là những Phật tử thuần thành Thế nên những chiến công chính nghĩa, vẻ vang của họ cũng có thể mặc nhiên xem như những thắng lợi của Phật giáo Trong hoàn cảnh mà đất nước trên đà cường thịnh, dân chúng an cư, lạc nghiệp mọi người có điều kiện phát huy tài năng về nghề nghiệp của mình để kiến tạo một xã hội thanh bình, xây dựng tương lai tươi sáng, thì một tôn giáo mang bản chất nhập thế hành động như đạo Phật, hẳn nhiên được phát triển rực rỡ lúc bấy giờ

1.2 Một số tiền đề tư tưởng cho sự hình thành triết học triết học Phật giáo

Trần Nhân Tông

Về danh nghĩa, tông Trúc Lâm ra đời năm 1229 khi Trần Nhân Tông xuất gia vào núi Yên Tử tu hành, thu nhận đồ đệ hình thành sơn môn Yên Tử Thế nhưng trên thực tế, tư tưởng sơn môn Yên Tử phải kể từ khi Trần Thái Tông, Tuệ Trung thượng sĩ, hai tiền bối của Trần Nhân Tông.4 Cho nên nghiên cứu tư tưởng triết học

4 Trích trong “Triết học Phật giáo Việt Nam”, tr.415, PGS Nguyễn Duy Hinh, Nxb.VHTT và Văn hóa Việt Nam

Trang 15

thiền phái Trúc Lâm không thể không đề cập tới hai vị tiền bối đó Dưới đây, dưới nghiên cứu của một bài khóa luận, tôi đề cập tới 3 vị: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Tuệ Trung thượng sĩ là những người có ảnh hưởng lớn tới tư tưởng Trần

Nhân Tông

1.2.1 Trần Thái Tông – Trần Thánh Tông, hai vị Hoàng đế đầu đời Trần và

những chủ trương đối với Phật giáo

Trần Thái Tông chính là vị tiền bối đầu tiên mà Trần Nhân Tông chịu ảnh hưởng Trần Thái Tông tên là Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa, sinh năm Mậu Dần niên hiệu Kiến Gia thứ tám (1218) Triều Lý Gia thế ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Tức Mặc,huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định) ông cha làm nghề đánh cá Nhờ có công dẹp loạn, họ Trần dần dần có thế lực từ đời Lý Cao Tông Trần Cảnh mới có tám tuổi được Lý Chiêu Hoàng nhận làm chồng và truyền ngôi cho, lấy hiệu là Thái Tông Thế là sự nghiệp nhà Lý đến đây đã chấm dứt Lịch

sử Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn nhà Trần Năm Thái Tông lên 20 tuổi, Lý Chiêu Hoàng 19 tuổi đang là Hoàng hậu, bị Trần Thủ Độ ép Thái Tông giáng Chiêu Hoàng làm công chúa, lấy Thuận Thiên là vợ Trần Liễu (anh ruột Thái Tông) làm Hoàng Hậu Lý do, vì Trần Thủ Độ nôn nóng Thái Tông có con để

kế thừa, mà Chiêu Hoàng chậm con, Thuận Thiên đang mang thai

Trước khi Trần Thái Tông yên tâm ở ngôi báu trị vì đất nước, năm 1236, theo

bài tựa “Thiền tông chỉ nam”, ông đã trốn lên Yên Tử gặp Quốc sư Trúc Lâm đại sa môn xin đi tu Theo sách “Thiền uyển tập anh” thì vị Quốc sư này có thể là Viên

Chứng, thế hệ nhà sư thứ hai tu ở Yên Tử Trần Thái Tông đã chịu ảnh hưởng tư tưởng Thiền trực tiếp từ vị quốc sư này Theo lời khuyên của Quốc sư, Trần Thái Tông đã thuận lòng trở về kinh thành, vừa chuyên tâm cai trị đất nước, vừa gắng

sức nghiên cứu Thiền họ Sau khoảng 10 năm, ông đã viết cuốn “Thiền tông chỉ

nam” Sách này nay không còn mà chỉ còn bài tựa Theo đó, ta biết được lời khuyên

của Quốc sư và căn cứ vào hành trạng của Trần Thái tông, ta có thể đoán định rằng

ông đã thấu triệt tôn chỉ Thiền tông trong lời khuyên này: “Trong núi vốn không có

Phật Phật ở ngay trong lòng Lòng lặng lẽ mà hiểu, đó chính là Phật nay nếu bệ

Trang 16

hạ giác ngộ điều đó thì lập tức thành Phật, không cần khổ công tìm kiếm bên ngoài”5

Qua câu nói này có thể thấy những thành tựu tư tưởng Thiền Phật giáo thời

Lý đã có ảnh hưởng lớn đến các vị trụ trì trên núi Yên Tử, chịu ảnh hưởng của thiền phái Vô Ngôn Thông, là phái thiền tập trung vào khái niệm tâm Theo Thiền phái

Vô Ngôn Thông thì Phật tức tâm, tâm tức Phật, khi người tu tập khiến cho cái tâm trở nên trong sạch, trở nên siêu việt trên mọi ý niệm, trở thành “tâm không” thì đó chính là lúc tâm đồng nhất với Phật Lời của Quốc sư đã chỉ ra những yếu chỉ cơ bản của Thiền Vô Ngôn: 1-Phật tại tâm (lòng), 2-tu tập đến độ giữ cho tâm yên tĩnh, phẳng lặng , đạt tới “tâm không” mà thấu đạt mọi lẽ là đạt tới cảnh giới Phật, 3-Giác ngộ được chân lý đó là thành Phật Với những chỉ dẫn này của Quốc sư, Trần Thái Tông đã trở về kinh thành và suy niệm, triển khai tư tưởng Thiền theo hai hướng: 1-tiếp tục triển khai tư tưởng “tâm không” như là bản thể, diệu tính, chân như của vạn vật và một số tư tưởng Thiền học khác mang tính lý luận siêu hình uyên áo; 2-hướng dẫn phương pháp tu tập Thiền để thanh lọc thân tâm, hướng tới giác ngộ Tất thảy những tư tưởng đó đều có trong sách “Khoá hư lục”- sách tập hợp một số tác phẩm của ông còn lại đến ngày nay Theo Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ thì Trần Thái Tông viết sách này sau khi nhường ngôi vào núi tu hành, trong khoảng từ năm 1258 đến năm 1277

“Khóa hư lục” gồm tất cả 3 quyển, trong đó “quyển Thượng” và “quyển

Trung” và “quyển hạ”

Đầu tiên là Quyển thượng Trong cuốn này nói về nghĩa “hư vô” và chỉ ra

rằng, vì người ta không biết thân mình là hư vô nên mới chìm đắm ở bến mê, trôi dạt trong bể khổ và qua lại vòng luân hồi, lên xuống trong khoảng bốn núi, bốn núi nói ở đây là sinh, lão, bệnh, tử Trong quyển thượng, tác giả cho rằng thân người là đáng trọng đáng quý, và chính vì thế nên phải biết trân trọng và giữ gìn Ngoài ra ông cũng chỉ ra cho chúng ta biết về ba điều khó gặp của thân, đó là: thứ nhất, trong sáu đường (lục đạo) thì chỉ có con người là quý nhất; thế mà không được làm người

5 Tổng tập văn học Việt Nam.Sđd Tập 2 Tr 30

Trang 17

mà rơi vào con đường khác - đó là điều khó gặp thứ nhất; điều khó gặp của thân thứ hai là được làm người nhưng lại sinh ở nơi mọi rợ… không được giớ nhân, không nhuần thánh hoá; điều khó gặp cuối cùng là tuy sinh ra ở đất nước văn minh nhưng sáu căn không đủ, bốn thể không toàn

Theo Trần Thái Tông, tuy “thân mệnh” là đáng trọng, nhưng cũng còn chưa

trọng bằng cái đạo tối cao Các bậc thánh nhân khinh thân mình mà trọng đạo.Muốn vượt vòng luân hồi lục đạo thì chỉ còn đường tắt nhất thừa (bồ tát) Nên tìm chính kiến; chớ tin tà sư Hiểu rồi mới có lối vào; tu được mới hay thoát tục.Đó là mục đích của Trần Thái Tông muốn mọi người tích cực đi vào con đường tu hành để tránh sự mê lầm, để “trở về quê hương”, tức bản lai diện mục, kiến tính thành Phật

Sau “Quyển hạ” là “Quyển trung” gồm các bài kệ và các bài văn chúc hương

buổi sáng, bài kệ dâng hương, bài kệ dâng hoa và bài văn khải bạch Quyển hạ bắt đầu bằng bài kệ răn chúng chập tối, bài văn chúc hương chập tối, bài kệ dâng hương, bài kệ dâng hoa, bài văn khải bạch, rồi đến mấy bài sám hối về các tội thiệt căn, thân căn, ý căn, tương đương với ba buổi mặt trời lặn, nửa đêm và cuối đêm,

mỗi bài sám hối cũng đều kèm theo những câu và những bài như ở quyển trung

Ông quan niệm bản thể là không, thế giới hiện tượng cũng là không, chẳng

qua là do vọng niệm, do cái tâm chấp cảnh mà thành khởi niệm Một trong những nét dặc thù của Trần Thái Tông là việc ông dùng hình ảnh “Quê hương” để diễn tả

về cái Phật tính, Tự tính, nhằm khơi dậy tình cảm của con người trên con đường tu hành giác ngộ

Theo ông, con đường nhận thức được bản thể vốn không và đích cuối cùng là giải thoát, là sự từ bỏ vọng niệm, vọng tâm để đến với trạng thái vô niệm của tâm -

đó là con đường nhận thức luận Con đường ấy trải qua các bước trì giới, thiền định cuối cùng là giác ngộ Tam học kết hợp với sám hối Ông nhấn mạnh rằng, “muốn rửa thân và tâm mà không dùng lễ sám hối thì khác gì muốn tiện đi lại mà không dùng thuyền xe” Sám hối là nhằm gột rửa sạch mọi nhơ bẩn để “khiến thân lòng trong trẻo, trụi sạch như trước, gió tắt sóng lặng …” Trần Thái Tông đã lấy sáu căn

chia sáu buổi, mỗi buổi làm lễ sám hối một căn Gọi là lục thì sám hối

Trang 18

Khi bàn về “giới định tuệ” ông cho rằng, con đường của chư Phật chỉ có kinh Phật mà thôi Những điều trong kinh không ngoài ba việc: Giới định tuệ Giải thoát luận nói rằng, giới định tuệ là nói về con đường giải thoát.Giới nghĩa là uy nghi; định nghĩa là không loạn; tuệ nghĩa là hiểu biết Giới là giai đoạn đầu; định là giai

đoạn giữa; tuệ là giai đoạn cuối của thiện… Ngoài giới định tuệ, Trần Thái Tông

còn bàn về niệm Phật Mục đích của niệm Phật là nhằm khơi dậy nghiệp chính và dập tắt ba nghiệp chướng do thân, miệng và ý gây ra

Bài tựa Thiền tông chỉ nam với quan điểm “Phật không phân biệt Nam Bắc, ở đâu cũng có thể tu cầu; tính có cả trí ngu, tính nào cũng có thể giác ngộ” Lời của Trúc Lâm đại sa môn đã làm cho ông thức tỉnh khi biết tâm trạng của ông muốn vào núi cầu Phật: Trong núi vốn không có Phật, chỉ có trong lòng Lòng lặng mà biết, ấy

là chân Phật Ví bằng Bệ hạ giác ngộ lòng ấy, thì lập tức thành Phật, không cần phải

nhọc cầu ở ngoài Thấm nhuần điều đó, lại đọc kinh Kim Cương có câu “Ưng vô sở

trụ nhi sinh kỳ tâm” (Đừng bám vào gì mà để lòng vào, tức xem mọi vật đều là

không hết mà đối với mọi vật đều là vô tâm), Trần Thái Tông bỗng nhiên giác ngộ Tác phẩm “Khóa Hư Lục” của Trần Thánh Tông đã khẳng định rõ ràng bản thế của thế giới (Phật tính, chân như, v.v.) tất thảy đều là không Đã vạch ra phương pháp đạt đạo (đi đến giác ngộ thông qua tu hành sám hối,…) Đây là một Khóa tác phẩm mang ý nghĩa lý luận sâu sắc cho thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, được Tuệ Trung thượng sĩ (Trần Tung) và Trần Nhân Tông cũng như các thiền sư về sau phát triển thành hệ thống giáo lý quan trọng

Qua đây, ta có thể rút ra được một số tư tưởng Thiền học căn bản Thiền học

của Trần Thái Tông đó là lấy tâm làm khái niệm căn bản để chỉ bản thể của thế giới Trần Thái Tông kế thừa quan niệm bản thể thế giới là không của Thiền học thời Lý:

“Nguyên lai, tứ đại vốn là không, ngũ uẩn cũng chẳng có Từ không khởi ra hư vọng, từ hư vọng thành ra sắc tướng mà sắc tướng là từ cái chân không” 6

Bốn núi chót vót muôn khóm xanh, Hiểu ra thì tất cả là hư vô, vạn vật là không”7

6 Tổng tập văn học Việt Nam.Sđd Nói rộng về bốn núi.Tập 2.Tr 34

7 Nt Bài kệ về bốn núi Tr 35

Trang 19

Bên cạnh khái niệm về tính không như trên, Trần Thái Tông còn đưa ra các

khái niệm “chân tể”, “bản tính”, “chân tâm” “bản tâm” để chỉ bản thể của thế giới: “Bản tính huyền ngưng, chân tâm trạm tịch, dứt tuyệt ý niệm về tròn khuyết,

nếu không phải là người trí thì không truy cứu đến giềng mối của nó Nó không hợp, không tan, không mất, không còn… Vì nó không phải hữu cũng không phải vô, không đạo cũng không tục, nó độc tồn, siêu nhiên, ngoài nó không có gì khác, vì vậy nó là tự tính kim cương8

Quan niệm chân tâm đồng nhất với tính không như trên của Trần Thái Tông

có rất nhiều điểm đồng nhất với quan niệm về “đạo” của Lão Tử Điều này cũng được ông thừa nhận khi tiếp tục quan điểm Thiền học thời Lý cho rằng mọi người đều có Phật tính, ai ai cũng có thể thành tựu được quá trình tu tập, đạt tới giác ngộ

nếu nhận thức được Tâm không: “Nào biết bồ đề giác tính, ai nấy viên thành; hay

đâu trí tuệ thiện căn, người người đều đủ Chẳng cứ đại ẩn tiểu ẩn; đâu nền tại gia xuất gia.Chẳng nề tăng tục, chỉ cốt tỏ lòng; nào kể gái trai, cớ sao nề tướng?Người chưa hiểu chia bừa thành tam giáo; giác ngộ rồi cùng thấu một chữ tâm”9

Từ quan niệm tâm không đồng nhất với Phật tính, đồng nhất với bản thể của

vũ trụ, Trần Thái Tông đi tới những kiến giải nhận thức luận về thế giới sự vật hiện tượng bên ngoài

Lý giải sự xuất hiện của thế giới giả tượng, Trần Thái Tông cho rằng do niệm khởi, duyên hội, ngũ uẩn hợp thành Chân tâm vốn như gương, do vọng niệm mà

trở nên mờ tối, do đó mà có thế giới giả tượng: “Pháp tính như như, không vướng

mảy may niệm lự Chân tâm lặng lặng xưa nay vốn dứt bụi nhơ.Chỉ vì bị che lấp nên vọng duyên mới khởi, ảo thể hiện thành”10 Do vậy, cần phải làm cho chân tâm trở lại tĩnh lặng, trong sáng để dập tắt vọng duyên, có vậy mới thấy được chân tính, bản thể

8 Trích theo Lịch sử Phật giáo Việt Nam Nguyễn Tài Thư chủ biên.NXB KHXH.HÀ Nội 1988

Tr 219-220

9 Tổng tập văn học Việt Nam.Tập 2.Sđd Rộng khuyên mọi người mở lòng bồ đề.Tr 50.

10 Trích theo Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nguyễn Tài Thư chủ biên, NXB KHXH Hà Nội 1988

Tr 220

Trang 20

Tuân thủ nguyên lý căn bản của Thiền học “kiến tính thành Phật” Ông cho rằng: “Người học đạo chỉ cốt thấy được bản tính”11 Theo nguyên tắc Thiền học, Trần Thái Tông quan niệm, để kiến tính, thấy được bản tính Phật, thấy được chân

tể, phải “cố thủ nội khán” (quay đầu nhìn vào bên trong), hướng vào tu tập nội tâm

để thấy tính: “Nếu hay phản chiếu hồi quang, đều được rõ tính thành Phật” 12 Như vậy, Trần Thái Tông tiếp tục xu hướng Thiền học Vô Ngôn Thông, chú trọng việc chiêm nghiệm tính không là bản thể vũ trụ, là chân tể của vạn vật.Khi quay đầu nhìn vào bên trong (nguyên tắc thanh lọc nội tâm), tu tập để cho tâm bình lặng, đạt tới trạng thái Tâm Không (dứt mọi niệm), là khi đó đã đạt tới cảnh giới Phật Do vậy, Phật tại tâm, không cần tìm kiếm đâu xa Càng tìm kiếm ở ngoại giới thì càng xa rời “quê hương”- xa rời Phật tính- bởi quá trình tìm kiếm ở ngoại giới

đó sẽ bị lục căn, lục tặc (các giác quan) làm cho mê lầm:

“Mũi quyện mùi thơm, lưỡi tham vị ngọt, Mắt mờ vì sắc đẹp, tai mê tiếng hát hay

Mãi mãi làm khách phong trần trôi dạt, Ngày càng xa quê hương muôn vạn dặm đường” 13

Qua một số tư tưởng Thiền học căn bản của Trần Thái Tông nêu trong sách

“Khoá hư lục” như trên, chúng ta thấy những tư tưởng này cuả ông một mặt là sự

tiếp nối tư tưởng Thiền học của phái Vô Ngôn Thông dưới thời Lý, mặt khác là sự

lý giải cụ thể hơn và sâu sắc hơn các nguyên lý tư tưởng mang tính siêu hình của Thiền học Nhờ đó, người học đạo dễ dàng tiếp cận tới chân lý Thiền học hơn là những bài kệ súc tích mang tính yếu chỉ Thiền dưới thời Lý Cũng do vậy mà Thiền học qua cách diễn giải của Trần Thái Tông trở nên gần gũi với nhận thức với người

tu thiền và dân chúng Đó là đặc trưng tư tưởng Thiền học của Trần Thái Tông

11 Tổng tập văn học Việt Nam.Tập 2.Sđd Bàn về ngồi thiền Tr.62

12 Nt Sđd Rộng khuyên mọi người mở lòng bồ đề Tr.48.

13 Nt Sđd Núi thứ nhất Tr 37

Trang 21

Vậy tu tập Thiền như thế nào? Xuất phát từ các nguyên lý tư tưởng Thiền học căn bản nêu trên và từ các luận thuyết Phật giáo căn bản về Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Nghiệp, Thập nhị nhân duyên… Trần Thái Tông đưa ra những phương pháp tu tập Thiền để người tu hành không bị mê lầm trên con đường chứng ngộ Phật tính

Dựa trên lý lẽ của cả Nho, Phật, Đạo, Trần Thái Tông cho rằng: con đường tu tập, thanh lọc thân tâm trước nhất phải là thực hành ngũ giới: không sát sinh, không trộm cắp, không mê nữ sắc, không nói càn và không uống rượu Như vậy, trên con đường tu tập thì giới là bước khởi đầu Đây chính là giai đoạn chế định ham muốn, kiểm soát bản thân khỏi sự quyến rũ của các giác quan Tuân thủ triết học Phật giáo

về giải thoát, Trần Thái Tông dẫn giải quá trình đi tới giác ngộ là con đường thiện

và chia con đường giải thoát thành 3 giai đoạn: giới, định, tuệ Người tu hành thực hành tốt cả ba giai đoạn thì mới có thể hoàn toàn giác ngộ

Giai đoạn đầu, nếu thành tựu được, người tu tập sẽ vui mừng khiến thân nghiêng ngả nên vẫn chưa kiểm soát được cái tâm

Giai đoạn hai của thiện, giúp cho thân dừng lại, giúp tâm đứng vững “Vì tâm

đứng vững nên nhận biết được sự chân thực Do vậy gọi là giai đoạn giữa của thiện”14 Để đạt được giai đoạn hai của thiện là định, ông tập trung vào một số phương pháp tu tập cơ bản cho người hành thiền: thụ giới, niệm Phật, ngồi thiền Thụ giới là việc tiếp nhận giới luật của Phật giáo Người tu hành như người qua sông phải dùng bè mảng tiếp nhận giới luật của Phật giáo giống như việc dùng bè

để qua sông vậy “Giới như thuyền bè vượt qua bể khổ Giới như chuỗi ngọc làm

cho pháp thân trang nghiêm”15.Thực hành giới luật Phật giáo chính là để chấm dứt nghiệp thân.Cùng với phương pháp thụ giới là phương pháp niệm Phật Ai cũng có điều nghĩ, ai cũng có điều nảy sinh.Nghĩ, nảy sinh điều thiện thì nghiệp thiện khởi.Nghĩ, nảy sinh điều ác thì nghiệp ác khởi Tất cả đều do tâm động khởi mà thành ý Để khơi dậy ý nghĩa chân chính không gì bằng niệm Phật Cuối cùng là phương pháp Ngồi thiền, mục đích cuối cùng của thiền giả là chứng nghiệm Tâm

14 Tổng tập văn học Việt Nam.Tập 2.Sđd Bàn về giới định tuệ.Tr 58.

15 Nt Sđd Bàn về thụ giới.Tr 59

Trang 22

không, thấy được bản tính, giác ngộ Trần Thái Tông nhấn mạnh mục đích và tầm

quan trọng của phương pháp ngồi thiền là: “Người học đạo chỉ cốt thấy được bản

tính Tuy chịu tất cả mọi tịnh giới mà không ngồi thiền thì định lực không sinh.định lực không sinh thì ý nghĩ sai lầm không diệt được, thế mà lại muốn thấy bản tính, chẳng cũng khó sao!” 16 Ông cho rằng cả đi, đứng, nằm, ngồi đều có thể thiền

nhưng chỉ có ngồi thiền mới là phương pháp hiệu quả nhất để dập tắt ý nghĩ, không

để “tâm vượn” trỗi dậy.Tuy nhiên, cũng có người ngồi thiền mà không tắt mọi ý nghĩ thì đó là giả thiền và nguy hiểm như “ngồi dưới núi hắc Sơn trong hang quỷ”17.Ông cũng chia ngồi thiền làm bốn loại để người tu hành tự kiểm nghiệm xếp loại hành thiền của mình đang ở mức độ nào.Loại dùng kế lạ làm vui người trên, chán kẻ dưới mà tu hành gọi là ngoại đạo thiền.Loại hết lòng tin ở nhân quả nhưng cũng lấy việc làm vui, gây chán mà tu gọi là phàm phu thiền.Loại hiểu rõ lẽ cuộc sống là không, chứng riêng được đạo chân chính mà tu hành, là tiểu giáo thiền.Loại hiểu rõ người và pháp đều không mà tu hành là đại giáo thiền Và Trần Thái Tông khuyến khích mọi người tu theo đại giáo thiền18

Giai đoạn tuệ là giai đoạn cuối cùng của Giác ngộ Theo Trần Thái Tông, “Tuệ

sinh ra từ định lực Nếu như tâm định thì gương tuệ sinh; nếu tâm loạn thì gương tuệ mất” 19 Nhưng ông cũng cho rằng định và tuệ có quan hệ tương hỗ lẫn nhau:

“Cho nên biết rằng tuệ xuất hiện từ định; định nảy sinh từ tuệ Định và tuệ nương dựa nhau, không bỏ sót một bên nào” 20 nếu ngồi thiền mà tâm không định thì

gương tuệ không thể sinh, nếu có tuệ tính mà không tập ngồi thiền thì cũng không

thể đạt được gương tuệ “vắng lặng mà thường chiếu, thường chiếu mà vắng lặng”21 Giai đoạn tuệ là giai đoạn lý tưởng của thiền giả Đạt được trạng thái tuệ là thiền giả

16 Tổng tập văn học Việt Nam.Sđd Tập 2.Bàn về ngồi thiền.Tr 62

17 Nt Tr 63

18 Nt Tr 63

19 Tổng tập Văn học Việt Nam.Sđd Bàn về gương tuệ.Tr 63.

20 Tổng tập văn học Việt nam.Sđd Tập 2.Bàn về gương tuệ Tr.63

21 Nt Sđd Tr 64

Trang 23

đã đạt được trạng thái tâm không, chứng ngộ được bản tính, giác ngộ được chân lý Phật tại tâm

Như vậy, con đường tu tập của thiền giả bắt buộc phải trải qua ba giai đoạn giới, định, tuệ nói trên Đó cũng là con đường thiện, thanh lọc thân tâm, quay đầu nhìn vào bên trong tâm thức, khiến cho thân được trong sạch, kiềm chế được lục tặc, định được tâm, từ đó mở ra huệ nhãn giác ngộ chân lý nhà Phật Trì giới, niệm Phật, ngồi thiền là ba phương pháp căn bản mà thiền giả phải luôn luôn thực hành trên con đường thiện để đạt được chân lý Phật tại tâm nói trên của Thiền phái Trần Thái Tông được coi là người khơi nguồn Thiền học thời Trần Bộ sách

“Khoá hư lục” là bộ sách mà Trần Thái Tông đã thâu tóm toàn bộ những yếu chỉ

căn bản về tư tưởng và phương pháp tu thiền của Thiền học Vô Ngôn Thông, diễn giải chúng hết sức dễ hiểu và đầy đủ trong như trên đã phân tích Sự tổng hợp và hệ thống những yếu chỉ Thiền học đó của Trần Thái Tông không chỉ có ý nghĩa xây dựng những nền tảng cơ bản cho Thiền học thời Trần phát triển, giúp cho người tu thiền đương thời và hậu thế tránh được những mê lầm trong nhận thức và thực hành thiền, mà còn giúp phổ biến Thiền học và thu hút quảng đại dân chúng hướng tới tu Thiền bởi sự giản dị, khúc triết trong cách dẫn giải tư tưởng và phương pháp tu thiền đó

Trần Thánh Tông là cha của Trần Nhân Tông, vậy nên tư tưởng của ông có

ảnh hưởng rất lớn tới Trần Nhân Tông

Vua Trần Thánh Tông tên là Trần Hoảng, là con thứ hai của Trần Thái Tông, thân mẫu là Thuận Thiên thái hậu, người họ Lý Thực ra, vua là con trưởng Nhân vua Thái Tông mơ thấy trời trao cho một gươm báu, Hoàng hậu liền có mang Giờ ngọ ngày 25 tháng 9 năm Canh Tý (1240 ) tại kinh thành Thăng Long, vua sinh ra liền lập làm Hoàng thái tử Lên ngôi ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ (1258 ) đổi niên hiệu Thiệu Long Bản chất thiên tài, vẻ toát ra ngoài sáng ngời, mang sẵn những điều khác thường, xử sự dứt khoát, vừa xem rộng mọi sách vở, lại rất tinh thông nội điển Vua ở ngôi hai mươi năm, rồi nhường ngôi cho con là Thái tử Khâm (Trần Nhân Tông) để lên làm Thái thượng hoàng 12 năm Sau đó xuất gia ở chùa

Trang 24

Tư Phúc, thờ quốc sư Đại Đăng làm thầy Hằng ngày vua thường bàn luận với các thiền khách, được truyền sâu ý nghĩa thiền, tự là Vô Nhị Thượng Nhân Vua mất ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần (1290), thọ 50 tuổi

Trong thời Ngài làm vua thì đất nứớc thạnh trị thái bình Lúc Trần Thái Tông còn ở ngôi vua thì giặc Nguyên sang đánh lần thứ nhất Thời gian Ngài làm vua thì không có giặc Khi Ngài truyền ngôi cho Nhân Tông lên làm Thái thượng hoàng thì giặc Nguyên sang đánh lần thứ hai Nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc đã được bảo vệ và củng cố một phần lớn là nhờ vua Trần Thánh Tông cùng với con mình là vua Trần Nhân Tông lãnh đạo thành công hai cuộc chiến tranh vệ quốc năm

1258 và 1278 Qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc ấy, vua Trần Thánh Tông thể hiện

là một vị anh hùng dân tộc Trong giai đoạn nắm quyền từ năm 1258 cho đến 1278, vua Trần Thái Tông đã tiến hành một đường lối ngoại giao mềm dẻo nhưng kiên quyết với mục đích giúp dân tộc có đủ thời gian bồi dưỡng tiềm lực nhằm đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược, mà kẻ thù đang tìm cách áp đặt lên nước ta Chính nhờ đường lối ngoại giao mềm dẻo ấy, đất nước Đại Việt có hòa bình để chuẩn bị

và xây dựng lực lượng làm cơ sở cho những chiến thắng vang dội trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1258 và 1278

Về mặt tư tưởng thì trong học lý Thiền Tông, vua Trần Thánh Tông có hai đóng góp lớn Thứ nhất, nhà vua tiếp thu ảnh hưởng xu thế chung của Phật giáo thời đại mình cùng với tư tưởng thiền thuộc trường phái Dược Sơn Duy Nghiễm (751 - 841) Chính dưới thời vua Trần Thánh Tông tại ngôi, mà chùa Phổ Minh lịch sử hiện còn tới ngày nay đã được xây dựng Thứ hai, vua Trần Thánh Tông đã công khai chấp nhận trường phái thiền Đại Huệ Trường phái này do Đại Huệ Tông Cảo (1089 - 1163) thành lập Đại Huệ Tông Cảo là một nhân vật lớn của trường phái Lâm Tế thuộc chi phái Dương Kỳ Phần Hội Trường phái thiền này ảnh hưởng đến

tư tưởng thiền của vua Trần Thánh Tông, vì nó phù hợp với xu thế tư tưởng chung của thời đại nhà vua và đất nước Đại Việt lúc bấy giờ

Vua Trần Thánh Tông là một ông vua tu ngộ đạo, những tác phẩm của ngài để lại cho chúng ta thấy ngài là người thấu lý đạo tường tận sâu xa Cuộc sống thiền

mà vua Trần Thánh Tông muốn đạt đến hết sức đơn giản và bình dị Nền Phật giáo

Trang 25

của giai đoạn này là nền Phật giáo thế sự, kêu gọi mọi người cùng đóng góp tuỳ theo khả năng của mình để xây dựng một thế giới an lạc cho bản thân, gia đình và cộng đồng

Ta có thể dễ dàng bắt gặp tư tưởng của Lý Cao trong thơ văn Trần Thánh Tông Chẳng hạn bài thơ đầu tiên do Thánh đăng ngữ lục tờ 12a8 - b3 chép lại của vua Trần Thánh Tông đọc thế này:

Bốn chục năm hơn một tấm lòng Muôn trùng cửa ngục vượt ra xong Động như hang trống gào vang gió Tĩnh tựa hồ yên trăng sáng trong Câu nọ năm huyền mình hiểu hết Đường kia mười chữ mặc xáo xông

Có người hỏi tớ tin gì mới Mây tại trời xanh nước ở thùng

Câu cuối nguyên văn chữ Hán là:

Vân tại thanh thiên, thủy tại bình

Câu thơ gốc nằm trong bài tứ tuyệt do Lý Cao (772 - 841) viết để tặng cho thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm (751 - 834):

Luyện đắc thân hình tợ hạc hình, Thiên chu tùng hạ lưỡng hàm kinh

Ngã lai vấn đạo vô dư thuyết, Vân tại thanh thiên, thủy tại bình

Vậy Lý Cao là ai? Và ông có những tư tưởng nổi bật nào? Lý Cao, tuy là một Phật tử, nhưng đã có những bài viết lên án việc độ tăng và làm chùa to đúc Phật lớn Ông cho rằng những việc làm đó chẳng có công đức gì mà chỉ là những việc làm hút máu mỡ của dân Đối với việc độ tăng, Lý Cao cho rằng: “Những môn

đồ đạo Phật không chăn tằm mà quần áo đầy đủ, không cày bừa mà ăn uống sung túc, ngồi rỗi mà kẻ phục dịch có đến mấy nghìn trăm vạn người Suy ra đủ biết tất

có bao nhiêu người đói rét” Đối với việc làm chùa, đúc tượng, ông lý luận

Trang 26

những việc làm ấy tốn kém hơn xây dựng cung A phòng và đặt vấn đề: “Đó há chẳng phải đều lấy từ nhân tài vật lực của trăm họ mà ra đó sao?” Về sau này, ta cũng sẽ bắt gặp những nét tương đồng về quan điểm của Lê Văn Hưu (1230-?)

1.2.2 Tinh thần siêu thoát của Tuệ Trung Thượng Sĩ

Tuệ Trung Thượng Sĩ tên thật là Trần Quốc Tung, là con đầu của Khâm Minh

Từ Thiện Đại Vương, là anh cả của Trần Hưng Đạo và Hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, vợ vua Trần Thánh Tông Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương là tước hiệu vua Trần Thái Tông ban cho anh ruột là An Sinh Vương Trần Liễu khi ông này mất Vào năm ấy Tuệ Trung Thượng Sĩ được 21 tuổi và được phong tước Hưng Ninh Vương

Ngay từ nhỏ, ngài đã có lòng mộ đạo Phật Lớn lên, Tuệ Trung được cử trấn đất Hồng Lộ, tức là Hải Dương bây giờ Ông có công hai lần trong việc ngăn chặn giặc phương Bắc xâm lăng, được thăng chuyển giữ chức Tiết độ sứ trấn giữ hải đạo Thái Bình Có lần đến thăm Tiêu Dao thiền sư nghe giảng thuyết mà tỉnh ngộ, ngài liền tuyệt ý công danh chuyên tâm học đạo, từ chức lui về phong ấp là Vạn Niên Hương, tại đây ông dựng lên Dưỡng Chân Trang làm nơi tu niệm Vua Thánh Tông rất kính trọng, phong tước hiệu ngài là Tuệ Trung Thượng Sĩ và ký thác vua Trần Nhân Tông cho ngài Ngài hết lòng dạy bảo vua Nhân Tông về phần đạo lý Khi trong nước có giặc, ngài lại lấy võ công mà giúp vua Nhân Tông

Đối với Thượng Sĩ, thế giới vũ trụ là bản thể trong suốt không dơ, không sạch, không có cái đầu tiên cũng không có cái sau cùng, không phân biệt phàm thánh, mê ngộ, chúng sinh và Phật không kẹt mắc trong hình thức đối đãi Thượng Sĩ sống giữa lòng thế tục, hoà cùng ánh sáng Trong việc đối xử, ngài chưa hề phụ lòng ai, nhân đó tiếp nối được cuộc sống chánh pháp, dìu dắt người sơ cơ Người nào đến hỏi han cũng được ngài chỉ cho chỗ cương yếu, khiến tâm tánh họ ứng dụng được nhẹ nhàng, có chỗ nương tựa Thượng Sĩ không ràng buộc bởi hình thức, khi thì ẩn tàng, khi thì lộ diện, ngài không chấp vào hình thức và danh tự Tư tưởng của Tuệ Trung thượng Sĩ rất bình dị và dễ gần gũi, không chấp nê khuôn khổ hay vào một giáo điều nào cả Nắm biết được quy luật của cuộc sống, hài hoà cùng tự nhiên, tâm

Trang 27

hồn đạt đến chỗ thanh thoát Một giai thoại thật lý thú về buổi tiệc trong hoàng cung

mà Khâm Từ hoàng hậu (em gái ngài) làm bữa cơm thịnh soạn để thiết đãi Thượng

Sĩ gặp gì ăn nấy, gặp thịt ăn thịt Hoàng hậu hỏi Thượng Sĩ cười đáp : “Phật tự là

Phật, anh tự là anh, anh không đòi làm Phật, Phật không đòi làm anh Chẳng thấy bậc tu xưa nói Văn Thù tự là Văn thù, giải thoát tự là giải thoát đó ư” 22 Một sự ăn chay không thể thành Phật được Quả là một câu nói vô cùng độc đáo, chứa đựng đầy ắp tinh thần phóng khoáng, đúng là cái nhìn của bậc Thượng Sĩ có khác Ngài tuyên bố như thế là nhằm đả phá những đầu óc bảo thủ, cố chấp Tâm luôn luôn mở rộng cho đến khi không chấp vào cái gì nữa, cả đến Phật cũng không còn nữa Như

Trần Thái Tông đã nói trong Khóa Hư Lục “Đến khi Phật cũng không, Tổ cũng

không, thì biết giới nào trì, kinh nào niệm” Bởi thế cho nên Thượng Sĩ bảo đừng

nên chấp vào sự thành Phật để tu, chỉ nên cố giải thoát cho tâm hồn khỏi chấp, như thế tự nhiên thành Phật Vì hễ tâm hồn vô tư thanh tịnh không còn vướng bận một mảy may ý niệm nào tức thì thành Phật Để thấy tinh thần siêu phóng lần nữa của Tuệ Trung Thượng Sĩ, chúng ta nhìn qua lối đối đáp cuối cùng của ngài trước khi viên tịch

Sau khi bệnh sơ sài, ngài không nằm ở phòng riêng mà nằm ở Dưỡng Chân Trang Tại đây giữa nhà trống, ngài kê một giường gỗ, nằm theo phép kiết tường, mắt nhắm xuôi Các người hầu hạ và thê thiếp khóc rống lên Thượng Sĩ mở mắt

ngồi dậy, sai người lấy nước rửa tay súc miệng, đoạn quở nhẹ rằng :“Sống chết là lẽ

thường, sao buồn thảm luyến tiếc chi mà làm não chân tánh ta” 23 Dứt lời, ngài êm

thấm mà tịch Bấy giờ nhằm niên hiệu Trùng Hưng thứ bảy (1291 ) đời Trần Nhân Tông, năm Tân Mão, ngày mồng một tháng tư, ngài thọ 62 tuổi Theo thiền tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ không còn đặt nặng vấn đề về sinh tử, cũng không cần giải quyết Điểm then chốt là thấy được cái không sinh tử ở nơi mình Cái không sinh tử thênh thang trùng khắp, mà chúng ta không thấy, không biết, cứ nơm nớp lo sợ cái sinh tử cỏn con tạm bợ Chúng ta quen nhìn theo con mắt phàm phu coi sinh tử là

22 Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục giảng giải, trang 29, H.T Thích Thanh Từ,

https://thuvienhoasen.org/images/file/OlR9p51G0QgQAFN1/tuetrungthuongsi.pdf

23 Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Tung, tr284, tran-tung-10957.html

Trang 28

http://vnbet.vn/thien-su-viet-nam/tue-trung-thuong-si-trọng đại, rồi khổ đau với nó Nếu dùng trí bát nhã quán sát lý nhân duyên, nhơn duyên hội thì gọi là sinh, nhơn duyên ly tán thì gọi là tử Sinh tử không có thực thể

cố định, chỉ là sự hợp tan của nhơn duyên mà thôi Bởi không có thực thể cố định nên thân này là tạm bợ hư dối, không có gì bảo đảm lâu dài Một qui luật không chối cải được “có hợp thì phải có tan” kể cả thân Phật cũng như thế, cho nên thân

nào rồi cũng diệt Vai trò nổi bật của Tuệ Trung Thượng Sĩ là một cư sĩ trong giới Phật giáo đời Trần, không khác gì với Trưởng Lão Duy Ma Cật ở Ấn Độ, ngài Huệ Năng ở Trung Quốc, vua Trần Thái Tông ở Việt Nam đã đạt đến chỗ chứng đắc tột

đỉnh, giải thoát hoàn toàn Trong thơ văn Lý Trần tập hai nói : Thượng Sĩ là người

thần thái nghiêm túc, cử chỉ đĩnh đạt Khi người đàm luận về lẽ cao siêu huyền diệu thì như gió mát trăng thanh Đương thời, các bậc đạo cao đức trọng đâu đâu cũng đều tôn trọng, cho Thượng Sĩ là người tinh sâu biết rõ, ngược xuôi thật khó mà lường được.

Tuệ Trung Thượng Sĩ hẳn là, phải là một bậc xuất thế kiểu như vậy, cho nên mặc dù ăn mặn và có thê thiếp, thế nhưng cả tăng lẫn tục thời bấy giờ, kể cả Trần Nhân Tông đều kính trọng như bậc thầy trong đạo, không phải là bậc thầy bình thường mà là một minh sư xuất sắc lỗi lạc, mà những lời dạy, những câu thiền đã được Trần Nhân Tông cho khắc in lại, để lưu truyền cho hậu thế đời đời không

quên Chính vấn đề này mà Hòa Thượng Mật Thể căn dặn rất chân tình: “Chỗ này

rất nên chú ý, đừng nên lầm sự vô ngại của các ngài đã giải thoát với những hành

vi phóng túng buông lung mà ngụy biện là giải thoát Đối với người tu hành bao giờ cũng lấy thanh tịnh trì giới làm gốc” Nói về diện mục và tính cách của Tuệ Trung

Thượng Sĩ, thiết nghĩ bao nhiêu lời trên cũng tạm đầy đủ, thật khó mà diễn tả hết đặc thù của ngài

1.2.3 Trần Nhân Tông và việc khai sinh ra dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử

Để khai sinh ra một giáo hội thì cần có một giáo chủ mới, và Trần Nân Tông

chính là người nắm giữ vai trò đó Ông là con trưởng của Trần Thánh Tông, thân mẫu là Nguyên Khánh Thiên Cảm hoàng thái hậu, là Sơ Tổ phái thiền Trúc Lâm

Ngài tên là Trần Khâm, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258) Vua tuy ở địa

vị sang cả mà tâm hâm mộ thiền tông từ thuở nhỏ Năm 16 tuổi (1274 ) được lập Hoàng thái tử, ngài cố từ chối để nhường lập cho em mà vua cha không chấp nhận

Trang 29

Vua cha cưới trưởng nữ của Nguyên Từ Quốc Mẫu cho ngài, tức là Khâm Từ thái hậu sau này Mặc dù sống trong cảnh vui hoà hạnh phúc ấy mà tâm ngài vẫn thích

đi tu Một hôm vào lúc giữa đêm, ngài trèo thành trốn đi, định vào núi Yên Tử Đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời vừa sáng, trong người mệt nhọc quá ngài bèn vào nằm nghỉ trong tháp Vị sư trụ trì ở đây thấy ngài tướng mạo khác thường, liền làm cơm thiết đãi Vua cha hay tin, sai các quan đi, tìm thấy, ngài bất đắc dĩ phải trở

về

Năm 21 tuổi (1279 ), Trần Nhân Tông lên ngôi Hoàng đế Tuy ở địa vị cửu trùng mà ngài vẫn giữ mình thanh tịnh để tu tập Thường ngày, ngài đến chùa Tư Phước trong đại nội tu tập Một hôm nghỉ trưa, ngài thấy trong rốn mọc lên một hoa sen vàng lớn bằng bánh xe, trên hoa sen có đức Phật vàng Có người đứng bên cạnh

chỉ ngài nói:“Biết ông Phật này chăng? Là đức Phật Biến Chiếu”, tỉnh giấc, ngài

đem việc đó tâu lên vua cha Vua Thánh Tông khen là việc kỳ đặc Con nguời ngài rất thông minh hiếu học, đọc hết các sách vở, suốt thông nội điển (kinh Phật giáo)

và ngoại điển (sách đời ) Những khi nhàn rỗi, ngài mời các vị thiền sư khác bàn giải về thiền tông, tham học thiền với Tuệ Trung Thượng Sĩ, thâm đắc đến chỗ thiền tủy Vua tôn thờ Tuệ Trung Thượng Sĩ làm thầy và hết lòng trọng đãi Ngài nhập tư tưởng thiền, lại có một tâm hồn nghệ sĩ và khí tiết hào hùng trong việc trị nước an dân Trần Nhân Tông là vị vua anh minh đức độ, lại là anh hùng của dân tộc Tất cả những đức tính cao cả, trí tuệ, từ bi, bình đẳng, uy dũng đều kết tinh trong con người của ngài Nhà vua luôn lấy đức trị dân, trong nước trên thuận dưới hòa, lấy ý dân làm nền tảng xây dựng nước nhà, vui trong niềm vui của dân tộc

Những khi giặc Nguyên sang xâm chiếm, vua phải xếp việc kinh kệ để lo giữ gìn xã tắc Nhờ tình đoàn kết nhân dân, ngài đã hai lần đuổi được quân Nguyên giữ gìn trọn vẹn đất nước Sau trận chiến thắng thứ hai, non nước thái bình Thượng hoàng Trần Thánh Tông có hai câu thơ kỷ niệm

“Xã tắc hai phen bon ngựa đá Non song thiên cổ vững âu vàng”

Trang 30

Năm Quý Tỵ (1293 ), vua Trần Nhân Tông nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, lên làm thái Thượng hoàng Ở ngôi Thái thượng hoàng để chỉ dạy cho con được sáu năm, ngài sắp đặt việc xuất gia Đến tháng mười năm Kỷ Hợi (1299 ), ngài xuất gia vào tu ở núi Yên Tử Ở đây, ngài chuyên cần tu tập theo hạnh đầu đà ( khổ hạnh ) lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà (sau này ngài đổi hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà ) Trần Nhân Tông là người truyền thừa chính thức của phái Yên Tử, thuộc

hệ thứ sáu, tiếp nối vị Tổ thứ năm là ngài Huệ Tuệ Ngài là người sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông viên tịch tại am Ngọc Vân núi Yên Tử, nhằm ngày mồng một tháng mười năm Hưng Long thứ 16 (1308 ), thọ 51 tuổi

Trần Nhân Tông, một vị anh hùng, một đức Phật Đúng như toàn bộ thân thế

sự nghiệp nhà vua Anh hùng đánh dẹp giặc Nguyên hung hãn nhất thế giới Vị Phật sáng lập ra phái Trúc Lâm Ngài đã chọn núi Yên Tử cũng nhằm mục đích mô phỏng Siddhartha vào Tuyết Sơn Trên Yên Tử có Ngự Dội, có hàng tùng cổ kính Ngài tắm Ngự Dội, lên gốc tùng thiền định như Siddhartha tắm ở dòng sông Ni – liên – thiền lên ngồi gốc cây bồ đề đắc đạo Yên Tử có rừng trúc, Trần Nhân Tông dựng tịnh xá ở đó như Siddhartha đã lấy Trúc Lâm làm nơi trú đông cho hàng đệ tử Cũng từ ý mô phỏng đó mà Ngài lấy tên cho giáo phái mới của mình là phái Trúc Lâm Chính vì thế hoàn cảnh lịch sử đã nói lên thống nhất ý thức hệ mà Trần Nhân Tông đảm nhiệm Một ông vua là Phật, sáng lập ra giáo phái và tuyên truyền cả nước Điều đó được tiêu biểu trong con người của ngài qua hai mặt: nhà vua và giáo chủ

Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, uy tính tinh thần của nó là

uy tính tinh thần quốc gia Đại Việt Nó là xương sống của nền văn hóa Việt Nam độc lập Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình Đứng về phương diện tư tưởng, tổ chức, cũng như hành đạo, giáo hội Trúc Lâm có những nét độc đáo khiến cho nó chỉ có thể là một giáo hội Việt Nam, phục vụ người Việt, duy trì và bồi đắp cá tính Việt

Đọc qua tiểu sử và quá trình hành đạo của Trần Nhân Tông, chúng ta nhận thấy Ngài quả là con người vẹn toàn cả đời lẫn đạo Một vì vua anh minh, nhân hậu,

Trang 31

một vị thiền sư, một nhà lãnh đạo siêu xuất và cũng rất bình dị dễ gần gũi Sự nghiệp của Trần Nhân Tông về đời lẫn đạo được các nhà sử học từ xưa cho đến nay đánh dấu tốt đẹp Vì thế mà Ngài được suy tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Phật Tổ Do yêu cầu thời đại, thiền phái Trúc Lâm đã Đại Việt hóa, dân tộc hóa tư tưởng thiền Tông và sáng tạo một số

tư tưởng cụ thể, sắc bén, thích hợp với hoàn cảnh Đại Việt lúc bấy giờ, phần nào đáp ứng được yêu cầu của thời đại xã hội Đồng thời đào tạo nên những thiền sư tâm hướng về đạo mà lòng vẫn gắn bó với đời, hoà vào cuộc sống trần thế Họ vừa

là những con người tôn giáo, vừa là những con người xã hội

Ngày đăng: 25/11/2020, 15:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w