tộc hiện nay.. Lê Kim Việt và ThS... Theo từ điển Tiếng Việt do GS.. Theo Từ điển tiếng Việt do GS.. Muốn đạt mục tiêu của chính sách, trước tiên phải tổ chức triển kh
Trang 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BRÍU DẾT
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BRÍU DẾT
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Chính sách công Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN THỊ SONG HÀ
HÀ NỘI, năm 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo và Ban giám đốc Học viện khoa học xã hội Việt Nam đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian học tập Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đến PGS TS Nguyễn Thị Song Hà, người đã quan tâm, nhiệt tình hướng dẫn khoa học cho tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Phòng Nội vụ, Phòng Dân tộc, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị, Ban chỉ huy Quân sự, Ban tổ chức huyện ủy, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc cung cấp thông tin, những tư liệu quý báu để thực hiện đề tài luận văn Xin chân thành cảm ơn tất cả các đồng chí, đồng nghiệp đã quan tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo cơ quan xã Ba đã tạo mọi điều kiện tốt nhất không chỉ về mặt vật chất, mà cả về thời gian và sự động viên tinh thần sâu sắc, góp ý chân thành để tôi hoàn thành luận văn, cũng như vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành khóa học Cảm ơn sự chia sẽ, động viên của gia đình, bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp là nguồn động lực to lớn giúp tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành công việc
Trong quá trình nghiên cứu, với thời gian, trình độ và kinh nhiệm có hạn, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô giáo, bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn Xin trân trọng cảm ơn./
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành Chính sách công với đề tài:
“Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam” là công trình nghiên cứu của tôi và
chưa từng công bố Các kết quả và số liệu nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng, đúng theo tình hình thực tế ở địa phương
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bríu Dết
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 10
1.1 Một số khái niệm về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 10 1.2 Đặc điểm, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã là người DTTS 15 1.3 Các nội dung cơ bản trong chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 17 1.4 Những nội dung cơ bản về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 20 1.5 Phương pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 26 1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 27 1.7 Kinh nghiệm thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số của một số địa phương khác và bài học kinh nghiệm rút
ra cho huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM 39
2.1 Khái quát các điều kiện về tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm dân tộc, dân cư và chính quyền địa phương tác động đến việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 39 2.2 Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 43 2.3 Đánh giá tình hình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 60
Trang 6CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM 71
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 71 3.2 Phương hướng, mục tiêu của tỉnh Quảng Nam về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS 73 3.3 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới 74 3.4 Kiến nghị, đề xuất 80
KẾT LUẬN 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng và tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc
thiểu số năm 2020 44
Bảng 2.2 Tổng hợp cơ cấu theo giới tính và độ tuổi 45
Bảng 2.3 Tổng hợp theo trình độ lý luận chính trị 46
Bảng 2.4 Tổng hợp theo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ 47
Bảng 2.5 Tổng hợp trình độ Quản lý Nhà nước, Tin học, ngoai ngữ, Quốc phòng – An ninh và tiếng dân tộc 48
Bảng 2.6 Tổng hợp các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 66
Trang 8DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 1 Đánh giá công tác xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 55 Hộp 2 Đánh giá sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 58
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở vùng đồng bào DTTS và miền núi có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong việc triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân và trực tiếp quản lý xã hội trên địa bàn xã đi vào trật tự, ổn định và phát triển Đồng thời
CB, CC cấp xã còn là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; nâng cao vị thế, vai trò, uy tín của Đảng, Nhà nước trong nhân dân và trong đồng bào DTTS
Kế thừa và phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” [22, tr.309-313], được Đảng ta chỉ rõ tại nghị quyết số: 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 của Ban chấp hành Trung ương khóa VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: “Đầu tư thích đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng những người ưu tú trở thành cán bộ chủ chốt Chú ý con em gia đình cách mạng, những người có công với nước, công nhân, nông dân, trí thức, lực lượng vũ trang, cán bộ nữ, con em các DTTS,…” [1, tr.14] Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày
12/03/2003 của Ban chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc, Đảng ta tiếp
tục đưa ra mục tiêu và giải pháp: “Xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS tại chỗ có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của địa phương”, “thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người DTTS cho từng vùng, từng dân tộc” [2, tr.4-6] Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ 7, Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang
tầm nhiệm vụ, Đảng ta tiếp tục chỉ rõ: “Cấp uỷ các cấp và người đứng đầu phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí, tạo điều kiện, cơ hội phát triển cho cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người DTTS” [4, tr.7] Nghị định số: 05/2011/NĐ-CP, ngày
14/01/2011 của Chính Phủ về công tác dân tộc; Quyết định số: 402/QĐ-TTg, ngày 14/3/2016 của Thủ tướng Chính Phủ về Phê duyệt Đề án Phát triển đội ngũ CBCC,VC người DTTS trong thời kỳ mới Đối với tỉnh Quảng Nam cũng đã ban hành Nghị quyết
Trang 10số: 13-NQ/TU, ngày 22/12/2004 về đào tạo và sử dụng cán bộ dân tộc ít người; Nghị quyết số: 16-NQ/TU ngày 15/12/2014 về công tác cán bộ người DTTS giai đoạn 2015
- 2020 và định hướng đến năm 2025 Đây là các văn bản quan trọng, là cơ sở để các cấp, các ngành, các địa phương làm căn cứ triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS
Huyện Đông Giang là một trong 06 huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam, có tỷ lệ đồng bào DTTS chiếm khoảng trên 77,2%, là địa bàn có chiến lược quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Trên địa bàn huyện có 11 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn với tổng số CBCC cấp xã là 222 người (trong đó CBCC người DTTS là 168 người) Căn cứ các văn bản của Trung ương, tỉnh Quảng Nam về thực hiện chính sách cán bộ, chính sách dân tộc nói chung và chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC nói riêng, huyện Đông Giang cũng đã xây dựng chương trình hành động và triển khai thực hiện đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người dân tộc thiểu số chưa đảm bảo quy trình, chưa xây dựng kế hoạch riêng về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS một cách cụ thể, rõ ràng; công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách còn mang hình thức, chưa sâu sát nội dung của chính sách đào tạo, bồi dưỡng; sự phân công, phối hợp thực hiện chính sách chưa nhịp nhàng, đồng bộ, còn đùn đẩy trách nhiệm cho nhau; công tác theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chưa thường xuyên, kịp thời; việc tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng chưa rõ nét Từ đó, dẫn đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn công việc, vẫn còn 31 CB,CC cấp xã là người DTTS chưa đạt chuẩn về trình độ Đại học chuyên môn và QLNN, 15 người chưa đạt chuẩn về LLCT; nhiều CB,CC làm việc không theo chuyên môn đào tạo, vị trí việc làm, không phát huy hiệu quả làm
việc, xử lý công việc còn chậm, thiếu khoa học; công tác giao tiếp, ứng xử, năng lực
lãnh đạo còn nhiều hạn chế, cơ cấu CB,CC chưa hợp lý, ý thức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới; Để góp phần bổ sung các biện pháp, giải pháp khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên, tác giả lựa chọn đề
tài: “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người
Trang 11dân tộc thiểu số ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn thạc sĩ
ngành chính sách công Trên cơ sở đó, tác giả luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS đối với huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Kể từ khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện Đổi mới toàn diện đất nước đến nay, chính sách và thực hiện chính sách đối với vùng đồng bào DTTS luôn được quan tâm
Do đó, trong những năm qua, có nhiều tác giả đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chính sách công, thực hiện chính sách đối với vùng đông bào DTTS, trong đó có chính sách giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã nói chung và đào tạo, bồi dưỡng CB,
CC cấp xã là người DTTS nói riêng, có thể liệt kê một số công trình như sau:
- Sách “Chính sách công – những vấn đề cơ bản” của PGS.TS Nguyễn Hữu Hải
(2014), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách gồm 07 chương Chương 1, 2 nêu lên đặc điểm, vai trò, phân loại, cấu trúc, nội dung và chu trình chính sách công; Chương 3, 4, là nguyên tắc, phương pháp, công cụ, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạch định chính sách công, ban hành chính sách công; các bước tổ chức thực thi, yếu tố ảnh hưởng, hình thức, phương pháp tổ chức thực thi chính sách công; Chương 5, 6, 7, nguyên tắc, yêu cầu, tiêu chí, nội dung, phương pháp phân tích chính sách công; các loại đánh giá chính sách công, nội dung đánh giá, vận dụng đánh giá chính sách công; tổ chức công tác phân tích, đánh giá chính sách công Từ những vấn đề lý luận chung về chính sách công, tác giả phân tích rõ cách thức hoạch định, tổ chức thực thi, kiểm tra đánh giá chính sách công giúp các nhà quản lý chính sách nhận thức đúng, vận dụng vào thực tiễn chính sách công ở Việt Nam
- Trong cuốn sách “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam” của PGS TS Nguyễn Quốc Phẩm và GS TS Trịnh Quốc Tuấn, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tác giả đã có một cách nhìn nhận thật sâu sắc về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ người DTTS trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của cả hệ thống chính trị ở các vùng DTTS ở nước ta hiện nay
- Cuốn sách “Xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Luận cứ và giải pháp” do TS Lê Thị Phương Thảo –
PGS.TS Nguyễn Cúc – TS Doãn Hùng (đồng chủ biên), Nxb Lý luận chính trị, Hà
Trang 12Nội, 2008, trong cuốn sách này, các tác giả đã chia thành ba vấn đề cần bàn luận về
xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS Vấn đề thứ nhất: Tác giả đã đưa ra các cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta liên quan đến vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS ở nước ta thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Vấn đề thứ hai: Từ thực trạng và các giải pháp, chủ động xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS ở nước ta nói chung và trên một số lĩnh vực chuyên môn cụ thể nói riêng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Vấn đề thứ ba: Tác giả đưa ra các nội dung giải pháp cần đổi mới trong công tác cán bộ DTTS thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Đề tài cấp quốc gia “Nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng lực cán bộ vùng DTTS đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” của
TS Đào Thị Ái Thi (2019) Trong đề tài này, tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận về việc nâng cao năng lực cán bộ vùng DTTS đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; rút ra bài học kinh nghiệm của thế giới trong việc nâng cao năng lực cán bộ vùng DTTS; Làm rõ thực trạng năng lực của đội ngũ cán bộ DTTS ở Việt Nam, nhận diện những vấn đề đặt ra cần giải quyết nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ vùng DTTS hiện nay; Đánh giá hiệu quả, tác động của chính sách, chương trình đào tạo, bồi dưỡng từ năm 1991 đến nay của Đảng và Nhà nước về việc nâng cao năng lực cán bộ vùng DTTS; Xác định khung năng lực cho đội ngũ cán bộ vùng DTTS, đề xuất các giải pháp, chính sách nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ vùng DTTS đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; Định hướng và dự báo xu thế phát triển năng lực cán bộ vùng DTTS và kiến nghị các giải pháp với việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ vùng DTTS nhằm đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
- Cuốn sách “Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay” do
tác giả Phan Xuân Sơn - Lưu Văn Quảng (đồng chủ biên), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006 đã đưa ra một cái nhìn khác khi bàn luận về chính sách dân tộc, trên cơ sở đó phân tích các chính sách dân tộc trong từng giai đoạn cách mạng, rồi nêu lên những vấn đề đang đặt ra trong việc thực hiện các chính sách dân tộc; sau đó đưa ra những quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hơn các chính sách dân
Trang 13tộc hiện nay
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu khác liên quan về xây dựng và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC là người DTTS như: Hoàng Minh Tùng
(2014), Đào tạo, bồi dưỡng công chức là người DTTS ở Gia Lai, Luận văn thạc sĩ
Quản lý công, Học viện Hành chính, Phân viện Tây Nguyên; PGS.TS Trương Minh
Dục, ThS Trương Phúc Nguyên (2018), “Xây dựng đội ngũ CB,CC người DTTS - giải pháp quan trọng bảo đảm quyền bình đẳng dân tộc ở Việt Nam”, Tạp chí lý luận chính trị số 3; Lưu Tấn Lại (2017), “Giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người DTTS từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”, Luận văn Thạc sỹ Chính sách công,
Học viện khoa học xã hội; ThS Trịnh Xuân Thắng (2018), Học viện chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh khu vực IV, “Xây dựng chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS”, Tạp chí tổ chức Nhà nước; Võ Trí Thông (2019), “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” , Luận văn Thạc sỹ Chính sách công, Học viện khoa học xã hội; Phạm Hữu Hải (2017), “Bồi dưỡng công chức cấp xã là người DTTS trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng”, Luận văn thạc
sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia; PGS.TS Lê Kim Việt và ThS Phạm
Thị Thu (2019), “Nâng cao chất lượng CB,CC cấp xã người DTTS huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII”, Trường chính trị tỉnh Quảng Nam, Tạp chí tổ chức Nhà nước; Hốil Ưu (2019), “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã của huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam”, Luận văn
Thạc sỹ Chính sách công, Học viện khoa học xã hội
Có thể nói, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng, vị trí vai trò CB,CC là người DTTS, phân tích thực trạng đội ngũ CB,CC người DTTS và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC là người DTTS và đề xuất những định hướng, quan điểm, giải pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC là người DTTS nói chung và đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS nói riêng ở các địa phương khác nhau
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu về đề tài “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam” Do đó đề tài luận văn này sẽ có những đóng góp mới trong
việc cung cấp những tư liệu cập nhật về quá trình thực hiện, thành tựu và hạn chế của
Trang 14thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam để từ đó rút ra những nguyên nhân, giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc nói chung, chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS nói riêng trong thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Luận văn làm rõ thực trạng và chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập trong việc triển khai thực hiện chính sách sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là
người DTTS ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
- Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS ở huyện Đông
Giang, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS
- Khảo sát, đánh giá, phân tích thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
- Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
- Về thời gian: Luận văn phân tích thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn từ năm 2016 đến nay
- Về nội dung: Các bước thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS ở huyện Đông Giang bao gồm: Đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn,
Trang 15nghiệp vụ; đào tạo, bồi dưỡng về trình độ lí luận chính trị; đào tạo, bồi dưỡng về tin học, ngoại ngữ, tiếng dân tộc; đào tạo, bồi dưỡng về quốc phòng – an ninh
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Để thực hiện luận văn về đề tài “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam”, tác giả dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam, chính
sách, pháp luật của Nhà nước ta về chính sách cán bộ, chính sách dân tộc và chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC nói chung, CB,CC cấp xã là người DTTS nói riêng; kế thừa, phát triển những quan điểm lý luận của các nhà khoa học Đồng thời vận dụng lý thuyết của khoa học chính sách công, và các thông tin dữ liệu thu thập được phản ánh thực tiễn vấn đề cần nghiên cứu tại địa phương
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt mục đích nghiên cứu về đề tài“Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam”, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp nghiên cứu, thu thập tài liệu lý luận: Để có nguồn tài liệu, ngay
sau khi nhận đề tài nghiên cứu, tác giả tiến hành thu thập tài liệu thông qua từ sách, giáo trình, tạp chí chuyên ngành, luận án, luận văn và các công trình nghiên cứu khoa học, văn kiện, nghị quyết của Đảng các cấp, chính sách, pháp luật, các báo cáo tài liệu thống kê liên quan của Trung ương và địa phương thông qua hệ thống từ các cơ quan, đơn vị, thư viện, cổng thông tin điện tử, liên quan trực tiếp đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS ở nước ta nói chung và ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam nói riêng
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi kết hợp với phỏng vấn trao đổi thông tin với lãnh đạo các cơ quan, đơn vị: Song song cùng với việc nghiên cứu, thu thập tài
liệu, tác giả chủ động thiết kế bảng hỏi (gồm 12 câu hỏi và in sẵn 100 phiếu), tiến hành chọn mẫu điều tra ngẫu nhiên tại xã Sông Kôn, A Ting, Jơ Ngây, xã Ba, xã Tư, Thị trấn P’rao, xã Zà Hung, xã Mà Cooih, xã Arooi thuộc huyện Đông Giang gửi 100 phiếu đến từng CB,CC cấp xã; tổ chức phỏng vấn sâu và trực tiếp đối với cán bộ lãnh
Trang 16đạo, chuyên viên thuộc phòng Nội vụ, phòng Dân tộc, Ban tổ chức huyện ủy và Văn phòng HĐND&UBND huyện về thực trạng thực hiện chính sách cán bộ, chính sách dân tộc ở huyện Đông Giang thông qua bảng phỏng vấn gồm có 7 câu hỏi để nghe CB,CC có sự nhận xét, đánh giá đúng đắn về kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS hiện nay
Phương pháp tổng hợp, đánh giá, so sánh, xử lý số liệu: Trên cơ sở các số liệu
thu thập được từ các báo cáo của huyện Đông Giang, tổng hợp phiếu điều tra từ CB,
CC cấp xã, tác giả tiến hành xử lý số liệu thông qua bảng Excel, sau đó đánh giá, phân tích, so sánh số liệu kết quả đạt được so với chỉ tiêu Nghị quyết của huyện Đông Giang đề ra Cùng với những số liệu có được và qua quan sát thực tế, bằng các phương pháp phân tích định tính, định lượng, diễn giải, quy nạp, đánh giá chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Tác giả góp phần hệ thống hóa lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam trong những năm tới Cung cấp số liệu mang tính tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần hiện thực hóa một số quan điểm của Đảng, Nhà nước về chính sách cán bộ, chính sách dân tộc nói chung và chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS nói riêng ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được kết cấu như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Trang 17Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu
số ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1 Một số khái niệm về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
1.1.1 Khái niệm về chính sách, chính sách công
- Chính sách và chính sách công là hai cụm từ khó định nghĩa một cách cụ thể, rõ ràng và thống nhất, tùy theo góc độ nhìn nhận mà các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số quan niệm như sau: Hugh Heclo (năm 1972) định nghĩa
“một chính sách có thể được xem như là một đường lối hành động hoặc không hành
động thay vì những quyết định hoặc các hành động cụ thể” [13, tr.14-15] David
Easton (năm 1953) cho rằng “chính sách bao gồm một chuỗi các quyết định và các
hành động mà trong đó phân phối thực hiện các giá trị” [13, tr.15] James Anderson
(năm 2003) định nghĩa: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi
bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” [10, tr.96]
Theo từ điển Tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên, (Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng, 2003): “Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực
tế mà đề ra” [24, tr.163] Tác giả Vũ Cao Đàm (năm 2011) thì “chính sách là một tập
hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một
hệ thống xã hội” [10, tr.96] Tác giả Nguyễn Minh Thuyết (năm 2011) định nghĩa:
“Chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể quyền lực về một
lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy” [10, tr.97]
Từ những quan niệm của các nhà nghiên cứu nêu trên, chúng ta có thể thấy được đặc trưng chung nhất của chính sách bao gồm: Chủ thể đề ra chính sách là những
Trang 19chủ thể quản lý hoặc chủ thể quyền lực dựa trên cơ sở đường lối chính trị chung và tình hình thực tế; Nội hàm của chính sách bao gồm các quan điểm mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp được biểu hiện bằng hình thức kế hoạch, sách lược, nghị quyết, chương trình hành động; đối tượng hướng đến của chính sách là giải quyết một vấn đề nào đó trên các lĩnh vực về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh Dựa trên những quan niệm và phân tích đặc trưng nêu trên, chúng tôi tiếp cận
khái niệm: “Chính sách là những biện pháp, giải pháp do chủ thể quyền lực đưa ra để giải quyết một vấn đề nhằm đạt mục tiêu đề ra” trong luận văn của mình
- Khi bàn về khái niệm chính sách công, đã có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau Chẳng hạn như: Theo Thomas Dye (năm 1972) định nghĩa: “Chính sách
công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm” [13, tr.16] Hay như
William Jenkins (năm 1978) định nghĩa, “chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn
liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó” [13, tr.17] James Anderson (năm 1984) đưa ra định nghĩa khái quát hơn: “Chính sách
công là đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một hoặc một tập hợp các nhà hoạt động chính trị để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề cần quan
tâm” [13, tr.18]
Khái niệm chính sách công cũng đã được các tác giả Việt Nam đề cập đến nhiều trong các công trình khác nhau Cụ thể như PGS.TS.Nguyễn Hữu Hải quan niệm: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục
tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [14, tr.51] Một số tác
giả khác như TS Lê Như Thanh – TS Lê Văn Hòa cho rằng: “Chính sách công là tập hợp những quyết định liên quan với nhau do Nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát
triển” [34, tr.10] Theo PGS.TS Hồ Việt Hạnh quan niệm thì: “Chính sách công là
những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề
vì lợi ích chung của cộng đồng” [18, tr.3-6]
Phân tích các quan niệm trên, ta có thể thấy rằng, tất cả các học giả đều có sự phản ánh đặc trưng khác nhau của chính sách công tùy theo góc độ nhìn nhận, nhưng
Trang 20cũng có chung một nét đặc thù thể hiện bản chất của chính sách công Đó là, chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước (bao gồm: Quốc hội, chính phủ, các bộ và các cấp chính quyền địa phương) để thực thi quyết sách chính trị, giữa quyết sách chính trị và chính sách công có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; đối tượng tác động của chính sách công là giải quyết một hoặc một số vấn đề liên quan đến đời sống xã hội vì lợi ích chung của cộng đồng, mục tiêu hướng tới là giữ gìn ổn định trật tự xã hội, xây dựng và phát triển đất nước; hình thức thể hiện là một chuỗi các quyết định có liên quan với nhau (không chỉ là luật, các văn bản dưới luật, mà còn có thể là các kết luận hay ý tưởng phát biểu của các nhà lãnh đạo thể hiện bằng lời nói hay hành động, ); việc ban hành chính sách công phải đảm bảo theo quy trình hoạch định chính sách từ việc xác định mục tiêu cho đến công bố chính sách, chính vì vậy chính sách công có tính pháp lý cao, vì là các quyết định hành động nên chính sách công còn thể hiện các hành vi thực tiễn Kế thừa và phát huy quan niệm của các nhà nghiên cứu nêu trên, chúng tôi tiếp cận
và sử dụng khái niệm chính sách công như sau: “Chính sách công là tập hợp các quyết định của nhà nước được vận dụng vào thực tiễn để giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội vì lợi ích chung của cộng đồng theo mục tiêu đã xác định”
1.1.2 Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng
- Theo Đại từ điển do GS Nguyễn Như Ý chủ biên (Nxb Văn hóa -Thông tin, Hà Nội, 1998): Đào tạo là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề
nghiệp; còn Bồi dưỡng là làm cho khỏe thêm, mạnh thêm và tốt hơn, giỏi hơn [53, tr.191-196] Theo Từ điển tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên (Nxb Từ điển Bách
khoa, Hà Nội, 2010), Đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định; còn Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ và
tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất [25, tr.82-289] Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng
cũng được thể hiện trong các Nghị định, Chỉ thị của Chính phủ Nghị định
18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã
đưa ra cách hiểu về đào tạo và bồi dưỡng như sau: “Đào tạo là quá trình truyền thụ,
tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc
học”; “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”[6, tr.2]
Theo cách hiểu trên, đào tạo là quá trình truyền thụ một lượng kiến thức cơ bản
Trang 21cho người học theo những trình tự, quy trình nhất định với những chuẩn mực và hệ phương pháp giảng dạy và học tập cụ thể, diễn ra trong một khoảng thời gian dài Bồi dưỡng là việc truyền thụ thêm kiến thức, kỹ năng mới cho người học, trên cơ sở kế thừa và phát triển các kiến thức sẵn có của người học sát với thực tiễn mà không làm biến đổi năng lực tiềm năng
Như vậy, xét về mặt khoa học và pháp lý, giữa khái niệm “đào tạo” và “bồi dưỡng” tồn tại 2 khái niệm độc lập Tuy nhiên, trong thực tiễn hai thuật ngữ đào tạo
bồi dưỡng vẫn được sử dụng chung “Đào tạo, bồi dưỡng” có cùng một mục đích đó là
làm cho người học có trình độ chuyên môn, khả năng xử lý công việc và năng lực công tác tốt hơn Trên thực tế có một số hoạt động đào tạo, bồi dưỡng rất khó phân chia thành chương trình riêng, mà có sự đan xen và kế thừa lẫn nhau, chẳng hạn như đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Đa số cán bộ, công chức trước khi tuyển dụng đã có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tuy nhiên khi được quy hoạch hoặc bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo cao hơn thì cán bộ, công chức phải được cử đi học lớp trung cấp lý luận chính trị và phải qua lớp bồi dưỡng ngạch chuyên viên trở lên, có các chứng chỉ tin học, ngoại ngữ, nghiệp vụ chuyên ngành,
Tóm lại, theo góc độ nghiên cứu về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS thì hai cụm từ “đào tạo, bồi dưỡng” không nhất thiết phải tách riêng một cách độc lập tuyệt đối mà phải hiểu theo nghĩa chung nhất Đó là,
“đào tạo bồi dưỡng” là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học; đồng thời vừa trang bị, cập nhật, những kiến thức, kỹ năng mới vừa rèn luyện thực tiễn để nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất cho người học Sau khi trải qua quá trình đào tạo bồi dưỡng, người học có thể đạt được một trình độ kiến thức, chuyên môn, nghề nghiệp theo chuẩn quy định nhưng cũng có thể xử lý công việc thực tiễn một cách mềm dẻo, nhạy bén, linh hoạt
1.1.3 Khái niệm về cán bộ, công chức cấp xã
Theo Luật CB,CC đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 ngày 11 tháng 2008; Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính Phủ về
chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CB,CC ở xã, phường, thị trấn
và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thì CB,CC cấp xã được hiểu như sau:
Trang 22- Cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ
chức chính trị - xã hội [26, tr.2] Theo đó, Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: Bí
thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; Chủ tịch UBMTTQVN; Bí thư Đoàn TNCSHCM; Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam; Chủ tịch HND Việt Nam; Chủ tịch HCCB Việt Nam Ngoài ra còn có
cán bộ được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã [5, tr.2]
- Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân
sách nhà nước [26, tr.2] Theo đó, Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:
Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội Ngoài ra còn có công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã
[5, tr.2]
1.1.4 Khái niệm về cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
- Theo Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính Phủ về công tác
dân tộc, giải thích: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc
đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia [7, tr.2] Việt Nam có 54 dân tộc thành viên, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỷ
lệ trên 85,3% dân số cả nước được gọi là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại là DTTS, chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước Ở Việt Nam, trên cơ sở kế thừa và phát huy quan niệm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta khẳng định dân tộc Việt Nam là một, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống mọi biểu hiện tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc, thực hiện tốt chính sách dân tộc, các dân tộc Việt Nam đều bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Như vậy, theo quan điểm trên, thì DTTS không mang ý nghĩa phân biệt về địa vị hay tầng lớp trong xã hội, mỗi thành phần dân tộc đều là dân tộc Việt Nam Ở trên thế giới, mặc dù có nhiều học giả phương tây cũng đưa ra các khái niệm khác nhau về nhóm người thiểu số và thiểu
Trang 23số dưới góc độ dân tộc học nhưng cũng chỉ là để phân biệt giữa thiểu số với DTTS và
đa số, không chỉ khác nhau về chủng tộc, màu da, sống mũi hay ánh mắt mà còn khác nhau về văn hoá mà các học giả dùng để phục vụ các mục tiêu nghiên cứu
Tóm lại, trên cơ sở phân tích nêu trên, tác giả luận văn sử dụng khái niệm “dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh
thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Từ khái niệm về “Cán bộ cấp xã”, “công chức cấp xã” và “dân tộc thiểu số” ta có thể kết nối thành khái niệm chung nhất đó là: “CB,CC cấp xã là người DTTS là công dân Việt Nam có thành phần xuất thân từ các DTTS (dân tộc ít người) được bầu cử, tuyển dụng giữ các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ đối với các chức vụ trong hệ thống chính trị và không theo nhiệm kỳ đối với các chức danh thuộc UBND ở cấp xã, nằm trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Điểm khác biệt giữa
“CB,CC cấp xã là người DTTS” so với đội ngũ CB,CC cấp xã nói chung là dựa vào thành phần xuất thân của người CB,CC đó thuộc “dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số” (dân tộc ít người) Tiêu chí này không phải để phân biệt về trình độ, năng lực hay địa vị trong xã hội của mỗi người CB,CC Khi đã là người CB,CC cấp xã cho dù có xuất thân từ “dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số” đều phải thực hiện nhiệm vụ như nhau và đảm bảo các tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể theo từng chức vụ, chức danh được quy định trong các văn bản Đảng và Nhà nước
1.2 Đặc điểm, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã là người DTTS
1.2.1 Đặc điểm cán bộ, công chức cấp xã là người DTTS
- Cán bộ, công chức cấp xã là người DTTS là đội ngũ gần dân, sát dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, trực tiếp triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân, đồng thời phản ánh những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, vừa tham gia công tác tại cơ quan vừa tăng gia sản xuất, kinh doanh phục vụ nhu cầu đời sống CB,
CC cấp xã là người DTTS thường là người am hiểu phong tục, tập quán, tâm lý và cùng
ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt với nhân dân nhất là đồng bào DTTS, chính vì thế có điều kiện thuận lợi để thực hiện công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục người dân thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm tăng uy tín của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân, phát huy khối đại đoàn kết toàn
Trang 24dân, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào DTTS
- CB,CC cấp xã là người DTTS là những người được bầu cử giữ chức vụ và tuyển dụng vào chức danh chuyên môn trong hệ thống chính trị ở cấp xã gồm các chức danh: Bí thư, phó bí thư Đảng ủy; chủ tịch, phó chủ tịch HĐND xã; chủ tịch, phó chủ tịch UBND xã; chủ tịch UBMTTQVN xã, HND xã, HPN xã, HCCB xã, Bí thư Đoàn TNCSHCM xã; Chỉ huy trưởng BCH Quân sự, công chức Văn phòng thống kê, công chức Tư pháp hộ tịch, công chức văn hóa xã hội, công chức Địa chính xây dựng, công chức Tài chính kế toán Được Nhà nước trả lương từ ngân sách nhà nước theo ngạch, bậc, hệ số phụ cấp chức vụ, hệ số phụ cấp khu vực
- CB,CC cấp xã là người DTTS là những người có thành phần xuất thân là từ đồng bào các DTTS, sinh ra và lớn lên ở vùng đồng bào DTTS, am hiểu các phong tục, tập quán, văn hóa, sinh hoạt của đồng bào DTTS; là những người có lối sống sinh hoạt, văn hóa, ngôn ngữ riêng; tác phong lề lối làm việc thường thụ động, ít năng động, sáng tạo; tính tình trung thực, chất phát, chịu khó và nhiệt tình trong công việc
1.2.2 Vị trí, vai trò cán bộ, công chức cấp xã là người DTTS
- Cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số có vị trí, vai trò rất quan trọng trong thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
- Trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân Phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân và của đồng bào DTTS đối với Đảng và Nhà nước để điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chính sách
- CB,CC cấp xã là người DTTS có ảnh hưởng tích cực đối với đồng bào DTTS, thông qua phong tục, tập quán và ngôn ngữ giao tiếp Cán bộ người DTTS là người lãnh đạo, quản lý, ý kiến của họ có sức thuyết phục, hành động của họ có thể lôi cuốn, lan tỏa rộng Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ có uy tín là người DTTS là khai thác lợi thế to lớn từ khía cạnh văn hóa, tập quán của vùng đồng bào DTTS và miền núi
- Tạo nên sự cân bằng, hài hòa và nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở khi CB,CC cấp xã là người DTTS được cơ cấu một cách hợp lý, tăng cường mối quan hệ, tạo dựng niềm tin của Nhân dân vùng đồng bào DTTS đối
Trang 25với Đảng và Nhà nước
1.3 Các nội dung cơ bản trong chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cán bộ, công chức và luật viên chức 2019; Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính Phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức và Nghị định 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính Phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; Quyết định 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 – 2025; Quyết định 402/QĐ-TTg ngày 14/03/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới; Quyết định số: 771/QĐ-TTg ngày 26/06/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án bồi dưỡng kiến thức dân tộc đối với cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2018 -2025 Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS gồm có các nội dung sau:
1.3.1 Đào tạo, bồi dưỡng về Lý luận chính trị
CB,CC cấp xã là người DTTS nằm trong hệ thống chính trị ở cấp xã, trực tiếp triển khai, quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho toàn thể cán bộ, Đảng viên và nhân dân trên địa bàn xã Để đảm bảo việc triển khai thực hiện đúng chủ trương, quan điểm và tạo được sự nhất trí cao trong đảng thì đòi hỏi CB,CC cấp xã là người DTTS phải là người am hiểu về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và có một trình độ lý luận chính trị nhất định Trình độ lý luận chính trị của CB,CC cấp xã là người DTTS được thể hiện qua phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, tuân thủ nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, gương mẫu chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có tinh thần đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, không rơi vào 27 biểu hiện suy thoái được quy định tại Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII
Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS về lý luận chính trị là trang bị kiến thức về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
Trang 26các quan điểm, đường lối của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng theo cấp bậc sơ cấp, trung cấp, cao cấp và cử nhân chính trị Đào tạo, bồi dưỡng về Lý luận chính trị nhằm nâng cao lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, có thái độ chính trị đúng đắn, ý thức tổ chức kỷ luật cao, có phẩm chất đạo đức, lối sống tốt, tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc lãnh đạo của đảng, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao cho cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
1.3.2 Đào tạo, bồi dưỡng về Chuyên môn, nghiệp vụ
Cấp xã là cấp cuối cùng trong hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở, trực tiếp giải quyết các thủ tục hành chính cho tổ chức, công dân thông qua đội ngũ CB,CC cấp xã, việc giải quyết thủ tục hành chính và hoạt động thực thi công vụ là vấn đề rất khó và phức tạp, đòi hỏi người CB,CC phải có một trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và linh hoạt, nhạy bén Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS về chuyên môn, nghiệp vụ là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, nhằm giúp trang bị cho họ có kiến thức cơ bản, có kỹ năng, nghiệp vụ theo từng chức danh vị trí việc làm và lĩnh vực công tác Mặc dù, khi được bầu cử, tuyển dụng, một số CB,CC cấp xã là người DTTS đã có trình độ chuyên môn nhất định, tuy nhiên do đặc thù ở các xã miền núi, vùng đồng bào DTTS, nên rất khó để bố trí CB,CC theo chức danh vị trí việc làm, thủ tục hành chính mỗi thời điểm, thời kỳ điều có sự điều chỉnh cho phù hợp, đồng thời sự phát triển của xã hội, của khoa học công nghệ cũng đòi hỏi CB,CC, trong đó có CB,CC là người DTTS phải nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ của mình Thông qua hoạt động đào tạo, bồi dưỡng CB,CC mới có thể đáp ứng nhiệm vụ, yêu cầu mà thực tiễn đặt ra trong mỗi giai đoạn Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của CB,CC được thể hiện qua việc giải quyết công việc nhanh chóng, khoa học, linh hoạt, nhạy bén, bậc, ngạch, hệ số lương của CB,CC Tùy theo cấp bậc đào tạo, bồi dưỡng và sự am hiểu thực tế mà CB,CC cấp xã là người DTTS có sự nhạy bén, linh hoạt hơn trong xử lý công việc một cách khoa học, đúng pháp luật Đây là cơ sở, là nền tảng để CB,CC hoàn thành tốt nhiệm vụ và có những sáng kiến mới góp phần hoàn thiện chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
1.3.3 Đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng quản lý Nhà nước
CB,CC cấp xã là người DTTS thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước ở địa
Trang 27phương trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, Chính vì vậy, việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước cho mỗi CB,CC cấp xã là hết sức quan trọng, giúp trang bị cho họ có được kiến thức, kỹ năng về hệ thống tổ chức bộ máy của Nhà nước, chức năng, quyền hạn của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị; nhiệm vụ, tiêu chuẩn của mỗi chức danh CB,CC; nội dung, quy trình quản lý nhà nước về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, môi trường, quốc phòng – an ninh Một CB,
CC cấp xã là người DTTS được cho là đã có kiến thức, kỹ năng quản lý Nhà nước thông qua chứng chỉ quản lý nhà nước, khả năng giải quyết công việc một cách khoa học đúng chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ được giao, không lạm quyền, không đùn đẩy trách nhiệm, không cơ hội vì lợi ích cá nhân, có trách nhiệm, nghiêm túc tự phê bình và phê bình và luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ
1.3.4 Đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức Tin học, ngoại ngữ, tiếng dân tộc
Bồi dưỡng tin học, ngoại ngữ, đây là các chứng chỉ nhằm giúp cán bộ, công chức có kỹ năng thành thạo trong xử lý văn bản trên hệ thống máy tính, ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt trong việc triển khai thực hiện Chính quyền điện tử, tra cứu, khai thác các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác tốt hơn Còn về ngoại ngữ là trang bị cho cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số những kiến thức cơ bản có thể dùng để dịch thuật, giao tiếp với người có yếu tố nước ngoài trong việc xử lý các thủ tục hành chính, quảng bá sản phẩm của địa phương Trong bối cảnh đổi mới, hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, thì việc đào tạo, bồi dưỡng để trang trị các kĩ năng về tin học, ngoại ngữ cho cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số là rất cần thiết
Tùy theo từng địa phương, nếu địa phương có đông đồng bào DTTS cùng sinh sống, thì CB,CC cấp xã phải được bồi dưỡng về tiếng DTTS để dễ dàng trong việc triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân đạt kết quả Vì đây là vùng có đông đồng bào DTTS, điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn, hạ tầng giao thông chưa đồng bộ, trình độ dân trí thấp, việc giao tiếp và hiểu ngôn ngữ tiếng Việt còn hạn chế, bởi vậy, đòi hỏi CB,CC cấp xã phải biết tiếng DTTS để giao tiếp và trao đổi công việc với người đồng bào DTTS
1.3.5 Đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức về Quốc phòng – An ninh
Bồi dưỡng kiến thức Quốc phòng – An ninh là việc trang bị cho CB,CC cấp xã là người DTTS có kiến thức về quốc phòng và an ninh, trong đó đặc biệt là sự nhạy
Trang 28bén về chính trị, về các thủ đoạn, âm mưu của các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng các vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam, cách thức sử dụng các loại vũ khí, vật liệu nổ, các động tác phòng vệ cơ bản, các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về Quốc phòng – An ninh Tùy theo đối tượng mà CB,CC tham gia các lớp bồi dưỡng; đối với công chức thì tham gia lớp bồi dưỡng theo đối tượng 4, được mở lớp tại huyện, còn đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý thì tham gia lớp bồi dưỡng theo đối tượng 3 được mở lớp tại Trường quân sự địa phương của tỉnh Ngoài ra, đối với các chức danh trưởng đầu ngành Mặt trận, Hội đoàn thể xã còn tham gia lớp bồi dưỡng kiến thức Quốc phòng an ninh do Trường huấn luyện Công an nhân dân tỉnh tổ chức Trải qua các lớp bồi dưỡng về Quốc phòng
an ninh, CB,CC cấp xã là người DTTS sẽ nâng cao kiến thức về Quốc phòng an ninh và linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ diễn tập phòng thủ, phòng không nhân dân, chuyển toàn bộ lực lượng từ thời bình sang thời chiến và xử lý tình huống A2 được quy định đối với cấp xã 4 năm 1 lần
1.4 Những nội dung cơ bản về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
1.4.1 Quan niệm về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
- Nhận định về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS Trên cơ sở các quan điểm về chính sách công, về đào tạo, bồi dưỡng, về CB,
CC cấp xã, về người DTTS đã đề cập ở phần trên, có thể nêu ra quan điểm về tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS như sau:
+ Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS là một khâu hợp thành trong chu trình chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách đào tạo, bồi dưỡng thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định hướng Tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC So với các khâu khác trong chu trình chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC, tổ chức thực thi có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội và trong đội ngũ
Trang 29CB,CC cấp xã
+ Nếu đưa vào thực thi một chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC tốt không những mang lại lợi ích to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà góp phần làm tăng uy tín của Nhà nước trong quá trình quản lý xã hội Tuy nhiên, để có được một chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC tốt các nhà hoạch định phải trải qua một quá trình nghiên cứu, tìm kiếm rất công phu Nhưng dù tốt đến đâu thì chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cũng trở thành vô nghĩa nếu nó không được đưa vào thực hiện trong thực tiễn
- Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
+ Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS là nhằm hiện thực hóa chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC nói chung và CB,CC cấp xã là người DTTS nói riêng trong đời sống xã hội và trong đội ngũ CB,CC cấp xã để đạt mục tiêu đề ra của chính sách Muốn đạt mục tiêu của chính sách, trước tiên phải tổ chức triển khai thực hiện chính sách Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách các
cơ quan, đơn vị phải thực hiện đầy đủ các bước tổ chức thực hiện chính sách từ khâu xây dựng kế hoạch cho đến đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm, mỗi bước đều có những quy tắc, quy định và thủ tục thực hiện riêng Khi tổ chức thực hiện các bước của thực thi chính sách, các cơ quan, đơn vị cũng đã thực hiện các bước trong chu trình của chính sách từ việc hoạch định, phân tích và đánh giá chính sách Chính vì vậy, tổ chức thực hiện chính sách là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách
+ Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS là nhằm khẳng định tính đúng đắn của chính sách Tính đúng đắn của chính sách được thể hiện khi chính sách đã nhận định đúng vấn đề cần giải quyết, tức là khi CB,CC cấp xã là người DTTS thực hiện nhiệm vụ được giao không đạt chất lượng, hiệu quả do trình độ, năng lực chưa đắp ứng với điều kiện thực tiễn, vì vậy cần có chính sách để giải quyết vấn đề đó Trong quá trình thực hiện chính sách, nếu chính sách được đông đảo quần chúng nhân dân và CB,CC cấp xã đồng tình hưởng ứng, tích cực thực hiện và đạt mục tiêu đề ra của chính sách thì đó là chính sách tốt, phù hợp với địa phương
+ Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS là nhằm tăng vị thế và uy tín của chủ thể ban hành chính sách trong quá trình quản lý xã hội Chính
Trang 30sách thể hiện ý chí và thái độ của chủ thể trước một vấn đề cụ thể cần giải quyết Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS là nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC cấp xã về năng lực, phẩm chất, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng giải quyết công việc và xử lý các vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội mà mỗi CB,CC cấp xã phải thực hiện trong thực thi công vụ CB,CC cấp xã thực hiện tốt chính sách đào tạo, bồi dưỡng và luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao thì sẽ làm tăng vị thế và uy tín của chủ thể ban hành chính sách trong quá trình quản lý xã hội
+ Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS là nhằm từng bước hoàn thiện hơn chính sách phù hợp với tình hình thực tiễn Chính sách là do CB,CC xây dựng và ban hành trên cơ sở tranh thủ được sự đóng góp ý kiến của các tổ chức, cá nhân trên phạm vi cả nước; tuy nhiên do xã hội ngày càng có nhiều thay đổi tác động vào chính sách và chính sách có thời gian áp dụng lâu dài do con người xây dựng mà con người lại không thể đoán được tương lai một cách chính xác được; chính vì vậy, trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách, các cơ quan, đơn vị hay cá nhân tổ chức thực thiện chính sách sẽ gặp phải những khó khăn, vướng mắc cần có sự thay đổi về biện pháp, giải pháp thực hiện nhằm hoàn chỉnh chính sách Chỉ có khâu thực thi chính sách mới đủ điều kiện để đưa chính sách vào thực tiễn và chỉ có thực tiễn mới kiểm định được tính đúng đắn của chính sách Thực tiễn thì luôn biến động, chính sách phải tự mình thay đổi để phù hợp với thực tiễn, thực tiễn là cơ sở để chính sách hoàn thiện hơn
- Chủ thể thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS
+ Chủ thể ban hành chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số: Chính phủ là chủ thể trực tiếp ban hành chính sách đào tạo, bồi
dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS, trên cơ sở tham mưu của Bộ Nội vụ và Ủy ban Dân tộc và căn cứ theo định hướng chủ trương của Đảng về công tác cán bộ và chính sách dân tộc, trình Quốc hội ban hành Luật cán bộ, công chức
+ Chủ thể trực tiếp triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số: Sau khi Chính phủ ban hành chính sách
đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã, Bộ Nội vụ là cơ quan chịu trách nhiệm triển khai thực hiện trên phạm vi cả nước, sau đó là UBND các cấp thực hiện trong phạm vi ở
Trang 31địa phương Chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS thực hiện có đạt mục tiêu hay không, phần lớn phụ thuộc trực tiếp vào đội ngũ CB,CC cấp xã là người DTTS, vì đây là đối tượng trực tiếp thực hiện chính sách và thụ hưởng chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS
+ Chủ thể gián tiếp tham gia thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số: Chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là
người DTTS là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau để lựa chọn các mục tiêu và giải pháp thực hiện các mục tiêu chung đã được xác định Trong chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS liên quan đến nhiều nội dung về tài chính, chương trình đào tạo, bồi dưỡng, cơ sở trường lớp, chế độ chính sách ưu tiên theo nhóm đối tượng, giáo trình, tài liệu,… Vì vậy, các cơ quan theo ngành dọc từ Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục đào tạo, Bộ Kế hoạch đầu tư, Ủy ban Dân tộc,… cho đến các cấp sở ban ngành, phòng ban ở địa phương có liên quan phải phối hợp với nhau trong việc xây dựng kế hoạch, phân công, tổ chức thực hiện cho đạt mục tiêu đã đề ra
1.4.2 Các bước tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
1.4.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Chính sách do Nhà nước ban hành, quy định chung trên phạm vi cả nước, mỗi Bộ ngành, địa phương có trách nhiệm phải triển khai thực hiện Tùy theo tình hình thực tế tại Bộ ngành, địa phương mà có cách triển khai thực hiện cho phù hợp, miễn là không thay đổi mục tiêu Chính vì vậy, mỗi Bộ ngành, địa phương phải xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS cho phù Xây dựng kế hoạch là nhằm giúp cho các cơ quan, đơn vị có có sở dự kiến các công việc phải thực hiện đảm bảo đạt mục tiêu đề ra, có rất nhiều kế hoạch như kế hoạch về lộ trình triển khai thực hiện, kế hoạch về mặt thời gian, kế hoạch về huy động các nguồn lực, kế hoạch phân công phối hợp, kế hoạch quản lý điều hành, kế hoạch kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện, kế hoạch tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm,…
1.4.2.2 Phổ biến, tuyên truyền các nội dung của chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Trang 32Chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS sau khi đã được ban hành phải tổ chức phổ biến, tuyên truyền đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân được biết để tham gia thực hiện chính sách và giám sát quá trình triển khai thực hiện chính sách Có nhiều cách tổ chức phổ biến, tuyên truyền chính sách, đó là: có thể tuyên truyền bằng pano, áp phích, băng rôn, khẩu hiệu, tuyên truyền miệng, tổ chức hội nghị, tập huấn, tuyên truyền thông qua hệ thống báo, đài, loa phát thanh… Tổ chức phổ biến, tuyên truyền chính sách có vị trí, vai trò, ý nghĩa quan trọng trong triển khai thực hiện chính sách, giúp cho đối tượng thụ hưởng chính sách hiểu được về mục đích, ý nghĩa, tính khả thi và tính đúng đắn của chính sách Đồng thời, tạo cho CB,CC và CB,CC là người DTTS có cách nhìn nhận tầm quan trọng của chính sách để tự giác và tìm ra các giải pháp triển khai thực hiện hiệu quả nhất Công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách không phải đơn giản, đòi hỏi CB,CC phải có khả năng am hiểu chính sách, hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của chính sách và có một kiến thức cơ bản về nghiệp vụ sư phạm để truyên truyền cho đối tượng thụ hưởng hiểu để thực hiện đạt kết quả
1.4.2.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS liên quan đến nhiều lĩnh vực cả về tài chính, về các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, về cơ quan, đơn vị quản lý đối tượng thụ hưởng chính sách, chủ thể chủ trì chính sách Chính vì vậy, các cơ quan, đơn vị cần phải có sự phân công, phối hợp thực hiện chính sách, mỗi ngành lĩnh vực phải chung tay xây dựng chính sách, có như vậy chính sách mới đạt mục tiêu đề ra Phân công, phối hợp triển khai thực hiện chính sách là nhằm để cho các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm hơn trong thực hiện chính sách, tránh việc chồng chéo, trùng lặp, đổ lỗi cho nhau
1.4.2.4 Duy trì chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS, nếu phát hiện chính sách chưa phù hợp thì phải điều chỉnh bổ sung, nếu chính sách phù hợp với thực tiễn thì phải tiếp tục triển khai thực hiện để chính sách đạt mục tiêu đề ra Duy trì chính sách là nhằm đảm bảo cho chính sách tồn tại được và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Muốn vậy cả về chủ thể triển khai thực hiện chính sách và đối tượng thụ hưởng chính sách phải đồng tâm hợp lực thực hiện chính sách
Trang 33Ngoài ra, chủ thể triển khai thực hiện chính sách phải chủ động tuyên truyền, vận động đối tượng thụ hưởng tích cực tham gia thực thi chính sách Nếu quá trình thực hiện chính sách gặp khó khăn do môi trường thực tế biến động, để duy trì chính sách thì các cơ quan nhà nước phải sử dụng các công cụ quản lý để tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực hiện chính sách và điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới Vì lợi ích
chung của xã hội, nhà nước có thể sử dụng biện pháp hành chính để duy trì chính sách
1.4.2.5 Điều chỉnh chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Theo nguyên tắc, cơ quan nào ban hành chính sách thì cơ quan đó có quyền điều chỉnh bổ sung chính sách Tuy nhiên, do tình hình thực tế mỗi ngành, mỗi địa phương có cách làm khác nhau, chính vì vậy, trong quá trình triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS mỗi ngành, mỗi địa phương đã linh hoạt, năng động trong việc điều chỉnh cơ chế, biện pháp, giải pháp chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách, nhưng không làm thay đổi mục tiêu của chính sách Để chính sách luôn tồn tại, không bị thất bại, thì chỉ được điều chỉnh cơ chế, biện pháp thực hiện mục tiêu hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế, không được điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu
1.4.2.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS là hoạt động của cơ quan, đơn vị, CB,CC có thẩm quyền được quy định tại các văn bản luật, dưới luật, nội quy, quy chế,… nhằm làm cho các chủ thể triển khai thực hiện chính sách nêu cao ý thức, tinh thần, trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách Trên thực tế việc triển khai thực hiện chính sách không phải cơ quan, đơn vị nào cũng làm tốt, làm đúng vì thế cần có hoạt động theo dõi, kiểm tra, đôn đốc để vừa có thể thúc đẩy các chủ thể nỗ lực hơn nữa trong thực hiện chính sách, vừa có thể phòng ngừa, ngăn chặn đẩy lùi những hành vi vi phạm quy định, nội quy, quy chế trong quá trình thực hiện chính sách Từ đó có thể đề xuất các biện pháp nhằm chấn chỉnh việc thực hiện góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của chính sách
1.4.2.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách đào tạo,
Trang 34bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS Đối tượng được xem xét, đánh giá, tổng kết là các cơ quan quản lý, điều hành và CB,CC trong quá trình ban hành và thực hiện chính sách Cơ sở để đánh giá, tổng kết là căn cứ vào kết quả thực hiện các kế hoạch được giao và những nhiệm vụ đã được quy định trong nội quy, quy chế làm việc, văn bản phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị Ngoài ra, còn xem xét đánh giá việc thực hiện chính sách của các đối tượng thụ hưởng chính sách
1.5 Phương pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
1.5.1 Tổ chức tuyên truyền, thuyết phục, động viên
Sau khi chính sách được ban hành, mỗi ngành, địa phương phải xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Trong quá trình thực hiện chính sách, đối tượng thụ hưởng chính sách sẽ không phối hợp thực hiện chính sách hoặc ngần ngại không muốn thực hiện chính sách bởi nhiều lí do khác nhau Điều này xảy ra có thể do họ chưa hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng của chính sách, cũng có thể do cách triển khai của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nên chưa có phối hợp nhịp nhàng, chưa hiểu và thông cảm cho công việc của nhau Chính vì vậy, phải tuyên truyền, động viên và thuyết phục để các bên cùng tham gia thực hiện chính sách đạt kết quả tốt
1.5.2 Hỗ trợ kinh tế – tài chính
Sử dụng biện pháp này trong tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS giúp cho chủ thể triển khai thực hiện chính sách dễ dàng, đối tượng tham gia thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn Khi xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện, người ta đã dự trù kinh phí, vì vậy chính sách sẽ được triển khai thực hiện nhanh chóng vào thực tiễn Bất kỳ chính sách nào nếu muốn đạt được kết quả tốt thì cần phải có một nguồn kinh phí nhất định để phục vụ cho các hoạt động trong quá trình thực hiện Đồng thời để thực hiện chính sách hiệu quả, nguồn kinh phí phân bổ cho từng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phải phù hợp, công khai, minh bạch
Trang 351.5.3 Sử dụng biện pháp hành chính
Đối tượng thụ hưởng chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS là CB,CC cấp xã là người DTTS, nếu không tham gia thực hiện, thì bằng các quy định của Nhà nước, quy chế của cơ quan có thể xử lý đối tượng không tham gia, thông qua các hình thức xử lý về mặt Đảng của như về Nhà nước như khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương hoặc buộc thôi việc nếu đồng chí đó không đạt chuẩn về chuyên môn cũng như các chứng chỉ kèm theo nó
1.5.4 Kết hợp hài hòa cả ba phương pháp
Đây là một biện pháp được sử dụng linh hoạt, tránh thụ động trong quá trình triển khai thực hiện chính sách, tùy theo tình hình thực tế tại mỗi cơ quan, đơn vị có thể áp dụng một trong ba biện pháp về tài chính, tuyên truyền thuyết phục hoặc biện pháp hành chính Khi sử dụng biện pháp này, không phải lúc nào cũng sử dụng được, cứng nhắc, mà phải có căn cứ pháp lý, có quy định cụ thể để lựa chọn biện pháp thực hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra của chính sách
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
1.6.1 Tính chất của vấn đề chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS tuy đơn giản, liên quan đến ít đối tượng nhưng tác động đến đối tượng là người DTTS, rất nhạy cảm Nếu triển khai thực hiện không khéo sẽ gây mất đoàn kết trong tổ chức, giữa đối tượng được thụ hưởng và không thụ hưởng chính sách Người thụ hưởng chính sách sẽ không thực hiện vì lòng tự tôn dân tộc hoặc ỷ lại vì có chính sách mà không tự giác học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật Ngoài ra, chính sách đã được ban hành, nhưng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể gây khó khăn trong việc triển khai thực hiện Tính chất của vấn đề chính sách tác động trực tiếp đến cách thức, phương pháp giải quyết vấn đề và tiến trình tổ chức thực hiện chính sách, tác động trực tiếp đến CB,CC và tác động gián tiếp đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nền hành chính công Như vậy, tính chất của vấn đề chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là
Trang 36người DTTS trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách một cách nhanh hay chậm, thuận lợi hay khó khăn
1.6.2 Môi trường thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Các hoạt động này diễn ra theo quy luật trong những điều kiện cụ thể, nên nó độc lập với quá trình thực thi chính sách Trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS, nếu kinh tế giảm sút thì chính sách dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng không thực hiện được theo mục tiêu đề ra, nhóm lợi ích từ chính sách rất ít nên khó khăn trong việc bảo vệ chính sách Đồng thời, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh, Nhà nước sẽ quan tâm đào tạo cán bộ chất lượng cao, ít quan tâm đến việc đào tạo CB,CC cấp xã là người DTTS Trong thực tế hiện nay, thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS rất thuận lợi, được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và ban hành nhiều chính sách như chính sách cán bộ, chính sách dân tộc, chính sách cải cách tổng thể nền hành chính, tình hình kinh tế tăng trưởng, môi trường chính trị ổn định, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, các cấp chính quyền địa phương thường xuyên quan tâm và nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS và sự hưởng ứng tích cực của CB,CC, đồng thời có sự đánh giá cao và phối hợp tích cực của cộng đồng quốc tế về đào tạo CB,CC chất lượng cao
1.6.3 Mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Điều này tùy theo vùng miền khác nhau, nếu vùng đông người đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thì chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS sẽ góp phần rất lớn trong quy trình triển khai thực hiện các loại chính sách, nhất là chính sách dân tộc; nếu vùng đồng bằng thì khó mà thực hiện chính sách dân tộc, thậm chí không thực hiện được, vì có khi không có CB,CC cấp xã là người DTTS hoặc người thụ hưởng chính sách là đồng bào dân tộc thiểu số Trong các vùng đồng bào miền núi, đối tượng tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS không mâu thuẫn với đối tượng thụ hưởng chính sách đào tạo, bồi dưỡng
Trang 37CB,CC cấp xã là người DTTS thì việc triển khai thực hiện chính sách rất dễ dàng, ngược lại nếu có mâu thuẫn về lợi ích thì chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS thực hiện khó khăn hoặc thất bại Thực tế hiện nay, việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS liên quan đến nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân như Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ giáo dục và đào tạo, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, các cấp chính quyền địa phương, CB,CC, đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng Nếu sự phối hợp không chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ thì việc triển khai thực hiện không đạt được mục tiêu của chính sách
1.6.4 Tiềm lực của các nhóm đối tượng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Đa số CB,CC cấp xã là người DTTS ở một số địa phương có điều kiện phát triển về kinh tế, giao thông đã được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, các chứng chỉ tin học, ngoại ngữ kèm theo trước khi tuyển dụng, bổ nhiệm nên rất dễ trong việc triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, ít tốn kém kinh phí về công tác này Ngược lại, một số địa phương do tiềm lực không có, điều kiện kinh tế của mỗi CB,CC cấp xã là người DTTS khó khăn nên khi thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS sẽ tốn kém kinh phí rất nhiều, không đạt chỉ tiêu Đồng thời, tiềm lực của chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS là điều kiện kinh tế của đội ngũ CB,CC cấp xã là người DTTS và các chủ thể tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS Nếu điều kiện kinh tế của mỗi CB,CC cấp xã là người DTTS còn nghèo, không đủ kinh phí và các chủ thể tham gia thực hiện chính sách không nhiệt tình tham gia thực hiện chính sách
thì chính sách đó không đạt mục tiêu, coi như thất bại
1.6.5 Đặc tính của đối tượng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Nếu bản thân đối tượng thụ hưởng chính sách không quyết tâm đi đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị hoặc tham gia nửa chừng các khóa học đào tạo, bồi dưỡng, không tự giác đăng ký học tập tại các trường thì chính sách thực hiện không có kết quả, đồng thời gây tốn kém tiền của Nhà nước Nhìn chung, đội ngũ CB,CC cấp xã là người DTTS hiện nay có bản tính thật thà,
Trang 38thẳng thắng, chân thật, ham học hỏi, chịu khó, có ý chí vươn liên, có năng lực và trách nhiệm nên việc triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS sẽ rất thuận lợi và đạt được nhiều kết quả
1.6.6 Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Mỗi bước của quy trình chính sách đều có vị trí, ý nghĩa quan trọng, nếu thực hiện thiếu các bước trong quy trình thực thi chính sách sẽ gây lúng túng, thiếu khoa học, không đồng bộ hoặc chính sách không khả thi và sẽ không được sự đồng tình ủng hộ của người dân Chẳng hạn, đối với bước xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CB,CC là người DTTS, các đơn vị, cá nhân khi xây dựng kế hoạch, phải xác định nhu cầu cần đào tạo, bồi dưỡng đúng với thực trạng, tính toán các nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng phải chi tiết, rõ ràng, kế hoạch càng chi tiết bao nhiêu thì độ chính xác của nó càng cao, càng dễ thực hiện Sau khi xây dựng kế hoạch xong, các cơ quan, đơn vị, cá nhân phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến đến CB,CC và người dân thực hiện, nếu không tuyên truyền, phổ biến hoặc tuyên truyền, phổ biến qua loa, hình thức thì đối tượng thụ hưởng chính sách sẽ không nắm được mục đích, ý nghĩa của chính sách đào tạo, bồi dưỡng và không phối hợp thực hiện dẫn đến chất lượng kế hoạch đạt thấp, chính sách sẽ không có tính khả thi Đồng thời khi thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng các cơ quan, đơn vị, cá nhân phải phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng với nhau từ khâu điều tra, xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch, công tác tuyên tuyền, phổ biến, cân đối kinh phí, công tác mở lớp đào tạo, bồi dưỡng, cho đến khâu đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm, từ đó mới có sự quan tâm chung, tránh đùn đẩy trách nhiệm với nhau Ngoài ra, cơ quan, đơn vị, cá nhân được phân công chủ trì, phải thường xuyên theo dõi, đôn đốc các cơ quan, đơn vị, cá nhân thực hiện để kịp thời phát hiện sai phạm, chấn chỉnh, uốn nắn nhằm đạt mục tiêu kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đã đề ra Tổ chức tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CB,CC phải đảm bảo chất lượng, tránh hình thức, nếu tổng kết hình thức thì sẽ không đánh giá được những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, sẽ không nhân rộng được cách làm hay, những điển hình tiên tiến, sẽ không rút ra được những bài học kinh nghiệm để thực hiện trong thời gian tiếp theo Chính vì vậy, tổ chức thực hiện chính
Trang 39sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS phải đảm bảo đúng quy trình để tránh những ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình thực hiện chính sách
1.6.7 Năng lực thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS còn chung chung, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, nên rất khó khăn trong việc triển khai thực hiện, muốn thực hiện tốt chính sách đòi hỏi CB,CC thực thi phải có tâm huyết, có trình độ, có kế hoạch cụ thể, phải có tầm nhìn xa trông rộng, phải nắm được mục tiêu cụ thể, thực tiễn địa phương để vận dụng, có thể lồng ghép với các chính sách khác Trên thực
tế, có nhiều CB,CC cấp xã, trong đó có CB,CC cấp xã là người DTTS không đủ năng lực để hiểu và thực thi các chính sách, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước, do đó việc triển khai thực hiện chính sách không đạt kết quả cao, thậm chí gây tổn hại đến sự phát triển của địa phương
1.6.8 Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS mặc dù tác động đến ít đối tượng nhưng khi triển khai thực hiện cũng khá tốn kinh phí, vì vậy, nếu không có kinh phí thì khó đạt được mục tiêu đề ra; ngoài kinh phí do nhà nước chu cấp, thì bản thân các đối tượng thụ hưởng chính sách phải có một phần kinh phí để thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS Nhìn chung, nhà nước ta còn nghèo, kinh phí chi cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng còn hạn chế, các
cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chưa kịp thời đầu tư, xây dựng khang trang hiện đại, nhất là các Trung tâm bồi dưỡng chính trị, các trường dạy nghề cấp huyện, chế độ tiền công, tiền lương cho cán bộ, giáo viên và CB,CC còn thấp, chính điều này đã làm ảnh hưởng
đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS
1.6.9 Sự đồng tình ủng hộ của đối tượng thụ hưởng chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Mặc dù, chính sách tác động đến đối tượng là CB,CC cấp xã là người DTTS nhưng cũng cần có sự đồng tình ủng hộ của người dân, đặc biệt là chính đối tượng thụ hưởng chính sách Nếu người dân không đồng tình ủng hộ sẽ gây nhiều tranh cãi, đồng
Trang 40thời không có nguồn kinh phí để triển khai thực hiện chính sách, vì thế chính sách sẽ thất bại Kinh phí thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS do Nhà nước hỗ trợ, nguồn ngân sách Nhà nước hổ trợ là từ nhân dân đóng góp
thông qua hệ thống thu phí, lệ phí và thuế
1.7 Kinh nghiệm thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số của một số địa phương khác và bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
1.7.1 Ở tỉnh Đắk Lắk
Tỉnh Đắk Lắk là một trong những tỉnh nằm ở trung tâm khu vực Tây Nguyên, có đồng bào DTTS chiếm khoảng 33% dân số của tỉnh và có 16,84% CB,CC cấp xã là người DTTS Các DTTS của tỉnh Đắk Lắk có nhiều điểm tương đồng với tỉnh Quảng Nam, vì thế việc học tập kinh nghiệm trong công tác thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là DTTS của tỉnh Đắk Lắk được coi là khá phù hợp với huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam Trong những năm qua, tỉnh Đắk Lắk luôn chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng CB,CC là người DTTS, xác định đây là lực lượng có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói chung, các chính sách dân tộc nói riêng và đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành, trong đó có Nghị quyết số: 07-NQ/TU ngày 05/5/2008 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; Kế hoạch số: 5835/KH-UBND, ngày 12/8/2015 về triển khai thực hiện Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 16/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tiếp tục củng cố, kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây Nguyên giai đoạn 2014-2020 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; Quyết định số 836/QĐ-UBND ngày 08/4/2015 của UBND tỉnh “về việc ban hành Kế hoạch bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã” theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ năm 2015 và giai đoạn 2015-2020 Trọng tâm là tập trung đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý nhà nước, kiến thức Quốc phòng an ninh, tin học, ngoại ngữ Kết quả, đến năm 2020, đội ngũ cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã đều tốt nghiệp phổ thông hoặc bổ túc Trung học phổ thông, có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên Trong đó, 62,39% cán bộ, công