1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên phục vụ phát triển du lịch bền vững tỉnh đắk lắk

227 112 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 227
Dung lượng 32,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, định hướng tài nguyên rõ rệt, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hóa và hội nhập cao. Sự tồn tại và phát triển du lịch tác động qua lại với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế – xã hội và môi trường. Trong nhiều thập kỷ vừa qua, du lịch phát triển với tốc độ cao, trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng, đóng góp đáng kể vào nền kinh tế của các quốc gia và vùng lãnh thổ. Tại nhiều khu vực, tốc độ phát triển nhanh của hoạt động du lịch trong điều kiện tổ chức không gian thiếu cơ sở khoa học và vượt ngoài tầm quản lý đã tạo ra sức ép lớn cho khả năng chịu tải của tài nguyên và môi trường du lịch. Vì vậy, phát triển du lịch bền vững đảm bảo hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường trở thành nhu cầu cấp thiết ở nhiều quy mô lãnh thổ khác nhau và được các nhà khoa học, các nhà quản lý quan tâm nghiên cứu. Vậy thì, phương pháp nào có thể phát triển bền vững du lịch của một lãnh thổ. Đó là chúng ta phải “hiểu” được cấu trúc không gian lãnh thổ đó mà cụ thể là điều kiện địa lý (gồm tự nhiên, kinh tế văn hóa xã hội), tài nguyên du lịch để khai thác hợp lý và sử dụng hiệu quả chúng. Do vậy, công tác nghiên cứu, đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch trở nên vô cùng quan trọng, bởi nó quyết định thành công của của hệ thống lãnh thổ du lịch. Vấn đề nghiên cứu này sẽ đặc biệt hiệu quả, mang tính toàn diện và đầy đủ hơn khi các nội dung được giải quyết trên cơ sở tiếp cận hệ thống, tổng hợp và chuyên ngành. Nhưng làm thế nào để chính xác hơn kết quả đánh giá nguồn lực du lịch của một địa phương. Đó là tìm ra “sự phân hóa không gian lãnh thổ du lịch” của chúng. Giải quyết bài toán này có nhiều “chìa khóa” để mở và tiếp cận phân vùng địa lý ứng dụng mà cụ thể là phân vùng địa lý du lịch cũng là một trong số đó. Đặc biệt, tiếp cận tổng hợp gồm điều kiện tự nhiên, văn hóa tộc người, hoạt động kinh tế và nhóm cụm tiềm năng du lịch trong phân vùng địa lý du lịch cho đơn vị cấp tỉnh là hướng mới ở Việt Nam. Đắk Lắk là tỉnh trọng điểm của vùng Tây Nguyên. Nơi đây cách trung tâm cung ứng khách Hà Nội 1.410 km về phía Bắc, thành phố Hồ Chí Minh 350 km về phía Nam bằng hệ thống đường bộ. Đắk Lắk đang dần khẳng định vị thế trung tâm vùng Tây Nguyên rộng lớn, là mắt xích quan trọng trong Tam giác phát triển Cam Pu Chia – Lào – Việt Nam. Tỉnh là điểm hội tụ của trục liên kết Bắc Nam và hành lang kinh tế Đông Tây bằng hệ thống Quốc lộ 14, 26, 29, 27. Nơi đây có tiềm năng tự nhiên đặc sắc và phong phú với 2 VQG, 5 khu bảo tồn, 321 hồ tự nhiên nhân tạo, 17 thác nước cùng nguồn trữ lượng gỗ, khoáng sản dồi dào,… Bên cạnh đó, TN nhân văn khác biệt và nổi trội với 49 dân tộc cùng sinh sống (điển hình là Ê đê, M’Nông, Gia Rai…), dân số khoảng 1,8 triệu người và lực lượng lao động chiếm hơn 50%. Đắk Lắk được xem là trung tâm đào tào

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

DƯƠNG THỊ THỦY

ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ VÀ TÀI NGUYÊN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Hà Nội – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS Phạm Quang Tuấn

Người hướng dẫn khoa học 2: GS.TS Trương Quang Hải

Hà Nội 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố

trong bất kỳ công trình nào khác

Nghiên cứu sinh

Dương Thị Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ VÀ TÀI NGUYÊN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 5

1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan 5

1.1.1 Hướng nghiên cứu điều kiện địa lý và tài nguyên phục vụ phát triển du lịch 5

1.1.2 Hướng đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch 14

1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan về tỉnh Đắk Lắk 21

1.2 Cơ sở lý luận cho đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch 26

1.2.1 Điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch 26

1.2.2 Phân vùng địa lý du lịch 27

1.2.3 Phát triển du lịch bền vững 34

1.2.4 Các loại hình du lịch ưu thế miền núi và cao nguyên 36

1.2.5 Tiêu chí và quy trình đánh giá ĐKĐL & TN cho các loại hình du lịch 39

1.2.6 Quan điểm, phương pháp và quy trình nghiên cứu 46

1.2.6.1.Quan điểm nghiên cứu 46

1.2.6.2.Phương pháp nghiên cứu 47

1.2.7 Quy trình nghiên cứu 54

1.3 Tiểu kết chương 1 56

CHƯƠNG 2 SỰ PHÂN HÓA ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ VÀ TÀI NGUYÊN CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH ĐẮK LẮK 57

2.1 Điều kiện địa lý tự nhiên, tài nguyên du lịch tự nhiên 57

2.1.1 Vị trí địa lý và vị thế tỉnh Đắk Lắk 57

2.1.2 Địa chất – Tài nguyên du lịch gắn với địa chất 58

2.1.3 Địa mạo – Tài nguyên du lịch gắn với địa hình 59

2.1.4 Khí hậu – Tài nguyên khí hậu cho du lịch 61

2.1.5 Thủy văn – Tài nguyên du lịch gắn với thủy văn 62

2.1.6 Thổ nhưỡng – Tài nguyên du lịch gắn với đất 62

2.1.7 Sinh vật – Tài nguyên du lịch gắn với sinh vật 63

2.2 Điều kiện địa lý kinh tế xã hội và tài nguyên du lịch văn hóa 66

2.2.1 Dân cư, lao động 66

2.2.2 Đặc điểm dân tộc và văn hóa 66

2.2.3 Kinh tế và bảo tồn 67

Trang 5

2.2.4 Tài nguyên du lịch văn hóa 68

2.3 Phân vùng địa lý du lịch 73

2.3.1 Kết quả phân vùng địa lý du lịch 73

2.3.2 Đặc điểm các vùng và tiểu vùng địa lý du lịch 75

2.4 Tiểu kiết chương 2 82

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ VÀ TÀI NGUYÊN CHO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TỈNH ĐẮK LẮK 83

3.1 Đánh giá chung 83

3.1.1 Đánh giá mức độ thuận lợi cho du lịch sinh thái 83

3.1.2 Đánh giá mức độ thuận lợi cho du lịch văn hóa 87

3.1.3 Đánh giá mức độ thuận lợi cho du lịch nông nghiệp 90

3.1.4 Đánh giá mức độ thuận lợi cho du lịch nghỉ dưỡng 92

3.1.5 Đánh giá tổng hợp mức độ thuận lợi của ĐKĐL & TN cho du lịch 96

3.2 Thực trạng phát triển du lịch theo hướng bền vững 97

3.2.1 Hiện trạng du lịch tỉnh Đắk Lắk 97

3.2.2 Phân tích tác động giữa các đối tượng tham gia du lịch 112

3.2.3 Phân tích tồn tại, mâu thuẫn trong phát triển du lịch 112

3.2.4 Phân tích hiện trạng quy hoạch du lịch 114

3.2.5 Đánh giá du lịch bền vững 115

3.3 Định hướng và giải pháp 118

3.3.1 Định hướng phát triển du lịch bền vững 118

3.3.2 Giải pháp phát triển du lịch bền vững 125

3.4 Tiểu kết chương 3 132

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 133

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 135

TÀI LIỆU THAM KHẢO 136

PHỤ LỤC 1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH ĐẮK LẮK PL-1 PHỤ LỤC 2 BẢNG PHÂN BỐ MỨC ĐỘ ĐỒNG NHẤT THEO KHÔNG GIAN PL-6 PHỤ LỤC 3 PHÂN CẤP CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ ĐKĐL & TN CHO BỐN LOẠI HÌNH

DU LỊCH PL-11 PHỤ LỤC 4 KẾT QUẢ TÍNH TOÁN ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THUẬN LỢI CHO BỐN LOẠI HÌNH DU LỊCH PL-16 PHỤ LỤC 5 HIỆN TRẠNG DU LỊCH TỈNH ĐẮK LẮK PL-23

Trang 6

PHỤ LỤC 6 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG DU LỊCH BỀN VỮNG TỈNH ĐẮK LẮK PL- 24PHỤ LỤC 7 CÁC MẪU PHIẾU ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC PL- 27PHỤ LỤC 8 DANH MỤC HÌNH BẢN ĐỒ PL- 42PHỤ LỤC 9 MỘT SỐ ẢNH ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT THỰC ĐỊA TẠI CÁC ĐIỂM DU LỊCH TỈNH ĐẮK LẮK PL- 64

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Luận án được hoàn thành tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, dưới sự hướng dẫn khoa học nghiêm cẩn, chu đáo của hai thầy hướng

dẫn PGS.TS Phạm Quang Tuấn và GS.TS Trương Quang Hải NCS xin bày

tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến các thầy, người đã tận tình hướng dẫn, cố vấn khoa học, giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận án NCS xin bày tỏ lòng biết ơn đến Quý Thầy, Cô, các nhà khoa học ở Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN; Khoa Du lịch học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN; Viện Địa lý – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch; Trung tâm Nhiệt đới Việt -Nga; Khoa Địa lý – Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội; Viện Khoa học Xã hội Miền Trung, đã giúp đỡ NCS hoàn thành luận án Bằng cả tấm lòng của mình, NCS xin chân thành cảm ơn về sự giúp

đỡ quý báu đó Quý Thầy, Cô đã truyền nhiệt huyết, sự nghiêm túc, nỗ lực trong nghiên cứu khoa học, cung cấp cho NCS nhiều thông tin và tài liệu tham khảo quý giá để hoàn thành luận án Đặc biệt NCS xin gửi lời tri ân sâu sắc

nhất tới TS Phạm Quang Anh, GS.TS Nguyễn Cao Huần, PGS.TS Đặng Văn Bào,

PGS.TS Trần Đức Thanh vì những giúp đỡ, dìu dắt và truyền lửa đam mê cho

em trong suốt quá trình thực hiện luận án cũng như học tập

NCS xin bày tỏ lòng biết ơn tới các cán bộ thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đắk Lắk, Trung tâm Thông tin xúc tiến du lịch Đắk Lắk (đặc biệt chuyên viên Cao Đình Tỵ), Phòng Văn hóa và Thông tin các huyện, Tx Buôn Hồ và Tp Buôn

Ma Thuột, Ban Quản lý các điểm du lịch, và cộng đồng dân cư các buôn văn hóa người Ê đê, M’Nông, Thái, Tày, H’Mông, đã tạo điều kiện và tận tình giúp

đỡ NCS trong suốt thời kỳ tiến hành nghiên cứu tại địa phương

NCS xin trân trọng cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Địa lý; Phòng Sau Đại học, Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN; Quý Thầy, Cô Khoa Địa lý đặc biệt là Bộ môn Địa nhân văn và Quy hoạch đã chỉ bảo, giúp đỡ, khích lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho NCS hoàn thành luận án

NCS cũng xin cảm ơn đề tài cấp nhà nước TN3/T18 thuộc Chương trình Tây nguyên III về “Nghiên cứu đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch, hoạch định không gian và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch ở Tây Nguyên” đã hỗ trợ dữ liệu trong quá trình NCS thực hiện luận án

Cuối cùng, NCS xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên NCS rất nhiều trong thời gian thực hiện luận án

Một lần nữa tác giả luận án xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô, các Nhà khoa học, Gia đình và Bạn bè đã giúp đỡ NCS hoàn thành luận án!

Hà Nội, ngày tháng năm

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Tiếng Anh

AHP Analytical Hierachy Process

Quá trình phân tích thứ bậc

Chỉ số khí hậu du lịch

UNEP United Nations Environment Programme

Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc

UNWTO United Nations World Tourism Organization

Tổ chức Du lịch thế giới của Liên Hợp Quốc

WTO World Trade Organization

Tổ chức Thương mại Thế giới

WTTC The World Travel & Tourism Council

TNDLTN Tài nguyên du lịch tự nhiên

TNDLVH Tài nguyên du lịch văn hóa

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Ma trận PV chức năng cho DL vùng Altai 10

Bảng 1.2 Bộ tiêu chí phân vùng địa lý du lịch 29

Bảng 1.3.Căn cứ xác lập ranh giới vùng và tiểu vùng ĐLDL theo mức độ đồng nhất 30 Bảng 1.4 Phân loại mức độ thuận lợi của ĐKĐL & TN cho loại hình DL 45

Bảng 1.5 Hệ thống bản đồ được thành lập và biên tập 48

Bảng 1.6 Nội dung và vai trò các bản đồ mới trong nghiên cứu 49

Bảng 1.7 Số lượng phiếu phỏng vấn du khách tại các điểm 51

Bảng 1.8 Số lượng phiếu phỏng vấn cộng đồng địa phương 52

Bảng 1.9 So sánh chỉ tiêu dựa trên phương pháp phân tích thứ bậc của AHP 53

Bảng 1.10 Ma trận đa tiêu chí 53

Bảng 2.1 Mức độ đồng nhất tương đối của 13 chỉ tiêu phân vùng ĐLDL 74

Bảng 2.2.Đặc điểm điều kiện địa lý & tài nguyên các vùng và tiểu vùng ĐLDL 77

Bảng 3.1.Tiêu chí đánh giá mức độ thuận lợi ĐKĐL & TN cho du lịch sinh thái 84

Bảng 3.2 Trọng số tiêu chí & chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi cho DLST 86

Bảng 3.3 Kết quả phân loại mức độ thuận lợi ĐKĐL & TN cho DLST 87

Bảng 3.4 Trọng số tiêu chí & chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi cho DLVH 88

Bảng 3.5 Kết quả phân loại mức độ thuận lợi ĐKĐL & TN cho DLVH 90

Bảng 3.6 Trọng số tiêu chí & chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi cho DLNN 91

Bảng 3.7 Kết quả phân loại mức độ thuận lợi ĐKĐL & TN cho DLNN 92

Bảng 3.8 Trọng số tiêu chí & chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi cho DLND 93

Bảng 3.9 Kết quả phân loại mức độ thuận lợi cho du lịch nghỉ dưỡng 94

Bảng 3.10 Phân loại mức độ thuận lợi ĐKĐL & TN cho 4 loại hình DL 96

Bảng 3.11.So sánh hiện trạng DL với kết quả đánh giá mức độ TL cho loại hình DL 99 Bảng 3.12 Đánh giá của khách DL về lao động du lịch Đắk Lắk 102

Bảng 3.13 Đánh giá của du khách về cơ sở vật chất và hạ tầng du lịch 107

Bảng 3.14 Cơ sở lưu trú tỉnh Đắk Lắk năm 2018 108

Bảng 3.15 Đánh giá của du khách về cảnh quan, TNMT DL theo vùng 109

Bảng 3.16 Đánh giá về thực trạng bảo vệ TN & MT du lịch 111

Bảng 3.17 Trọng số của các tiêu chí đánh giá du lịch bền vững 115

Bảng 3.18 Kết quả đánh giá mức độ bền vững của du lịch Đắk Lắk 116

Bảng 3 19 Định hướng phát triển không gian các loại hình du lịch 119

Bảng 3 20 Đề xuất hình thức dịch vụ du lịch theo tiểu vùng 129

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ các cụm DLVH ở Belize [131] 9

Hình 1.2 Sơ đồ các cụm DLTN ở Belize [131] 9

Hình 1.3 Sơ đồ hành lang DL văn hóa giữa Quintana – Belze – Guatemala [131] 9

Hình 1.4 Sơ đồ hành lang DL tự nhiên giữa Quintana – Belze – Guatemala [131] 9

Hình 1.5 Sơ đồ chuỗi quan hệ nhân quả các tiêu chí đánh giá DLBV 35

Hình 1.6 Sơ đồ chuỗi quan hệ nhân quả giữa chỉ tiêu BV về TN-MT 35

Hình 1 7 Sơ đồ chuỗi quan hệ nhân quả giữa chỉ tiêu BV về VH-XH 36

Hình 1.8 Sơ đồ chuỗi quan hệ nhân quả giữa chỉ tiêu BV về thể chế chính sách 36

Hình 1.9 Sơ đồ chuỗi quan hệ nhân quả giữa chỉ tiêu BV về kinh tế 36

Hình 1.10 Sơ đồ chuỗi quan hệ giữa các tiêu chí đánh giá thuận lợi cho DLST 41

Hình 1.11 Sơ đồ chuỗi quan hệ giữa các tiêu chí đánh giá thuận lợi cho DLVH 42

Hình 1.12 Sơ đồ chuỗi quan hệ giữa các tiêu chí đánh giá thuận lợi cho DLNN 43

Hình 1.13 Sơ đồ chuỗi quan hệ giữa các tiêu chí đánh giá thuận lợi cho DLND 44

Hình 1.14 Sơ đồ quy trình phân tích liên hợp hệ thống bản đồ hợp phần 50

Hình 1 15 Sơ đồ quy trình nghiên cứu 56

Hình 2.1 Bản đồ đơn vị tiềm năng du lịch tỉnh Đắk Lắk 75

Hình 2.2 Bản đồ phân vùng địa lý du lịch tỉnh Đắk Lắk 76

Hình 3.1 Bản đồ đánh giá tổng hợp mức độ thuận lợi cho các loại hình du lịch 95

Hình 3.2 Biểu đồ lượng khách du lịch quốc tế và nội địa tới Đắk Lắk 100

Hình 3.3 Biểu đồ cơ cấu chi tiêu theo hoạt động 100

Hình 3.4 Biểu đồ cơ cấu chi tiêu theo mục đích DL 100

Hình 3.5 Biểu đồ cơ cấu thu nhập xã hội từ du lịch tỉnh Đắk Lắk năm 2017 102

Hình 3.6 Biểu đồ lao động trực tiếp tham gia du lịch tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2005 – 2017 103 Hình 3.7 Sơ đồ mức độ tham gia du lịch của cộng đồng địa phương 104

Hình 3.8 Biểu đồ cơ cấu thu nhập của lao động bán hàng tại điểm du lịch 105

Hình 3.9 Biểu đồ sự hài lòng của khách DL về loại hình lưu trú 108

Hình 3.10 Sơ đồ sự ảnh hưởng giữa các phân hệ của hệ thống lãnh thổ DL tỉnh Đắk Lắk 113

Hình 3.11 Bản đồ mức độ bền vững hiện trạng du lịch tỉnh Đắk Lắk 117

Hình 3.12 Bản đồ định hướng không gian du lịch bền vững tỉnh Đắk Lắk 123

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, định hướng tài nguyên rõ rệt, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hóa và hội nhập cao Sự tồn tại và phát triển du lịch tác động qua lại với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế – xã hội và môi trường Trong nhiều thập kỷ vừa qua, du lịch phát triển với tốc độ cao, trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng, đóng góp đáng kể vào nền kinh tế của các quốc gia và vùng lãnh thổ Tại nhiều khu vực, tốc độ phát triển nhanh của hoạt động du lịch trong điều kiện tổ chức không gian thiếu cơ sở khoa học và vượt ngoài tầm quản lý

đã tạo ra sức ép lớn cho khả năng chịu tải của tài nguyên và môi trường du lịch Vì vậy, phát triển du lịch bền vững đảm bảo hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường trở thành nhu cầu cấp thiết ở nhiều quy mô lãnh thổ khác nhau và được các nhà khoa học, các nhà quản lý quan tâm nghiên cứu

Vậy thì, phương pháp nào có thể phát triển bền vững du lịch của một lãnh thổ Đó là chúng ta phải “hiểu” được cấu trúc không gian lãnh thổ đó mà cụ thể là điều kiện địa lý (gồm tự nhiên, kinh tế văn hóa xã hội), tài nguyên du lịch để khai thác hợp lý và sử dụng hiệu quả chúng Do vậy, công tác nghiên cứu, đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch trở nên vô cùng quan trọng, bởi nó quyết định thành công của của hệ thống lãnh thổ

du lịch Vấn đề nghiên cứu này sẽ đặc biệt hiệu quả, mang tính toàn diện và đầy đủ hơn khi các nội dung được giải quyết trên cơ sở tiếp cận hệ thống, tổng hợp và chuyên ngành Nhưng làm thế nào để chính xác hơn kết quả đánh giá nguồn lực du lịch của một địa phương Đó là tìm ra “sự phân hóa không gian lãnh thổ du lịch” của chúng Giải quyết bài toán này có nhiều “chìa khóa” để mở và tiếp cận phân vùng địa lý ứng dụng mà cụ thể là phân vùng địa lý du lịch cũng là một trong số đó Đặc biệt, tiếp cận tổng hợp gồm điều kiện tự nhiên, văn hóa tộc người, hoạt động kinh tế và nhóm cụm tiềm năng du lịch trong phân vùng địa lý du lịch cho đơn vị cấp tỉnh là hướng mới ở Việt Nam

Đắk Lắk là tỉnh trọng điểm của vùng Tây Nguyên Nơi đây cách trung tâm cung ứng khách Hà Nội 1.410 km về phía Bắc, thành phố Hồ Chí Minh 350 km về phía Nam bằng

hệ thống đường bộ Đắk Lắk đang dần khẳng định vị thế trung tâm vùng Tây Nguyên rộng lớn, là mắt xích quan trọng trong Tam giác phát triển Cam Pu Chia – Lào – Việt Nam Tỉnh là điểm hội tụ của trục liên kết Bắc Nam và hành lang kinh tế Đông Tây bằng

hệ thống Quốc lộ 14, 26, 29, 27 Nơi đây có tiềm năng tự nhiên đặc sắc và phong phú với 2 VQG, 5 khu bảo tồn, 321 hồ tự nhiên & nhân tạo, 17 thác nước cùng nguồn trữ lượng gỗ, khoáng sản dồi dào,… Bên cạnh đó, TN nhân văn khác biệt và nổi trội với 49 dân tộc cùng sinh sống (điển hình là Ê đê, M’Nông, Gia Rai…), dân số khoảng 1,8 triệu người và lực lượng lao động chiếm hơn 50% Đắk Lắk được xem là trung tâm đào tào

Trang 12

nguồn nhân lực cho toàn vùng Tây Nguyên với 7-8 cơ sở đào tạo cao đẳng và đại học Nơi đây họa lên bức tranh địa lý đa màu sắc, giàu tiềm năng du lịch tự nhiên và văn hóa Thời gian qua, cùng với du lịch cả nước, du lịch Đắk Lắk đã bắt đầu khởi sắc Tốc độ tăng trưởng lượng khách giai đoạn 2000 - 2018 đạt 10,72%/năm Cùng với sự phát triển nhanh đã xuất hiện những dấu hiệu không bền vững: Sản phẩm, loại hình du lịch bị mai một do tài nguyên suy giảm và biến đổi như số lượng đàn voi giảm nhiều, diện tích rừng nguyên sinh bị thu hẹp, nguồn nước cạn kiệt ở nhiều nơi, kiến trúc nhà ở và văn hóa sinh hoạt đang dần mất đi Hiện trạng du lịch còn tự phát, thiếu vốn đầu tư, chất lượng lao động và hạ tầng du lịch hạn chế Cùng với nguyên nhân khách quan do thực tiễn lãnh thổ, còn những nguyên nhân chủ quan như định hướng chiến lược, quy hoạch du lịch, thiếu số liệu thống nhất, cập nhật về điều tra cơ bản, thiếu cách tiếp cận tổng hợp

về lợi thế so sánh nên chưa có nhiều giải pháp hữu hiệu, phù hợp để khai thác có hiệu quả Tiếp cận địa lý tổng hợp với những công cụ đánh giá định lượng là hướng phù hợp của địa lý hiện đại để giải quyết những vấn đề thực tiễn trong quản lý tài nguyên, phát triển kinh tế và bảo tồn giá trị tự nhiên, văn hóa cho du lịch địa phương Do vậy, nghiên

cứu đã lựa chọn đề tài “Đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên phục vụ phát triển du

lịch bền vững tỉnh Đắk Lắk” với mong muốn góp phần bổ sung, phát triển cơ sở luận

về phân vùng địa lý ứng dụng cũng như đánh giá điều kiện địa lý cùng tài nguyên phục

vụ phát triển du lịch bền vững cấp tỉnh

2 Mục tiêu và nghiệm vụ nghiên cứu

a Mục tiêu nghiên cứu: Xác lập được cơ sở khoa học, bộ tiêu chí phân vùng địa

lý du lịch và tiêu chí đánh giá du lịch bền vững từ đó làm rõ sự phân hóa điều kiện địa lý theo các tiểu vùng với tiềm năng du lịch khác nhau, xác định và đề xuất được một số loại hình du lịch ưu thế mang tính bền vững ở tỉnh Đắk Lắk

b Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục tiêu nêu trên cần thực hiện các nội dung nghiên cứu:

1) Xác lập cơ sở lý luận về đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên phục vụ phát triển

du lịch bền vững, vận dụng cho tỉnh Đắk Lắk;

2) Xác định cơ sở khoa học, bộ tiêu chí phân vùng địa lý du lịch và tiêu chí đánh giá du lịch bền vững tỉnh Đắk Lắk;

3) Phân tích đặc điểm vùng và tiểu vùng địa lý du lịch;

4) Đánh giá điều kiện địa lý, tài nguyên cho phát triển bốn loại hình du lịch ưu thế mang tính bền vững;

5) Phân tích hiện trạng du lịch tỉnh Đắk Lắk;

6) Đánh giá hiện trạng DLBV tỉnh Đắk Lắk theo các tiểu vùng địa lý du lịch;

7) Định hướng tổ chức không gian du lịch bền vững;

8) Khuyến nghị giải pháp phát triển du lịch bền vững tỉnh Đắk Lắk

Trang 13

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Toàn tỉnh Đắk Lắk với diện tích 13.125 km2;

Phạm vi thời gian: Số liệu và các dữ liệu được thu thập và phân tích trong giai đoạn

từ 2010 đến 2018 và định hướng đến 2030;

Phạm vi khoa học: Phân vùng địa lý du lịch tỉnh Đắk Lắk đã xác định được cơ sở khoa

học, bộ tiêu chí phân vùng ĐLDL với 2 cấp phân vị (vùng, tiểu vùng) Khía cạnh du lịch

bền vững được NCS đề cập và giải quyết trong luận án với phạm vi “phục vụ phát triển du

lịch bền vững”, thể hiện qua các nội dung: 1) Xác lập được bộ tiêu chí và tiến hành đánh

giá mức độ thuận lợi cho các loại hình du lịch ưu thế mang tính bền vững phù hợp với cấu trúc lãnh thổ; 2) Xác lập tiêu chí đánh giá DLBV từ đó xác định được mức độ bền vững của hiện trạng du lịch theo tiểu vùng; và 3) Trên cơ sở đó đề xuất định hướng không gian và các giải pháp phát triển DLBV cho tỉnh Đắk Lắk

4 Điểm mới của luận án

1) Đã xác định được cơ sở khoa học, bộ tiêu chí cũng như quy trình phân vùng địa lý

du lịch, đánh giá ĐKĐL & TN theo loại hình du lịch và đánh giá du lịch bền vững tỉnh Đắk Lắk;

2) Đã làm rõ sự phân hóa lãnh thổ thành các tiểu vùng địa lý du lịch với đặc điểm riêng

về điều kiện tự nhiên, văn hóa tộc người, hoạt động kinh tế, nhóm cụm tiềm năng du lịch, là cơ sở khoa học cho phát triển các loại hình du lịch ưu thế mang tính bền vững; 3) Xác định được mức độ thuận lợi cho phát triển 4 loại hình du lịch theo hướng bền vững: 1, Du lịch sinh thái; 2, Du lịch văn hóa; 3, Du lịch nghỉ dưỡng; 4, Du lịch nông nghiệp và định hướng phát triển bền vững theo các tiểu vùng địa lý du lịch của tỉnh Đắk Lắk

5 Luận điểm nghiên cứu

Luận điểm 1: Sự khác nhau về vị trí địa lý cùng đặc điểm địa chất, địa hình và các

hợp phần tự nhiên, nhân sinh quyết định sự đa dạng về đặc điểm sản xuất, hệ thống tài nguyên du lịch và ảnh hưởng đến văn hóa dân tộc, đã hình thành một cấu trúc lãnh thổ đặc thù gồm 5 vùng và 10 tiểu vùng địa lý du lịch ở tỉnh Đắk Lắk

Luận điểm 2: Kết quả đánh giá mức độ thuận lợi của điều kiện địa lý, tài nguyên đối

với các loại hình: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch nghỉ dưỡng và du lịch nông nghiệp theo tiểu vùng địa lý du lịch, kết hợp phân tích thực trạng du lịch là cơ sở khoa học

có tính tổng hợp cao cho đề xuất định hướng không gian du lịch bền vững tỉnh Đắk Lắk

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Ý nghĩa lý luận: Kết quả của luận án góp phần bổ sung, phát triển phương pháp luận,

phương pháp nghiên cứu về phân vùng địa lý ứng dụng và đánh giá điều kiện địa lý cùng tài nguyên phục vụ phát triển du lịch bền vững cấp tỉnh

Trang 14

Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo hữu

ích cho công tác quy hoạch, quản lý và thu hút đầu tư để phát triển du lịch bền vững tỉnh Đắk Lắk

7 Cơ sở tài liệu

Để hoàn thành luận án, NCS đã tham khảo, sử dụng các loại tài liệu khoa học cụ thể như sau:

Các số liệu, kết quả khảo sát, điều tra thực địa trong quá trình chủ trì đề tài cấp

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN “Nghiên cứu đánh giá thực trạng du lịch bền vững tỉnh Đắk Lắk”, TN16.17;

Dữ liệu điều tra, khảo sát thực địa trong quá trình học tập nghiên cứu sinh và thực hiện luận án các năm 2016, 2017, 2018, 2020;

Nguồn số liệu, kết quả khảo sát, điều tra thực địa trong quá trình tham gia đề tài cấp

nhà nước “Nghiên cứu đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch, hoạch định không gian và

đề xuất các giải pháp phát triển DL ở Tây Nguyên”, Mã số: TN3/T18 thuộc Chương trình Tây Nguyên III;

Kết quả điều tra xã hội học tại Đắk Lắk: 468 phiếu khảo sát khách du lịch (quốc tế

và nội địa), 665 phiếu phỏng vấn cộng đồng địa phương (trực tiếp & gián tiếp) tham gia

du lịch tại các điểm đến và cán bộ công tác tại các Ban quản lý điểm du lịch, Phòng Văn hóa và du lịch các huyện, Trung tâm Thông tin xúc tiến du lịch Đắk Lắk và Sở văn hóa thể thao và du lịch Số liệu điều tra được xử lý bằng phần mềm chuyên dụng SPSS 20;

Tài liệu khoa học: Các tài liệu nghiên cứu về điều kiện địa lí và tài nguyên tỉnh Đắk Lắk; Tài liệu bản đồ: Hệ thống bản đồ cập nhật của tỉnh Đắk Lắk được cung cấp bởi Sở

Tài nguyên và Môi trường, gồm: Bản đồ hành chính tỷ lệ 1:50.000, Bản đồ địa hình tỷ

lệ 1:50.000, Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỷ lệ 1:50.000, Bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000; và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1:50.000;

Niên giám thống kê, các số liệu về kinh tế và du lịch tỉnh Đắk Lắk chủ yếu trong giai đoạn

2010 - 2019; Các báo cáo tổng kết hàng năm về kinh tế và du lịch tỉnh Đắk Lắk

8 Cấu trúc luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các Phụ lục, nội dung

chính của Luận án gồm 3 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận về đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên phục vụ phát triển

du lịch bền vững

Chương 2 Sự phân hóa điều kiện địa lý và tài nguyên cho phát triển du lịch tỉnh Đắk Lắk Chương 3 Đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên cho định hướng phát triển du lịch bền

vững tỉnh Đắk Lắk

Trang 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ

VÀ TÀI NGUYÊN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan

1.1.1 Hướng nghiên cứu điều kiện địa lý và tài nguyên phục vụ phát triển du lịch

Tiếp cận trên quan điểm địa lý để giải quyết bài toán phát triển ngành dịch vụ mà điển hình là du lịch được vận dụng từ năm 40 của thế kỷ XX, với các công trình xác định luồng khách du lịch thông qua phân tích ĐKĐL & TN Đến những năm 60 của thế

kỷ trước khi nhu cầu du lịch tăng cao, du lịch đại trà gây tổn thương môi trường, suy giảm tài nguyên nên vấn đề đánh giá ĐKĐL & TN cho mục đích DL (nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí và đặc biệt tổ chức lãnh thổ du lịch) được quan tâm nhiều tại Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Hoa Kỳ… Đến những năm 80 của Thế kỷ trước, vấn đề phát triển bền vững là mục tiêu của tất cả các quốc gia trên thế giới đòi hỏi du lịch phải tìm hướng đi mới “làm thế nào để phát triển DLBV cho một lãnh thổ?” Dưới lăng kính của nhà địa lý thì xác định nguồn lực địa phương (ĐKTN, ĐKKTXH, tài nguyên) cho du lịch là thế mạnh và nó cũng là cơ sở định hướng phát triển DL đúng với chức năng, năng lực và cấu trúc lãnh thổ, hướng tới sử dụng hợp lý tài nguyên du lịch cũng như phát triển DLBV Trong đó, tiếp cận phân vùng địa lý ứng dụng là một trong những giải pháp hữu hiệu để xác định nguồn lực DL và TNDL này Dựa trên kết quả phân vùng địa lý có thể tiến hành đánh giá mức độ thuận lợi cho các loại hình du lịch theo tiểu vùng nên chúng mang tính chuyên môn hóa rất rõ

1.1.1.1 Phân vùng địa lý ứng dụng

Quan niệm về phân vùng được nghiên cứu từ nhiều góc độ: Về mặt quy mô, trong phân vùng có hai loại: Phân vùng tổng hợp và phân vùng chuyên ngành (cả trong phân vùng tự nhiên và phân vùng kinh tế - văn hóa - xã hội) Trong đó phân vùng tổng hợp là

sự kết hợp của các loại phân vùng chuyên ngành với nhau

a Phân vùng địa lý tự nhiên: Là phân chia lãnh thổ thành các khu vực tự nhiên đồng

nhất về phát sinh, có đặc thù riêng và không lặp lại trong không gian Trên thế giới, hướng nghiên cứu này được được quan tâm từ thế kỷ XIX điển hình như A J Herbertson (1905) [149], Wladimir Köppe (1980), Tổ chức Saylor (2001) [198], Tiêu chí thường

sử dụng trong phân vùng ĐLTN như địa chất, địa mạo, khí hậu địa phương và thảm thực vật – hệ sinh thái Đặc biệt thảm thực vật và khí hậu có mối quan hệ phức tạp mà chi phối mạnh là nhiệt độ và lượng mưa Kỹ thuật sử dụng trong phân vùng ĐLTN là GIS, thông qua sự tích hợp giữa các bản đồ hợp phần của tự nhiên Ở Việt Nam, khoảng những năm

60 - 70 của thế kỷ XX cơ sở khoa học về phân vùng địa lý tự nhiên Việt Nam (khái niệm, nguyên tắc và cấp phân vị) đã được đề cập và tiên phong trong lĩnh vực này là tác giả

Trang 16

Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập, V.G.Zavrie (1963) Tiếp sau đó, Tổ phân vùng ĐLTN thuộc Uỷ ban Khoa học và kĩ thuật Nhà nước (1970) đã vận dụng cơ sở luận đó để “Phân vùng địa lý tự nhiên lãnh thổ Việt Nam” Sau nay các hướng như phân vùng địa mạo, phân vùng cảnh quan, phân vùng khí hậu, phân vùng chức năng được nhiều tác quả nghiên cứu

và phát triển điển hình như Phạm Quang Anh, Nguyễn Cao Huần, Trương Quang Hải (1986, 2006), Nguyễn Hoàn, Đào Đình Bắc (1999) [34], Đặng Văn Bào (2015) [7], Vũ Văn Phái, Uông Đình Khanh (2002) [41], Nguyễn Đức Ngữ [58] và Nguyễn Trọng Hiệu (2004), Trần Việt Liễn (1984, 2002), Nguyễn Khanh Vân (2006) [100]…

b Phân vùng địa lý kinh tế - văn hóa – xã hội: Là phân chia lãnh thổ thành những vùng

KT-XH phục vụ cho công tác quản lý, hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện chủ trương phát triển của chính phủ, các vùng kinh tế - xã hội có quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau (Ngô Doãn Vịnh, 2013) Tiêu chí phân vùng kinh tế xã hội như: một lãnh thổ có điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý tương đồng nhau; Vị thế kinh tế, trình độ phát triển kinh tế - xã hội tương hợp và dấu hiệu phân biệt các vùng KTXH với nhau dựa trên lợi thế so sánh giữa chúng

Hướng nghiên cứu này được ứng dụng trong công trình phân chia ranh giới hành chính

và đô thị các quốc gia như Pháp, Anh, Mỹ, Canada, Úc, Nhật, Trước năm 1954, nhiều công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam và nước ngoài (đặc biệt người Pháp) tập trung nghiên cứu và phân chia đất nước ra các vùng kinh tế riêng biệt Sau năm 1975, nhiệm

vụ đặt ra cho sự phân vùng kinh tế càng cần thiết, nhất là làm sao sử dụng và phát triển hiệu quả nhất nguồn TN thiên nhiên nên xuất hiện nhiều dự án phân vùng kinh tế Những công trình nghiên cứu của các học giả tập trung phân chia đất nước thành từng vùng kinh tế riêng biệt như Trần Đình Gián (1960); Ủy ban kế hoạch nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) (1964) đưa ra phương án 4 vùng nông nghiệp; Ban chỉ đạo phân vùng Nông nghiệp (1977) đưa ra phương án 7 vùng nông lâm nghiệp Giai đoạn 1980-1986 các trường đại học Sư Phạm, Kinh tế quốc dân đã đưa ra các phương án phân vùng kinh tế Việt Nam Sau năm

1986 là các phương án phân vùng của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Nghiên cứu Phát triển

DL, Viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp…

Từ năm 2000 đến hiện nay, các khái niệm, quá trình phát triển, tiêu chí phân vùng kinh

tế đã hoàn chỉnh hơn: Ngô Doãn Vịnh (2005), Lê Thông (2006), Đặng Văn Phan (2006),

Lê Thu Hoa (2007) [33], Hà Hữu Nga (2012) [53], Trương Quang Hải (2013) [26] ,… Hiện nay, các công trình phân vùng KTXH có tính ứng dụng thực tiễn như phân vùng chăn nuôi (dê) ở châu Âu và Trung Đông của Canon & nnk (2006) [123], xác lập bộ tiêu chí phân vùng bảo tồn của Sangeeta Mangubhai & nnk (2015) [189] tại Indonesia, G Roman & nnk (2016) tiến hành tại Thái Lan; Hay phân vùng đô thị của Allison Shertzer (2005), phân vùng địa lý để thu thập dữ liệu web của Jose Exposto (2005)

Trang 17

c Phân vùng văn hóa là một bộ phận của phân vùng KT-XH: Là phân chia lãnh thổ

thành khu vực tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống, trình độ phát triển KTXH (Ngô Đức Thịnh, 2019) và mỗi vùng có đặc trưng riêng, phân biệt với vùng văn hóa khác Trên thế giới với các trường phái điển hình như: “khuyếch tán văn hóa” ở Tây Âu giải thích sự tương đồng văn hóa và nó phát triển mạnh từ thập kỷ đầu thế kỷ XX; Lý thuyết

“vùng văn hóa” trong nhân chủng học của Mỹ đã khẳng định văn hóa mỗi dân tộc hình thành trong quá trình lịch sử gắn liền với môi trường xã hội và điều kiện địa lý tự nhiên; Lý thuyết “khu vực văn hóa lịch sử” của Liên Xô điển hình là N.N Trebocxarop, I.A Trebocxaropva (1971) cũng đồng quan điểm Họ đưa ra cấp phân vị “vùng, miền” hay “khu vực” tương đương cấp tỉnh, huyện và “vùng”, “tiểu vùng” có thể phân chia nhỏ hơn và tiêu chí phân vùng là “sắc thái văn hóa đặc trưng” theo không gian địa lý Ở Việt Nam các nghiên cứu ít đề cập đến cơ sở lý luận, đa phần phân tích hiện trạng vùng văn hóa tại Việt Nam và tập trung một số tác giả như Trần Quốc Vượng (2002), Ngô Đức Thịnh (2008), Lý Tùng Hiếu (2015), Bùi Xuân Đính & Nguyễn Thị Thanh Bình (2018),…

d Cách thức phân vùng địa lý ứng dụng phục vụ phát triển kinh tế- xã hội và tổ chức lãnh thổ: Cách thứ nhất là phân theo lưu vực sông, theo ranh giới các vùng hành chính kinh

tế Cách phân vùng này gần phù hợp với phương pháp phân vùng tổng hợp kinh tế- xã hội của nước ta hiện nay Mỗi vùng bao gồm cả tiểu vùng núi cao, tiểu vùng trung du, tiểu vùng đồng bằng và ven biển; Cách thứ hai là phân theo các dải lãnh thổ có địa hình giống nhau như dải đồng bằng và ven biển, dải trung du và cao nguyên, dải núi cao và biên giới [7] Hiện nay phân vùng ĐLDL sử dụng cả hai cách thức này là kết hợp phân chia theo dải lãnh thổ với ranh giới hành chính cấp thấp là xã Cấp vùng trong hệ thống các đơn vị tổ chức lãnh thổ đã được Trương Quang Hải phân chia theo quy mô, vai trò tạo vùng và đặc điểm phát triển khu biệt Theo quy mô gồm: cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tiểu vùng, khu vực (cấp tỉnh) và tiểu khu (cấp huyện) [dẫn theo 7]

1.1.1.2 Phân vùng địa lý du lịch

a Hướng tiếp cận trong phân vùng ĐLDL: Phân vùng gồm 2 loại hình là phân vùng

chuyên ngành và phân vùng tổng hợp Tương ứng như vậy, phân vùng ĐLDL gồm có phân vùng địa lý tự nhiên cho DL, phân vùng địa lý KTXH cho DL và phân vùng kết hợp giữa địa lý tự nhiên với địa lý KTXH – tài nguyên – môi trường

Phân vùng chuyên ngành: Thứ nhất là phân vùng địa lý tự nhiên cho DL sử dụng

trong tổ chức lãnh thổ DL tham quan, nghỉ dưỡng, biển, sinh thái Những tác giả điển hình như: Kobakhidze (1987) đã phân vùng tại Georgia, Kotliarov (1978) phân vùng tại Azerbaidzhan, hay N.X Mironeko & I.T Tirodokholebok (1981) phân vùng cấp quốc gia Liên Bang Nga; Cũng tương tự M Buchơvarov (1982), I.I Pirojnik (1985) phân vùng cấp vùng lãnh thổ, cấp tỉnh và chi tiết hơn có Dragiliva & Korneevets (2004),

Trang 18

Kropinova & Mitrofanova (2010) phân chia khu vực Kaliningrad Oblast cho DL nghỉ dưỡng - giải trí [dẫn theo 211] Ở Việt Nam, tiếp cận theo hướng này có Phạm Hoàng Hải, Vũ Thị Hạnh (2012) ứng dụng cho phát triển DLBV dải ven biển Quảng Ninh; Quy

mô tỉnh có Phạm Hoàng Hải, Trần Anh Tuấn, Lương Chi Lan, 2016) [44] thực hiện tại Vĩnh Phúc; Bùi Thị Thu, Đỗ Việt Hương (2017) Ranh giới vùng mang tính khách quan, phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên của lãnh thổ Phân vùng KT-XH cho DL thì ranh giới vùng và tiểu vùng trùng với ranh giới hành chính, nguyên tắc phân vùng chịu sự chi phối của phân vùng kinh tế Quan điểm này ít được vận dụng trong phân vùng DL Việt Nam

Phân vùng tổng hợp là hướng tiếp cận được vận dụng trong luận án Vận dụng cơ sở

địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội – môi trường kết hợp bảo tồn của Maria G Sukhova & nnk (2016) [169] đã coi phân vùng như một công cụ phát triển DLBV vùng Altai (Nơi tiếp giáp Mông Cổ, Trung Quốc, Nga) Bên cạnh đó, tác giả Zoya G Mirzekhanova (2015) [211] đã tiến hành phân vùng địa lý DL phục vụ phát triển bền vững vùng Khabarovsky Krai, Nga là địa bàn phân bố của nhiều di sản văn hóa và tự nhiên Nghiên cứu đã sử dụng bốn nguyên tắc phân vùng: 1) Khách quan – dấu hiệu hình thành vùng nổi bật; 2) Tính thống nhất (mỗi vùng đặc thù cho một sản phẩm DL); 3) Tính phân cấp (chia nhiều cấp phân vị, mỗi cấp phân vị mang sự phân hóa khác nhau); 4) Tính khả thi trong sử dụng (mỗi vùng DL khả thi cho một nhiệm vụ DL cụ thể) Ranh giới tiểu vùng

mà tác giả xác lập là tích hợp giữa ranh giới hành chính và ranh giới tự nhiên Môi trường DL là phân hệ quan trọng của lãnh thổ DL, chi phối mức độ bền vững của hoạt động DL, cho nên phân vùng môi trường DL rất cần thiết Tác giả Sadegh Hadizadeh Zargar (2016) [188] tiến hành phân vùng môi trường nhằm xác định vùng có tiềm năng DLST của tỉnh Mazandaran, Iran

Ở Việt Nam tiếp cận phân vùng tổng hợp phục vụ tổ chức lãnh thổ DL xuất hiện từ năm 90 Viện nghiên cứu Phát triển DL (1991) đã chia quốc gia thành 3 vùng DL là Bắc

bộ, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ & Nam Bộ Trong chiến lược phát triển DL đến

2020 và định hướng 2030 của Thủ tướng Chính phủ (2010) thì nước ta có 7 vùng DL

Ở quy mô cấp tỉnh chưa có công trình phân vùng ĐLDL tổng hợp nhưng ở cấp huyện

có nghiên cứu của Nguyễn Cao Huần, Trần Thị Mai Hoa, Phạm Thị Cẩm Vân (2017) [101] vận dụng tại huyện Mộc Châu

b Cấp phân vị trong phân vùng ĐLDL: Với quy mô nghiên cứu khác nhau thì cấp

phân vị trong phân vùng cũng thay đổi: N.X Mironeko & I.T Tirodokholebok (1981)

đã sử dụng hệ thống phân vị 4 cấp trong phân vùng địa lý DL cấp quốc gia: 1) Nước cộng hòa (vùng, biên khu, tỉnh); 2) Vùng DL; 3) Địa phương DL; và 4) Tiểu vùng DL Cũng tương tự M Buchơvarov (1982), I.I Pirojnik (1985) đã sử dụng 5 cấp phân vị

Trang 19

trong phân vùng địa lý DL nhưng nghiên cứu chi tiết hơn: 1) Điểm DL; 2) Hạt nhân; 3) Tiểu vùng; 4) Á vùng; và 5) Vùng Hệ thống phân vị càng nhỏ thì mức độ chi tiết, sắc nét của ĐKĐL & TN càng nâng cao, tác giả Linev trong nghiên cứu cấp tỉnh đã phân làm 6 cấp phân vị: 1) Đối tượng; 2) Hạt nhân; 3) Khu; 4) Tiểu vùng; 5) Á vùng; và 6) Vùng [111] Ở Việt Nam thì Viện Nghiên cứu Phát triển DL (1991) đã sử dụng hệ thống

5 cấp phân vị gồm 1) Điểm; 2) Trung tâm; 3) Tiểu vùng; 4) Á vùng; và 5) Vùng Quy

mô cấp vùng có thể phân chia làm vùng, á vùng, tiểu vùng; Cấp tỉnh là vùng và tiểu vùng [44]; Ở quy mô huyện chỉ có cấp phân vị là tiểu vùng [101]

Hình 1.1 Sơ đồ các cụm DLVH ở Belize [131] Hình 1.2 Sơ đồ các cụm DLTN ở Belize [131]

Tiếp cận cụm để phân vùng du lịch sử dụng cấp phân vị gồm: điểm du lịch – cụm DL (cluster), rồi nhóm các cụm có tiềm năng gần giống nhau thành nhóm cụm (multi-clustering patterns) Quan điểm này cũng được vận dụng trong luận án để thành lập các bản đồ hợp phần cho phân vùng ĐLDL tỉnh Đắk Lắk

Hình 1.3 Sơ đồ hành lang DL văn hóa giữa

Quintana – Belze – Guatemala [131]

Hình 1.4 Sơ đồ hành lang DL tự nhiên giữa Quintana – Belze – Guatemala [131]

Các cụm DL được kết nối với nhau thành “hành lang DL” (tourism corridors) đây là những hành làng xuyên biên giới, kết nối giữa các quốc gia, làm căn cứ cho liên kết phát triển DL Mỗi hành lang DL hàm chứa tiềm năng và sức tiêu thụ DL khác nhau, tạo nên những tour DL đặc sắc dài ngày, nhưng sẽ khó khăn nếu tổ chức tour ngắn ngày

c Tiêu chí, chỉ tiêu phân vùng ĐLDL: Tiêu chí và chỉ tiêu phân vùng tự nhiên cho

DL gồm có vị trí địa lý, địa chất, địa hình, khí hậu để phân vùng (Vũ Thị Hạnh, 2012)

áp dụng cho quy mô dải ven biển và hệ thống đảo; Ở cấp tỉnh đã sử dụng 3 chỉ tiêu: 1

Trang 20

Địa hình, địa mạo, 2 Khí hậu; 3 Thảm thực vật [44]; Tỷ lệ nghiên cứu càng lớn thì tiêu chí phân vùng ĐLDL càng chi tiết ví như phân vùng DL đảo Rupat Bộ tiêu chí sử dụng gồm vị trí địa lý, chiều dài bãi biển, khoảng cách tới bãi biển, mức độ sạch của nguồn nước, mức độ cung ứng dịch vụ, sinh vật gây hại

Tiêu chí phân vùng tổng hợp thường đa dạng và linh động theo từng khu vực: Ma trận phân vùng chức năng cho DL vùng Altai sử dụng 3 tiêu chí là giải trí (Recreational), bảo tồn (Conservation) và kinh tế (Economic) gắn với loại tài nguyên tự nhiên được sử dụng cho du lịch và mỗi vùng lồng ghép các chức năng với nhau (bảng 1.1)

Bảng 1.1 Ma trận PV chức năng cho DL vùng Altai

Loại TN tự

nhiên sử dụng

Giải trí (GT)

Bảo tồn (BT)

Kinh tế (KT)

Ở Việt Nam, bộ tiêu chí tổng hợp sử dụng trong phân vùng DL còn hạn chế: Viện nghiên cứu phát triển DL Việt Nam (1991) đã phân vùng DL cấp quốc gia dựa trên 5 chỉ tiêu: 1) Loại hình sản phẩm DL độc đáo; 2) Điều kiện môi trường tự nhiên cho DL; 3) Điều kiện môi trường nhân văn cho DL; 4) Định hướng phát triển kinh tế xã hội, phát triển đô thị hóa và mức thu nhập bình quân đầu người; 5) Điều kiện kết cấu hạ tầng, cơ

sở vật chất kỹ thuật Công tác phân vùng có thể thực hiện ở cấp huyện (tương đương một vùng) và tiêu chí phân tiểu vùng dựa trên “tổ hợp ưu thế về địa hình – đá mẹ - loại đất và tổ hợp lĩnh vực kinh tế xã hội chính gắn với loại hình sử dụng đất ưu thế” [101]

Bộ tiêu chí kết hợp cũng được Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Đình Hòa (2017), Trần Đức Thanh

Trang 21

& Trần T Mai Hoa (2017) đề cập gồm tài nguyên (tự nhiên, lịch sử - văn hóa, kinh tế -

xã hội), dòng khách du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

Như vậy, các tiêu chí thường sử dụng trong phân vùng địa lý DL: nhóm tiêu chí điều

kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng sinh vật, điều kiện môi trường tự nhiên, hiện tượng cực đoan, TNDL tự nhiên); nhóm tiêu chí điều kiện kinh tế xã hội (dân cư, dân tộc, làng bản, văn hóa, hoạt động kinh tế, đô thị hóa, quy hoạch, sử dụng đất, công tác bảo tồn, giải trí, TNDL văn hóa, chỉ số hấp dẫn, thực trạng tiêu thụ DL); nhóm tiêu chí cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật (cơ sở lưu trú, cơ

sở ăn uống, khả năng tiếp cận và khả năng liên kết)

d Phương pháp phân vùng ĐLDL: Hệ phương pháp sử dụng trong phân vùng du lịch

thay đổi theo khu vực và mục đích nghiên cứu Phương pháp sử dụng trong phân vùng địa lý cả định tính và định lượng: phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp điều tra thực địa, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích–mô tả, phương pháp phân tích đa chỉ tiêu (MCA), phương pháp bản đồ và GIS mà cụ thể là sự phân tích liên hợp giữa các bản đồ hợp phần

Trên thế giới, nghiên cứu phân vùng DL sử dụng hệ thống phương pháp đa dạng nhưng ít khi thiếu phương pháp bản đồ Zoya G Mirzekhanova (2015) phân vùng ĐLDL phục vụ phát triển bền vững bằng nhóm phương pháp điều tra thực địa, điều tra xã hội học, phân tích thống

kê và phương pháp bản đồ Cũng với nhóm phương pháp trên nhưng kết hợp phân tích đa chỉ tiêu như WSM (weighted sum model) để phân vùng DL VQG Mu Khoh Chang, Thái Lan phục vụ cho mục đích bảo tồn Tương tự, tác giả Sadegh Hadizadeh Zargar (2016) [188] tiến hành phân vùng DLST bằng hệ phương pháp khảo sát thực địa, Fuzzy AHP, GIS và phương pháp mô tả - phân tích Nếu tiếp cận cụm trong phân vùng thì google map, GIS và phân tích thống kê (SPSS, excel) là bộ công cụ hữu hiệu trong phân vùng tiềm năng DL tại vùng biên giới ở Mexico và Hoa Kỳ phục vụ công tác quản lý bằng việc xác định các cụm có tiềm năng phát triển DL (potential tourism) với chỉ số hấp dẫn (attractiveness) và thực trạng tiêu thụ DL (tourist consumption) của Daniel Blasco Franch (2013) [131] Cũng hệ phương pháp tương tự Anjali Chhetri (2014) đã tiến hành phân vùng DL Victoria của Úc Các công trình phân vùng ĐLDL trong nước thường sử dụng bộ phương pháp truyền thống gồm điều tra thực địa, điều tra xã hội học và phân tích tổng hợp tài liệu Sau này, khi hệ thống thông tin (GIS) phát triển thì phương pháp phân tích liên hợp bản đồ hợp phần địa lý trở nên hiệu quả (Trương Quang Hải, Phạm Hoàng Hải, Đặng Văn Bào, Nguyễn Cao Huần, Vũ Thị Hạnh, Lương Chi Lan, Phạm T Cẩm Vân) [44], [101]) Tuy nhiên, các công trình này chưa làm rõ quy trình và các bước phân tích liên hợp bản đồ sử dụng trong phân vùng, mà chỉ nêu

ra bộ tiêu chí kết hợp nguyên tắc phân vùng để thực hiện

Trang 22

Tóm lại, các công trình phân vùng địa lý DL tại Việt Nam trong phông nghiên cứu thế

giới thì còn một số vấn đề đặt ra: 1) Chưa có những nghiên cứu tiếp cận địa lý tổng hợp trong phân vùng ĐLDL cấp tỉnh; 2) Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, phân tích

đa chỉ tiêu kết hợp GIS chưa phổ biến trong các nghiên cứu phân vùng ĐLDL; 3) Một

số tiêu chí phân vùng cho DL ít sử dụng tại Việt Nam như: chỉ số hấp dẫn (TNDL), dân tộc, văn hóa, bảo tồn và tai biến thiên nhiên; 4) Tiếp cận phân cụm để phân vùng địa lý phục vụ tổ chức lãnh thổ DL tiểu vùng gần như chưa có các nghiên cứu cơ bản

1.1.1.3 Du lịch bền vững

Đầu thập kỷ 90 Thế kỷ trước, thuật ngữ “du lịch bền vững” (sustainable tourism) lần đầu tiên xuất hiện trong chương trình nghị sự 21 tại Rio (1992) của UNWTO như mục tiêu thúc đẩy phát triển bền vững Chương trình nghị sự 21 của WTTC (Hội đồng DL

và Lữ hành thế giới) [249] đề xuất biện pháp và chiến lược cho phát triển DLBV hiệu quả nhất Đến năm 2005 chương trình “Making Tourism More Sustainable - A Guide for Policy Makers” của UNEP và WTO đã làm rõ các nguyên tắc phát triển Bên cạnh

đó, các tác giả tiên phong trong nghiên cứu cơ sở luận DLBV như D Pearce, 1989; B Boniface, C Cooper, 1993; B Steck, 1999; S Wanhill, 2008 [dẫn theo 103] đưa ra khái niệm, khung lý thuyết, chỉ số phát triển DLBV; J Northcote, 2006 [182] về quản lý DLBV; G.A Tanguay & nnk (2013) [196] đưa ra các chỉ tiêu về DLBV, trong đó tập trung chính sách Ở Việt Nam, lý luận chung về DLBV được đề cập nhiều từ những năm

90 đến nay, thông qua hội thảo và đề tài khoa học của Tổng cục Du lịch Việt Nam, các trường Đại học, tổ chức ESRT Việt Nam và các tác giả như Phạm Trung Lương (2002) [49], Lê Chí Công (2013) [13], Đỗ Trọng Dũng, 2011) [14], Nguyễn Thế Đồng (2015) [21]… Quan niệm DLBV ở Việt Nam cũng tiếp thu và nhiều tương đồng với thế giới Khái niệm “phát triển DLBV” và “phát triển bền vững” có mối quan hệ chặt chẽ nên một trong những quan điểm đầu tiên về DLBV đưa ra trong báo cáo Brundtland (WCRD, 1987):

DLBV là một loại mô hình phát triển mà quản lý tất cả các nguồn lực cho kinh tế, xã hội,

thẩm mỹ du lịch, đáp ứng yêu cầu hiện tại, gìn giữ cho thế hệ tương lai đồng thời bảo vệ môi trường tự nhiên, nhân văn và sự toàn vẹn văn hóa, sinh thái, đa dạng sinh học Quan niệm

tương tự về DLBV cũng được Tổ chức du lịch thế giới (WTO) đưa ra tại Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp Quốc diễn ra tại Rio de Janeiro (1992) và được sự tán đồng của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (1996)

Hoạt động du lịch địa phương trở nên bền vững khi tự nhiên, tài nguyên văn hóa, môi

trường, xã hội và kinh tế thịnh vượng của một khu vực được duy trì mãi mãi (Kercher

& Robson, 1996) [dẫn theo 120] Du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá hủy tài nguyên mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội CĐĐP (WTO, 2004), (Swarbrooke,1998) [dẫn theo 35] Luật Du lịch Việt

Trang 23

Nam (2017) quy định: Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng

thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của những

chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về DL trong tương lai

Các định nghĩa về DLBV luôn nhấn mạnh 3 trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường:

Theo Liên hiệp Bảo tồn Thế giới (1996) di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên, đặc điểm văn hóa kèm theo và mang lại lợi ích KTXH cho cộng đồng dân cư được coi là DLBV Phát triển du lịch mang tính sinh thái lâu dài, khả thi về tài chính, công bằng xã

hội và đạo đức cho CĐĐP được cho là BV (Rogers & Collins, 2001) Ngoài ra, DLBV

là các khía cạnh môi trường, kinh tế văn hóa xã hội của phát triển du lịch tìm được sự

cân bằng để hướng tới bền vững lâu dài

Một số tác giả đã đưa ra định hướng để phát triển du lịch mang tính bền vững: Hens L

(1998) cho rằng DLBV đòi hỏi phải quản lý tất cả những dạng tài nguyên theo cách nào đó

để chúng ta có thể đáp ứng nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mĩ trong khi vẫn duy trì được bản

sắc văn hóa, quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống Weaver

2007 [dẫn theo 83] thì nhấn mạnh vấn đề giảm thiểu tiêu cực và tối đa tích cực tại điểm đến Một trong những yếu tố quan trọng nhất của DLBV là vấn đề môi trường cần được quy hoạch, quản lý trong chiến lược dài hạn cho sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và con người (Sharpley 2009) Nếu du lịch đạt được sự đồng thuận của xã hội, khả thi về kinh tế và tương thích về môi trường thì được coi là bền vững (Graci and Dodds 2010) [140]

Phát triển DLBV là hoạt động phát triển mà nội dung, hình thức và quy mô luôn thích hợp và bền vững theo thời gian, không làm suy thoái môi trường, không làm ảnh hưởng tới khả năng hỗ trợ các hoạt động phát triển khác (Nguyễn Minh Tuệ, 2017) [83] Do

vậy, tính bền vững của du khách được xây dựng trên nền tảng sự thành công trong phát

triển của các ngành khác và của toàn xã hội

Nhóm tiêu chí đánh giá đa dạng và thay đổi theo mục đích nghiên cứu Thứ nhất dựa trên

3 trụ cột chính là bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường được nhiều nghiên cứu đề cập như

UNWTO (1996) [dẫn theo 83], McCool & nnk (2001) đã đưa ra 26 chỉ tiêu đánh giá du lịch bền vững ở 3 cấp quốc gia, vùng và địa phương; Hội đồng Du lịch Anh (2003) cũng đề xuất

bộ chỉ tiêu dựa trên ba trụ cột quản lý DLBV; Castellani & Sala (2010) [124], Tai-Chee Wong

(2015) Thứ hai nhóm tiêu chí gồm tài nguyên, kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế

chính sách, công nghệ được đề cập trong những nghiên cứu đánh giá du lịch từ năm

2010 đến nay mà điển hình là Chris & Sirakaya, 2006 [127] đã đề xuất 125 chỉ tiêu thuộc

18 nhóm tiêu chí đánh giá DLBV cấp vùng và Paul Anthony C Notorio & nnk (2016) [dẫn theo 70] đưa ra 10 nhóm tiêu chí đánh giá DLBV cấp tỉnh Thứ ba nhóm tiêu chí

Trang 24

đánh giá nhấn mạnh vai trò du khách và CĐĐP điển hình như Ioannides 1995 [153],

Sanchez & Pulido (2008) đã đưa ra 14 tiêu chí liên quan tới người dân tại điểm đến và

du khách; Moore & Polley (2007) đưa ra 6 tiêu chí liên quan tới du khách Bên cạnh

đó, sự phát triển và mức độ dễ bị tổn thương của điểm đến cũng được đề cập

Tóm lại, trên cơ sở tổng hợp các công trình nghiên cứu DLBV trên thế giới xuất hiện

cuối năm 80 của thế kỷ trước Ở Việt Nam, vấn đề này được đặt ra sau đó, trên cơ sở tiếp cận, tiếp thu những kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn của quốc tế Số lượng các nghiên cứu DLBV ngày càng phong phú và đa dạng nhưng chưa thống nhất về cơ

sở lý luận của DLBV Ở quy mô cấp tỉnh chưa có nghiên cứu đánh giá DLBV theo tiểu vùng địa lý du lịch đặc biệt khu vực miền núi và cao nguyên

1.1.2 Hướng đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch

Những công trình đầu tiên nghiên cứu về điều kiện địa lý (ĐKĐL) và tài nguyên cho phát triển DL của các nước trên thế giới bắt đầu khoảng cuối thế kỷ XIX phục vụ mục đích nghỉ

dưỡng và đối tượng nghiên cứu chính giai đoạn này là điều kiện tự nhiên và TN thiên nhiên

như địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn được kiểm kê, điều tra phục vụ mục đích DL nghỉ

dưỡng và khôi phục sức khỏe của con người Từ năm 1950 đến hiện nay, đánh giá ĐKĐL, TN

cho phát triển DL được thực hiện ở nhiều vùng lãnh thổ trên thế giới, mỗi khu vực mang “sắc màu” khác nhau về quan điểm tiếp cận, phương pháp đánh giá và mục đích đánh giá Ở Việt Nam những công trình về kiểm kê, đánh giá định tính các giá trị TN cho DL đã xuất hiện từ thời phong kiến vua Lê, chúa Trịnh và hướng nghiên cứu này ngày càng hoàn thiện

1.1.2.1 Đối tượng đánh giá

Đối tượng trong đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch gồm 3 nhóm chính:

thứ nhất là nhóm đối tượng về điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch tự nhiên; thứ hai là nhóm đối tượng thuộc điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội, tài nguyên du lịch văn hóa; thứ 3 kết hợp cả yếu tố tự nhiên và nhân văn Quy mô và mật độ đối tượng đánh giá phụ thuộc vào nội dung cũng như khu vực nghiên cứu và tỷ lệ nghiên cứu càng lớn thì diện tích và số lượng điểm đánh giá càng giảm

Đối tượng đánh giá gắn với điều kiện thiên nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên: Các

nghiên cứu có thể riêng lẻ từng hợp phần của tự nhiên như địa hình, khí hậu, thủy văn

Từ những thế kỷ trước, nhiều nơi có địa hình, khí hậu, nguồn nước thuận lợi cho nghỉ dưỡng đã được phát hiện và điều tra khảo sát: Các nhà kiến trúc Pháp đã tiến hành điều tra tìm kiếm khu vực núi cao như Đà Lạt (1893-1911), Sapa (1903), Tam Đảo (1922) hay các bãi biển đẹp tại Sầm Sơn (1906), Cửa Lò (1907), Nha Trang (1891-1925), Đồ Sơn (1920-1928), Vũng Tàu (1911) phục vụ cho nghỉ dưỡng Một số tác giả đã đánh giá tiềm năng du lịch các đảo ven bờ như đảo Qeshm của Iran (2016) (Azam Safarabadi,

Trang 25

2016) [118], đảo Quan Lạn – Quảng Ninh (Phạm Quang Tuấn & Dương Thị Thủy, 2015) [80], Nguyễn Hiệu, Hoàng Thị Thu Hương (2017) Dường như, sinh khí hậu cho

du lịch được quan tâm từ rất sớm như đánh giá chất lượng không khí của Jakeman & Simpson (1988), Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu (1988) hay điều kiện nhiệt ẩm cho DL của Đặng Duy Lợi (1992) [47], Vũ Bối Kiếm, Đào Ngọc Phong (1974); Sử dụng chỉ số sinh khí hậu cho du lịch như RSI (Relative Strain Index - chỉ số căng thẳng tương đối), TCI (Tourism climate index 1 - chỉ số khí hậu DL),… Nguyễn Khanh Vân (2006) [100], Trương Quang Hải (2015) [28], Nguyễn Thu Nhung (2016) [59], Hoàng Thị Kiều Oanh (2019) [60] và đánh giá điều kiện khí hậu cho DL dựa vào thiên nhiên của Julianna Priskin (2001) [160] tại Úc, C R de Freitas & nnk (2003) [136] và Reza Esmaili & nnk (2014) [185] Tài nguyên nước khoáng, nước ngầm, thác nước được nhiều tác giả quan tâm như J.Vatrin Xkaia (Ba Lan) đã xây dựng mô hình đánh giá 161 nguồn nước khoáng trên cơ sở kiểm kê 2.240 điểm nước khoáng nóng [105], hay Thomas Kweku Taylor & nnk (2013) [197] đánh giá tiềm năng bằng mức đa dạng của các thác nước tự nhiên, đánh giá TN nước khoáng, nước ngầm Việt Nam của Ngô Ngọc Cát & Nguyễn Xuân Tặng (1994), tuy nhiên nhiều nghiên cứu thiên về kiểm kê, ít công trình đánh giá Nghiên cứu, đánh giá hệ sinh thái rừng, cảnh quan quan tự nhiên hay lớp thảm thực vật cho du lịch được quan tâm bởi Nguyễn Đức Kháng, Đặng Huy Huỳnh, Nguyễn Tiến Bân (2013) đánh giá TN sinh vật tại các VQG, KBT cho DL; Lê Quốc Tuấn & nnk, 2014 [87] nghiên cứu về phát triển DL sinh thái rừng tràm Trà Sư tỉnh An Giang

Đối tượng nghiên cứu có thể là những hệ thống lãnh thổ tự nhiên (với sự tương tác giữa các hợp phần địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng và sinh vật theo không gian

và thời gian) Những nghiên cứu phục vụ tổ chức lãnh thổ du lịch điển hình là các học giả Liên Xô như L.M Matley (1976), Clare Gunn (1994) [143], Mitchel (1989), Moss

& Nickling (1980) [176] và Marzuki (2011), Backman & nnk (2014), Yildurim, Olmez (2008) [dẫn theo 108] dựa trên chất lượng cảnh quan và sử dụng kỹ thuật đánh giá cảnh quan để thực hiện Các nhà khoa học ở Ba Lan gồm Lechoslaw, Czemik, Halina, Orliska, Edfranh (1994) phân tích điều kiện tự nhiên để xác định tuyến điểm DL tự nhiên [dẫn theo 105] Ở Việt Nam, nhiều tác giả cũng tiếp cận hướng nghiên cứu này như Nguyễn Thị Hải (2002) [24], Đào Ngọc Cảnh (2003), Trương Quang Hải, Nguyễn Cao Huần, Đặng Văn Bào (2006), Phạm Quang Tuấn (2008), Trương Quang Hải (2013) [30]; Bùi Thị Thu (2012) [84], Phạm Hoàng Hải, Lương Chi Lan (2015) Bên cạnh đó, đánh giá tổng hợp ĐKTN cho các loại hình DL dựa vào thiên nhiên cũng khá phổ biến Ashouri, P Faryadi,

Sh (2010), Azizan Marzuki1 & nnk (2011), Tri Rahayuningsih & nnk, 2015) [203] đã đánh giá đối tượng là địa hình (thác nước, hang động, HST Karst), thủy văn (sông, hồ, suối nước nóng) và thảm thực vật (HST rừng, cánh đồng lúa)

Trang 26

Đối tượng đánh giá gắn với điều kiện kinh tế - văn hóa- xã hội và tài nguyên du lịch văn hóa: Mathieson và Wall [171] từ năm 1982 cho rằng những vấn đề xã hội và văn

hóa lối sống tác động tới DL theo nhiều cách; DL đang góp phần thay đổi hệ thống giá trị DL văn hóa, thói quen cá nhân, mối quan hệ gia đình, mức độ an toàn tại điểm DL, đạo đức CĐĐP (creative expressions), nghi thức truyền thống (traditional ceremonies)

và tổ chức cộng đồng Brunt và Courtney (1999) cũng đồng quan điểm Bucurescu, Iuliana (2012) cũng đã tiến hành đánh giá tiềm năng DL văn hóa điểm đến tại Bulgari John R.M Philemon (2015) [159] đã tiến hành đánh giá mức độ tham gia và hài lòng của du khách và CĐĐP tại Tanzania Những nghiên cứu về đánh giá TNDL di sản, phân tích sự tác động của kinh tế tới di sản DL của Douglas Franklin 2002, De Freitas & nnk

2004, Scott & nnk 2004, Amelung & nnk 2007 và Gongmei Yu 2009) [dẫn theo 132]

Ở Việt Nam, các nghiên cứu tài nguyên nhân văn cho du lịch được quan tâm nhưng chưa nhiều Nguyễn Minh Tuệ, Công Thị Nghĩa, 1990 [55], Trần Thùy Anh, 2014 [4]

Đối tượng đánh giá là tổng hợp thể tự nhiên và văn hóa (kết hợp địa lý tự nhiên cùng nhân văn, đề cập tới vấn đề môi trường): Giá trị tự thân lột tả được “năng lực hấp dẫn” của điểm

đến Dư Tiễn (1992), Vương Vinh (1996), Tự Tôn Bình (1998) (Xu, 1998) [209], Bao (1998) [119] Syfujjaman Tarafder & N.C Jana (2012) [195] đã tiến hành đánh giá ĐKĐL cho phát triển DL tại Tây Bengan (Ấn Độ) Kuo & Wu, (2013) tiến hành đánh giá tiềm năng DL tại điểm di sản (tự nhiên và văn hóa) của Đài Loan Sintayehu Aynalem Aseres (2015) [192], đã tiến hành đánh giá chất lượng điểm tiềm năng, tài nguyên, môi trường DL vùng núi của Ethiopia Đánh giá tiềm năng DL tự nhiên và văn hóa – lịch sử cho từng loại hình DL đã thực hiện tại Cộng hòa Séc (Jiri Vystoupil, 2017) Muna Mousa Slehat (2018) [177], đã tiến hành đánh giá tiềm năng, TNDL vùng Jordan của Irắc với các đối tượng điều kiện tự nhiên, cơ sở

hạ tầng, điều kiện kinh tế, CĐĐP, nhà quản lý và thể chế chính trị Ở Việt Nam, cuối thế kỷ

XX đã có những công trình điều tra, khảo sát, đánh giá điều kiện tự nhiên và TNDL tại vùng núi và biển giàu tiềm năng cũng như khu vực DTLSVH và thắng cảnh Giai đoạn 1980 -

1990, hướng nghiên cứu địa lý tổng hợp phục vụ kiểm kê TNDL, tổ chức lãnh thổ DL cấp quốc gia bắt đầu triển khai bởi tác giả Lê Khả, Lê Nhật Thức (1986), Tổng cục DL Việt Nam thực hiện (1986), Vũ Tuấn Cảnh, Đặng Duy Lợi (1991)

1.1.2.2 Phương pháp đánh giá

a Phương pháp đánh giá định tính: Hệ phương pháp ứng dụng cho đánh giá ĐKĐLvà

TNDL gồm khảo sát thu thập tài liệu, điều tra xã hội học bằng bảng hỏi hay thảo luận nhóm

và sử dụng phần mềm SPSS để xử lý dữ liệu đánh giá Phương pháp phỏng vấn trở thành mũi nhọn trong hướng đánh giá này nên nội dung khảo sát thường liên quan tới giá trị DL, mức

độ hấp dẫn, mức độ hài lòng và mức độ đa dạng Atsbha Gebreigziabher Asmelash (2015)

Trang 27

[117] đánh giá tiềm năng TNDL tại Ethiopia đã sử dụng hệ phương pháp đánh giá định tính gồm khảo sát thực địa, thu thập và phân tích tài liệu, đánh giá đối sánh chất lượng điểm DL với điểm tương tự; Sintayehu Aynalem Aseres (2015) [192], đã tiến hành đánh giá chất lượng điểm tiềm năng, tài nguyên, môi trường DL vùng núi của Ethiopia bằng bảng câu hỏi, phỏng vấn cá nhân và thảo luận nhóm tập trung FGD (focus group discussion) Ở Việt Nam đánh giá bằng phương pháp định tính xuất hiện từ lâu và phổ biến trước năm 1990 như Lê Khả, Lê Nhật Thức (1986) tiến hành kiểm kê tài nguyên du lịch bằng phương pháp khảo sát thực địa

và phỏng vấn Kết hợp với phân tích so sánh là các tác giả Vũ Bối Kiếm, Đào Ngọc Phong (1974) Áp dụng phương pháp định tính (thu thập, xử lý tư liệu, khảo sát thực địa, SWOT và phỏng vấn chuyên gia) trong đánh giá được thực hiện bởi Lê Quốc Tuấn & nnk, 2014 [87] Trần Đăng Ninh, 2016 với nghiên cứu về đánh thức tiềm năng DL Đồng Nai đã sử dụng phương pháp SWOT để đánh giá tiềm năng TNDL địa phương Ngoài ra, còn một số phương pháp khác được sử dụng như phương pháp Pralong của Azam Safarabadi (2016) [118]; Phương pháp Market appeal của Bucurescu, Iuliana (2012) nhằm tìm ra địa điểm DL lý tưởng

từ việc sắp xếp ma trận tiềm năng DL, làm căn cứ cho quản lý DLBV địa phương; Hay đưa

ra 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter gồm nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, đối thủ tiềm

ẩn, khách DL và sản phẩm thay thế đã tiến hành đánh giá năng lực cạnh tranh ngành DL tại các tỉnh An Giang, Tiền Giang, Bến Tre và Cần Thơ (Đào Duy Huân, 2015) bằng ma trận hình ảnh Phạm Quang Tuấn & Dương Thị Thủy (2015) [80] đã phân tích đánh giá tiềm năng

DL đảo Quan Lạn làm cơ sở xây dựng mô hình cơ sở dữ liệu GIS cùng các giải pháp phát triển DL theo hướng bền vững cho địa phương

b Phương pháp đánh giá định lượng: Đánh giá ĐKĐLvà TN cho DL bằng phương

pháp định lượng sẽ lượng hóa giá trị DL của điểm đến Những công trình nghiên cứu theo hướng này sử dụng đồng thời cả phương pháp định lượng và định tính Hệ phương pháp sử dụng trong hướng đánh giá này là phân tích đánh giá đa chỉ tiêu để tìm ra những khu vực thuận lợi cho phát triển DL: phương pháp trung bình cộng, phương pháp trọng số tổng (WSM), phương pháp phân tích thức bậc (AHP) kết hợp lý thuyết mờ hay Delphi và các mô hình, kỹ thuật tính toán nhằm khách quan giá trị du lịch của tài nguyên Về cơ bản, các nghiên cứu này đều thực hiện 3 bước: lựa chọn tiêu chí đánh giá, xác định điểm đánh giá và phân bậc mức độ thuận lợi cho phát triển DL Trong đó, một số tiêu chí thường lựa chọn là: tiềm năng nội lực (giá trị thẩm mĩ, giá trị giải trí, giá trị văn hóa lịch sử, giá trị khoa học, đa dạng sinh học ) và ngoại lực (khả năng liên kết, khả năng tiếp cận, chất lượng cơ sở lưu trú ) Phương pháp phân tích đa chỉ tiêu hay đa tiêu chuẩn (MCA-Multi-Criteria Annalysis) được vận dụng phổ biến: Ngô Tất Hổ (2000) [37], Tao-fang Yu và nnk (2002) trong công trình nghiên cứu đánh giá tổng hợp TNDL tỉnh Jilin (Trung Quốc) đã dùng phương pháp AHP, phân tích số mờ và Delphi để xác định trọng số của các chỉ tiêu đánh giá; Cũng tương

Trang 28

tự trong đánh giá TNDL băng tuyết tỉnh Heilongjiang của Trung Quốc (Weiwei Wu, 2013); Phân tích định lượng mối tương quan giữa nhận thức về DL văn hóa với đánh giá mức độ hấp dẫn của du khách được Xiaoyang Wang & nnk, (2017) thực hiện bằng phương pháp AHP Đánh giá điều kiện tự nhiên cho DL thiên nhiên của Julianna Priskin (2001) [160] tại Úc bằng phương pháp trọng số tổng; Abdulla Al Mamun và Soumen Mitra, 2012) [106] cũng vận dụng hướng nghiên cứu này Tiếp cận quan điểm bền vững, Yazar (2014) [210], đã tiến hành đánh giá TN khu nghỉ dưỡng núi của Bulgari, nghiên cứu

sử dụng phương pháp trung bình cộng kết hợp phương pháp điều tra xã hội học với thang liker 5 mức và phương pháp SWOT cho đánh giá tiềm năng DL

Các công trình nghiên cứu TNDL, chỉ ra những chỉ tiêu, phương pháp đánh giá mức độ thuận lợi cho phát triển DL được thực hiện tại Việt Nam từ những năm 90 như Đặng Duy Lợi (1992), Nguyễn Tiến Chinh (1995); Hồ Công Dũng (1996); Trần Văn Thắng (1995); Phạm Trung Lương &nnk (2000) [48]…; Đánh giá TN sinh vật tại các VQG cho DL của Nguyễn Đức Kháng, Đặng Huy Huỳnh, Nguyễn Tiến Bân; hay đánh giá TN nước khoáng, nước ngầm Việt Nam của Ngô Ngọc Cát và Nguyễn Xuân Tặng (1994); Phạm Quang Anh (1996) [2] Hiện nay phương pháp phân tích đa tiêu chí (trung bình cộng, trọng số tổng, AHP, FAHP,…) cũng được vận dụng trong các nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải (2002), Đào Ngọc Cảnh (2003), Phạm Quang Tuấn (2008); Trương Quang Hải, Nguyễn Cao Huần, Đặng Văn Bào (2006), Bùi Thị Thu (2012)

c Phương pháp bản đồ và GIS trong đánh giá: Hệ thông tin địa lý (GIS) sử dụng

trong đánh giá với nhiều mục tiêu: thu thập dữ liệu đánh giá, trực quan kết quả đánh lên bản đồ và kết hợp những phương pháp định lượng và định tính để công tác đánh giá TN hiệu quả nhất Hệ thông tin địa lý (GIS) sử dụng trong đánh giá với nhiều mục tiêu: thu thập dữ liệu đánh giá, trực quan kết quả đánh giá lên bản đồ và kết hợp những phương pháp định lượng và định tính để công tác đánh giá TN hiệu quả nhất GIS hỗ trợ thể hiện kết quả đánh giá tiềm năng và TNDL: Năm 2010, Ashouri, P Faryadi đã đánh giá ĐKĐL cho phát triển DL thiên nhiên bằng phương pháp đa chỉ tiêu (MCA) kết hợp với GIS; Azizan Marzuki1 & nnk (2011) nghiên cứu tương tự Kết hợp phương pháp định tính SWOT, mô hình trọng số tổng (Weighted sum model) với GIS trong đánh giá tiềm năng

DL được Libo Yan & nnk (2017) [166] thực hiện

GIS sử dụng để tính toán và thu thập dữ liệu đánh giá: Jana Mikulec, Michaela Antouskoca, 2011 [155] đã đánh giá tiềm năng DL tại những khu vực cảnh quan được bảo vệ tỉnh PLA Kokořínsko bằng hệ phương pháp phân tích dữ liệu địa lý GIS ứng dụng trong tính toán giá trị các điểm, vùng và loại tiềm năng; phương pháp thu thập dữ liệu; phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi; phân tích thống kê (tính toán hệ số tương quan Spearman để xác định mối quan hệ giữa tiềm năng DL với đối tượng cảnh quan)

Trang 29

Viễn thám & GIS là công cụ mạnh hỗ trợ trong đánh giá TNDL thiên nhiên (Tri Rahayuningsih & nnk, 2015) Tác giả đã xây dựng bản đồ lớp phủ, bản đồ phân bố đối tượng DL, bản đồ độ cao, độ dốc, khoảng cách từ thôn đến trung tâm huyện và trọng số được mô phỏng theo công cụ ADO-ODTWA (Operational Area Analysis–Naturebased Tourism Objects and Attraction)

Các công trình sử dụng phương pháp định lượng hoặc kết hợp cả định tính và GIS trong đánh giá ngày càng phổ biến tại Việt Nam: Phương pháp trung bình cộng các điểm thành phần như L.V.Tin, 2000; N.T.Hải, 2002, Trần Đức Thanh, Nguyễn Hữu Xuân,

2009, Vũ Thị Hạnh, 2012 hoặc trung bình nhân các điểm thành phần N.T Chinh, 1995, Trương Quang Hải, Hoàng Thị Thu Hương 2016, Lương Chi Lan 2015, Dương Thị Thủy, Phạm Quang Tuấn 2019 để phân hạng, đánh giá mức độ thuận lợi cho những mục đích phát triển dựa trên kết quả so sánh tỉ lệ của tổng hoặc tích điểm đánh giá với số điểm tối đa Phương pháp phân tích nhân tố để xác định trọng số (N.C Huần, 2005 [38]; T.Q.Hải, 2005 [25]) được áp dụng nghiên cứu đặc điểm tự nhiên của vùng và phân loại các nhân tố thuận lợi, không thuận lợi cho phát triển DL, cuối cùng tổng hợp tất cả các nhân tố để đánh giá chung mức độ thuận lợi của lãnh thổ cho mục đích DL

1.1.2.3 Tiêu chí đánh giá

Bộ tiêu chí đánh giá đa phần gồm tiềm năng nội lực và tiềm năng ngoại lực, trong đó nội lực là “sức hấp dẫn” hay “giá trị tự thân” là giá trị du lịch của điểm đến được phản ánh qua giá trị thẩm mỹ, giá trị giải trí, giá trị văn hóa, giá trị sinh thái, giá trị lịch sử, giá trị khoa học, giá trị kinh tế,… Còn ngoại lực gồm năng lực, thái độ của CĐĐP và môi trường du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch, khả năng tiếp cận, khả năng liên kết, thể chế chính sách, công ty du lịch… Các đánh giá tiềm năng, tài nguyên du lịch thường gắn kết

cả nội và ngoại lực của hệ thống lãnh thổ du lịch

“Sức hấp dẫn” hay “giá trị du lịch” của điểm đến được các tác giả đánh giá dựa trên

nhiều tiêu chí như: vẻ đẹp, cổ kính, tính đặc thù, tính mới theo Huang (1986) [151]; quy

mô danh thắng Dư Tiễn (1992), Vương Vinh (1996), Tự Tôn Bình (1998) (Xu, 1998),

Bao (1998); Giá trị lịch sử (danh tính - Identity và danh tiếng – Reputation), mức độ tiện nghi theo Nongluck Popichit & nnk (2013) [181]; giá trị khoa học (sự hấp dẫn của điểm địa lý cổ, hiện trạng phân bố, mức độ hiếm có); giá trị kinh tế, môi trường (khả

năng tiếp cận, tai biến thiên nhiên, số lượng du khách, mức độ bảo tồn, mức độ hấp dẫn

du khách), giá trị văn hóa (sự liên hệ giữa lịch sử và văn hóa, bằng chứng lịch sử, bằng chứng tín ngưỡng tâm linh, sự kiện văn hóa – nghệ thuật), giá trị thẩm mỹ (số điểm DL, quy mô); mức độ yêu thích của du khách theo Syfujjaman Tarafder & Dr.N.C.Jana (2012)

[195]; Văn hóa, động vật hoang dã, cảnh quan theo John R.M Philemon (2015) [159];

Trang 30

Mức độ hấp dẫn (giá trị/tầm quan trọng, mức độ nổi tiếng, dạng hoạt động DL) theo Muna Mousa Slehat (2018); Mức độ hấp dẫn của thị trường du lịch theo Bucurescu, Iuliana (2012); Sự đa dạng của tài nguyên (số lượng và quy mô điểm du lịch) Thomas Kweku Taylor & nnk (2013) [197]; Giá trị DL của các yếu tố tài nguyên và tầm ảnh hướng/khả

năng sử dụng cho DL của chúng (You-jun Li and Zheng-xin Liu, 2009); Mức độ phổ biến, quy mô ảnh hưởng, mức độ nguyên vẹn của tài nguyên theo Xiaoyang Wang &

nnk, (2017); Giá trị lịch sử, mức độ gìn giữ giá trị truyền thống, giá trị thẩm mỹ, chất

lượng không khí theo Libo Yan & nnk (2017)

Sức hấp dẫn có thể đo bởi giá trị của từng hợp phần địa lý tự nhiên và nhân văn: Vị

trí địa lý, TN thiên nhiên, di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, sản phẩm DL theo Trần Đăng

Ninh, 2016 Theo Abdulla Al Mamun và Soumen Mitra (2012) đánh giá tiềm năng du

lịch quan tâm tới tự nhiên (vị trí địa lý, khả năng liên kết), xã hội (lễ hội, hội chợ, khu vui chơi giải trí), môi trường (xác suất xảy ra thiên tai, chất lượng đất, nước, không khí,

vấn đề ô nhiễm…) [106] Hay theo Weiwei Wu (2013) thì năng lực của điểm đến đo

lường bằng kinh tế (cảnh quan phù hợp cho giải trí, kích thước và sự đa dạng của tài nguyên, thiết kế cảnh quan sinh thái), văn hóa (đa dạng về tộc người, sự kiện văn hóa),

sinh thái (thiết kế cảnh quan sinh thái, tính toàn vẹn HST, bảo vệ môi trường) [dẫn theo

126] Đánh giá DL dựa vào thiên nhiên ở Nam Kelantan, Malaysia thì Azizan Marzuki1

& nnk (2011) đã xác lập tiêu chí đánh giá từ điều kiện địa lý tự nhiên như địa hình, tiềm

năng khai thác địa hình, kích thước sông, chất lượng nước, loại thác, chất lượng thác, loại hang động, chất lượng hang động, loại rừng, chất lượng rừng Cũng đồng quan

điểm, Tri Rahayuningsih & nnk (2015) [203] quan tâm tới tính độc đáo của tài nguyên

như HST rừng, HST karst, phong cảnh, suối nước nóng, thác, hồ, di sản văn hóa và lịch

sử; Độ nhạy cảm của TN dựa trên giá trị: Sinh thái, tri thức, kinh tế, văn hóa lịch sử; Độ

cao và độ dốc của địa hình

“Sức hấp dẫn từ cộng đồng” trong các nghiên cứu được đo lường bởi: thái độ của cộng đồng với du khách, thái độ ứng xử giữa cộng đồng với nhau [197], [158]; thái độ của nhà khai thác và cung ứng DL [109]; năng lực tham gia du lịch theo Xiaoyang Wang & nnk, (2017); khả năng tổ chức du lịch; mức độ nhận thức của người dân địa phương (Li và Lo,

2004, Libo Yan & nnk 2017) [208]

“Cơ sở hạ tầng” được cụ thể trong các đánh giá bao gồm: chất lượng cơ sở hạ tầng du lịch [199], thời gian lưu trú, đánh giá của du khách về cơ sở hạ tầng, số cơ sở lưu trú, số cơ sở ăn uống, số cơ sở vận chuyển [161], [158], chất lượng dịch vụ du lịch (Li và Lo, 2004); cơ sở hạ tầng công cộng theo Yazar (2014) Ngoài dịch vụ lưu trú và ăn uống cần quan tâm tới trung tâm thông tin du lịch, vệ sinh công cộng, bãi đỗ xe, khu cắm trại, chất lượng điện, nước theo Azizan Marzuki1 & nnk (2011) và công tác quảng bá du lịch, khả năng giữ chân khách

Trang 31

Vấn đề môi trường được đề cập trong đánh giá khá đa dạng: chất lượng môi trường

tự nhiên, môi trường kinh tế xã hội, thị trường du lịch [190], chất lượng đất, nước, không

khí [136], môi trường văn hóa xã hội [206] Yếu tố mùa du lịch quyết định nhiều tới chất

lượng điểm đến, tạo ra tính thiếu bền vững vào mùa du lịch nếu không được quản lý hiệu quả [154], [205] Ngoài ra, vấn đề ô nhiễm, mức độ an toàn của du khách, mức độ bảo tồn, bảo vệ môi trường, là những nhân tố chi phối sức hút về môi trường du lịch

“Giá trị tự thân” có thể được xác lập bởi giá trị du lịch điều kiện địa lý tự nhiên và

điều kiện địa lý kinh tế xã hội: theo Abdulla Al Mamun và Soumen Mitra (2018) bao gồm 1 Tự nhiên (vị trí địa lý, liên kết điểm DL, khả năng tiếp cận, khó khăn trong tiếp cận); 2 Xã hội (chất lượng vui chơi giải trí, dòng khách, lễ hội, hội chợ, thời gian tham quan, an toàn DL, thái độ của nhà khai thác và cung ứng DL; 3 Môi trường (xác suất xảy ra thiên tai, chất lượng đất, nước, không khí, vấn đề ô nhiễm…) [109]

1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan về tỉnh Đắk Lắk

1.1.3.1 Hướng nghiên cứu điều kiện tự nhiên

Giai đoạn trước năm 1975, tiếp cận đánh giá ĐKĐLvà TN còn sơ khai, đa phần là kiểm kê tài nguyên, khảo sát điều kiện địa lý: Từ sau 1800 có nhiều nhà khoa học người Pháp để tâm nghiên cứu như Mouhol (1861), Francis Garnaer và Doudant de Lagree cùng Delaporte (1866), bác sỹ Neiss và Septans (1880-1881), bác sỹ Hermand (1876-1877), Mon-geot (1887), Berthloany (1889), Yersin (1890), đoàn khảo sát Pavie (1889-1895) Năm 1902 toàn quyền Paul Doumer thành lập các sở: địa lý, địa chất, khí tượng, canh nông, thủy lâm cùng Viện nghiên cứu Nông lâm Đông Dương tiến hành điều tra TN đất, rừng, nước, khí hậu, khoáng sản, sinh vật tại Tây Nguyên, lập các trạm nghiên cứu thí nghiệm về cây trồng, vật nuôi thích nghi với điều kiện sinh thái của vùng Nhiều kết quả nghiên cứu được đăng trong các tập san kinh tế Đông Dương Năm 1931 cuốn tài liệu “Tổng kiểm kê TN Đông Dương, An Nam” (Inventaire general de I'Indochine, de I'Annam) [dẫn theo 180], dưới sự chủ biên của linh mục Cadiere được xuất bản là cơ sở khoa học cho những

dự án của Pháp khai thác tài nguyên thiên nhiên tại Đông Dương thời kỳ 1930 - 1945

Từ năm 1975 Đảng và Nhà nước rất quan tâm công tác điều tra nghiên cứu tổng hợp và chuyên ngành về các điều kiện tự nhiên, TN thiên nhiên phục vụ cho phát triển KT - XH: Chương trình điều tra tổng hợp Tây Nguyên (1976 - 1980) dưới sự chủ trì của tác giả Nguyễn Văn Chiển (gọi tắt là chương trình Tây Nguyên I) gồm 18 đề tài về: địa chất và khoáng sản, kiến tạo, tân kiến tạo, địa chất thủy văn, địa chất công trình, địa mạo, vỏ phong hóa bazan, khí hậu, thổ nhưỡng, điều tra tổng hợp về nông nghiệp, xói mòn, thực vật, động vật, phân vùng tự nhiên, dân tộc, địa lý kinh tế và sử dụng kết quả viễn thám phục vụ cho công tác điều tra

Trang 32

Trên cơ sở kết quả điều tra tổng hợp Tây Nguyên tập thể các nhà khoa học đã tiến hành điều tra bổ sung xây dựng tập bản đồ điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tỉnh Đắk Lắk (Atlas Đắk Lắk) giai đoạn 1982 - 1985, tỷ lệ 1/600.000 Nghiên cứu hệ sinh thái cà phê Đắk Lắk (1982 - 1985) Các công trình này đã điều tra tổng hợp và phân vùng địa lý tự nhiên phục

vụ cho quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Đắk Lắk Công trình dưới sự chỉ đạo của UBND tỉnh Đắk Lắk với sự tham gia của các nhà khoa học địa lý, địa chất trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Tổng hợp Huế do tác giả Nguyễn Quang Mỹ và Phạm Quang Anh đồng chủ nhiệm Nghiên cứu về TN đất đỏ bazan được thực hiện trong chương trình Tây Nguyên II với đề tài “Nghiên cứu tổng hợp đất bazan thoái hoá Tây Nguyên” do Nguyễn Đình Kỳ chủ trì đã xác định các dạng thoái hoá xuất hiện trên đất bazan Tây Nguyên Ở Đắk Lắk các dạng thoái hoá đất thể hiện khá rõ nét ở các vùng như Buôn Hồ - Ea H’leo, Buôn Ma Thuột

Hướng nghiên cứu đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ cho công tác quy hoạch phát triển sản xuất cũng có một số tác giả đề cập như Nguyễn Cao Huần, Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải, Đặng Văn Bào, Phạm Quang Tuấn, Mai Trọng Thông, Nguyễn Thế Thôn….và các luận chứng kinh tế kỹ thuật xây dựng các nông lâm trường, các quy hoạch phát triển kinh tế ngành cà phê, cao su, dâu tằm Nghiên cứu tổng hợp đất bazan thoái hóa vùng Tây Nguyên trên quan điểm địa lý tổng hợp đã được thực hiện trong Chương trình KC.08 (Nguyễn Văn Toàn, 2005) Các kết quả nghiên cứu cho thấy, TN đất ở Tây Nguyên chịu tác động sâu sắc của quá trình thoái hóa do các tác động của tự nhiên và hoạt động của con người Bên cạnh đó, còn có những công trình xác lập bộ tiêu chí bền vững vùng Tây Nguyên của Trần Văn Ý & nnk (2013) và cho tỉnh Gia Lai của Ngô Đăng Trí (2017)

Các công trình nghiên cứu về phân vùng địa lý Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk có tác giả Phạm Quang Anh & nnk [1, 2], Trương Quang Hải, Nguyễn Cao Huần, Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Đình Kỳ Bên cạnh đó những nghiên cứu địa lý tổng hợp ứng dụng có tác giả Đặng Văn Bào (2015) về đánh giá tổng hợp để liên kết không gian phát triển kinh tế Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ; Trương Quang Hải về đánh giá tổng hợp TNDL (2015), Nguyễn Đình Kỳ, Lại Vĩnh Cẩm, Đặng Xuân Phong (2015) về đánh giá tổng hợp ĐKĐLvùng biên giới Việt - Lào phục vụ quy hoạch khu dân cư…

1.1.3.2 Hướng nghiên cứu điều kiện kinh tế xã hội văn hóa

Công trình nghiên cứu về kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên: Trong giai đoạn 1986-1990 nhà nước cho triển khai Chương trình “Xây dựng cơ sở khoa học cho quy hoạch phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên” (gọi tắt là Chương trình Tây Nguyên II) do tác giả Lê Duy Thước làm chủ nhiệm Chương trình gồm 19 đề tài, đã tập trung nghiên cứu một số

Trang 33

vấn đề cấp bách về khoa học kỹ thuật và kinh tế xã hội làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH vùng Tây Nguyên đến năm 2000 Đã có những công trình

về quy họach tổng thể KT-XH tỉnh Đắk Lắk (1993), (2000) đến các công trình “Nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học cho định hướng phát triển KT-XH tỉnh Đắk Lắk” của Nguyễn Xuân Độ và nnk (1996) [34] và đề tài độc lập cấp nhà nước KX - DL 95.08 do tác giả Trần

An Phong chủ biên (1996) “Nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học cho định hướng phát triển KT-XH các tỉnh Tây nguyên” Năm 2011, Nguyễn Duy Thụy đã thực hiện nghiên cứu chuyển biến kinh tế - xã hội Đắk Lắk từ trước năm 1975, sự chuyển biến KT-XH từ sau giải phóng miền Nam đến năm 2003

Vấn đề dân cư hấp dẫn nhiều tác giả quan tâm: Các hình thức quần cư và cấu trúc buôn làng cùng với mối quan hệ xã hội của các dân tộc Trường Sơn – Tây Nguyên đã được thực tiễn bởi Lưu Anh Hùng, 1992 [39] Nguyễn Văn Tuyên (1999) phân tích phương thức canh tác định canh định cư truyền thống và hiện đại của đồng bào dân tộc Đắk Lắk Phân tích thực trạng di dân tại Đắk Lắk của Nguyễn Thị Bích Hà (2002), Phạm Văn Hồ (2012) đã chỉ ra những đặc điểm và thực trạng của quá trình di dân nông thôn cũng như các tác động tới kinh tế xã hội địa phương

Các nghiên cứu khai thác đặc điểm văn hóa đồng bào thiểu số Tây Nguyên vừa bí ẩn vừa tuyệt diệu khôn cùng được phán ánh qua các công trình nổi tiếng: công trình “miền đất huyền ảo” của Dam Bo - Jacques Dournes giới thiệu về văn hóa toàn Tây Nguyên Ông cũng là tác giả của cuốn sách tuyệt vời “Rừng, Đàn bà, Điên lọan, hành trình qua miền mơ tưởng Gia Rai”

Các công trình nghiên cứu về buôn làng dân tộc cũng vô cùng đa dạng: cuốn “Potao, một lý thuyết về quyền lực ở người Gia Rai Đông Dương” về “Vua Lửa” của dân tộc Gia Rai Geoges Condominas [3] đã viết về văn hóa đặc sắc của một làng Mnong Gar bên bờ sông Krông Nô, làng Sar Luk Ông đã luôn coi A Maurice là “người đi tiên phong trong việc nghiên cứu người M’Nông” (hay nói một cách thời thượng ông chính

là người mở đường cho bộ môn M’Nông học) Tác giả Lương Thanh Sơn về “Văn hóa người Bih ở Tây Nguyên và vấn đề giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”

Luật tục của các tộc người Tây Nguyên là những công trình phản ánh sắc nét văn hóa tín ngưỡng của họ: L Sabatier công bố bộ sưu tập luật tục bằng chữ Êđê, năm 1927 Đến năm 1940, ông Dominique Antomarchi dịch công trình này qua tiếng Pháp Sau

1975, nhà dân tộc học Nguyễn Hữu Thấu công bố bản dịch Tác giả Ngô Đức Thịnh [73] đã đưa ra 48 điều luật về hôn nhân, tài sản, tội xúc phạm người đầu làng, đất đai và người chủ đất Tác giả Bế Viết Đẳng & nnk (1982) [20], đã giới thiệu đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, văn hóa, tập tục sinh hoạt, sản xuất và lịch sử chiến đấu chống Pháp, chống Mỹ của người Êđê, người M’Nông và vấn đề phát triển kinh tế, y tế, giáo dục sau

Trang 34

năm 1875 Một trong những công trình nghiên cứu cơ bản và đặc sắc về chế độ mẫu quyền Êđê đã được Anna De Hautecloque Howe đề cập từ năm 90 Luật tục M’Nông của Ngô Đức Thịnh (1998) [74] đã đưa ra những đặc điểm văn hóa của người M’Nông sinh sống chủ yếu tại tỉnh Đắk Nông, Đắk Lắk, một phần Bình Dương, Lâm Đồng Từ hơn 50 điều ban đầu, khi xuất bản thành sách, công trình đã tập hợp được 215 điều Những giá trị văn hóa trí thức bản địa, kiến trúc dân gian, ẩm thực… Tây Nguyên cũng được tác giả đề cập trong “những mảng màu văn hóa Tây Nguyên” [75]

Các công trình nghiên cứu về sử thi Tây Nguyên cũng được đề cập trong tác phẩm

“Sử thi Tây Nguyên” (1988), Kho tàng sử thi Tây Nguyên (2006), Sử thi Việt Nam trong bối cảnh sử thi Châu Á (2008) là những trang bàn luận về sử thi Tây Nguyên một cách khái quát và sâu sắc Nhiều bà con Tây Nguyên vẫn tâm tình: “Tâm linh người chết đã được đối xử tốt như thế trong nhà mồ, thì tâm linh người sống cũng cần được đối xử như thế và hơn thế nữa trong nhà Rông” Tác giả Nguyễn Văn Kự và Lưu Hùng có nghiên cứu về nhà Mồ và nhà Rông Tây Nguyên, là những công trình rất giá trị

Lễ hội Tây Nguyên cũng là đề tài hấp dẫn nhà nghiên cứu văn hóa, xã hội: Tây Nguyên vào mùa hội - Mùa "uống tháng ăn năm" của người Tây Nguyên kéo dài suốt ba tháng mùa khô: tháng chạp, tháng giêng, tháng hai Đây là lúc đời sống văn hóa tinh thần của người Tây Nguyên biểu hiện tập trung nhất, sâu thẳm nhất và cũng rực rỡ nhất… được đề cập trong cuốn Lễ hội Tây Nguyên của Trần Phong [64] Nghiên cứu những dàn cồng ở Việt Nam có đề cập tới Bắc Tây Nguyên của Lều Thị Kim Thành (1996)… tuy nhiên, các nghiên cứu phân tích giá trị lễ hội phục

vụ DL còn hạn chế, mới chỉ có các nghiên cứu nhỏ

1.1.3.3 Hướng nghiên cứu du lịch

Các công trình nghiên cứu về DL tỉnh Đắk Lắk đã có nghiên cứu ở phạm vi toàn vùng Tây Nguyên: nghiên cứu của Trần Sơn Hải (201) về phát triển nguồn nhân lực ngành DL khu vực

duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đã phản ánh rõ nét thực trạng như số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực ngành DL, công tác đào tạo, quản lý và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực này đến 2020 Đánh giá DL chung cho Tây Nguyên có Nguyễn Duy Mậu (2012) [52] về phát triển DL Tây Nguyên đến 2020 đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đã đi sâu phân tích đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển DL tại đây bằng hệ phương pháp định tính Trên cơ sở dự báo các chỉ tiêu về phát triển du lich và đề xuất giải pháp đưa DL Tây Nguyên trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Với hai nghiên cứu trên về DL Tây Nguyên dừng ở khía cạnh đánh giá tiềm năng và hiện trạng DL theo cách định tính, miêu

tả là chủ yếu mà chưa có những phương pháp bán định lượng để có thể khách quan hóa giá trị DL của vùng Các công trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng DL vùng Tây

Trang 35

Nguyên được tác giả Trương Quang Hải, Nguyễn Hiệu (2014, 2015) [29], Phạm Quang Tuấn (2014) [80], Hoàng Thị Thu Hương (2016), Dương Thị Thủy (2014, 2015, 2016), Nguyễn Quang Anh, Giang Văn Trọng (2015) thực hiện Tiếp cận kinh tế phát triển tác giả Nguyễn Đức Tuy (2014) [91] đã đưa ra giải pháp DLBV vùng Tây Nguyên Nghiên cứu đã tiến hành đánh giá hiện trạng DL theo tiêu chí bền vững và phương pháp chủ đạo là điều tra xã hội học Định hướng kết nối DL với sản phẩm nông nghiệp địa phương như cà phê, cao su, cây ăn quả, voi đã được đề cập trong Hội thảo liên kết phát triển vùng Tây Nguyên (2015), trong

đó nhấn mạnh kết nối DL Tây Nguyên với khu vực phụ cận Gần đây, Hội nghị Phát triển

DL miền Trung và Tây Nguyên khai mạc tại Huế (2019) đã cơ bản xác lập sản phẩm thương hiệu của 19 tỉnh thành, đề xuất các cụm phát triển DL, ưu tiên khai thác TNDL văn hóa – tâm linh và đề xuất giải pháp thu hút các nhà đầu tư DL

Đánh giá tổng hợp TNDL Tây Nguyên: Nằm trong khuôn khổ chương trình Tây Nguyên

III có đề tài cấp nhà nước của tác giả Trương Quang Hải (2015) TN3/T18 đã làm rõ giá trị

DL của TN địa phương bằng phương pháp phân tích thứ bậc cho nhiều nhóm đối tượng tự nhiên và nhân văn Bên cạnh đó, đề tài đã xây dựng được luận cứ khoa học và hoạch định không gian phát triển DL vùng Tây Nguyên cũng như một số khu vực trọng điểm trong đó

có cao nguyên Buôn Ma Thuột Các sản phẩm nghiên cứu chính cũng được tập thể tác giả công bố trong cuốn sách “DL Tây Nguyên, luận cứ khoa học và giải pháp phát triển” (2019) Tiếp cận đánh giá cảnh quan cho tổ chức lãnh thổ DL vùng Tây Nguyên được tác giả Nguyễn Thu Nhung, Nguyễn Khanh Vân, Phạm Trung Lương thực hiện (2017) [59] Nghiên cứu đã làm rõ hơn mối quan hệ giữa cấu trúc cảnh quan với tài nguyên DL, tổ chức lãnh thổ DL Đồng thời phân loại sinh khí hậu DL toàn vùng (tỷ lệ 1:250.000), tiến hành đánh giá mức độ thuận lợi cho 2 loại hình DL là tham quan và nghỉ dưỡng

Công trình nghiên cứu DL tỉnh Đắk Lắk chưa nhiều, một số ít nghiên cứu ở tỷ lệ lớn:

Tác giả Tuyết Hoa Niêkdăm (2008) về “Thực trạng và giải pháp kinh tế chủ yếu phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc ít người tại chỗ vùng đệm VQG Yok Đôn huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk” Nội dung chính là đánh giá thực trạng hoạt động kinh tế của người dân tộc ít người đang sinh sống trong khu vực VQG Yok Đôn, từ đó đề xuất những giải pháp phát triển kinh tế bền vững cho người dân sinh sống tại vùng đệm của Vườn, có đề cập tới vấn đề DL với bảo tồn Tiếp cận địa lý DL trong tổ chức lãnh thổ, đánh giá TNDL tại cao nguyên Buôn Ma Thuột hay tỉnh Đắk Lắk có tác giả Trương Quang Hải (2015), Dương Thị Thủy, Phạm Quang Tuấn (2017, 2019) [77] Nghiên cứu

đã làm rõ sự phân hóa TNDL Đắk Lắk theo không gian, là căn cứ định hướng hoạch định DL địa phương mang tính bền vững

Trang 36

1.2 Cơ sở lý luận cho đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch

1.2.1 Điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch

Dưới góc độ du lịch, điều kiện địa lý (Geographical conditions hay Geographical

features) là toàn bộ các hợp phần của lớp vỏ địa lý (lớp vỏ cảnh quan) bao gồm điều

kiện tự nhiên và hệ quả tương tác giữa con người với ĐKTN là điều kiện kinh tế xã hội Trong đó ĐKTN là tất cả các thành phần của tự nhiên như địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật và tổng hợp thể tự nhiên Điều kiện KTXH gồm hoạt động định cư, sản xuất, sinh hoạt và quá trình phát triển của con người theo thời gian

Điều kiện địa lý là cơ sở hình thành các phân hệ của hệ thống lãnh thổ du lịch cũng như quyết định cơ chế vận hành ĐKĐL trở thành TNDL khi có sự xuất hiện của du khách còn nếu chưa khai thác cho du lịch chỉ là tiềm năng Đặc điểm địa lý tự nhiên như khí hậu và sinh vật quyết định tính mùa vụ du lịch, thời gian khai thác du lịch, ví như mùa lễ hội, mùa hoa cà phê, mùa thu hoạch cà phê, mùa thu hoạch hoa quả…

Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ

sở để hình thành sản phẩm, khu, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch gồm 2 loại, thứ nhất với TNDL tự nhiên là những cảnh quan thiên nhiên, yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác; Còn TNDL văn hóa là DTLS-VH, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và giá trị văn hóa khác, công trình lao đông sáng tạo của con người, tất cả chúng phải có sức hấp dẫn du khách hoặc có thể được khai thác cho phát triển du lịch [82,

Tiềm năng, tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên vùng địa lý

du lịch Số lượng điểm tiền năng, tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong hình thành và phát triển du lịch một địa phương bởi nó tạo “sức hấp dẫn” của vùng ĐLDL

Phát triển du lịch bền vững là khai thác hợp lý, hiệu quả và lâu dài lãnh thổ du lịch,

mà nghiên cứu ĐKĐL & TN là phân tích “năng lực” của các phân hệ du lịch Muốn phát triển DLBV địa phương cần nhận diện chính xác và chi tiết các hợp phần của lãnh thổ

du lịch, cho nên nghiên cứu ĐKĐL & TN là rất cần trong định hướng DLBV

Trang 37

1.2.2 Phân vùng địa lý du lịch

1.2.2.1 Quan niệm phân vùng địa lý du lịch

Phân vùng (zoning) là việc phân chia lãnh thổ đất nước ra những đơn vị đồng cấp, phục

vụ mục đích nhất định trong khoảng thời gian nhất định Nó là hệ thống các khu vực được lựa chọn nhằm phát triển theo những mục đích nhất định Phân vùng lãnh thổ là phân chia lãnh thổ thành những thể tổng hợp có ranh giới khép kín, có những đặc điểm riêng không giống các vùng khác và không lặp lại trong không gian Phân vùng gồm có phân vùng chuyên ngành và phân vùng tổng hợp, trong đó phân vùng chuyên ngành căn cứ theo dấu hiệu riêng biệt trong khi phân vùng tổng hợp lại phải xem xét mức độ đồng nhất của các hợp phần cấu thành ở nhiều ngành khác nhau Các đặc tính của phân vùng là: tính toàn vẹn lãnh thổ (không lặp lại) và tính chủ quan – thể hiện mục đích của phân vùng

Khái niệm phân vùng ĐLDL: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, hàm chứa giá trị

tự nhiên – kinh tế - văn hóa – xã hội - lịch sử sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và

xã hội hóa cao Do vậy phân vùng địa lý DL (tourism geographical zoning) phải cân

bằng giữa phân vùng địa lý tự nhiên, địa lý KTXH, văn hóa, DL và sử dụng quan điểm

tổng hợp là chìa khóa hữu hiệu giải quyết bài toán phân vùng này Cho nên, phân vùng

địa lý DL là sự phân chia lãnh thổ thành những khu vực có ranh giới khép kín, đồng nhất tương đối về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội và tài nguyên

DL, không lặp lại trong không gian và mỗi đơn vị lãnh thổ có sức hấp dẫn DL riêng

Mục tiêu phân vùng ĐLDL: Cho phép xác định cơ cấu và sự phân hóa tối ưu theo

lãnh thổ của vùng, giúp hoàn thiện chuyên môn hóa, nâng cao và tối đa hiệu quả kinh tế

du lịch của lãnh thổ Mục đích của phân vùng ĐLDL là hình thành hệ thống vùng làm căn cứ tổ chức không gian, lập quy hoạch, phục vụ việc quản lý phát triển vùng, xây dựng cơ chế, chính sách, bảo đảm cho sự phát triển bền vững và hiệu quả

Đặt tên vùng ĐLDL: Có nhiều cách để đặt tên vùng như theo đơn vị hành chính nếu

như ranh giới vùng có sự trùng hợp nhất định theo đơn vị hành chính; Hay theo tên đối tượng địa lý điển hình của khu vực gồm tên dãy núi, tên sông, thảm thực vật, đô thị ; Hoặc theo dân tộc thiểu số tại chỗ hoặc định cư lâu dài tại đó (như Ê đê, M’nông, Gia Rai), đồng bào di cư và sinh sống lâu đời Tuy nhiên, dưới góc nhìn địa lý nghiên cứu

đặt tên như sau: Vùng/tiểu vùng ĐLDL + đơn vị hành chính/ đối tượng địa lý tự nhiên/đối

tượng kinh tế xã hội của khu vực theo dân tộc thiểu số ưu thế Trong đó, địa hình được

coi là nhân tố cốt lõi, mang tính đại diện chi phối các nhân tố còn lại của hệ thống du lịch

Ranh giới vùng và tiểu vùng ĐLDL: Phương pháp xác định ranh giới vùng địa lý du

lịch chưa thống nhất, bởi nó là sản phẩm tư duy trừu tượng mà phải xác định ranh giới chủ quan trên thực thể khách quan Trong nghiên cứu, ranh giới được xác định thông

Trang 38

qua mức độ đồng nhất không gian lãnh thổ theo tiêu chí và nguyên tắc phân vùng ĐLDL Ranh giới phân định giữa hai vùng ĐLDL kề nhau thường bằng sắc độ và biến dạng mang tính chuyển tiếp và nhận diện qua đối tượng địa lý tự nhiên như sông, đường giao thông, dãy núi, thung lũng , kết hợp đối tượng địa lý kinh tế - văn hóa – xã hội (văn hóa tộc người ưu thế, hoạt động kinh tế chính, loại hình sử dụng đất, ) và tài nguyên

du lịch (nhóm dạng tài nguyên du lịch điển hình) Ranh giới của các cấp phân vị trên là không gian địa lý tổng hợp gồm cả tự nhiên và kinh tế - xã hội nên có tính lịch sử, tức

là có thể thay đổi theo thời gian

Sự khác nhau giữa phân vùng ĐLDL và phân vùng du lịch: Phân vùng địa lý du

lịch là sự kết hợp giữa phân vùng tự nhiên, phân vùng KT – XH, phân vùng văn hóa nên tiêu chí phân vùng rất đa dạng, kết hợp tự nhiên với kinh tế - văn hóa – xã hội

và tài nguyên Trong khi phân vùng du lịch là một bộ phận của phân vùng kinh tế theo ngành, lấy nền tảng tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, nguồn lao động du lịch là tiêu chí phân chia lãnh thổ

1.2.2.2 Tiêu chí phân vùng địa lý du lịch

Thực chất phân vùng địa lý du lịch thuộc tư duy phân chia loại hình du lịch, mà mỗi loại hình như vậy tồn tại trong không gian nhất định Khi tiến hành phân vùng ĐLDL phải lựa chọn một tập hợp các yếu tố đặc trưng hay còn gọi là tiêu chí phân loại hay phân vùng Do vậy, trong một tập hợp các yếu tố càng có nhiều yếu tố đặc trưng thì kết quả phân vùng càng chính xác Các tiêu chí phân vùng không phải bất kì và ngẫu nhiên,

mà chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau, tạo nên thể thống nhất phản ánh cấu trúc lãnh thổ Tuy nhiên, trong tập hợp tiêu chí phân vùng ĐLDL sẽ có tiêu chí “trội” mang tính đặc trưng hơn tiêu chí khác tạo nên cái “hồn”, cái “tính cách” riêng của vùng

Hệ thống tiêu chí phân vùng ĐLDL nhằm vào các yếu tố tạo nên giá trị du lịch của vùng gồm điều kiện địa lý phục vụ du lịch (địa chất, địa mạo, khí hậu, thổ nhưỡng, thực vật, hoạt động kinh tế - bảo tồn, văn hóa tộc người ưu thế) và tiềm năng, tài nguyên du lịch Trong đó “địa mạo” mà cụ thể là “kiểu địa hình” sẽ chi phối các tiêu chí còn lại Từ 8 tiêu chí đưa ra sẽ cụ thể thành 13 chỉ tiêu, vậy chúng có ý nghĩa gì trong phân vùng ĐLDL

Điều kiện địa lý tự nhiên: thực chất là nền tảng hình thành tiềm năng hay tài nguyên

tự nhiên chưa khai thác cho du lịch Các hợp phần địa chất, địa mạo, khí hậu, thổ nhưỡng

và thực vật rất rộng nhưng chỉ chọn lọc những yếu tố căn bản của chúng chi phối tới hình thành vùng ĐLDL

Địa chất, địa mạo là nguồn cội tác tạo nên giá trị thẩm mỹ của một số dạng địa hình,

những phong cảnh, cảnh quan hấp dẫn du khách Do vậy, những khu vực tương đồng

Trang 39

nhau về các hợp phần trên sẽ có chung một giá trị tài nguyên du lịch tự nhiên Cũng

tương tự khí hậu được coi là điều kiện của hoạt động du lịch, là yếu tố cần để triển khai loại hình du lịch nghỉ dưỡng và sinh thái Thủy văn mà cụ thể là tài nguyên nước góp

phần tạo nên cảnh quan ngoạn mục, hấp dẫn du khách (hồ, thác, sông ,…) và cũng là

điều kiện để phát triển các loại hình du lịch sông nước Thực vật là nhân tố trực quan có

sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch, dễ dàng kết hợp với nhiều điều kiện địa lý khác

để trở thành tài nguyên du lịch Thổ nhưỡng nhân tố chuyển tiếp, kết nối điều kiện tự

nhiên (thực vật) với điều kiện kinh tế văn hóa xã hội, quyết định loại hình sản xuất và văn hóa tộc người ưu thế

Điều kiện kinh tế - văn hóa - bảo tồn: Là cơ sở tạo thành tiềm năng hay tài nguyên

văn hóa chưa khai thác cho du lịch Trong hợp phần này, nghiên cứu chỉ lựa chọn các yếu tố văn hóa tộc người thiểu số ưu thế, hoạt động kinh tế và hoạt động bảo tồn chính

Văn hóa tộc người thiểu số ưu thế: Là giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào định

cư, cộng cư lâu đời, nó là “rễ cọc” hình thành tài nguyên du lịch văn hóa (buôn làng truyền thống, lễ hội, làng nghề, cảnh quan nhân tác, ) yếu tố này tác động đến hoạt động kinh tế và chất lượng bảo tồn Trong kinh tế thì hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng cây công nghiệp lâu năm) được quan tâm hơn cả, nơi đây bạt ngàn cánh đồng hoa

cà phê trắng muốt và quả cà phê mọng đỏ đã “nổi danh” khu vực Đắk Lắk cũng là vùng căn cứ quân sự, lại là nơi có giá trị tài nguyên sinh vật vô cùng đặc sắc và phong phú nên phát triển kinh tế gắn với bảo tồn là rất cần thiết cho phát triển DLBV

Tài nguyên du lịch: Được coi là nhân tố tạo vùng quan trọng nhất, là các điều kiện

địa lý tự nhiên, kinh tế - văn hóa – xã hội đã bị biến đổi ở một mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và mục đích du lịch Nó tác động tới sự hình thành, phát triển và cấu trúc chuyên môn hóa của vùng Để phân vùng ĐLDL thì số lượng, chất lượng, khả năng liên kết tài nguyên du lịch được xét đến và thể hiện trong chú giải bản

đồ “Nhóm cụm tiềm năng du lịch tỉnh Đắk Lắk”

Bảng 1.2 Bộ tiêu chí phân vùng địa lý du lịch

Địa chất 1 Đồng nhất tương đối về tuổi đất đá;

Địa hình 2 Đồng nhất tương đối về quá trình địa mạo;

3 Đồng nhất tương đối về đặc trưng địa hình theo nguồn gốc phát sinh; Khí hậu 4 Đồng nhất tương đối về kiểu sinh khí hậu;

Thổ nhưỡng 5 Đồng nhất tương đối về nhóm đất;

6 Đồng nhất tương đối về loại đất;

Thực vật 7 Đồng nhất tương đối về kiểu rừng;

8 Đồng nhất tương đối về loại thảm thực vật;

Trang 40

Tiêu chí Chỉ tiêu

Hoạt động kinh tế &

bảo tồn

9 Đồng nhất tương đối về hoạt động kinh tế chính;

10 Đồng nhất tương đối về mục đích bảo tồn;

11 Đồng nhất tương đối về loại hình sử dụng đất;

Văn hóa tộc người 12 Đồng nhất tương đối về nhóm dân tộc thiểu số ưu thế định cư lâu năm; Tài nguyên du lịch 13 Đồng nhất tương đối về nhóm dạng tài nguyên du lịch ưu thế

Tiêu chí phân vùng ĐLDL là các hợp phần của lớp vỏ địa lý gồm điều kiện địa lý

(địa chất, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, thực vật, hoạt động kinh tế & bảo tồn, văn hóa tộc người) và tài nguyên (tài nguyên du lịch) tham gia quá trình hình thành, phát triển tiềm năng và tài nguyên du lịch

Chỉ tiêu phân vùng ĐLDL là hợp phần nhỏ hơn của từng tiêu chí Ví như tiêu chí địa

hình cụ thể thành tiêu chí “đồng nhất tương đối về quá trình địa mạo; đồng nhất tương đối về đặc trưng địa hình theo nguồn gốc phát sinh” Thông thường các chỉ tiêu này sẽ phản ánh chi tiết sự phân hóa của từng tiêu chí và chúng cũng bị thay đổi theo mức độ khả thi về dữ liệu thu thập về địa bàn nghiên cứu

Bảng 1.3.Căn cứ xác lập ranh giới vùng và tiểu vùng ĐLDL theo mức độ đồng nhất

Căn cứ theo tỷ lệ đồng nhất của các chỉ tiêu tại khu vục nghiên cứu, để lựa chọn

những chỉ tiêu xác lập ranh giới vùng, tiểu vùng ĐLDL “Mức độ đồng nhất” được xác định bằng Tỷ lệ đồng nhất của từng đơn vị tiềm năng du lịch và được tính như sau:

1.2.2.3 Nguyên tắc phân vùng địa lý du lịch

Căn cứ chính để phân vùng ĐLDL là sự đồng nhất tương đối về yếu tố tự nhiên, văn hóa, kinh tế, xã hội và tiềm năng tài nguyên du lịch của lãnh thổ Để đạt được điều đó, phân vùng ĐLDL sử dụng các nguyên tắc sau:

Tỷ lệ đồng nhất đơn vị

tiềm năng thứ n

Diện tích đồng nhất của từng chỉ tiêu phân vùng của đơn vị thứ n

Diện tích đơn vị tiềm năng du lịch thứ n

=

Ngày đăng: 25/11/2020, 14:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w