Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông hiện nay………..56 2.4... Quản lý nhà nước về các di tích lịch sử
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG
NGƯỜI THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN TRUNG
LỚP: HC 21 – TN 05
NIÊN KHÓA: 2016 – 2018
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS – TS VŨ TRỌNG HÁCH
Đắk Lắk, năm 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư – Tiến sĩ Vũ Trọng Hách, các số liệu trình bày trong luận văn này đều có luận chứng rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của luận văn chưa hề được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào
Tác giả luận văn
NGUYỄN VĂN TRUNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại phân viện Học viện Hành chính khu vực Tây Nguyên, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm cũng như giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể để hoàn thiện luận văn của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới Phó Giáo sư – Tiến sĩ Vũ Trọng Hách, là thầy giáo hướng dẫn khoa học cho tôi, sự quan tâm giúp đỡ tận tình của thầy đã giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đến lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Nông, Bảo tàng tỉnh, Ban Quản lý các Di tích Lịch sử trên địa bàn tỉnh, các anh chị chuyên viên thuộc các phòng văn hóa và thông tin huyện, cô giáo chủ nhiệm cùng các thầy cô đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Với sự cố gắng hết sức của bản thân, song vẫn còn hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm và thời gian nghiên cứu, do vậy, Luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của quý Thầy,
Cô, học viên, đọc giả nhằm giúp Luận văn hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Đắk Lắk, ngày tháng 02 năm 2018
Tác giả luận văn
NGUYỄN VĂN TRUNG
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU………1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 1 Một số khái niệm cơ bản……… ………8
1.1 Di sản văn hóa Việt Nam……… ………8
1.2 Di tích lịch sử văn hóa……… 8
1.4 Khái niệm quản lý di tích lịch sử gắn với phát triển kinh tế văn hóa xã hội 11
1.5 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa……… 12
1.6 Vai trò của di tích lịch sử đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội 18
1.7 Một số kinh nghiệm của các tỉnh trong việc quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị của di tích lịch sử………21
1.7.1 Tỉnh Kon Tum……… 22
1.7.2 Tỉnh Lâm Đồng…….……… 25
1.7.3 Bài học kinh nghiệm được rút ra cho tỉnh Đắk Nông……… 26
Tiểu kết chương 1……… 27
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG……….29
2.1 Tổng quan về địa lý, lịch sử và văn hoá Đắk Nông……….29
2.1.1 Địa danh và tiến trình lịch sử……… 29
2.1.2 Vị trí địa lý 30
2.2 Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử ở Đắk Nông thời gian qua…31 2.2.1 Các di tích lịch sử vă hoá trên địa bàn tỉnh Đắk Nông hiện nay 31
Trang 52.2.2 Thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn
hoá trên địa bàn tỉnh Đắk Nông hiện nay………41
2.2.2.1 Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại tỉnh Đắk Nông………41
2.2.2.2 Thực trạng hoạt động phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa tại tỉnh Đắk Nông……….43
2.3 Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông hiện nay……… 56
2.4 Các hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa ở Đắk Nông………51
2.4.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, dự án bảo tồn di tích ……….51
2.4.2 Xây dựng kế hoạch bảo tồn di tích ……… 53
2.4.3 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hóa 55
2.4.4 Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di tích……….57
2.5 Tổ chức hoạt động nghiệp vụ nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa………59
2.5.1 Hoạt động bảo tồn di tích……… 59
2.5.2 Hoạt động quản lý di vật, cổ vật tại các di tích……….62
2.5.3 Hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị của di tích lịch sử gắn với du lịch……… 62
2.5.4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học về di tích………….65
2.5.5 Tổ chức thanh tra, kiểm tra……… 67
2.6 Đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong công tác quản lý, phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hóa ở Đắk Nông………67
2.6.1 Ưu điểm……….67
Trang 62.6.2- Về hạn chế……….70 2.6.3 Nguyên nhân của các hạn chế……… 71 Tiểu kết………72
Chương 3: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ TRN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG 743.1 Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông……….74 3.1.1 Thống nhất quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh……… 753.1.2 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa phải bảo tồn và phát huy được các giá trị di tích trên địa bàn tỉnh, phải đàm bảo tính trung thực, tính nguyên gốc của các di tích lịch sử……… 75
3.1.3 Quản lý nhà nước về các di tích lịch sử văn hóa phải bảo tồn và phát huy được giá trị các di tích gắn với cộng đồng, vì cộng đồng………76
3.1.4 Quản lý nhà nước về các di tích lịch sử văn hóa phải bảo tồn, phát huy được các giá trị của các di tích gắn với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương……….773.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông……….77 3.2.1 Xây dựng, thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông……… 78 3.2.2 Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hóa……….78 3.2.3 Tiếp tục tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị các di tích; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh……… 79
Trang 73.2.4 Tiếp tục tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn làm công tác quản lý các di tích lịch sử
văn hóa trên địa bàn tỉnh……….81
3.2.5 Tiếp tục huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ, gìn giữ, phát huy giá trị di tích trên địa bàn tỉnh……… 82
3.2.6 Đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng tạo động lực nâng cao chất lượng quản lý các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh……….83
3.2.7 Tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý nhà nước về các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh……….84
3.2.8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lỷ vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh……….………85
3.3 Kiến nghị……… 85
3.3.1 Với Trung ương……….86
3.3.2 Với Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông………86
3.3.3 Đối với Sở Văn hoá – Thể thao và Du lịch……… 87
3.3.4 Đối với Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã……… 87
Tiểu kết………87
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8HĐND : Hội đồng nhân dân
Sở VHTT-DL : Sở Văn hóa Thê thao và Du lịch
Trang 9Như vậy, di tích lịch sử cho dù ở hoàn cảnh lịch sử nào, giai đoạn cách mạng nào, Đảng ta luôn luôn đặc biệt quan tâm bảo vệ vì nó là hồn của dân tộc, là nền tảng tinh thần, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững, nhất là giai đoạn đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển hiện nay
Đắk Nông là tỉnh nằm ở vùng đất cổ trên cao nguyên Mơ Nông, phía Nam Tây Nguyên, Đắk Nông là nơi sinh sống lâu đời của các dân tộc bản địa, như Mnông, Mạ, Ê-đê,… với nền văn hóa truyền thống lâu đời và không ngừng được bồi đắp thông qua sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa của các dân tộc anh em Thời gian qua, Đắk Nông có nhiều nỗ lực trong công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, góp phần gìn giữ sự đa dạng, phong phú và đặc sắc cho bức tranh văn hóa cho cả nước nói chung và cho khu vực Tây Nugyên nói riêng Cùng với các tỉnh ở Tây Nguyên, Đắk Nông là một trong những địa phương có bề dày truyền thống lịch sử với những địa danh kiên cườnggắn với những sự kiện lịch sử, những chiến công lừng lẫy suốt chiều dài 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Một trong những thành tố của kho tàng di sản văn hóa quý giá đó phải kể tới
Trang 102
hệ thống di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Theo thống kê, hiện nay Đăk Nông
có 6 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia phân bố ở các huyện trong tỉnh
Trong những năm qua, nhất là từ khi tái thành lập tỉnh, nhiều di tích lịch sử đã được Bộ Văn hóa thể thao và Du Lịch công nhận là di tích lịch sử, công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông có nhiều chuyển biến tích cực Các di tích trọng điểm của tỉnh đã được quản lý, đầu tư trùng tu, tôn tạo, phát huy tác dụng đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về truyền thống cách mạng và hưởng thụ văn hóa của cộng đồng trong và ngoài tỉnh Tuy nhiên, công tác quản lý di tích vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như việc đầu tư, tôn tạo, khoanh vùng bảo vệ di tích, việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, với đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
về di tích lịch sử đến cộng đồng các dân tộc trong tỉnh còn chưa thực hiện đầy
đủ, chưa có kế hoạch cụ thể…
Hiện nay, Đắk Nông là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội chậm so với cả nước Điều này có những tác động tiêu cực đến nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử, nó cũng có những tác động tiêu cực như tình trạng di tích bị lấn át, hư hỏng, biến dạng hoặc bị hủy hoại Đây là các vấn đề đặt ra đối với cơ quan quản lý, đứng trước một áp lực đối với việc bảo
vệ, khai thác và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống một cách bền vững, nhưng vẫn đảm bảo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng các dân tộc trong tỉnh
Giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử nói riêng là vô cùng to lớn, song điều quan trọng hơn cả là việc bảo tồn và phát huy những giá trị của nó như thế nào để phát triển mang tính bền vững trong giai đoạn hiện nay mới chính là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm đúng mức của các ngành, các cấp, nhất là những người làm công tác quản lý văn hoá hiện nay
Trang 11từ những giá trị của di tích mang lại, đó chính là vấn đề cần phải được giải quyết một cách khoa học, biện chứng
Nhận thức tầm quan trọng cũng như tính bức thiết của vấn đề nêu trên
ở tỉnh Đắk Nông, tôi đã chọn đề tài "Quản lý di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn tỉnh Đắk Nông" làm luận văn tốt nghiệp bậc cao học của mình, với hy
vọng góp phần vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hoá nhằm bảo tồn và phát huy tác dụng của nó một cách bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
2 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề quản lý, bảo tồn di tích lịch sử văn hoá cũng như khai thác tiềm năng của di tích lịch sử là vấn đề của nhiều quốc gia, địa phương đã và đang triển khai thực hiện; do vậy đây không phải là vấn đề mới, nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã đề cập đến vấn đề nay Tuy nhiên, để nghiên cứu một cách có hệ thống giữa công tác quản lý, bảo tồn và phát triển một cách bền vững, mang tính khoa học và đồng bộ thì chưa có tác giả, nhóm tác giả nào nghiên cứu đề tài này ở Đắk Nông
Trang 124
Trong báo cáo chương trình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội giai đoạn 2011 - 2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông cũng chỉ ban hành quyết định mang tính tổng thể bao gồm các cơ chế chính sách để phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, trong đó đề cao tầm quan trọng của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội Đề án bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hoá lễ hội, văn hoá cồng chiêng và nhạc cụ dân tộc thiểu số tại chỗ giai đoạn 2010 – 2020; Để án “sưu tầm, bảo tồn, phát huy giá trị hiện vật lịch sử, văn hoá đến năm 2015, định hướng năm 2020 ở Đắk Nông cũng chỉ tập trung vào các giải pháp nhằm bảo tồn, tôn tạo, phát huy tác dụng của di tích, danh thắng thông qua giáo dục truyền thống, đi sâu tìm giải pháp phát triển du lịch thông qua di tích lịch sử văn hóa
Vì vậy, đề tài "Quản lý di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn tỉnh Đắk Nông" có thể được xem là đề tài đầu tiên ở Đắk Nông đi sâu nghiên cứu về
một lĩnh vực mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thách thức này
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn sẽ tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận chung và thực tiễn, luận văn
đi sâu phân tích thực trạng quản lý di tích lịch sử ở Đắk Nông hiện nay Từ
đó, đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao công tác quản lý nhà nước về
di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
3.2 Nhiệm vụ
Để đáp ứng mục đích nghiên cứu, đề tài có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Trang 135
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di tích lịch sử
- Một số vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển kinh tế văn hoá, xã hội
- Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử ở Đắk Nông
- Quan điểm định hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử nhằm phát triển kinh tế, văn hoá xã hội trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
4 Đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm của đối tượng quản lý đó là các loại hình di tích lịch sử văn hóa ở Đắk Nông
- Nghiên cứu các chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương về bảo tồn di tích và chính sách đối với cộng đồng tham gia bảo tồn di tích
- Nghiên cứu cơ cấu tổ chức bộ máy và các hoạt động trong lĩnh vực quản
lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
- Nghiên cứu sự tác động của công nghiệp hoá ở Đắk Nông và những tác động của nó đến quản lý di tích lịch sử văn hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý di tích lịch sử; cơ chế quản lý, tổ chức
bộ máy, quan điểm định hướng và giải pháp nhằm vừa bảo tồn, tôn tạo di tích, vừa phát triển kinh tế du lịch bền vững từ việc khai thác có hiệu quả những giá trị của di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu để thực hiện các mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, thu thập các nguồn tư liệu, các nghiên cứu về công tác quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
- Phương pháp: so sánh, đánh giá những hoạt động liên quan đến việc quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông với một số địa phương khác trong cả nước… nhằm đúc kết kinh nghiệm cho việc thực hiện
đề tài nghiên cứu
Bên cạnh đó đề tài còn được thực hiện bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên quan khác như: Phương pháp thống kê; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp diễn dịch, quy nạp…
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Về mặt lý luận
Tập hợp và hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di tích lịch
sử văn hóa
6.2 Về mặt thực tiễn
Trang 157
- Đánh giá công tác quản lý và phát huy giá trị của hệ thống di tích trong giáo dục truyền thống, giữ gìn bản sắc cũng như góp phần phát triển kinh tế, văn hóa xã hội thông qua hệ thống di tích tỉnh Đắk Nông
- Đưa ra quan điểm định hướng và đề xuất một số giải pháp, cơ chế chính sách nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa, đồng thời khai thác cùng với các danh lam thắng cảnh để phát triển du lịch mang tính bền vững nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Nông trong thời gian tới
Nếu có thể, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông nâng thành một
đề án trong Chương trình phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2020 - 2030
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về quản lý di tích lịch sử văn
hóa
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở Đắk
Nông thời gian qua
Chương 3: Quan điểm định hướng và giải pháp để nâng cao công tác
quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
Trang 168
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ
DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
1 Một số khái niệm cơ bản
1.1 Di sản văn hóa Việt Nam
- Di sản văn hóa Việt Nam
Là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở Việt Nam
và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình địa điểm có giá trị lịch
sử, văn hóa, khoa học
1.2.1 Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc địa phương
Trang 179
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, doanh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử
- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu
- Công tình kiến trúc nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc
đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc nghệ thuật
1.2.2 Di tích lịch sử văn hóa là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm
- Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, doanh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc
- Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam
- Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, và hệ sinh thái dặc thù
1.2.3 Di tích lịch sử - văn hóa được phân loại như sau
- Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
- Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh
Trang 1810
- Di tích lịch sử văn hóa cấp huyện
- Di tích lịch sử văn hóa cấp xã
1.3 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
- “Quản lý” là thuật ngữ được sử dụng để chỉ “sự tác động có kế hoạch, sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn, kiểm tra của các chủ thể quản lý (cá nhân hay tổ chức) đối với các quá trình xã hội và hoạt động của con người, để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đề ra của tổ chức và đúng ý chí của nhà quản lý, với chi phí thấp nhất
Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động của chủ thể quản lý vào khách thể nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức, quản lý là một yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu trong đời sống xã hội, xã hội phát triển càng cao thì vai trò của quản lý càng lớn và nội dung càng phức tạp
- “Quản lý nhà nước” là thuật ngữ chỉ sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ xã hội hóa càng cao thì yêu cầu quản lý và vai trò của quản lý ngày càng tăng lên Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ
Trang 19Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa là sự tác động có định hướng trên cơ sở quyền hành pháp của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước tới hành vi, hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức trong lĩnh vực văn hóa nhằm mục tiêu bảo vệ, giữ gìn di sản, các di tích lịch sử - văn hóa và làm cho giá trị các di sản, di tích lịch sử - văn hóa được phát huy theo chiều hướng tích cực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần của nhân dân
1.4 Khái niệm quản lý di tích lịch sử gắn với phát triển kinh tế văn hóa xã hội
Như trên đã trình bày, quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để đạt được mục đích nhất định
Mục đích ở đây chính là thông qua quản lý để bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử Bảo tồn không có nghĩa là "hoài cổ, hoài niệm", có tính
"chiêm ngưỡng" đơn thuần, mà bảo tồn để phát triển, phát huy Trong phát triển, phát huy có phát huy về giá trị tinh thần (giáo dục truyền thống cội nguồn, bản sắc) và một điều hết sức quan trọng chính là phát triển và phát huy
về giá trị kinh tế (tăng trưởng kinh tế trong tỷ trọng nền kinh tế)
Trang 2012
Sự tăng trưởng và phát triển ấy không tự di tích lịch sử làm nên thay đổi sự tăng trưởng mà phải thông qua yếu tố về cơ chế, chính sách trên cơ sở những giá trị của di tích lịch sử (vé tham quan, dịch vụ du lịch, dịch vụ lưu trú,…) để tăng nguồn thu, phát triển kinh tế Sự phát triển và tăng trưởng ấy muốn bền vững phải thông qua hoạt động quản lý, đó là sự tác động của chủ thể (hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra) đến đối tượng quản lý (di tích lịch sử; đến các tổ chức, cá nhân đang trực tiếp quản lý, khai thác các giá trị của di tích lịch sử)
Với ý nghĩa đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm quản lý di tích lịch
sử gắn với phát triển kinh tế, văn hóa xã hội như sau:
Là quá trình tác động liên tục của chủ thể (Nhà nước: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Ủy ban nhân dân tỉnh; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; các ngành hữu quan, chính quyền các cấp.) lên đối tượng quản lý (di tích lịch sử; các tổ chức, cá nhân đang trực tiếp quản lý, khai thác di tích lịch sử) bằng hoạch định cơ chế, chính sách, bằng pháp luật, bằng tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra để nhằm đạt được mục đích bảo tồn và phát huy giá trị của di tích (cả giá trị tinh thần và giá trị kinh tế) thông qua hoạt động du lịch và ngược lại
1.5 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
1.5.1 Xuất phát từ vai trò, giá trị của di tích lịch sử văn hóa
Nước Việt Nam trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, những trang sử hào hùng của dân tộc được ghi lại qua nhiều loại hình sử liệu khác nhau: di tích - di vật, hình ảnh, chữ viết, ngôn ngữ truyền miệng Trong số những nguồn sử liệu ấy thì di tích lịch sử - văn hóa đóng vai trò như một nguồn
sử liệu vật chất quan trọng nhất Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia cho chúng ta những thông tin trực tiếp về hoạt động của con người trong quá khứ và giúp cho các nhà nghiên cứu lịch sử có những bằng chúng cụ thể để khẳng định sự có mặt của cộng đồng dân cư đã sống và tồn tại trên mảnh đất này
Trang 2113
Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đụng các điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người trong lịch sử sáng tạo ra Di tích lịch sử - văn hóa là những dấu tích, dấu vết hoạt động của con người trong quá khứ, di tích là những gì còn lại so với thời gian, những thông tin trực tiếp từ di tích lịch sử - văn hóa quốc gia và sử liệu từ các di vật có trong di tích góp phần nghiên cứu lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam Chúng ta có thể nhận biết kiến trúc của các di tích lịch sử - văn hóa trải qua các thời đại thông qua các dấu tích, di vật còn sót lại Ví dụ, chúng ta có thể biết được kiến trúc các ngôi đình làng đa dạng ở khu vực đồng bằng sông Hồng thay đổi qua các thời kỳ, dựa vào dấu tích còn lại của kiến trúc đình làng người ta có thể suy ra niên đại của các ngôi đình, chẳng hạn như những ngôi đình có niên đại trước sớm hơn thường có ván sàn đình những ngôi đình có niên đại sau muộn hơn thường không có ván sàn đình Di vật được bảo lưu ở các di tích, là nguồn sử liệu trực tiếp mang lại nhiều thông tin thú vị cho các nhà nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau như tôn giáo, địa lý, lịch sử, thông qua di vật ở di tích như quả chuông được đúc năm nào hay nội dung văn bia có thể suy ra niên đại khởi dựng hoặc trùng tu lại ngôi chùa, xem qua tượng thờ, nghệ thuật chạm khắc thông tin cho chúng
ta biết được sự xuất hiện của tín ngưỡng dân gian khác nhau qua các thời kỳ
Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc, là nguồn sử liệu trực tiếp cho ta những thông tin quan trọng để khôi phục những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam Ngày nay có nhiều di tích đã và đang được bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị đúng mức nhưng cũng
có không ít những di tích lịch sử - văn hóa quốc gia như bị bỏ quên, đang xuống cấp hoặc đang bị xâm hại nghiêm trọng và đã bị khai thác sử dụng quá mức Chúng ta cần quan tâm, chú ý hành động chung tay góp sức bảo vệ, gìn giữ những tài sản vô giá mà cha ông chúng ta đã để lại qua nhiều thế kỷ
Trang 2214
Di tích là dấu tích, công trình xây dựng, là bằng chứng của sự tiến hóa hay biến cố về lịch sử, có ý nghĩa về văn hóa; di tích là cổ vật bất động sản, là
di sản văn hóa vật thể Di tích lịch sử - văn hóa nói chung do nhân dân tạo ra,
là kết quả của hoạt động sáng tạo văn hóa bao gồm cả vật chất và tinh thần, một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc Tiềm ẩn trong mỗi di tích lịch sử - văn hóa quốc gia có những giá trị cao, cả về mặt văn hóa và về mặt kinh tế, những yếu tố hấp dẫn rất lớn không thể thiếu để góp phần vào việc giữ gìn bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam
Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích lịch sử - văn hóa được chia thành: Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương, do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia do Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng di tích cấp quốc gia; Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia, do Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng
di tích lịch sử - văn hóa quốc gia đặc biệt
Việt Nam là một quốc gia có lịch sử lâu đời với những trang sử chói lọi trong cuộc đấu tranh dựng nước, giữ nước, giành độc lập dân tộc Trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, các thế hệ trước đã để lại cho chúng ta kho tàng di sản văn hóa vô cùng quý giá, được lưu giữ lại ở các di tích lịch sử - văn hóa với nhiều giá trị Việc bảo vệ, giữ gìn các di tích lịch sử
- văn hóa quốc gia để lưu truyền lại cho muôn đời sau là một việc quan trọng
và cần thiết Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 đã xác định: “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc là nhiệm vụ then chốt của Chiến lược phát triển văn hóa”
1.5.2 Thách thức của cơ chế thị trường và quá trình hội nhập
Nước ta một nước đang phát triển, lại bị chiến tranh kéo dài tàn phá
Trang 2315
nặng nề, nên sau khi giành được độc lập, thống nhất đất nước, ưu tiên hàng đầu của Nhà nước và nhân dân là phát triển kinh tế, nâng cao đời sống Tuy nhiên, tập trung phát triển kinh tế trong khi chưa xây dựng hoàn thành hành lang pháp lý về bảo vệ di sản văn hóa đồng thời ý thức chấp hành pháp luật và nhận thức cộng đồng về bảo tồn di sản văn hóa trong phát triển chưa đầy đủ rất dễ dẫn đến tình trạng phát triển không bền vững Hơn nữa di sản văn hóa vật thể của Việt Nam phần lớn làm bằng chất liệu hữu cơ, lại bị thiên tai và địch họa tàn phá, sự tác động của phát triển dân số, kinh tế, do nhu cầu khai thác, xây dựng và sản xuất ngày càng tăng Đó là những nguy cơ hiện hữu đẩy di sản văn hóa đến với những cơ hội và thách thức lớn lao Những sức ép
do sự tác động tiêu cực của sự phát triển cộng với sự xuống cấp hàng loạt của
di sản văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, nhận thức chung của cộng đồng về bảo vệ di sản, di tích vẫn còn bị hạn chế so với nhu cầu phát triển kinh tế phục vụ đời sống hàng ngày Chính vì vậy, di sản, di tích lịch sử - văn hóa của nước ta đã và đang chịu tác động ngày càng nhanh chóng của sự biến đổi môi trường tự nhiên và xã hội
Giai đoạn hiện nay, những thách thức đối với quản lý nhà nước về di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử - văn hóa quốc gia nói riêng chủ yếu gồm:
Một là, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa tạo cơ hội để chúng ta tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới, tuy nhiên cũng nảy sinh những nguy
cơ về sự thay đổi quan niệm sống, lối sống khác thâm nhập tác động tiêu cực đến giá trị văn hóa truyền thống;
Hai là, đặc tính thương mại trong văn hóa nếu không được kiểm soát chặt chẽ dễ bị chi phối bởi yếu tố thị trường, làm thay đổi chức năng của văn hóa;
Ba là, hoạt động quản lý văn hóa nói chung chưa gắn kết với thực tiễn trên mọi phương diện do trình độ quản lý còn lạc hậu, yếu kém;
Bốn là, khoảng cách đời sống văn hóa ở các vùng miền còn cách xa nhau;
Trang 2416
Năm là, dữ liệu cần thiết cho các nhà hoạch định chính sách làm căn cứ
để đưa ra những quyết sách đúng đắn vì những số liệu liên quan để đánh giá cần phải điều tra xã hội học, mất nhiều thời gian và chi phí
Muốn phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo giữ gìn, phát huy những nhân tố tích cực của văn hóa truyền thống thấm sâu vào lĩnh vực kinh tế, kinh doanh, để kinh tế - xã hội có những bước phát triển bền vững thì quản lý nhà nước cần phải có những chính sách và giải pháp đúng đắn cùng với sự nỗ lực chung của toàn xã hội
1.5.3 Từ thực trạng của quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
- Những thành tựu đạt được từ thực trạng của quản lý nhà nước
Nhiều di tích lịch sử văn hóa bị các yếu tố tự nhiên và xã hội tàn phá nhưng với truyền thống văn hóa dân tộc, trên nền móng cũ của nhiều công trình như những ngôi đình thờ thành hoàng làng, ngôi chùa thờ được phục dựng
Đền thờ những người có công với dân với nước được phục hồi để bảo tồn giữ gìn và phát huy các giá trị tinh thần truyền thống văn hóa của dân tộc
xu thế toàn cầu hóa kinh tế là tất yếu, trong tiến trình phát triển mạnh mẽ và đầy biến động, nhiều giá trị mới sinh ra cùng với sự mất đi của một số giá trị truyền thống, vì vậy cần phải tăng quản lý nhà nước để bảo tồn các giá trị truyền thống và phát hiện, giữ gìn các giá trị mới
Tăng cường hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cập nhật cùng với sự phát triển chung của thế giới vì lợi ích, sự phát triển của quốc gia, dân tộc, phát huy hiệu lực, hiệu quả trong thực tiễn và tăng cường hoàn thiện cơ cấu tổ chức, bộ máy để quản lý bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa
Việc bảo tồn được các di tích lịch sử – văn hóa tại địa phương cũng
Trang 2517
góp phần đáng kể vào quá trình phát triển du lịch, mang lại nhiều nguồn lợi kinh tế cho địa phương
- Bên cạnh những thành tựu thì cũng có rất nhiều những hạn chế
+ Thứ nhất là, do quá trình hội nhập kinh tế, những giá trị mới dần thay thế những giá trị xưa cũ, vấn đề này đặt ra nhiều thách thức trong công tác quản lý nhà nước về các di tích lịch sử văn hóa, như việc trang phục cuả khách tham quan đến các di tích, việc tham quan các di tích còn gắn với các hoạt động mê tín dị đoan, việc công đức tại các di tích làm mục đích thương mại hay quảng cáo… đòi hỏi nếu không tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa từ việc đầu tư bảo tồn, xây dựng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đủ mạnh, có hiệu lực trong thực tiễn thì các di tích sẽ khó gìn giữ được cho thế hệ tương lai của chúng ta
+ Thứ hai là, những hạn chế đội ngũ cán bộ quản lý số lượng và chất lượng không song hành, những cán bộ có chuyên môn về đúng chuyên ngành bảo tồn di tích còn khiêm tốn, mà đa phần có thể có các cán bộ học kinh tế, thương mại hay nông nghiệp hiện lại đang làm công tác bảo tồn di tích
+ Thứ ba là, do sự thiếu đồng bộ, thiếu ý thức và thiếu sự quan tâm đến việc bảo tồn di sản, di tích của một số ngành chức năng, địa phương không tuân thủ các quy định của Nhà nước trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ, phát triển cơ sở sản xuất như: cầu đường, khai thác khoáng sản không chú ý đến việc bảo tồn di sản, di tích trong khu vực triển khai dự án; việc phát triển nhanh các đô thị, xây dựng nhà cao tầng vô hình chung đã làm cho di sản, di tích bị mất không gian truyền thống, nhiều di tích còn bị các công trình mới chèn lấn, có nguy cơ bị mai một Các công trình cấp thoát nước và xử lý rác thải, khói bụi gây ô nhiễm môi trường xung quanh khu vực
di sản, di tích
+ Thứ tư là, đô thị hóa nông thôn, phát triển du lịch trong khi chưa có
Trang 2618
đủ cơ sở hạ tầng, chưa có những công cụ pháp lý hữu hiệu để điều chỉnh các hành vi liên quan dẫn đến tình trạng quá tải, tập trung quá đông người trong mùa lễ hội tại di tích lịch sử, cơ sở dịch vụ, nhà hàng lấn át gây bất lợi cho di tích
+ Thứ năm là, nguồn kinh phí, bất kỳ vấn đề gì liên quan đến bảo tồn hay trùng tu các di tích trong quản lý nhà nước tại địa phương thì mối quan tâm lớn luôn là nguồn kinh phí, hiện nay ngoài ngân sách nhà nước thì nguồn vốn xã hội hóa là nguồn vốn chính để duy trì hoạt động cũng như trùng tu tại các di tích, tuy vậy việc huy động nguồn vốn này từ các doanh nghiệp hay nhân dân là vấn đề khó nếu không có sự hướng dẫn của quản lý nhà nước tại địa phương
1.6 Vai trò của di tích lịch sử đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội
1.6.1 Di tích lịch sử là cơ sở, là nguồn lực để phát triển kinh tế, văn hóa xã hội
Ở nước ta, các di tích lịch sử gắn bó mật thiết với hoạt động du lịch
Có thể xem di tích lịch sử là cơ sở, là nguồn lực để phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội Các ngày kỷ niệm, các lễ hội lớn tại các địa điểm di tích lịch sử thường thu hút lượng khách lớn tham quan để tìm hiểu về lịch sử, để nghiên cứu … Những di tích lịch sử cách mạng là nơi hướng mọi người tìm về cội nguồn, tìm về với quá khứ hào hùng của dân tộc, cũng là nơi giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ Đối với các di tích lịch sử thì tự thân nó đã mang trong mình những thông điệp của quá khứ và khi tham gia vào đời sống văn hóa hiện đại sẽ làm cho văn hóa của mỗi dân tộc không bị tách rời khỏi truyền thống, nó giữ lại những giá trị tự thân, đồng thời tạo nên những giá trị bên trong của cốt cách, bản lĩnh, năng lực của mỗi dân tộc Những hệ giá trị này
Trang 2719
có tính ổn định rất lớn và có tính bền vững tương đối, có sức mạnh to lớn đối với cộng đồng… Và cũng vì thế, các di tích luôn được xem là nguồn tài nguyên du lịch để phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội
Di tích lịch sử văn hóa ở nước ta nhiều về số lượng, đa dạng về loại hình nên đã tạo ra sự hấp dẫn đối với rất nhiều du khách trong và ngoài nước
Do giá trị nổi của di tích lịch sử hàng năm đón từ hàng vạn cho tới hàng triệu lượt du khách tham quan, nghiên cứu, học tập Quan sát sự phát triển du lịch chúng ta thấy rằng danh hiệu di tích cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh đã tạo cho di sản có một sức hút mạnh mẽ đối với khách tham quan du lịch trong và ngoài nước Lễ đón bằng di tích quốc gia đã trở thành những ngày hội lớn tại địa phương, đó là dịp thuận lợi để quảng bá hình ảnh di tích lịch sử, về vùng đất
và con người nơi di tích đứng chân
Khi đạt được danh hiệu di tích quốc gia, nhiều hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản được các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương, các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước, khách tham quan du lịch, các tổ chức quốc tế - chính phủ và phi chính phủ, các học giả, các nhà nghiên cứu, sưu tầm… đặc biệt quan tâm, bộ mặt di tích được cải thiện thông qua các công tác bảo quản, tu bổ và phục hồi, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Nói một cách khác, việc bảo tồn, gìn giữ, phát huy giá trị của các di tích lịch sử liên quan mật thiết đến quá trình phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội của địa phương và đất nước
1.6.2 Kinh tế, văn hóa – xã hội phát triển tạo điều kiện để bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích lịch sử
Du lịch nội địa và quốc tế đến nay là một trong những phương tiện hàng đầu để trao đổi văn hóa, tạo cơ hội cho mỗi con người được trải nghiệm
Trang 2820
không chỉ những gì quá khứ còn để lại mà cả cuộc sống và xã hội đương đại của người khác Du lịch ngày càng được thừa nhận rộng rãi là một động lực tích cực cho việc bảo vệ di sản thiên nhiên văn hóa Du lịch có thể nắm bắt các đặc trưng về kinh tế của di sản và sử dụng chúng vào việc bảo vệ bằng cách gây quỹ, giáo dục cộng đồng và tác động đến chính sách Đây là một bộ phận chủ yếu của nhiều nền kinh tế quốc gia và khu vực và có thể là một nhân
tố quan trọng trong phát triển khi được quản lý hữu hiệu
Bản thân du lịch đã trở thành một hiện tượng ngày càng phức hợp đóng một vai trò chủ yếu trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, sinh thái và thẩm mỹ Để thành tựu được mối tương tác có lợi giữa mong đợi và ước muốn của khách tham quan và cộng đồng chủ nhà hoặc địa phương - mà có khi là xung đột nhau - là cả một thách đố và một cơ hội
Di sản thiên nhiên và văn hóa cũng như tính đa dạng của các nền văn hóa đang tồn tại là những hợp lực to lớn, mà một kiểu du lịch cực đoan hoặc quản lý tồi và sự phát triển tùy thuộc vào du lịch có thể đe dọa tính toàn vẹn của hình thể tự nhiên và ý nghĩa của di sản Sự viếng thăm liên tục của khách
du lịch cũng có thể làm cho hệ sinh thái, văn hóa và lối sống cộng đồng chủ nhà bị xuống cấp
Đại hội đồng ICOMOS họp lần thứ 12 ở Mexico, tháng 10-1999 đã thông qua Công ước quốc tế về du lịch văn hóa, trong đó nhấn mạnh:
Du lịch phải đem lại lợi ích cho các cộng đồng chủ nhà và tạo cho họ một phương thức quan trọng và một động lực để chăm nom và duy trì di sản
và các tập tục văn hóa của họ Sự tham gia và hợp tác giữa các cộng đồng địa phương hoặc bản địa đại diện, các nhà bảo tồn, các điều hành viên du lịch, chủ sở hữu tài sản, các nhà hoạch định chính sách, các nhà làm kế hoạch phát triển quốc gia và các nhà quản lý di tích là cần thiết để thực hiện được một
Trang 29du lịch văn hóa không chỉ đơn thuần thu được những lợi ích kinh tế như một hoạt động kinh doanh mà còn nhằm những mục tiêu cao cả như góp phần thực hiện những mục tiêu phát triển xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa dân tộc truyền thống, góp phần giáo dục, nâng cao nhận thức về nền văn hóa dân tộc Tất cả những giá trị tốt đẹp của văn hóa thông qua hoạt động du lịch có thể tạo nên sự phát triển tích cực nhất đối với con người và xã hội Những di sản văn hóa vật chất và tinh thần phải được khai thác tốt nhất trong hoạt động du lịch Kinh tế du lịch phát triển đem lại nhiều cơ hội cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản như nguồn kinh phí tăng lên, nhiều
dự án quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích được triển khai Bởi vậy,
có thể nói kinh tế du lịch phát triển tạo điều kiện để bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích lịch sử
1.7 Một số kinh nghiệm của các tỉnh trong việc quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị của di tích lịch sử
Mỗi di tích lịch sử văn hóa (vật thể và phi vật thể) đều chứa đựng trong đó những nội dung riêng biệt, độc đáo Ở đó phản ánh, lưu giữ đặc trưng lịch sử dân tộc, đặc trưng nhân cách, phẩm giá, thế giới tinh thần, đạo
Trang 3022
đức tâm lý con người, qua các thời kỳ lịch sử, sự đặc sắc của phong tục tập quán của các dân tộc Để chuyển tải một cách sinh động, trung thực, thuyết phục và hấp dẫn những giá trị nội dung đó là việc hoạch định các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, mà quan trọng nhất đó là ngành
du lịch Công việc của hoạt động du lịch, tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên
du lịch nhân văn Không chuyển tải được nó, khách du lịch chỉ còn tìm thấy cái vỏ bề ngoài, cái vỏ kiến trúc, cái vỏ ngôn ngữ của các di sản, nó vừa làm nghèo nàn đi các giá trị văn hóa dân tộc trước mắt khách du lịch, vừa hạn chế tính đa dạng của du lịch Du lịch chỉ còn là phương thức giải trí, bồi bổ sức khỏe, nghỉ ngơi, thư giãn mà giảm đi ý nghĩa, tác dụng của sự tự bồi dưỡng tâm hồn, tự giáo dục nhân cách, tự làm phong phú thế giới tinh thần, tình cảm
- thẩm mỹ của con người
Nhiều tỉnh, thành trong cả nước đã làm rất tốt khi có các cơ chế, chính sách để quản lý, trùng tu, khai thác các di tích lịch sử, tạo ra động lực để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.Ở một số tỉnh, các di tích lịch sử cũng giống như Đắk Nông có thể không nhiều, không có gì thật đặc sắc nhưng đã biết khai thác sinh động các di tích lịch sử đó, làm nổi bật được tính độc đáo của nó trong sự tiếp nhận của khách du lịch nên hiệu quả của các di tích lịch sử Đây cũng là một bài học về sự quản lý di tích lịch sử để tỉnh Đắk Nông quan tâm, tìm hiểu và học tập
1.7.1 Tỉnh Kon Tum
Kon Tum, là một tỉnh nằm ở phía bắc của khu vực Tây Nguyên, cũng giống như Đắk Nông, Kon Tum cũng là một tỉnh mới được tách ra Theo thống kê, hiện nay Kon Tum có 47 di tích lịch sử bao gồm các loại hình Nhưng nói tới di tích lịch sử ở Kon Tum là phải nói ngay tới 2 di tích nhà lao nổi tiếng từ thời Pháp thuộc tại đây, đó là Di tích lịch sử Ngục Kon Tum và di tích Ngục Đăk Glây Bên cạnh đó còn có hàng chục di tích ghi dấu những
Trang 3123
chiến thắng, các sự kiện lịch sử, ghi dấu những bước ngoặt lớn trong 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của quân và dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Kon Tum
Nhìn chung các di tích lịch sử ở Kon Tum sau khi có quyết định xếp hạng, Bảo tành tỉnh (trước đây công tác bảo tồn di tích thuộc Bảo tàng tỉnh quản lý, tỉnh Kon Tum mới tách Ban quản lý di tích năm 2010) đã làm ngay các việc như: Quy hoạch khoanh vùng bảo vệ di tích, có biển báo, biển cắm mốc di tích, Các di tích đã phần nào phát huy tác dụng, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, nâng cao lòng tự hào dân tộc cho quần chúng nhân dân đặc biệt là thế hệ trẻ, và phục vụ nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu của khách tham quan
Trong số các di tích trên địa bàn tỉnh Kon Tum thì di tích lịch sử Ngục Kon Tum là di tích phát huy tác dụng tốt nhất Do di tích nằm gần trung tâm thành phố kon Tum, thuân lợi giao thông đi lại
Ngay từ khi mới được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia (1988), được sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương, di tích lịch sử Ngục Kon Tum đã được đầu tư tôn tạo và xây dựng phòng trưng bày nhằm phục vụ khách tham quan Đặc biệt trong đợt tôn tạo năm 1998 - 1999,
di tích đã được đầu tư, với nhiều hạng mục công trình, tạo cảnh quan và xây dựng Nhà trưng bày tại khu di tích Cuối năm 2003 phòng trưng bày tại di tích lịch sử Ngục Kon Tum đã mở cửa đón khách tham quan
Di tích lịch sử Ngục Kon Tum đã trở thành nơi góp phần quan trọng trong việc giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng ngoài nhà trường cho thế hệ trẻ trong tỉnh, đồng thời là điểm tham quan cho du khách khi đến với Kon Tum Mỗi năm di tích đã đón hàng chục ngàn lượt khách, và để lại ấn tượng khá tốt cho du khách
Trang 3224
Để phát huy tác dụng di tích, Bảo tàng tỉnh, nghành Văn hóa thể thao
và du lịch tỉnh Kon Tum đã thực hiện tốt một số nội dung như:
- Tích cực tìm hiểu nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, hình ảnh về di tích nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách tham quan
- Tham mưu với lãnh đạo tỉnh lấy ngày 25/9 hàng năm (ngày ra đời của Chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của tỉnh Kon Tum tại nhà lao Kon Tum) làm ngày Truyền thống Đảng bộ tỉnh; Lấy ngày 12/12 (Ngày Đấu tranh lưu huyết
và hy sinh của 7 chiến sỹ cộng sản tại nhà lao Kon Tum) làm ngày giỗ và Ngày truyền thống Ngục Kon Tum
- Tích cực viết bài tuyên truyền về di tích trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo, tạp chí của địa phương, đài PTTH tỉnh, nhất là vào những ngày kỷ niệm Truyền thống Đảng bộ tỉnh (25/9); Ngày truyền thống Ngục Kon Tum (12/12)
- Vào những năm kỷ niệm chẵn, phối hợp với Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, Thư viện tỉnh tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về Di tích lịch sử Ngục Kon Tum Tạo điều kiện để các tầng lớp nhân dân đặc biệt là thế hệ trẻ tìm hiểu, hiểu biết thêm về di tích, về một giai đoạn lịch sử đã qua của dân tộc, của địa phương
- Phối hợp với nghành giáo dục đào tạo tổ chức cho các thế hệ học sinh tham quan ngoại khóa, tìm hiểu về di tích
Du khách khi tới thăm và làm việc tại Kon Tum đều có một nguyện vọng là tới thăm di tích ngục Kon Tum, Ngục Đăk Glây, những di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng, những nhà tù khét tiếng về sự tàn khốc ở miền Trung những năm 30 của thế kỷ trước Những năm qua 2 di tích đã đón hàng trăm ngàn khách tới viếng thăm Có người đã kinh qua một thời máu lửa về thăm lại chiến trường xưa, có người là thân nhân của những chiến sĩ cộng sản đã từng bị giam cầm tại đây; Nhưng nhiều hơn cả là lớp thế hệ những người
Trang 3325
được may mắn sống trong độc lập, tự do Điều đọng lại trong lòng mỗi du khách khi tới địa danh lịch sử này niềm xúc động, cảm phục, tự hào về tinh thần ý chí quật cường của cha anh
Tương tự như thế, các di tích Chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh, di tích Chiến thắng PLây Cần, di tích Lịch sử và danh thắng Măng Đen, Căn cứ Tỉnh
ủy Kon Tum, Khu chứng tích Kon Hring, Chư Tan Kra, Điểm cao 601 cũng đã được đầu tư tôn tạo và đã phần nào phát huy tác dụng của các di tích, góp phần quan trong vào sự nghiệp xây dựng đời sống văn hóa của tỉnh Kon Tum
1.7.2 Tỉnh Lâm Đồng
Lâm Đồnglà một tỉnh nằm liền kề với tỉnh Đắk Nông, 5 năm qua, thực hiện “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng,hàng năm, UBND tỉnh Lâm Đồng đã chỉ đạo ngành Văn hóa, Thể thao
và Du lịch triển khai có hiệu quả chương trình hành động quốc gia về bảo tồn các di sản văn hóa tiêu biểu bằng việc sưu tầm, bảo quản, tu bổ, tôn tạo và
phát huy giá trị di tích.…
Trước hết, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đẩy mạnh công tác tuyên truyền về giá trị văn hóa của nhân dân các dân tộc, nâng cao lòng tự hào về các giá trị văn hóa; cùng với chú trọng công tác sưu tầm, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa các dân tộc, đặc biệt là việc chống xuống cấp và tôn tạo di tích lịch sử quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt; phục dựng Khu di tích lịch sử quốc gia căn cứ kháng chiến Khu IV Cát Tiên và dự án bảo tồn, tôn tạo Khu di tích khảo cổ Cát Tiên (di tích quốc gia đặc biệt)…
UBND tỉnh cũng chỉ đạo các ngành liên quan đẩy mạnh giữ gìn, tôn tạo những công trình kiến trúc cổ đặc trưng của thành phố Đà Lạt, quy hoạch kiến trúc thành phố phù hợp với sự phát triển hiện đại nhưng vẫn giữ nét riêng, mang bản sắc và dấu ấn văn hóa địa phương Củng cố và nâng cao chất
Trang 3426
lượng hoạt động của Bảo tàng tỉnh thông qua việc hoàn thiện dự án xây dựng không gian và nội thất nhằm nâng cấp thành Bảo tàng hạng 2, từng bước phát triển thành Bảo tàng khoa học, hiện đại, có phong cách phục vụ riêng biệt, ấn tượng Toàn tỉnh hiện có 33 di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, trong đó có 13 di tích cấp tỉnh, 18 di tích thắng cảnh cấp quốc gia
và 2 di tích cấp quốc gia đặc biệt Một số công trình văn hóa tiêu biểu như: di tích Nhà lao Thiếu nhi Đà Lạt, căn cứ kháng chiến Khu IV Cát Tiên, Bộ Mộc bản triều Nguyễn (Di sản tư liệu Thế giới) Công tác giữ gìn, phát huy và khai thác danh lam, thắng cảnh trên địa bàn tỉnh được cấp ủy, chính quyền quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi về chính sách, đảm bảo an ninh, trật tự để tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp khai thác có hiệu quả các giá trị, di tích lịch
sử, danh lam thắng cảnh phục vụ phát triển du lịch
1.7.3 Bài học kinh nghiệm được rút ra cho tỉnh Đắk Nông
Những kinh nghiệm trên cho thấy hai bài học quan trọng:
- Thứ nhất, có cơ chế, chính sách phù hợp cùng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh có tác dộng nâng cao hiệu quả công tác quản
lý di sản văn hóa, tạo động lực cho các hoạt động bảo tồn các di tích lịch sử - văn hóa
- Thứ hai, có hệ thống quản lý đủ mạnh, có khả năng triển khai trong đời sống xã hội các cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo tồn các di tích này
- Thứ ba, có nguồn nhân lực chất lượng, hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực bảo tồn các các di tích
- Thứ tư, truyền thống giáo dục về di sản văn hóa tốt để tăng cường nhận thức, ý thức và hành vi ứng xử của cộng đồng và từng người dân
Trang 3527
- Thứ năm, đảm bảo đầu tư ngân sách nhà nước và huy động nguồn lực
từ xã hội cho hoạt động bảo tồn các di tích lịch sử - văn hóa
- Cuối cùng là sự kết hợp chặt chẽ các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị của các di tích với hoạt động kinh tế, nhất là phát triển du lịch
Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã hệ thống hóa và khái quát những quan niệm cơ bản về di sản văn hóa, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; làm rõ khái niệm về di tích Đồng thời luận văn cũng đi sâu phân tích khái niệm quản lý và trình bày quan niệm quản lý gắn với phát triển kinh tế, văn hóa- xã hội Trên cơ sở phân tích mối quan hệ biện chứng giữa di tích lịch sử với phát triển của ngành du lịch bền vững, luận văn đã khẳng định rằng, muốn bảo tồn, tôn tạo, giữ gìn các giá trị củ di tích lịch sử thì phải dựa vào sự đầu tư về cơ chế, chính sách và ngược lại muốn phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội thì phải dựa vào văn hóa, nuôi dưỡng văn hóa Văn hóa nói chung, di tích lịch sử nói riêng chính là nguồn lực, là động lực để phát triển du lịch và ngược lại, kinh tế phát triển, đặc biệt
là kinh tế du lịch tạo điều kiện để bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích lịch sử (nói riêng) và văn hóa (nói chung) Việc làm rõ vai trò của di tích lịch sử trong sự phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở để đưa ra những chính sách
và giải pháp để bảo tồn, tôn tạo và khai thác di tích lịch sử trong giai đoạn phát triển mới của đất nước nói chung và của tỉnh Đắk Nông nói riêng
Chương này cũng đề cập đến việc nghiên cứu kinh nghiệm của các tỉnh như Kon Tum, Lâm Đồng là những tỉnh có kinh nghiệm xây dựng chính sách, giải pháp để bảo tồn, tôn tạo và khai thác di tích lịch sử nhằm vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm hay trong công tác quản lý, xây dựng và ban hành một số chính sách giải pháp nhằm bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu
Trang 3628 quả khai thác di tích thông qua hoạt động du lịch với một quan điểm nhất quán
là phát triển bền vững
Trang 3729
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG THỜI GIAN QUA
2.1 Tổng quan về địa lý, lịch sử và văn hoá Đắk Nông
2.1.1 Địa danh và tiến trình lịch sử
Vào thế kỷ XIX, vùng Đắk Nông là nơi xa xôi, hẻo lánh, dân cư thưa thớt, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, sống theo cộng đồng, thị tộc, bộ lạc, trải trên một địa bàn rộng lớn Ngay từ lúc này, Đắk Nông đã được xác định là vùng đất giầu tiềm năng để phát triển kinh tế và có vị trí chiến lược về quân sự đối với khu vực Vì vậy, các giáo sĩ phương Tây đã tổ chức khảo sát, vẽ bản đồ thổ nhưỡng và dân cư địa phương nhằm phục vụ cho việc truyền giáo, chinh phục và khai thác của thực dân Pháp Sauk hi xâm lược Việt Nam, Pháp nhanh chóng đưa quân đến Vùng Tây Nguyên nói chung và Đắk Nông nói riêng, thiết lập bộ máy cai trị của chính quyền thực dân pháp Pháp thành lập một số đồn điền ở vùng này để nghiên cứu và kiểm soát dân chúng, tập trung ở huyện Đắk Mil, Đắk Song ngày nay
Năm 1959, Chính quyền Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh thành lập tỉnh Quảng Đức, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, tháng 5 năm 1975 thi hành chủ trương của Trung ương, chúng ta vẫn lấy tên
là tỉnh Quảng Đức
Đến tháng 11 năm 1975 tỉnh Quảng Đức sáp nhập vào tỉnh Đắk Lắk
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2004, tỉnh Đắk Nông được thành lập theo Nghị quyết số 22/2003 QH11 ngày 26-11-2003 của Quốc hội trên cơ sở chia tách từ tỉnh Đắk Lắk Khi thành lập tỉnh Đắk Nông có diện tích tự nhiên là 6.514,32km2, dân số là 392.070 người với 32 dân tộc anh em sinh sống
Trang 3830
Cho đến nay toàn tỉnh có 8 huyện và một thị xã, với dân số là 636.000 người, thu nhập bình quân đầu người 35 triệu đồng/năm, bào dân tộc thiểu số chiếm 47%
2.1.2 Vị trí địa lý
Tỉnh Đắk Nông nằm ở phía nam Tây Nam của Tây Nguyên, phía bắc giáp tỉnh Đắk Lắk, phía nam giáp tỉnh Bình Phước, phía đông và đông nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía tây giáp Campuchia
Cao nguyên Mnông theo thư tịch của người Pháp thường được gọi là cao nguyên trung tâm nam Đông Dương, gọi tắc là cao nguyên Trung Tâm (Cplatteau Central) Theo cách gọi như vậy là trung tâm nằm ngay, “ngã ba ranh giới” của ba xứ Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên
Địa thế cao nguyên Mnông, nhìn chung như một mái nhà Các nhà địa
lý học gọi đây là “mái nhà của cực nam Đông Dương”, đường nóc là một cao nguyên dài và dẹp, rộng tương đương gần 4000km2, có độ cao trung bình 800m Từ Cao nguyên này đổ xuống đường nóc chủ yếu sườn dốc, với mạng lưới sông ngòi dày đặc
Đắk Nông là tỉnh có vị trí quan trọng cả về kinh tế, chính trị và an ninh – quốc phòng Là cửa ngõ phía Nam của Tây Nguyên Đăk Nông có hệ thống giao thông đường bộ quan trọng, trong thời kỳ chiến tranh cũng như hiện nay, trên địa bàn tỉnh có quốc lộ 14 chạy qua, con đường lối liền tỉnh Đắk Nông đi thành phố Hồ Chí Minh, là huyết mạch xuyên xuống vùng đồng bằng châu thổ tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa, Ngoài ra, tỉnh còn có quốc lộ 28 nối liền Đắk Nông với huyện Di Linh của tỉnh Lâm Đồng, một tỉnh có điều kiện thuận lợi về phát triển du lịch dựa vào di tích lịch
sử và danh thắng, là một tỉnh có trên 130 km đường bộ chạy dọc biên giới nối
Trang 39hệ thống di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Theo thống kê, hiện nay Đăk Nông
có 6 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
2.2.1.1 Di tích điểm lưu niệm N’Trang Gưh
N‘Trang Gưh, tên thật là Y Gưh H‘Đớk, là người dân tộc Ê đê, sinh khoảng năm 1845, tại buôn Choáh Kplang, một buôn của nhóm Êđê Bih khu vực bờ sông Krông Nô, tại đây, ông đã kiên cường cùng đồng bào đứng lên kháng chiến trong suốt 14 năm ròng (1900-1914), là một trong những cuộc kháng chiến lớn nhất ở Tây Nguyên thời bấy giờ
Trang 4032
Di tích lịch sử Địa điểm lưu niệm N‘Trang Gưh thuộc xã Buôn Choáh (huyện Krông Nô) đã được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 2366/QĐ-BVHTTDL, ngày 02/8/2011
Sau khi N‘Trang Gưh mất, thi thể của ông được nhân dân đưa về chôn cất tại quê hương, nơi ông sinh ra là buôn Choáh (nay thuộc thôn 1, xã buôn Choáh (Krông Nô)
Để ghi dấu những chiến công lẫy lừng của người tù trưởng buôn làng người Ê đê N‘Trang Gưh, người anh hùng của các dân tộc Tây nguyên trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, Di tích lịch sử Địa điểm lưu niệm N‘Trang Gưh thuộc xã Buôn Choáh (huyện Krông Nô) đã được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 2366/QĐ-BVHTTDL, ngày 02/8/2011
2.2.1.2 Di tích lịch sử các địa điểm về phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của đồng bào M Nông do N Trang Lơng lãnh đạo
Khu di tích lịch sử các địa điểm về phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của đồng bào M‘Nông do N‘Trang Lơng lãnh đạo (gồm địa điểm Đồn Buméra và Đồn Bu Nor) nằm trên địa bàn xã Đắk R‘tih và xã Đắk Buk
So, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 04 /2007/QĐ-BVHTTDL, ngày 27/8/2007
N‘Trang Lơng tên thật là Lơng, sinh khoảng năm 1870 tại Buôn
Bupar, một làng M‘Nông Biệt dưới chân núi Nam Drôn thuộc khu vực suối Đắk Nha, phía bắc cao nguyên M‘nông Thuở nhỏ, N‘Trang Lơng (lúc này ông sống ở phía đông Srê Khơtum) được miêu tả là cậu bé nhanh nhẹn, tháo