Đề tài phân tích những tiền đề cơ bản cho sự hình thành quan niệm Kant về những vấn đề liên quan đến đạo đức học, phân tích một cách có hệ thống, làm rõ quan niệm của Kant về các phạm trù như phạm trù tự do, mệnh lệnh tuyệt đối, hành vi tự do… Đồng thời, đề tài đưa ra nhận xét và đánh giá về những đóng góp và hạn chế của quan niệm Kant về đạo đức học dưới góc nhìn của triết học MácLênin.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC -
Ngô Đức Thắng
TÊN ĐỀ TÀI ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA KANT QUA TÁC PHẨM “PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THỰC HÀNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH-2016-X
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC -
Ngô Đức Thắng
ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA KANT QUA TÁC PHẨM “PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THỰC HÀNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp “Đạo đức
học của Kant trong tác phẩm Phê phán lý tinh thực hành là trung thực và không có
bất kỳ sự sao chép hay sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tất cả những sự giúp đỡ cho việc xây dựng cơ sở lý luận cho bài luận đều được trích dẫn đầy đủ và ghi rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố
Hà Nội, ngày 29 tháng 05 năm 2020
Ngô Đức Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đề có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự
cố gắng nỗ lực của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của các quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt quá trình học tập
và thực hiện luận văn này
Xin chân thày bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Nguyễn Quang Hưng – giảng viên hướng dẫn – đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong khoa Triết học, trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài khóa luận
Hà Nội, ngày 29 tháng 05 năm 2020
Ngô Đức Thắng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu 2
3.Phạm vi nghiên cứu 5
4.Ý nghĩa của việc nghiên cứu 5
5.Bố cục 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH ĐẠO ĐỨC HỌC KANT 6
1.1 Bối cảnh lịch sử 6
1.2 Tổng quan về tư tưởng đạo đức trước Kant 10
CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC KANT TRONG TÁC PHẨM PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THỰC HÀNH 36
2.1.Quan niệm của Kant về hành vi đạo đức 36
2.2 Mệnh lệnh tuyệt đối – nguyên tắc cơ bản của đạo đức học Kant 46
2.3 “Tự do” – phạm trù trung tâm trong đạo đức học Kant 49
2.4 Ý nghĩa đạo đức học Kant 57
KẾT LUẬN 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 6MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Đã là con người, dù đang tồn tại như một cá thể độc lập hay trong một quần, một tổ chức xã hội thì cũng đều có nhu cầu hạnh phúc, về cả vật chất và tinh thần Đó là nhu cầu chánh đáng lý tưởng mà không một ai có quyền phản đối hay chối bỏ nó Nhưng bản chất thật sự của hạnh phúc là gì? Và để đạt được nhu cầu ấy con người phải làm gì? Hay nói khác hơn là dựa trên những phương pháp
hành động nào thì con người mới đạt đến mục tiêu đó?
Lịch sử loài người đã chứng kiến rất nhiều sự kiện trải nghiệm lộ trình đi tìm hạnh phúc vĩnh cửu Nhưng con người vẫn hoài khổ đau, vẫn chìm ngập trong nước mắt Chính vì muốn đạt mục đích này mà một số cá nhân và tổ chức đã tìm đủ mọi thủ đoạn nhằm gieo rắc tang thương cho người khác Kết quả, họ vẫn không đạt được mục đích Trái lại, giấc hoè muôn màu đã biến thành nỗi ác mộng muôn đời Điểm sai lầm ở đây là người ta đã ngộ nhận rằng bản thân mình được hạnh phúc khi và chỉ khi những kẻ khác không còn hạnh phúc Vì thế, họ đã làm cho bao quốc gia, bao dân tộc, bao cá nhân đã vĩnh biệt đời sống dưới mưa bom bão đạn, dưới những luận điệu đấu tranh vì ý thức hệ mà thực chất là hai chữ danh-lợi Họ dùng tấm vải nhung đạo đức bọc lấy mục đích bẩn thỉu của cá nhân mình để làm mù loà kẻ khác Đó chính là những kẻ đã đánh đồng giữa hạnh phúc và vật chất, xem vật chất chính là chìa khoá, là điều kiện lý tưởng đưa đến hạnh phúc,
họ đã hạ thấp phẩm tính con người ngang đồng với động vật, nhưng họ đã thất bại trong quằn quại đớn đau
Trái lại, một số cá nhân nhìn thấy hình ảnh này nên đã tìm đến hạnh phúc thông qua cuộc sống ẩn mình Họ bỏ quên tiếng kêu xé lòng của đồng loại để đi tìm hạnh phúc nơi sơn lâm cùng cốc Đấy phải chăng là hạnh phúc? Đấy phải chăng
Trang 7là đạo đức? Xét cho cùng, đó có thể là hạnh phúc nhưng chỉ trong phạm trù quan niệm cá nhân Còn về phương diện đạo đức xã hội thì đó là đậm chất ích kỉ, cực đoan và vô đạo đức
Nền kinh tế phát triển hơn theo thời gian nhưng đi cùng với nó nền đạo đức lại ngày một suy đồi.Chính vì vậy,trong lúc này đây,việc nghiên cứu đạo đức học
và nhất là đạo đức học của Kant-một trong những nhà triết học vĩ đại nhất lịch sử lại càng cấp thiết
2.Tình hình nghiên cứu
Kant là người đầu tiên đặt nền móng và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển chung của dòng chảy triết học nhân loại đó là triết học cổ điển Đức - một trong những tiền đề lý luận ảnh hưởng đến triết học Mác Ông là nhà đạo đức học
tư sản bởi những quan điểm về đạo đức của ông đã phản ánh những giá trị nhân bản nhất của con người Đã 200 năm kể từ ngày Kant mất, người ta vẫn có thể khai thác
từ hệ thống triết học Kant nhiều tư tưởng quý giá về các lĩnh vực khác nhau như nhận thức, đạo đức, pháp quyền, lịch sử Tuy nhiên, vì những lý do khách quan và chủ quan mà trong một thời gian dài ở Việt Nam, những tư tưởng triết học của Kant nhất là đạo đức học chưa được nghiên cứu đầy đủ và nó vẫn là đề tài sâu sắc, hấp dẫn với một loạt các nhà nghiên cứu tên tuổi lớn.Ở Việt Nam, việc giảng dạy triết học của Kant đã được đưa vào chương trình từ bậc đại học và sau đại học, do
đó, có khá nhiều nhà nghiên cứu viết về triết học của ông Nghiên cứu di sản triết học đồ sộ mà ông để lại cho chúng ta, đòi hỏi một sự kiện kiên nhẫn và thời gian dài lâu Vì triết học của Kant được trình bày và diễn đạt bằng một ngôn ngữ đặc trưng, nghĩa là rất khó hiểu ngay cả với những người chuyên sâu vào nghiên cứu triết học Thêm một khó khăn nữa cho công việc nghiên cứu triết học Kant nói chung và nhận thức luận Kant nói riêng là ở Việt Nam còn ít các tác phẩm triết học của ông được dịch ra tiếng Việt và các công trình lớn về Kant không nhiều
Trang 8Về phương diện lịch sử, người đề cập đến triết học Kant sớm nhất là giáo sư Trần Đức Thảo trong tác phẩm: “Lịch sử tư tưởng trước Mác” Tuy nhiên sự trình bày còn khá sơ lược và chưa được sâu sắc, song, đó là một quan điểm đánh giá khá đúng đắn, khách quan đối với những tư tưởng triết học của Kant Năm 1962, nhà xuất bản Sự Thật (Hà Nội) đã cho dịch cuốn “Giáo trình lịch sử triết học – Giai đoạn triết học cổ điển Đức” do Viện triết học thuộc Viện Hàn Lâm khoa học Liên
Xô biên soạn Bản dịch đã đem đến cho người đọc những nét khái quát về triết học
cổ điển Đức, trong đó triết học Kant chiếm một vị trí quan trọng Trần Thái Đỉnh, trong cuốn “Triết học Kant” đã nêu một cách khá toàn diện các vấn đề trong triết học Kant, đây là một tác phẩm được nhiều học giả đánh giá cao về sự chi tiết cũng như cách đánh giá tiếp cận triết học Kant Tác phẩm đã trình bày toàn bộ hệ thống triết học Kant từ triết học tự nhiên đến triết học đạo đức, giải thích khá rõ ràng các thuật ngữ, các tiền đề rồi từ đó đưa ra những nhận xét, đúc kết khá xác đáng cho triết học Kant Năm 1996 nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội đã xuất bản cuốn “Triết học Immanuel Kant” của Nguyễn Văn Huyên Trong tác phẩm này tác giả đã trình bày những nét tổng quát về triết học nhận thức và triết học thực tiễn của Kant Năm 1997, Viện triết học và nhà xuất bản Khoa học xã hội đã cho xuất bản cuốn sách “I.Kant – người sáng lập triết học cổ điển Đức”, công trình ý nghĩa này đã tập hợp 29 bài viết của 14 tác giả nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau của triết học Kant, đặc biệt là về đạo đức học được trình bày khá chi tiết
Hội thảo khoa học “Triết học cổ điển Đức: nhận thức luận và đạo đức học” (do trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội tổ chức tháng 12 năm 2004) là một tập hợp rất nhiều các bài viết, những bài nghiên cứu của các học giả về triết học Kant, trong đó đạo đức học là mảng nghiên cứu chiếm đa số các bài tham luận trong hội thảo này Nổi bật trong hội thảo khoa học này là hàng loạt các bài tham luận về đạo đức học Kant trong đó phải kể đến các bài viết sau đây:Bài tham luận của Nguyễn Trọng Chuẩn “Đạo đức học Kant và
Trang 9ý nghĩa thời đại của nó” với những đánh giá xác đáng về đạo đức học Kant và tác giả bài viết cho rằng triết học Kant thấm đượm tính nhân văn và tính nhân văn đó được biểu hiện sâu sắc nhất trong học thuyết của ông về đạo đức Bài tham luận của Trần Văn Đoàn “Trả lời như là bổn phận – Suy tư và trách nhiệm” đã có những đánh giá hết sức khách quan và sâu sắc khi nhìn nhận triết học đạo đức của Kant về các phạm trù, quan niệm về bổn phận và trách nhiệm với tư cách là một nghĩa vụ đạo đức Một số bài tham luận của B.Baudot- Hoa Kỳ, PGS.TS Nguyễn Quang Hưng, TS Vũ Thị Thu Lan cũng nhấn mạnh tính thời sự và giá trị nhân đạo trong
tư tưởng của Kant hướng tới một nền hòa bình vĩnh cữu, phù hợp với quan điểm về mối quan hệ giữa bản chất con người với tự nhiên và nguồn tri thức tiên nghiệm Nguyễn Hữu Vui, Nguyễn Quang Hưng với tác phẩm Lịch sử triết học (1998), tập bài giảng Triết học Đức từ I.Kant tới G.W.F.Hegel (2010), Đỗ Minh Hợp với tác phẩm Lịch sử triết học đại cương (2010), Triết học pháp quyền của Hêghen (2002)… đã nghiên cứu sâu về đạo đức học Kant
Ngoài ra còn kể đến hàng loạt các nghiên cứu của Nguyễn Huy Hoàng trong tác phẩm Chân dung triết gia Đức (2000) Lê Công Sự với tác phẩm Triết học cổ điển Đức (2006) của Nxb Thế giới Hàng loạt các bài viết của các nhà triết học nghiên cứu trong kỷ yếu hội thảo quốc tế về triết học cổ điển Đức đã nhìn nhận sâu sắc về đạo đức học của Kant Những năm đầu thế kỷ XXI, nhiều tác phẩm về đề tài lịch sử triết học của các tác giả phương Tây cũng gây được sự chú ý nhất định khi bàn về triết học đặc biệt trong đó có vấn đề đạo đức Chúng ta còn hàng loạt tác phẩm như Nhập môn triết học phương Tây (2004) của Samuel Enoch Stumf và Donald C.Abel, tác phẩm Lịch sử triết học và các luận đề (2002) của Samuel Enoch Stumf , tác phẩm Hành trình cùng triết học (2002) của Ted Honderich, tác phẩm Đạo của vật lý (1999) của Fritjof Capra
Nhìn chung các bài viết trên đã có những nghiên cứu, đánh giá khá toàn diện
về triết học cổ điển Đức nói chung và đạo đức học Kant nói riêng, đạo đức học của
Trang 10ông đã khơi dậy nhiều vấn đề đạo đức của đời sống cộng đồng, trong đó có Việt Nam chúng ta Tiếp thu những giá trị sâu sắc của đạo đức học Kant luận văn muốn góp thêm một vài những khía cạnh nhỏ bé trong hiểu biết về đạo đức học Kant.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài được lựa chọn nhằm làm rõ những vấn
đề đạo đức học của Immanuel Kant trong tác phẩm Phê phán lý tính thực hành Đó
là những nội dung khái niệm về: hành vi đạo đức, mệnh lệnh tuyệt đối, phạm trù tự
do Với mục đích như vậy, luận văn hướng tới việc giải quyết nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là: phân tích những tiền đề cơ bản cho sự hình thành quan niệm Kant về những vấn đề liên quan đến đạo đức học trong tác phẩm Phê phán lý tính thực hành
Hai là: phân tích một cách có hệ thống, làm rõ quan niệm của Kant về các phạm trù như phạm trù tự do, mệnh lệnh tuyệt đối, hành vi tự do…
Ba là: đưa ra nhận xét và đánh giá về những đóng góp và hạn chế của quan niệm Kant về đạo đức học dưới góc nhìn của triết học Mác-Lênin
3.Phạm vi nghiên cứu
Đây là một đề tài rộng tuy nhiên, vì điều kiện thời gian không cho phép khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu đạo đức học của Kant thông qua tác phẩm “Phê phán
lý tính thực hành”
4.Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Về mặt lý luận,khóa luận góp phần vào việc tìm hiểu và làm sáng tỏ những quan niệm về đạo đức của Kant.Về mặt thực tiễn,khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc học tập nghiên cứu của sinh viên
5.Bố cục
Khóa luận chia làm 02 chương và 06 tiết
Chương 1: Những điều kiện và tiền đề hình thành đạo đức học I.Kant trong tác phẩm Phê phán lý tính thực hành
Trang 11Chương 2: Những nội dung cơ bản của đạo đức học Kant trong tác phẩm Phê phán lý tính thực hành
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH ĐẠO ĐỨC HỌC KANT
1.1 Bối cảnh lịch sử
Kant sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724 trong một gia đình trung lưu gốc Scotland tại Konigsberg là người con thứ tư của Johann Georg Kant (1683–1746), người chuyên nghề chế biến đai da, và bà Anna Regina (1697–1737), thuộc họ Reuter Ông có tám anh chị em, nhưng chỉ bốn người đạt tuổi thành niên Gia đình ông rất sùng đạo, với bà mẹ có một cái nhìn phóng khoáng về giáo dục Thời thơ
ấu, cậu bé Kant chiu ảnh hưởng từ mẹ của mình vì bà có một đức tin mãnh liệt và lối sống ngăn nắp nề nếp Với truyền thống gia đình của mình nên thoạt đầu bố mẹ muốn ông trở thành mục sư nên gửi Kant vào trường trung học Latinh Ông nhập học tại trường trung học Friedrichskollegium năm 1732, được đào tạo tại đây và năm 1740 đã bắt đầu chương trình cao học tại Albertina, đại học tại Konigsberg Mặc dù đăng kí bộ môn Thần học nhưng Kant lại quan tâm đến Khoa học tự nhiên Giáo sư bộ môn Luận lí học và Siêu hình học Martin Knutzen giúp ông làm quen với học thuyết của Leibniz và Newton Ngay từ những năm học trong trường ông
đã rất quan tâm đến các môn học như toán học, vật lý học, cơ học và vũ trụ học Tại đây, Kant có nhiều dịp làm quen với cơ học, thiên văn học, toán học của Newton, Decac, và tư tưởng chính trị của các nhà khai sáng Pháp Ông nghiên cứu kỹ các hệ thống triết học của các nhà triết học đi trước và đặc biệt quan tâm đến các nhà triết học Anh như Locke và Hium Ông tìm hiểu hệ thống triết học Leibniz, và các tác phẩm của Voltaire Vào mùa thu năm 1740 (lúc 16 tuổi) từ dự định học văn học cổ điển Kant chuyển sang học triết học tại trường đại học Konigsberg Năm 1745,
Trang 12Kant tốt nghiệp đại học loại xuất sắc với luận văn Những suy nghĩ về sự đánh giá đúng đắn của lực sống, trong đó chàng cử nhân 21 tuổi đã trình bày nguyên tắc sống của mình: “Đối với chúng ta, điều đáng quý nhất không phải là đi theo lối mòn đã có, mà phải biết đi theo con đường mà loài người cần đi” [dẫn theo 32, 16] Suốt đời Kant đã sống theo nguyên tắc đó và ông đã khá thành công trong sự nghiệp Sau khi tốt nghiệp đại học, để nuôi sống bản thân mình, giúp đỡ gia đình cũng như chuẩn bị cơ sở vật chất cho việc nghiên cứu khoa học trong tương lai, Kant đã làm gia sư cho các gia đình quý tộc gần 10 năm Đây cũng là khoảng thời gian rất quý giá để chàng thanh niên tích lũy tri thức cho sự nghiệp sau này
Năm 1754, Kant trở về Konigsberg và tiếp tục chương trình đại học của mình Chỉ một năm sau đó, 1755, ông công bố tác phẩm quan trọng đầu tiên của mình với nhan đề Thông sử tự nhiên và Thiên thể luận; cũng trong năm đó, ông được bổ nhiệm phó giáo sư tại Konigsberg và bắt đầu dạy nhiều bộ môn Ông dạy các môn như Luận lí, Siêu hình, Nhân loại, Triết học đạo đức, Thần học tự nhiên, Toán, Vật lí, Lực, Địa lí, Sư phạm, và Luật tự nhiên Năm 1770, ông được bổ nhiệm làm giáo sư logic và siêu hình học khi đã 46 tuổi ở trường Đại học Tổng Hợp Konigsberg Ở đây, với bầu nhiệt huyết và sự cần mẫn ông đã giảng dạy nhiều môn khoa học khác nhau và được sinh viên hết sức yêu quý Ông đã để lại cho nhân loại một hệ thống triết học độc đáo và sâu sắc nhất, chính vì thế ông được giới triết học thừa nhận và đánh giá cao Đầu tiên là triết học gắn với khoa học tự nhiên, rồi sau đó ông ngày càng quan tâm đến vấn đề con người Kant biểu thị thái độ kinh ngạc trước bầu trời đầy sao và quyền lực của quy tắc đạo đức đối với con người
Năm 1797, sau cái chết của vua Friedrich Wilhelm II sức khỏe của Kant đã suy giảm , vị giáo sư già yếu cáo từ giảng đường đại học về nghỉ hưu, sống những năm cuối đời ung dung tự tại Trong sự nghiệp khoa học, Kant là người gặt hái
Trang 13được nhiều thành công: năm 1786 ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia Phổ tại Berlin; năm 1798 cả Viện Hàn lâm khoa học Italia và Paris đều bầu ông làm viện sĩ của viện mình Kant là người có cách sống giản dị và hài hòa, thích bầu bạn Những bài giảng của ông đầy uyên bác và lôi cuốn sinh viên Mặc dù không ra khỏi thành phố quê hương nhưng ông vẫn rât nổi tiếng Kant trút hơi thở cuối cùng ngày 12 tháng 2 năm 1804 với nụ cười trên môi và nhận xét “thế
là tốt rồi”, ông mất khi đang hoàn thành một tác phẩm Nghe tin ông mất mọi người thuộc các tầng lớp khác nhau đã vội vã đến căn nhà riêng của ông để được nhìn thấy con người vĩ đại ấy lần cuối Cả thành phố và cả trường đại học tổng hợp đã tổ chức lễ an táng cho ông như một ông hoàng mà thành phố Konigsberg lúc ấy chưa từng được chứng kiến Trong lời giới thiệu tác phẩm “Phê phán lý tính thực hành” Bùi Văn Nam Sơn đã nhận xét: “Suốt đến cuối đời, Kant là một huyền thoại sống, chiếm lĩnh mọi giảng đường đại học châu Âu và ảnh hưởng của ông kéo dài sâu đậm mãi đến tận ngày nay…đọc Kant là một sự vất vả cần thiết, hiểu biết ít nhiều
về Kant là hành trang bắt buộc phải mang theo trong mọi nẻo đường suy tưởng” [32,16]
Lịch sử các nước châu Âu thế kỷ XVII – XVIII đã bước sang một giai đoạn mới, đặc biệt vào nửa cuối thế kỷ XVIII, Tây Âu đã đạt được những thành tựu kinh
tế - xã hội mới khẳng định phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đưa giai cấp tư sản lên địa vị thống trị Sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phá tan dần các quan hệ kinh tế phong kiến làm xuất hiện sản xuất mới với các nhu cầu xã hội và cá nhân mới Nước Đức trong khoảng thời gian này về trình độ kinh tế và phương diện chính trị là một nước nông nghiệp phân tán Nếu đem so sánh với các nước như Hà Lan, Anh, Pháp và những nước đã có cách mạng tư sản và quan hệ tư bản phát triển thì nước Đức thời bấy giờ chỉ là một nước nông nghiệp rất lạc hậu và bắt đầu phát triển tư bản chủ nghĩa mà thôi
Trang 14Trong hoàn cảnh lịch sử có nhiều biến động như thế, nếu nước Anh nhờ cách mạng tư sản và bước ngoặt công nghiệp mà trở thành một quốc gia tư bản lớn mạnh nhất và nước Pháp nhờ cách mạng tư sản Pháp năm 1789 mà tiến nhanh trên con đường tư bản chủ nghĩa Cả Châu Âu đang phát triển mạnh mẽ thì nước Đức lại ngược lại – là một nước phong kiến lạc hậu với chế độ quân chủ chuyên chế phân quyền, bị phân hóa cả về chính trị và kinh tế Triết học cổ điển Đức nói chung, cũng như triết học Kant nói riêng ra đời trong hoàn cảnh phức tạp như thế Xã hội Đức cuối thế kỷ XVIII vẫn còn là một nước nghèo nàn lạc hậu, phát triển trì trệ so với các nước Tây Âu xung quanh với sự thống trị của tập đoàn phong kiến chuyên quyền và độc đoán
Về kinh tế: Phương thức sản xuất phong kiến chiếm vai trò chủ đạo, ruộng đất tập trung trong tay địa chủ, những tàn dư của chế độ nông nô, phường hội, chúa đất và sự phụ thuộc lẫn nhau của nhiều cát cứ nhỏ bé với các thể chế chính trị lạc hậu đã kìm hãm phát triển kinh tế Đời sống nhân dân Đức nghèo nàn và lạc hậu,
đó là nền kinh tế manh mún, phân tán
Về chính trị: Đứng đầu triều đình Phổ là vua Friedrich Wilhem II bảo thủ và độc đoán để tăng cường và duy trì quyền lực và chế độ quân chủ phong kiến nên đã kìm hãm đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa Bên cạnh đó thì giai cấp tư sản Đức còn rất nhỏ bé và yếu ớt chưa đủ tiềm lực kinh tế và chính trị để giành chính quyền, khẳng định quyền của giai cấp tư sản
Về tư tưởng: Dưới chế độ quân chủ chuyên chế thì tư tưởng thần học chiếm địa vị độc tôn là điều dễ hiểu Khoa học không có chỗ để phát triển, nếu phát triển thì bị sa lầy trong tư tưởng thần học Chủ nghĩa duy vật mới manh nha phát triển nhờ vào thành tựu của vật lý học, sinh học và y học thì bị thần quyền kìm hãm Thần học được giảng dạy trong các trường đại học tổng hợp, còn các khoa học khác
và triết học chỉ là công cụ biện hộ và bảo vệ cho thần học Triết học thời kỳ này
Trang 15thỏa hiệp với tôn giáo, thậm chí là nhượng bộ tôn giáo Có thể khái quát bức tranh toàn cảnh xã hội Đức lúc này u ám và đen tối dưới cái vỏ bọc tôn giáo và thần quyền Ăng ghen đánh giá thời kỳ này: “mọi thứ đều nát bét, lung lay xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn một tia hi vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi” [35, 754]
1.2 Tổng quan về tư tưởng đạo đức trước Kant
Tuy lạc hậu về kinh tế và chính trị, nước Đức thời kỳ này đã đạt được sự phát triển chưa từng có về mặt triết học, văn hóa và nghệ thuật Đây là quê hương của nhiều nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Goethe, Schiller v.v họ một mặt tiếp thu những quan điểm của Nicôlai Kuzan, Leibniz, mặt khác được sự cổ vũ
to lớn của tư tưởng khai sáng và văn hóa Pháp thế kỷ XVIII Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 đã thức tỉnh giai cấp tư sản Đức đấu tranh vì một trật tự xã hội mới
ở Đức Thể hiện nguyện vọng đó của giai cấp tư sản, các tác phẩm của Goethe, Schiller, Kant, Phíchtơ đều toát lên một tinh thần phẫn nộ chống lại sự trì trệ và bất công của xã hội Đức thời đó
Để giải quyết những vấn đề bất công trong xã hội Kant bàn tới đạo đức học Chưa có những nghiên cứu nào cho thấy Kant bị ảnh hưởng bởi những học thuyết
về đạo đức trước đó, nhưng để nghiên cứu đạo đức học của Kant, chúng ta cũng cần tìm hiểu về những học thuyết đạo đức trước ông
Bắt đầu nền lịch sử Triết học từ thời Hi Lạp cổ đại Triết học Hy lạp cổ đại
đã đưa ra những tư tưởng biện chứng sâu sắc trong toàn bộ triết học cổ đại Đây là giai đoạn triết học tự nhiên thấm đượm tinh thần của phép biện chứng tự phát, khi
mà thế giới và giới tự nhiên được xem như một chỉnh thể dưới cái nhìn và góc độ quan sát trực tiếp của các nhà triết học
Trang 16Đạo đức thời kỳ tiền Socrates là vấn đề tìm sự quân bình giữa hai bản năng
“tinh thần” (spirit) và “dục vọng” (passion) của con người Cũng giống như một kỵ
mã phải điều khiển hai con ngựa chiến, mỗi con muốn kéo cỗ xe ngựa đi theo hướng riêng của nó, thì con người tìm hạnh phúc qua cách điều khiển cả hai đi theo hướng mình muốn Tinh thần cao quá độ có thể trở thành hiếu thắng làm mất trí khôn, nhưng dục vọng quá nhiều cũng sẽ làm tê liệt khả năng phán đoán của con người
Phái khắc kỷ: Muốn tìm hạnh phúc chúng ta cần kiểm soát những yếu tố nằm trong khả năng của mình (thái độ, phán đoán, niềm tin); và tránh tìm cách thay đổi những điều ngoài tầm tay của chúng ta (đau khổ, cái chết) Hạnh phúc con người chính là sự “khôn ngoan”, là biết cách sống cho phù hợp với những qui luật mà lý trí khám phá ra về vũ trụ và thế giới bên ngoài
Zeno xứ Citium, giống như Epicurus, là một nhà luân lý học Ông cũng giành cuối đời của mình ở Athen và nghiên cứu bên cạnh những triết gia thuộc phái Cynic như Diogenes thành Sinope
Zeno là cha đẻ của chủ nghĩa khắc kỷ, một trường phái triết học khá nổi tiếng vào cuối thời kỳ Hy Lạp hóa và thời Đế chế La Mã
Trong khi Epicurus tin rằng hạnh phúc, thông qua những khoái lạc nhỏ bé, là mục tiêu của cuộc sống thì Zeno lại đi đến một kết luận trái ngược Zeno và những triết gia thuộc phái khắc kỷ khác tin rằng vũ trụ được tạo nên bởi một đấng toàn năng, người đưa ra luật lệ một cách công bằng và có lý trí Vì vậy vũ trụ là nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta Điều duy nhất chúng ta có thể làm là kiểm soát
tư tưởng và mong muốn của mình
Đây đúng là điểm mà chủ nghĩa khắc kỷ tập trung nghiên cứu Chúng ta không có năng lực kiểm soát vũ trụ hay thậm chí là kiểm soát những gì xảy ra với
Trang 17chúng ta Thay vào đó chúng ta nên tập trung vào cách chúng ta phản ứng với vũ trụ Nỗi buồn hay sự thống khổ là để dành cho chúng ta Và điều đó thường đến vì chúng ta có những khát khao không thực tế và thất vọng là không thể tránh khỏi
Những người theo chủ nghĩa khắc kỷ dạy rằng chúng ta không nên truy cầu những mong muốn thường nhật của mình, mà thay vào đó nên loại bỏ chúng ngay
từ giây phút đầu tiên Và họ coi điều này là cảnh giới lôgic cao nhất Những người theo chủ nghĩa khắc kỷ tin rằng lý trí nhất là phủ nhận những khao khát và khoái lạc không thực tế để đổi lại sự tồn tại yên bình hòa hợp với tự nhiên
Phái ngụy biện: Chối bỏ mọi đạo đức truyền thống, con người là thước đo cho chính mình; dùng tài hùng biện để thắng trong những cuộc tranh luận và thuyết phục người khác nhìn nhận “chân lý” của mình Chân lý thuộc về kẻ thắng Tương đối và hoài nghi là hai chủ thuyết nền tảng của trường phái ngụy biện
Protagoras đại diện cho phái ngụy biện, cho rằng mọi tri thức mà một con người có thể đạt được đều giới hạn trong khả năng con người của họ Với câu nói nổi tiếng: "Con người là thước đo của mọi vật, họ coi vật gì là có thì nó có, coi việc
gì không có thì không có"
Theo Protagoras, tri thức của chúng ta bị giới hạn vào các tri giác khác nhau của chúng ta và những tri giác này ở mỗi người mỗi khác Không có một tiêu chuẩn chung nào để xác định tri giác của người này là đúng và của người kia là sai Người
ta tri giác được bao nhiêu đặc tính thì vất đó có bấy nhiêu đặc tính, không thể phát hiện được cái gì là bản chất "thực" của bất cứ cái gì Không có cách gì phân biệt được "biểu hiện bên ngoài" và "thực tại" Chẳng hạn, người ta nói cơn gió ấy lạnh thì quả thực nó là lạnh chứ không chỉ là có vẻ như vậy chỉ vì một ai đó cảm thấy nó
ấm
Trang 18Protagoras kết luận, tri thức thì tương đối tùy theo mỗi người Do đó, các phán đoán đạo đức cũng chỉ là tương đối Theo ông, có thể có những nguyên tắc phản ánh một ước muốn chung của mọi nền văn hóa muốn có một trật tự đạo đức giữa mọi người, nhưng không có qui luật tự nhiên đồng nhất cho hành vi con người
mà mọi dân tộc ở mọi nơi có thể khám phá ra Luật pháp và các qui tắc đạo đức là dựa trên qui ước nên không có đúng và sai, ngoại trừ những nhận xét của lương tri
về tính "lành mạnh" tương đối của chúng Tuy vậy, vì lợi ích của một xã hội hòa bình và trật tự, người dân phải tôn trọng và tuân thủ các phong tục, luật lệ, và các qui tắc đạo đức mà truyền thống của họ đã cẩn thận vun trồng
Socrates (470- 399 TCN) một triết gia được coi là bậc thầy về triết học truy vấn, một công dân mẫu mực của thành Athen của Hy Lạp cổ đại Trước Socrates, các triết gia Hy Lạp cổ đại chủ yếu quan tâm đến những vấn đề về vũ trụ luận, giải thích sự hình thành và phát triển của thế giới dựa trên những kiến thức khoa học tự nhiên như vật lý, toán học, sinh học, v.v Không đi theo lối mòn bản thể luận triết học của các bậc tiền bối Với luận đề nổi tiếng: “Con người, hãy tự nhận thức chính mình”, Socrates quyết định lựa chọn cho mình một con đường riêng, ông chú ý tới vấn đề con người, mà trọng tâm trong bản tính con người là đạo đức Theo Socrates, triết học không phải là hiện tượng tư biện, chỉ luận bàn những vấn đề không liên quan gì đến cuộc sống thường nhật, trái lại, nó là phương tiện dạy con người cách sống hay cần phải sống như thế nào Theo nghĩa đó, triết học trước hết phải là tri thức hay sự hiểu biết về con người, tri thức ấy nhất thiết phải là tri thức
về cái thiện Do vậy, nếu đạo đức là hành vi đối nhân xử thế đẹp thì đạo đức đó không là gì khác ngoài tri thức
Phản biện lại nhóm Ngụy Biện, Socrates chủ trương rằng tri thức phải gắng liền với khả năng nhận thức và thực hành điều thiện hảo hầu mang lại hạnh phúc cho chính mình và tha nhân Khủng hoảng trong xã hội thảnh Athens đến từ sự bại chiến với Persia đặt lại vấn đề về cách sống, đưởng lối huấn luyện và giáo dục giới
Trang 19trẻ, tương quan giữa sự thiện và niềm tin tôn giáo hay thần thánh? Khủng hoảng là thời gian thích hợp để suy tư về nền tảng đạo đức, truy vấn về cách chúng ta suy tư, phán đoán và tìm kiếm chân lý để đạt đến một cuộc sống thiện hảo Giữa hai quan điểm sự thiện là “bẩm sinh” và là kết quả của “tài tranh cãi” thì Socrates chọn con đường thứ ba Đó là con người qua đối thoại, phản tỉnh, biện chứng pháp, tiến trình tiệm tiến của nổ lực tìm chân lý chung, sẽ giúp chúng ta gia tăng ý thức về những
“giả định” chung về đức hạnh
Trong cuộc đời mình, Socrates luôn tìm cách quảng bá các quan niệm đạo đức của mình bằng cách giao tiếp với đông đảo quần chúng tại rất nhiều các ngõ ngách của Athen Hoạt động này dần dần thu hút sự quan tâm của nhiều người dân
và có sự ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của xã hội đương thời và cũng gây ra sự tức tối của những công dân thuộc đẳng cấp giàu có Và đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến cái chết bi kịch của ông
Nhiều nhà triết học Cổ đại Hy Lạp quan niệm rằng, con người là một vũ trụ thu nhỏ Socrates đã tích cực tiếp nối tư tưởng trên, bằng cách nhận thức chính bản thân con người thông qua sự giao tiếp Ông là người rất thích tranh luận với bất kỳ
ai nhằm tìm kiếm chân lý Nhiều khi, do đuối lý, những kẻ tranh luận đã nhục mạ ông, thậm chí đánh đập ông Song ông vẫn chấp nhận tất cả mà không chống lại Bởi vì, theo ông, nếu cố chấp thì chẳng khác gì, khi "con lừa húc tôi, lẽ nào tôi lại đưa nó ra toà?"
Ông coi việc nhận thức con người thông qua giao tiếp là rất quan trọng Tiến trình giao tiếp có sự tác động qua lại về mặt tinh thần giữa những người đối thoại
Vì thế, cần tổ chức quá trình nhận thức thông qua sự giao tiếp một cách khéo léo để không dẫn đến sự đổ vỡ Tranh luận như thế, không phải là cãi nhau mà mục đích của nó là để tìm ra chân lý đúng như nguyên nghĩa từ phép biện chứng ở thời Cổ
Trang 20đại Một sự đối thoại như vậy không thể tự diễn ra một cách ngẫu nhiên mà phải có
sự nỗ lực để xây dựng phương pháp nhằm bảo đảm cho sự giao tiếp diễn ra phù hợp cho mục đích của cuộc đối thoại
Trong giao tiếp - theo Socrates - nhất thiết không được giáo huấn người khác (một dạng thức kiêu ngạo được che đậy như là sự lễ độ) Vì khi cảm nhận được thái
độ kiêu ngạo của đối phương, người đối thoại sẽ co mình lại, phòng thủ khiến cho quá trình giao tiếp và nhận thức tiếp theo sẽ diễn ra rất khó khăn và có nguy cơ thất bại
Thông qua giao tiếp con người cũng tự nhận thức ra bản thân mình và người đối thoại như là cái gương đặc biệt giúp chỉnh lý những suy nghĩ của mình Quan niệm như vậy về quá trình giao tiếp - nhận thức đã tiến sát đến phương pháp đối thoại nổi tiếng, được coi như một phần quan trọng trong phép biện chứng của Socrates
Là người không đề cao vật chất Đồng thời ông cũng không coi sự bần cùng
là cơ sở của đạo đức, hơn thế ông cũng không phải là người sống khắc kỷ Coi sự kiềm chế là đức hạnh quan trọng nhất, đó chính là sự kế tục thái độ ôn hoà mà các nhà thông thái Hy Lạp trước đó từng ca ngợi
Không màng danh vọng hay của cải vật chất, khi nhìn thấy hàng hóa ở chợ, ông nói: "Có biết bao thứ mà có thể sống thiếu chúng" Vì không quan tâm đến những kẻ ngạo mạn, ngu dốt nhưng hay chế nhạo người khác nên ông được người đương thời coi là kẻ thông thái hơn người khác
Theo ông, việc làm chủ sự thông thái tự thân nó cho phép dễ dàng làm chủ
sự thông thái trong các lĩnh vực khác Đó cũng là cách tiếp cận của ông với các khái niệm chung như: cái thiện và cái ác, cái xấu và cái đẹp v.v Con người là một
Trang 21trong những vấn đề trung tâm của các triết thuyết triết học, trong đó có học thuyết đạo đức của Socrates Con người là một thực thể sinh vật - xã hội thường xuyên tìm kiếm, kiểm tra và thử nghiệm chính bản thân mình Theo Socrates: "Thiếu sự thể nghiệm thì cuộc sống không còn là cuộc sống dành cho con người"
Trong học thuyết đạo đức, Socrates nhấn mạnh sự có mặt của tâm hồn như là dấu hiệu quan trọng nhất của bản tính con người Theo ông, tâm hồn như là năng lực tự ý thức, tự đánh thức, tự khẳng định mình, do nó tồn tại và hoạt động tự thân Ông coi thể xác như là phương tiện để thực hiện các hành vi cụ thể của con người
Bản chất con người là không phụ thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài Mọi cái bên ngoài như của cải, địa vị hay thể xác, trí tuệ là không tồn tại đối với con người Cái bên ngoài khi không được con người xem xét và không có quan hệ với con người thì chỉ được coi là cái hư vô, trống rỗng Thế giới nội tâm là không thể thủ tiêu được, nên nó không phụ thuộc vào cái bên ngoài Socrates nói: " tôi chỉ làm những gì tôi thích và thuyết phục mỗi người trong các bạn, người trẻ và người già, hãy quan tâm sớm hơn và mạnh mẽ hơn không phải đến cơ thể hay tiền bạc mà đến tâm hồn các bạn để nó trở nên tốt nhất" và: "không phải tiền bạc sinh ra lòng dũng cảm, mà lòng dũng cảm sinh ra tiền bạc và nhiều của cải khác cho con người, cả trong cuộc sống riêng tư lẫn trong cuộc sống xã hội"
Như vậy, theo ông nỗ lực của trí tuệ - đạo đức là để bảo vệ thế giới nội tâm, biểu hiện cho sự quan tâm đến tâm hồn con người Hành vi đạo đức, hợp lý là biểu hiện của hạnh phúc, khi đó của cải sẽ đem đến sự thoả mãn Để làm được điều đó,
lý tính con người phải hạn chế các dục vọng, thông qua lý tính con người có quyền lực với chính mình Khái niệm tâm hồn được coi là đóng góp của Xôcrát, chính vì thế: "Nhờ phát hiện này, Xôcrát đã tạo ra một truyền thống đạo đức và trí tuệ nuôi
Trang 22dưỡng châu Âu cho đến ngày nay" Đó chính là sự ghi nhận của những nhà tư tưởng khi nghiên cứu học thuyết triết học của ông
Theo Socrates, tâm hồn có cấu trúc đơn giản, với năng lực cơ bản là lý tính Đối lập với lý tính là những dục vọng, xúc cảm sinh ra từ thế giới bên ngoài tác động đến cơ thể Trong quan niệm về tâm hồn, ông không hề nói đến trái tim, ý chí hay niềm tin Do cách tiếp cận tâm hồn từ lý tính bỏ qua những dục vọng hay lợi ích nên tâm hồn được hình dung là cái đẹp đẽ, tinh khiết, thoát khỏi cái tầm thường Cảm xúc hay dục vọng là cái lôi kéo con người theo các hướng khác nhau, đe dọa
sự cân bằng của tâm hồn Còn lý tính là năng lực suy luận của tư duy có lôgíc về tính hợp lý hay là sự nhất quán
Vì thế, lý tính được Socrates coi là cội nguồn của sự tự chủ (tự do) hay là quyền lực đối với bản thân trước những cám dỗ tự phát của dục vọng hay cảm xúc Như thế, người tự do là người biết cách điều khiển và hạn chế các dục vọng Đây là cách hiểu hoàn toàn đúng đắn mà đạo đức học hiện đại phải tiếp tục kế thừa và phát triển
Theo Socrates: "Phải chăng mỗi người cần phải thấm nhuần tư tưởng cho rằng sự kiềm chế là cơ sở của đức hạnh, và trước hết cần phải có nó trong tâm hồn?
Và trên thực tế, thiếu nó thì ai có thể có được những tri thức hữu ích nào đó hay có được thói quen kiềm chế? Nô lệ nào của những khoái cảm mà lại không đưa cả cơ thể lẫn tâm hồn tới trạng thái nhục nhã?"
Ông quyết liệt chống lại thói hám tiền vì cho rằng, ai đã nhận tiền của người đầu tiên gặp mặt thì sẽ biến người đó thành chủ nhân của mình và mình bị biến thành
nô lệ của người đưa tiền Tự do là kỹ năng điều chỉnh bản thân mình, nhờ đó lý tính luôn làm chủ được thể xác
Trang 23Theo Socrates, lý tính có thể xác lập được độ hay giới hạn của các khoái cảm, ngăn chặn con người có thể làm hay không làm một điều gì đó Người tự do, người thông thái là người xác lập được độ hợp lý cho các hành vi của mình và tuân thủ nó Như vậy, khi con người tự do trong tâm hồn, sẽ làm chủ được các hoạt động của bản thân và người anh hùng là nhà thông thái chiến thắng được kẻ thù từ bên trong tâm hồn mình
Qua hội thoại “Euthyphro”, Socrates cho thấy rằng các giá trị đạo đức thì không lệ thuộc vào thần thánh, tôn giáo, cảm tính, thói quen xã hội, quyền lực hay
ý thức hệ Nhận thức về sự vô tri của mình là khởi điểm của khôn ngoan Socrates
bị kết án là gây hoang mang trong giới thanh niên thành Athens, bị bỏ tù và bị ép uống thuốc độc mà chết Ông từ chối đào tẩu vì lẽ nhà nước đại diện cho đạo đức tập thể vốn là nền tảng của chế độ dân chủ và kết quả của việc suy tư thuần lý và tôn trọng lý trí một cách tối đa Socrates chấp nhận hình phạt của nhà nước dân chủ thì cũng như bất kỳ người lính nào cũng phải sẵn sàng chấp nhận cái chết khi ra chiến trận
Nhưng cái chết của Socrates cũng là một sự mỉa mai cho nền dân chủ dựa trên tranh cãi và hùng biện vốn đang che lấp một ý thức hệ ngụy biện của nhóm lợi ích nào đó Socrates xác tín rằng lý trí có thể phát triển một số những nguyên tắc đạo đức vốn tiềm tàng trong trong cách chúng ta phán đoán về niềm tin, hành động
và chọn lựa Nhận ra sự vô tri của chính mình là khởi đầu của hành trình khôn ngoan Khả năng phản tỉnh là “con đường vàng” dẫn đến tri thức thực sự Con người, hãy tự biết mình! (Mortals, Know thyself!)
Plato (khoảng 427 – 437 TCN) là một trong những nhà triết học, nhà tư tưởng kiệt xuất thời cổ đại Ở khía cạnh đạo đức học, Plato chủ yếu bàn đến vấn đề con người và các học thuyết chính trị xã hội Theo Plato con người chỉ có thể hoàn
Trang 24thiện nhân cách – chủ yếu là nhân cách đạo đức trong một nhà nước được tổ chức một cách hợp lý Mục đích của triết học theo ông là xây dựng một nhà nước hoàn toàn lý tưởng và hoàn thiện
Thực thể tối hậu tồn tại trong thế giới ý niệm Plato dùng mô hình toán học để diễn đạt tri thức Ông thiết lập một nền tảng siêu hình nhằm đưa ra giải pháp cho những vấn nạn của Socrates Thiện hảo và công lý tồn tại độc lập với chúng ta Chúng ta là những linh hồn bị cầm tù trong thể xác, chúng ta có thể hồi tưởng lại tri thức về các “ý niệm” đã được tạc ghi vào linh hồn chúng ta trong quá khứ Giáo dục (e-ducare) là tiến trình hồi tưởng lại các thị kiến về điều Thiện Vì thế, sự thiện hảo, công bằng, đức hạnh, etc., là những ý niệm tuyệt đối, tồn tại ở thế giới ý niệm Cho dù trong thế giới khả giác chúng ta chưa hề bắt gặp sự thiện tuyệt đối nhưng ta
có thể dùng lý trí để hồi tưởng lại tri thức về các thực tại tuyệt đối này
Dụ ngôn “Cái Hang”: Trong tác phẩm Nền Cộng Hòa, Plato dùng dụ ngôn Cái Hang để phân biệt ra hai tầm mức thực tại: thế giới vĩnh cửu và thế giới tạm bợ Tìm hiểu về Đạo Đức thì cũng như các nô lệ đang bị giam cầm nơi hang sâu, chỉ nhìn thấy hình bóng của những gì xảy ra chập chờn trên vách hang đá Chỉ khi được giải thoát ra ngoài thì mới ý thức là sự tồn tại của mình trong thế giới khả giác trước đây chỉ là ảo ảnh của thực tại bất biến và vĩnh hằng bên ngoài hang tối Ý nghĩa của dụ ngôn “Cái Hang”: Bị trói buộc: thân xác nặng nề vì vui thú nhục dục
sẽ đè nặng xuống, ngăn cản suy tư đạo đức Trong bóng tối: thế giới nhỏ bé, thiếu kinh nghiệm, không sẵn sàng đón nhận tri thức Bóng in trên tường: mỗi người là thước đo cho chính mình, quan tâm đến mình, chấp nhận bất điều gì mà không biết phê phán Ánh sáng bên ngoài và sự mù lòa ban đầu: nỗi đau đớn khi học biết những chân lý mới, cảm xúc khó chịu khi ý tưởng của ta bị thách đố
Cần “từ bỏ bóng tối” thống trị bởi các đam mê và dục vọng Nhận ra những bóng tối của chính mình để được tự do theo đuổi tri thức Tri thức chân thật đòi hỏi
Trang 25sự kỷ luật, quay đầu khỏi các đam mê, và hồi tưởng lại những gì linh hồn đã biết Trí khôn con người có phần lý tính và phần phi lý tính (phần tiếp xúc với thân xác)
Do đó hạnh phúc của con người sống trên đời này là dùng lý trí để điều khiển dục vọng và tinh thần Tri thức luận của Plato gồm bốn bước đi lên: hình ảnh, sự vật, toán học, ý niệm, tương đương với bốn mức độ nhận thức: tưởng tượng, tin tưởng, suy gẫm và tri thức thật sự
Đạo đức của Platon được xây dựng dựa trên cơ sở học thuyết về linh hồn, theo Platon linh hồn có 3 bộ phận là lý trí, ý chí và nhục dục Ông hình tượng hóa 3
bộ phận ấy là cỗ xe song mã, trong đó lý tính thì lái xe, con ngựa có ý chí thì nhận thức được ý niệm, con ngựa thèm khát nhục dục thì sa vào tối tăm, dốt nát mà không nhận thức được ý niệm Platon cho rằng lý tính của linh hồn là cơ sở của sự thông thái, ý chí là cơ sở của lòng dũng cảm, chế ngự nhục dục là cơ sở của sự điều
độ Sự thông thái là một đức tính cao nhất, sự kết hợp 3 yếu tố trên dưới sự chỉ đạo của lý tính sẽ tạo ra chính nghĩa là yếu tố thứ tư Lý tính, ý chí, chế ngự dục vọng
và chính nghĩa là bốn yếu tố trong đạo đức học của Platon
Đạo đức học của Platon hướng con người vào ý niệm tối cao của cái thiện,
đó là sự thông thái và lòng dũng cảm Platon cho rằng chỉ có số ít người, những chủ
nô thượng lưu mới có đời sống đạo đức với những biểu hiện tối cao của nó là sự thông thái và lòng dũng cảm Còn quần chúng thường dân chỉ có năng lực đạo đức tiêu cực, đạo đức khuất phục Platon không coi nô lệ là con người Với ông đó chỉ
là những “Động vật biết nói ” không thể có đạo đức và bảo vệ địa vị thống trị của gai cấp chủ nô quý tộc, đối lập với quần chúng nhân dân
Aristotles (384-322 TCN) là học trò Platon, ông đã phê phán mạnh mẽ học thuyết của Platon về ý niệm Bộ óc bách khoa toàn thư thời cổ đại đã đặc biệt đề cao vai trò của nhân bản học – một lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong thế giới quan
Trang 26của Arítotles Ông cho rằng con người được cấu tạo từ linh hồn và thể xác tựa như mỗi sự vật được cấu thành từ hình dạng và vật chất Ông phê phán quan niệm của Plato cho rằng thể xác chỉ là nơi trú ngụ tạm thời của linh hồn Aristotles đã khẳng định sự gắn bó hữu cơ giữa chúng mặc dù linh hồn đóng vai trò chủ đạo
Aristotles phê bình đạo đức học của Plato là lôi cuốn con người đi quá xa khỏi thực tại mình đang sống Aristotles cho rằng bản chất (hình thức) của sự vật không
ở trong thế giới cách biệt (ý niệm) nhưng trong chính vật chất Aristotles dùng mô hình sinh học: biết điều gì nghĩa là nhận ra các bộ phận của nó hoạt động như thế nào trong một toàn thể để nó phát triển hoàn toàn chức năng của nó Mọi thực thể đều có bản chất và hình thức; hành động được hiểu theo ý hướng và mục đích Điều mang lại hạnh phúc không hệ tại ở sự vật hay hành động nhưng là trong ý định hay mục đích Như vậy “sự thiện” của một sự vật là điều kiện vốn giúp nó đạt đến hay hoàn thành ý định hay mục tiêu của nó Điều kiện này chính là
“điểm trung dung” giữa sự thái quá và bất cập Nhân đức là tương quan đúng đắn giữa sự thái quá và khiếm khuyết: khôn ngoan, can đảm Nhân đức là thói quen chọn những gì tốt nhất để mình có thể phát triển hoàn thành chức năng cao nhất của mình, đó chính là lý trí
Tác phẩm Nicomachean Ethics là bản văn đầu tiên về đạo đức trong nền văn
minh Tây phương Aristotles cho rằng không có hình thức nào có thể tồn tại tách biệt khỏi đối tượng Không có sự thiện hảo nào tồn tại tách biệt khỏi kinh nghiệm sống hàng ngày Chúng ta biết điều tốt nhờ vào việc quan sát cách thức người ta nỗ lực đạt được điều thiện Tình bạn hữu chân thật (mong ước điều thiện cho người khác chỉ vì họ mà thôi) là động lực tối hảo cho việc vun trồng nhân đức Trong khi tập nhân đức, tìm kiếm sự thiện hảo qua cách chọn cái trung dung, con người phải tận dụng lý trí Do đó, đời sống lý trí có hai hướng song song: theo đuổi chân lý (trí thông minh và sự hiểu biết) và theo đuổi nhân đức (sự trung dung giữa
Trang 27thái quá và khiếm khuyết) Đây là mô hình “sinh học”: bạn chỉ biết bản chất của một vật khi bạn nắm bắt được toàn bộ tiềm năng của nó Vì con người là động vật
có lý trí, tiềm năng lý trí sẽ đưa chúng ta đến hạnh phúc; trong tiến trình này, chúng
ta có thể học biết điều thiện hảo
Đạo đức học Aristotles thẳng thắn hướng đến mục đích Ông quan tâm đến hành vi, không phải hành vi tự nó đúng bất chấp mọi nhận định khác, mà là hành vi đưa đến điều thiện cho con người Cái đưa đến chỗ đạt được sự thiện (hoặc mục đích) sẽ là một hành vi “đúng” về phía con ngưới: còn hành vi đối nghịch với việc đạt đến điều thiện đích thực sẽ là một hành vi “sai”.“Mọi nghệ thuật và mọi đòi hỏi, mọi hành vi và lựa chọn, hình như nhắm đến một điều thiện nào đó; vì thế sự thiện
đã được định nghĩa đúng là cái mà mọi vật nhắm đến” Nhưng có nhiều sự thiện khác nhau tương ứng với những nghệ thuật và khoa học khác nhau Vì vậy, nghệ thuật của bác sĩ nhắm đến sức khỏe, tài khéo léo đi biển nhắm đến một chuyến hành trình an toàn, kinh tế nhắm đến sự giàu có Hơn nữa, một số mục đích lệ thuộc những mục đích khác cơ bản hơn Mục đích của việc đưa ra một phương thuốc nào
đó có thể là tạo ra giấc ngủ, nhưng mục đích tức thời này lệ thuộc mục đích sức khỏe Cũng thế, chế tạo hàm thiếc và yên cương cho ngựa chiến là mục đích của một nghề thủ công nào đó Nhưng việc đó lệ thuộc mục đích rộng hơn và bao quát hơn là làm cho các cuộc hành quân có hiệu quả Do đó, các mục đích này nhắm đến những mục đích hoặc những sự thiện xa hơn Nhưng có một mục đích chúng ta ao ước vì chính nó, và vì nó mà chúng ta ao ước tất cả các mục đích (hoặc sự thiện) phụ thuộc khác, thế thì sự thiện tối hậu sẽ là sự thiện thiện hảo nhất, thực ra đó là
sư thiện Aristotles dấn thân vào việc khám phá sự thiện này là gì và khoa học tương ứng với nó là gì
Phái Khoái lạc: Thước đo hành động của chúng ta là mức độ thỏa mãn mà hành động đó mang lại Mỗi người cần tìm cuộc sống thoải mái với một sự thỏa
Trang 28mãn quân bình, cần loại trừ những nỗi lo lắng vô căn cứ như Thượng đế hay hình phạt đời sau
Epicurus là một nhà tư tưởng bắt đầu phát tiết tinh hoa trí tuệ của mình chỉ vài thập kỷ sau sự ra đi của Aristotle Sinh ra trên hòn đảo Samos, Epicurus đã dành cả đời mình để chu du ngang dọc khắp Hy Lạp trước khi dừng chân ở thủ đô triết học của thế giới thời ấy, thành Athen
Epicurus, khá oan uổng, thường bị người đời chê trách là kẻ theo chủ nghĩa khoái lạc Chủ nghĩa khoái lạc là một loại triết học đạo đức nói rằng bất cứ hành động nào đem lại sự thoải mái đều là tốt Một người trung thành với chủ nghĩa khoái lạc cả đời chỉ đi tìm kiếm cảm giác khoái lạc tiếp theo mà chẳng cần quan tâm đến bất cứ mục đích cao cả nào khác của cuộc sống
Điều này thoạt đầu nghe có vẻ hay, có lẽ nằm ườn ra trên ghế bành và ăn nho đựng trong một cái bát bằng bạc là một cách thú vị để tiêu khiển vào cuối tuần Tuy nhiên, những người trung thành với chủ nghĩa khoái lạc cuối cùng thường phát hiện
ra rằng cuộc sống mà họ truy cầu là chỉ là vọng tưởng mà thôi Và rằng bạn luôn gặp phải nguy cơ sẽ ăn hết nho trong bát
Trường phái triết học của Epicurus thực ra là trái ngược Ông nói rằng con người không nên liên tục tìm kiếm những cảm giác khoái lạc, mà nên tìm cách tránh những điều tiêu cực như đau đớn và sợ hãi Epicurus tin rằng bằng cách hạn chế những thống khổ trong cuộc sống, chúng ta có thể trân trọng hơn những điều thú vị nhỏ nhoi hơn như tình bạn và gia đình Bằng cách tránh khỏi đau đớn và cố gắng tìm kiếm sự yên bình, chúng ta có thể thỏa mãn cuộc sống của mình
Epicurus tin rằng vật cản chính chắn đường hưởng thụ cuộc sống của chúng
ta chính là sự sợ chết Con người Hy Lạp cổ đại sống trong nỗi sợ chết thường nhật
Trang 29Họ tin rằng nếu họ sống mà không kính Thần thì họ sẽ bị tống xuống địa ngục của Thần Hades và chịu nhận tra tấn vạn kiếp bất phục Điều này thật đáng buồn thay
Epicurus cho rằng toàn bộ vũ trụ được tạo nên từ các nguyên tử và giữa chúng là khoảng không trống rỗng, cũng giống như tư duy của khoa học ngày nay Ông kết luận rằng linh hồn con người, chính vì vậy, cũng được tạo thành từ nguyên
tử và sẽ bị giải thể cùng lúc với phần còn lại của cơ thể khi con người chết đi
Nên nhớ là Epicurus tin rằng nếu điều gì đó đem đến đau đớn hay thống khổ, thì nó chính là xấu Ông kết luận rằng vào thời khắc qua đời chúng ta không còn cảm thấy bất kỳ dạng đau đớn nào nữa, cả về tinh thần lẫn thể chất Cái chết không đau đớn, không đáng sợ, mà đó chỉ là sự kết thúc của những cảm giác dài lê thê của chúng ta mà thôi Vậy nên chúng ta không nên e sợ cái chết Quan trọng nhất là chúng ta không nên để nó làm phân tâm trong quá trình tìm kiếm hạnh phúc trong cuộc sống
Đây là một thế giới quan khá thú vị Đừng lo lắng về cái chết vì nó sẽ không gây ra đau đớn và sợ hãi Hãy chỉ truy cầu hạnh phúc và tận hưởng cuộc sống với bằng hữu và gia đình mà thôi
Bất chấp những suy nghĩ tích cực này, Epicurus không nổi tiếng cho lắm trong thời đại của ông Những lời thuyết giảng khiến mọi người tin rằng ông là một người vô thần Chính vì tín ngưỡng phi truyền thống này mà hầu hết người dân Athen không mấy tôn trọng ông Tuy nhiên quanh ông vẫn có một nhóm những người sùng kính trung thành kiên định thực hành triết lý này và gìn giữ những công trình của ông cho các thế hệ tương lai
Trang 30Đến thời kỳ trung cổ, những yếu tố biện chứng sơ khai ban đầu thời kỳ cổ đại dần dần bị rũ bỏ thay vào đó là tôn giáo và thần học mọi sự vật hiện tượng đều được đánh giá một cách giáo điều, phiến diện
Đạo đức học thời trung cổ : đức tin và lý trí
Vấn đề: Lý trí nâng đỡ hay cản trở đức tin trong khi truy tầm nhận thức về điều đúng hay sai Một mình lý trí có thể nắm bắt được bản chất của luân lý hay không?
Augustino (354-430): ánh sáng nội tại
Khuynh hướng nhị nguyên: có hai loại nhận thức, hay hai thành đô Thành đô Thiên Chúa và thành đô con người; thế tục đối ngược với thánh thiêng Có hai trật tự: tự nhiên (khả giác, thành đô con người, công ích, thế tục) và siêu nhiên (khả tri, thành đô Thiên Chúa, vĩnh cửu).Vai trò của niềm tin Kitô, Giáo Hội, Kinh Thánh: Đạo đức Kitô giáo hướng đến tìm kiếm những giá trị bất biến, vĩnh cửu Triết học đưa đến sự hiểu biết còn thần học đưa đến sự khôn ngoan Thánh Augustino viết hơn 700 tác phẩm, đáng lưu ý nhất là cuốn Tự thuật và Thành đô của Thiên Chúa Tính nhị nguyên của thánh Augustino: đời sống lý trí (hướng đến hạnh phúc tạm thời, điều thiện tự nhiên và chóng qua), và đời sống đức tin (đưa đến sự cứu rỗi và hạnh phúc vĩnh cửu, điều thiện siêu nhiên) Vì cuộc đời này chỉ là sự chuẩn bị cho đời sau cho nên không thể tìm thấy hạnh phúc thực sự và vĩnh cửu ở đây Con người sa ngã do nguyên tội nhưng vẫn còn ý chí tự do và trách nhiệm đối với các hành vi của mình Vì lẽ đó, nhân đức có thể luyện tập được nhưng giá trị thực sự phải được thúc đẩy bởi niềm tin vào Thiên Chúa hằng hữu Con người sống như khách lữ hành trong thế giới này
Thomas Aquino (1225-1274): lý trí phối hợp với đức tin
Trang 31Lý trí đưa đến các nhân đức trí tuệ; nhưng đức tin đưa đến nhân đức đối thần
Lý trí là tiếng nói của lương tâm Một mình lý trí thông thường có thể đạt đến hiểu biết quy luật tự nhiên aquino tái khám phá và Kitô hóa triết học của Aristotles, tạo nên một sự hài hòa giữa nền đạo đức tự nhiên và đạo đức hướng thần Phạm vi sáng tác của Aquino rất rộng, quan trọng nhất là tác phẩm Summa Theologica, và Summa Contra Gentes Đạo đức tự nhiên bao gồm việc phát triển khả năng của lý trí đồng thời thực hành đời sống luân lý; đạo đức tự nhiên đưa con người đến hạnh phúc trần thế Đạo đức hướng thần bao gồm việc đạt được các nhân đức hướng thần: tin-cậy-mến nhờ ân sủng của Thiên Chúa
Aquino cho rằng Luật tự nhiên-Luật siêu nhiên được viết trong tâm hồn-được khám phá bởi lý trí và trau dồi bởi lương tâm Khi chấp nhận tính độc lập và khả năng đạt đến chân lý của lý trí, đạo đức học của Aquino có một lối nhìn mang tính khoa học hơn về con người Sống đạo đức là biết sống tuân theo bốn qui luật: luật vĩnh cửu, luật tự nhiên, luật xã hội, và luật Thiên Chúa
Triết học cận đại ghi dấu tên tuổi của Bacon (1561 – 1626) ông tổ của chủ nghĩa duy vật Anh và khoa học thực nghiệm Bắt đầu từ Bacon lịch sử triết học Tây
Âu bước sang một giai đoạn mới với những màu sắc riêng Quan niệm về đạo đức của Bacon được khái quát trong vấn đề con người Ông cho rằng con người là sản phẩm của tạo hóa do vậy khoa học về con người cũng chính là khoa học về tự nhiên
Thomas Hobbes (1588 – 1679), có một quan điểm khá tối tăm về đạo đức con người Ông hình dung loài người, về căn bản, là tàn bạo, tranh đua, và chỉ quan
lĩnh vực hoàn toàn về lĩnh vực tôn giáo, triết học là hoạt động trí tuệ của con người nhằm khám phá ra bản chất sự vật hiện tượng Tất cả các lĩnh vực khoa học như
Trang 32hình học, vật lý, đạo đức… theo ông đều chỉ là lĩnh vực khác nhau của triết học Ông khẳng định cần phải xóa bỏ “trạng thái tự nhiên” của con người, ở Hobbes là
sự thể hiện xu hướng tư sản tiến bộ đấu tranh đòi phá bỏ thần quyền và phân biệt đẳng cấp của chế độ phong kiến đòi mở rộng dân chủ và tiến bộ xã hội.Trong tự nhiên, tự bản chất con người tìm kiếm sự bảo toàn cho chính mình Trong tình trạng tự nhiên, đúng hay sai không tồn tại, không có luân lý Chỉ khi xã hội dân sự hình thành và khi mọi người sẵn sàng đồng ý cống hiến trọn vẹn lòng trung thành cho đất nước thì đạo đức mới có thể thực hiện được Nhà nước có thể trừng phạt những hành động ngăn trở hoặc ban thưởng cho những hành động cổ võ công ích
và sự an toàn của người dân Do đó, đạo đức học đối với Hobbes xuất phát từ nhu cầu tự vệ
Nghiên cứu cặn kẽ nhất của Hobbes về bản tính con người chính là học thuyết của ông về nhà nước Dù ta có công nhận những khái niệm của ông về trạng thái tự nhiên và về khế ước xã hội có giá trị về mặt lịch sử hay không thì những khái niệm này vẫn cấu thành nên sự giải thích của Hobbes về nguồn gốc của nhà nước
Ở trạng thái tự nhiên, con người cư xử với nhau giống như dã thú Trong trạng thái này, dục vọng tự nhiên (cupiditas naturalis) chiếm ưu thế “Tự nhiên ban cho mỗi con người quyền hạn làm tất cả mọi thứ, tức là nó cho phép mỗi con người – trong trạng thái tự nhiên trần trụi hay trước khi tham gia vào bất kỳ thỏa thuận hay khế ước nào – làm những gì họ có thể làm, chống lại những ai họ thấy cần, và
sở hữu, sử dụng, tận hưởng tất cả những gì họ muốn, hay có thể có, hay chiếm được… Và đây chính là ý nghĩa của câu nói phổ biến “tự nhiên ban tặng tất cả cho tất cả” Từ đó, ta cũng hiểu theo cách tương tự rằng trong trạng thái tự nhiên, lợi ích chính là thước đo của pháp quyền, của lẽ phải” Vì lý do này, mọi con người, về bản chất, đều bình đẳng Vì mỗi hữu thể bình đẳng này đều có thể tìm kiếm bất cứ thứ gì họ muốn, nên mỗi người đều sống trong nỗi lo sợ trước những người khác
Trang 33Trong một giả thuyết như vậy, mỗi người đều là quan tòa của chính mình Trạng thái tự nhiên trần trụi được đặc trưng bởi tình trạng chiến tranh chống lại nhau giữa người với người, của tất cả chống lại tất cả (belium omnium contra omnes)
Do những điều kiện thiếu thốn của trạng thái tự nhiên, con người đã hành động để giải thoát mình khỏi những bất lợi này Họ tham gia vào cái gọi là khế ước dân sự: Con người từ bỏ những quyền tự nhiên cá nhân của mình và bằng hành động tự do này, họ đã tạo dựng nên trật tự, luật pháp, phong tục, và luân lý cho bản thân và cho đồng loại Đây chính là khối cộng đồng hay nhà nước Sự tự do được đảm bảo cho tất cả thông qua nhà nước Mỗi người bắt buộc phải áp đặt những hạn chế nhất định lên những hành động tùy tiện của bản thân; bằng cách đó, con người tạo điều kiện cho tất cả có thể tận hưởng trọn vẹn sự tự do của mình Ngay nơi Kant, những khái niệm về pháp quyền và nhà nước cũng dựa trên lý thuyết Nếu muốn sự quản trị của nhà nước hoạt động có mục đích và hữu ích thì ắt không thể cho phép các quyền tự nhiên như thế được Nhà nước phải có toàn quyền và có khả năng quyết định tất cả mọi thứ bởi quyền lực nội tại của nó Nhà nước phải có chủ quyền tối cao Nhà nước cũng là nguồn suối duy nhất của pháp quyền, luân lý và tôn giáo
John Locke (1632 – 1704) là đại biểu duy cảm điển hình của chủ nghĩa duy vật Anh, ông đề cao vai trò kinh nghiệm trong quá trình nhận thức con người Locke cũng cho rằng, con người luôn ích kỷ và đầy ham muốn Chính vì vậy mà ngay từ thời kỳ còn trong trạng thái tự nhiên,khi nhà nước chưa ra đời, bên cạnh quyền tự nhiên của mình, con người đã phải tự cho mình quyền xét xử và trừng phạt kẻ khác để duy trì luật của tự nhiên Khi xã hội văn minh ra đời, thể chế nhà nước là hệ quả của khế ước xã hội-một bước tiến văn minh hơn và giúp duy trì luật của tự nhiên thông qua luật lệ của xã hội văn minh Ngay cả một nhà nước chuyên chế do vua chúa cai trị cũng phải thực hiện đúng các chức năng của khế ước xã hội
Trang 34như một chính quyền dân sự nếu không muốn bị diệt vong Chức năng của một chính quyền dân sự hợp lý là phải bảo vệ quyền tự nhiên của con người, tức quyền được sống, được tự do, có sức khỏe và của cải của mỗi công dân Ông cũng phân biệt quyền hạn của nhà nước do truyền ngôi với quyền hạn chính trị và độc tài Quyền hạn truyền ngôi là hạn chế, còn quyền hạn chính trị là lấy từ quyền của mỗi
cá nhân để đảm bảo việc thực hiện luật của tự nhiên Quyền độc tài thì ngược lại,
nó lấy quyền sống, tự do, sức khỏe và cả một phần của cải của người khác để phục
vụ cho quyền lực của mình
Theo quan điểm của Locke về khế ước xã hội, nhà nước không cần có quá
nhiều quyền lực, vì như vậy chỉ khiến người dân bị đè nén Ông cũng nhận thấy nguy cơ của quyền lực tuyệt đối, quyền độc tài dù trao cho một cá nhân hay một nhóm người Dạng nhà nước tốt nhất chính là quyền lực của hệ thống chính quyền được hạn chế bằng cách chia thành các nhánh và mỗi nhánh có quyền hạn riêng cần thiết đủ để thực hiện chức năng của mình.Theo ông, một hệ thống nhà nước cần có quyền xét xử độc lập mà việc ra quyết định được thực hiện chỉ dựa trên duy nhất hiến pháp của cả quốc gia.Ông cho rằng, trách nhiệm của quốc hội là lập pháp và nhiệm vụ của nhà vua là hành động như một người chấp pháp tối cao
Để duy trì trật tự xã hội, bất kỳ nhà nước nào cũng đều phải có sự đồng thuận của những người bị trị Nhận thấy rằng, khó có thể đạt được sự đồng thuận tuyệt đối cho một luật lệ cụ thể được đưa ra, Locke chủ trương phải chấp nhận đặt sự quyết định dựa trên ý kiến của đa số lên trên hành vi của mỗi cá nhân
Đối với Locke, cơ cấu nhà nước không quan trọng bằng việc quyền lập quyền quyết định trật tự xã hội và phúc lợi chung qua việc đặt ra luật lệ về việc chuyển nhượng, bảo toàn và thu nhận tài sản phải được thực hiện theo cách mà mọi người đều đồng thuận Vì luật lệ sẽ được duy trì trong một thời gian dài sau khi thiết lập, nên cơ quan lập pháp không cần phải họp thường xuyên Tuy nhiên nhánh hành pháp-nơi chịu trách nhiệm đảm bảo luật pháp được thực thi cần duy trì hoạt
Trang 35pháp-động liên tục trong xã hội Chức năng hành pháp được thực hiện bởi các quan chức,các vị bộ trưởng mà quyền lực của họ được trao từ nhánh lập pháp.Khi nhánh lập pháp ngưng họp, cơ quan hành pháp có đặc quyền xử trí tình hình khẩn cấp khi chưa có luật lệ quy định cho những tình huống này Locke cũng cảnh báo rằng, nếu lạm dụng đặc quyền này sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định và trật tự của quốc gia Khi
đó, một trật tự mới, một khế ước xã hội mới sẽ ra đời để thực hiện quyền phán xét tối cao theo đúng luật của tự nhiên
Locke coi bản chất con người là lý trí và khoan dung Ông tin vào Chúa Trời, nhưng không cho Chúa Trời một vị trí nào trong tâm tưởng hay trái tim của con người,
Quan điểm về tôn giáo của Locke là phải khoan dung Một xã hội mới muốn thực hiện tốt chức năng của nó cần phải thống nhất không phải bằng một tôn giáo
mà bằng lòng khoan dung Do vậy, nhà thờ phải là các tổ chức tự nguyện,chứ
không gắn liền với nhà nước như Nhà thờ Anh giáo
Cho dù mới chỉ giới hạn ở Kitô giáo, hay nói đúng hơn là các giáo
phái Kháng Cách,song J.Locke là người đã đặt ra nguyên tắc khoan dung đối với tôn giáo Quan điểm của J.Locke về khoan dung tôn giáo phù hợp với quan điểm
của ông về chính quyền dân sự Ông cho rằng, quyền sống, tự do, sức khỏe và của
cải là các quyền lợi dân sự và đó cũng là mối quan tâm của chính quyền dân sự và các quan tòa Các quan tòa có thể dùng sức mạnh và bạo lực nếu cần để duy trì các lợi ích dân sự và để chống lại bạo lực phá vỡ những quyền trên Và đấy là chức năng của nhà nước Còn đối với mối quan tâm tới sự cứu rỗi thì đó không phải là lợi ích dân sự, nằm ngoài quyền hạn của chính quyền dân sự và các quan tòa Trên thực tế, Locke đã bổ sung vào các quyền tự nhiên, như quyền sống, quyền tự do, quyền có sức khỏe và của cải,một thứ quyền nữa-đó là quyền tự do lựa chọn con
Trang 36đường cứu rỗi của riêng mỗi người Ông coi mọi sự can thiệp của nhà nước nhằm duy trì niềm tin đều không hợp lý, vì sức mạnh mà vị quan tòa sử dụng không phải
là phương tiện hiệu quả để thay đổi niềm tin Chỉ có nhà thờ chân chính mới có quyền lực đó, nhưng mỗi nhà thờ đều tự cho mình là chân lý, trong khi không ai ngoài Chúa Trời có thể phán xét điều này Do vậy, điểm cốt lõi trong biện luận của
ông về khoan dung tôn giáo là sự hoài nghi đối với khả năng hiểu biết tôn giáo
Các nhà tự do như J.Locke cũng e sợ sự đa cảm của số đông Người tự do phải là người đọc các tác phẩm trí tuệ, tin vào giáo dục và tin vào việc con người biết vượt lên hoàn cảnh như các nhà tư sản vẫn làm, và vì là người có trí tuệ nên cần biết đặt giá trị vào sự tự do tư tưởng, phản đối sự can thiệp của nhà thờ vào triết học và khoa học
Chính từ quan niệm nhận thức luận của mình, J.Locke đã nhấn mạnh vai trò
và quyền năng của giáo dục chính là tạo ra sự trải nghiệm trong tâm trí của trẻ em trong quá trình trưởng thành Và “trí tuệ của đứa trẻ cũng dễ dàng thay đổi giống như nước vậy” Ông quên sự khác nhau về bản năng giữa những đứa trẻ và nhấn mạnh tới mục tiêu rộng lớn của giáo dục chính là để có những con người phù hợp với cuộc sống, với thế giới chứ không phải là để vào đại học Mục tiêu giáo dục quan trọng chính là đào tạo tính cách
Montesquieu (1689-1755), triết gia Khai sáng của Pháp, nhận thấy mối quan hệ khăng khít giữa giáo dục với nền chính trị của một đất nước “trật tự chính trị tạo ra nền giáo dục phục vụ cho mục tiêu của nó Ở các nhà nước quân chủ giáo dục tạo
ra danh dự; ở các nhà nước cộng hòa giáo dục tạo ra giá trị; ở các nhà nước chuyên chế giáo dục tạo ra nỗi e sợ” Trong chuyên luận The Spirit of the Laws (1748) Montesquieu đã dành một phần(Quyển 4) để viết về giáo dục và gắn liền với nó là các kiểu nhà nước tương ứng Ngay phần đầu Quyển 4 này, ông viết “Nguyên tắc
về giáo dục là thứ đầu tiên mà chúng ta phải nắm bắt được Vì giáo dục chuẩn bị