1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về đào tạo ở các trường đại học, cao đẳngtrên địa bàn tỉnh đắk lắk

131 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là người làm việc trong lĩnh vực giáo dục đào tạo của tỉnh Đắk Lắk, tôi chọn đề tài “Quản lý nhà nước về đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” với mong muốn n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ……… … …

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TẠ XUÂN BẨY

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO

Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ……… … …

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TẠ XUÂN BẨY

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO

Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

MÃ SỐ: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN HỮU HẢI

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hữu Hải Các thông tin và

số liệu sử dụng trong Luận văn là trung thực và chính xác

Trang 4

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Hữu Hải - Người đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để đến nay tôi đã hoàn thành Luận văn

Trong thời gian thực hiện đề tài, Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Lắk, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk, Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk, Trường Đại học Tây Nguyên, các trường cao đẳng hệ công lập trên địa bàn tỉnh Đăk Lắk và các cơ quan, đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Dù đã rất nỗ lực và cố gắng nhưng chắc chắn Luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong muốn được sự góp ý chân thành của các thầy,

cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp để luận văn được bổ sung và hoàn thiện hơn Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Tạ Xuân Bẩy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG VẼ, ĐỒ THỊ

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 6 6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6

7 Kết cấu của luận văn 7 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 1.1 Khái niệm, vai trò của đào tạo đại học, cao đẳng 8

1.2 Sự cần thiết phải QLNN về đào tạo ở các trường ĐH, CĐ 15

1.3 Quản lý nhà nước về đào tạo đại học, cao đẳng 21

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đào tạo đại học, cao đẳng 28

1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đào tạo đại học, cao đẳng ở một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm 31

Tiểu kết Chương 1 38

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo ở các trường đại học, cao đảng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 39

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Lắk 39

2.2 Thực trạng đào tạo đại học, cao đẳng tại tỉnh Đắk Lắk 40

2.3 Quản lý nhà nước về đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng trên

Trang 6

địa bàn tỉnh Đắk Lắk 62 2.3.1 Xây dựng thể chế, chính sách phát triển giáo dục đào tạo theo

mục tiêu, định hướng của Đảng, Nhà nước và phù hợp với điều kiện

2.4 Đánh giá quản lý nhà nước về đào tạo ở các trường đại học, cao

đẳng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 76

Chương 3: Giải pháp nâng cao quản lý nhà nước về đào tạo ở các

trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 94 3.1 Định hướng quản lý nhà nước về đào tạo đại học, cao đẳng

Trang 7

của Trường Đại học Tây Nguyên 46 Bảng 2.6: Xếp loại học lực ở Trường Đại học Tây Nguyên 47 Bảng 2.7 Cách quy đổi và xếp hạng điểm 47 Bảng 2.8: Số lượng và trình độ giảng viên tại Trường Đại học Tây

Bảng 2.9 Số lượng giảng viên giảng dạy cao đẳng tại tỉnh Đắk Lắk 54 Bảng 2.10 Trình độ giảng viên cao đẳng tại Tỉnh Đắk Lắk 55 Bảng 2.11 Số lượng sinh viên Trường Đại học Tây Nguyên được miễn, giảm học phí từ năm học 2013-2014 đến năm học 2015-2016 54 Bảng 2.12 Mức thu học phí các trường cao đẳng và hệ cao đẳng của

các trường trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 58 Bảng 2.13 Mức trần học phí từ năm học 2015- 2016 đến năm học

Bảng 2.14 Tổ chức bộ máy quản lý về đào tạo đại học, cao đẳng ở

Trang 8

DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT

Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

Sở GD&ĐT Sở Giáo dục và Đào tạo

Bộ LĐ, TB&XH Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Mục tiêu phát triển của Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm

2030 về cơ bản, trở thành nước công nghiệp Để đạt được mục tiêu này, cần huy động và sử dụng một cách có hiệu quả mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển KT - XH

Một trong những nguồn lực có ý nghĩa quyết định để thực hiện mục tiêu trên là nguồn lực con người chất lượng cao được đào tạo bài bản Trường

ĐH, CĐ luôn là môi trường đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao những thành tựu khoa học - công nghệ mới nhất, là đầu tàu trong việc tạo nguồn lao động chất lượng phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước GS Malcom Gilles, Hiệu trưởng Trường Đại học Rice (Hoa Kỳ) đã nói: “Ngày nay, hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại, sự giàu mạnh hoặc đói nghèo của một quốc gia phụ thuộc vào chất lượng của giáo dục đại học” Trong thời đại của kinh tế tri thức, một quốc gia muốn đi tắt, đón đầu nhằm thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì nguồn nhân lực chất lượng cao luôn giữ vai trò quyết định Khảo sát thực tế cho thấy, chất lượng đào tạo của các trường ĐH, CĐ ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng kinh tế và đời sống xã hội Đồng thời, sự phát triển các trường ĐH, CĐ cũng luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của môi trường kinh tế, xã hội

Trong hệ thống giáo dục quốc dân nước ta, công tác đào tạo có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực của đất nước Mục tiêụ giáo dục ĐH,CĐ là đào tạo đội ngũ người lao động có kiến thức và kỹ năng thực hành nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức, có ý thức tổ chức kỷ luật, có tác phong công nghiệp và sức khoẻ tốt để tiếp cận với công việc, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh đất nước

Đối với tỉnh Đắk Lắk, một tỉnh cao nguyên có điều kiện tự nhiên - xã hội thuận lợi Những năm qua, Đắk Lắk đã được Đảng, Nhà nước quan tâm

Trang 10

tạo nhiều chính sách ưu đãi để khuyến khích tạo môi trường và động lực phát triển trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục,

Trong lĩnh vực đào tạo, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác QLNN về về đào tạo ở các trường ĐH, CĐ đã bộc lộ những hạn chế như: Nội dung đào tạo chưa chuyên sâu; chương trình đào tạo chưa cân đối giữa lý thuyết và thực hành; các quy định của Nhà nước về đào tạo còn chồng chéo;

cơ sở vật chất, trường lớp, điều kiện thực hành, thực tập thiếu và lạc hậu; trình độ đội ngũ giảng viên chưa đồng đều; chưa hướng nghiệp cho sinh viên phù hợp với nhu cầu của xã hội; công tác xã hội hoá trong đào tạo chưa được đẩy mạnh; công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan Nhà nước chưa thực sự hiệu quả Để khắc phục những yếu kém và bất cập, đòi hỏi phải xác lập cơ

sở lý luận quản lý nhà nước phù hợp với địa phương và đánh giá toàn diện, đúng đắn thực trạng quản lý nhà nước để từ đó tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về đào ĐH, CĐ, góp phần thúc đẩy công cuộc CNH - HĐH trên địa bàn tỉnh

Là người làm việc trong lĩnh vực giáo dục đào tạo của tỉnh Đắk Lắk,

tôi chọn đề tài “Quản lý nhà nước về đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” với mong muốn nghiên cứu sâu hơn về

lĩnh vực đào tạo ĐH, CĐ và qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu qủa của QLNN về đào tạo, thúc đẩy quá trình phát triển KT -

XH của địa phương

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Giáo dục Việt Nam hiện nay đang trong cải cách mạnh mẽ, QLNN về

đào tạo ở các trường ĐH, CĐ là nội dung quan trọng của sự nghiệp đổi mới

nhằm xây dựng một nền giáo dục chính quy, hiện đại Đào tạo ĐH,CĐ là vấn

đề ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện và công bố kết quả dưới dạng đề tài khoa học, giáo trình, sách chuyên khảo, các bài báo, bài đăng tạp chí, luận án, luận văn và khóa luận tốt nghiệp, cụ thể như sau:

Trang 11

Về đề tài khoa học, giáo trình và sách chuyên khảo:

- “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam” của GS.TSKH Bành Tiến

Long, Nxb Giáo dục, 2005

- “ Giáo dục đại học Việt Nam tiếp tục đổi mới để phát triển và hội nhập”, của GS.TSKH Trần Văn Nhung (2003), Nxb giáo dục

- “Quản lý nhà nước về giáo dục - Lý luận và thực tiễn”, của Đặng Bá

Lãm (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005

- “Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế”, của Dương Văn

Quảng, Bành Tiến Long, Trịnh Đức Dụ), Nxb Thế giới, Hà Nội, 2009

- “ Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI”, của Trần

Khánh Đức, Nxb Giáo dục, 2014

- “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức nước ta hiện nay” , của Ngô Huy Tiếp (2009), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

- “Luận cứ khoa học cho việc đề xuất chủ trương, chính sách phát triển

giáo dục phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và đầy đủ”, của Nguyễn Thị Bình

(nguyên Phó Chủ tịch nước-Chủ nhiệm), đề tài khoa học cấp nhà nước, 2010

- “ Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI”, của Trần

Khánh Đức (2014), Nxb Giáo dục

Các công trình nghiên cứu trên, đã đề cập một số biện pháp nhằm đổi mới phương thức quản lý giáo dục trên cơ sở phân tích những hạn chế trong giáo dục đại học Trong đó tập trung vào đổi mới phương thức điều hành của các cán bộ quản lý giáo dục, đề xuất phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục, công tác đào tạo, luận giải sự cần thiết và nêu một số giải pháp đổi mới giáo dục Việt Nam đáp ứng theo yêu cầu quốc tế hóa Các tác giả đã xác định rất rõ hệ thống chính sách, luận cứ khoa học, phương pháp, cách thức về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Các công trình đã phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực,

Trang 12

chỉ ra hạn chế, bất cập của nguồn nhân lực nước ta trước đòi hỏi của hội nhập quốc tế; làm rõ những vấn đề hạn chế do giáo dục đào tạo Trên cơ sở đó, trình bày một số giải pháp nhằm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức, trong đó chú trọng đến giải pháp đổi mới nhận thức của các cấp

uỷ đảng và cơ quan quản lý nhà nước, chính sách đãi ngộ và tôn vinh trí thức

có cống hiến cho xã hội

Ngoài ra, cũng có một số bài viết trên tạp chí “Quản lý nhà nước”, “Tạp chí giáo dục”, các đề tài nghiên cứu về QLNN đối với giáo dục và đào tạo từng bước làm rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác QLNN đối với đào tạo ĐH, CĐ như:

- “Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường Đại học ở Việt Nam”, của Phan Huy Hùng, Luận án

tiến sĩ Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính, 2009

- “Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tể xã hội khu vực Đồng bằng Sổng Cửu Long”, của Phạm Hữu Ngãi Luận án Tiên sĩ, Học viện

Quản lý giáo dục, 2010

- “Nâng cao hiệu lực Quản lý nhà nước về giáo dục đại học”, của Nguyễn

Thị Thu Hà, Luận án tiến sĩ Luật học - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012

- “Phát triển Trường Cao đẳng đáp ứng nguồn nhân lực cho Tỉnh

Đồng Tháp”, của Trần Văn Mười, Luận văn thạc sĩ, Đại học Huế, 2012

- “Quản lý nhà nước về đào tạo trình độ cao đẳng từ thực tiễn Thành

phổ Hà Nội ”, của Nguyễn Hồng Hà, Luận văn thạc sĩ, Học viện khoa học xã

hội, 2014

- “Quản lý nhà nước đối với đào tạo cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”,

của Đặng Việt Hà, Luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính quốc gia, 2015

Các công trình nghiên cứu trên đã phân tích, đánh giá các mặt tích cực, hạn chế trong QLNN đối với giáo dục, đào tạo, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế khi tiến hành phát triển GD, ĐT trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Một số tác giả đã đưa ra những dự

Trang 13

báo về xu thế phát triển và QLNN đối với GD-ĐT ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế; đưa ra những kiến nghị về công tác QLNN về nâng cao chất lượng GD, ĐT

Như vậy, các công trình nghiên cứu ở trên chỉ đề cập và nghiên cứu đến QLNN đối với đào tạo và QLNN về đào tạo nói chung nhưng chưa có đề tài, luận văn, luận án nào đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống, cụ thể lĩnh vực QLNN về đào tạo ở các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng và khu vực Tây Nguyên nói chung

3 Mục đích và nhiệm vụ của luân văn

- Mục đích:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn QLNN về đào tạo ở các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về đào tạo ở các trường ĐH, CĐ trên địa bàn đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay

- Nhiệm vụ:

Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận QLNN về đào tạo ở các trường

ĐH, CĐ hệ công lập Bao gồm các khái niệm về giáo dục đào tạo, đào tạo

CĐ, đào tạo ĐH và vai trò của nó trong phát triển nguồn nhân lực; Đặc điểm,

sự cần thiết, chủ thể QLNN về đào tạo ở các trường ĐH, CĐ;

Kinh nghiệm QLNN về đào tạo ĐH, CĐ ở một số quốc gia trên thế giới; Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về đào tạo ở các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2010 đến nay Tìm ra các ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của nó và các vấn đề đặt ra cần phải giải quyết

Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về đào tạo ở các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn QLNN về đào tạo ở các trường ĐH, CĐ

Trang 14

Nghiên cứu các lĩnh vực liên quan như: Xây dựng thể chế, chính sách phát triển đào tạo ĐH, CĐ; Tổ chức bộ máy quản lý đào tạọ; Duy trì thực hiện chính sách pháp luật về đào tạo ĐH, CĐ; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về đào tạo

- Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu nội dung, hình thức, phương pháp QLNN về đào tạo ở các trường ĐH, CĐ hệ công lập

Về không gian: Các trường trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Về thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

kỳ đổi mới, trong đó có đổi mới giáo dục đào tạo ĐH, CĐ

- Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, Phương pháp thống kê - so sánh Đồng thời có kế thừa và phát triển kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề QLNN về đào tạo ở các trường ĐH, CĐ

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa về lý luận: Luận văn góp phần làm rõ lý luận về giáo dục, đào

tạo và QLNN về đào tạo ở các trường ĐH, CĐ Qua phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về đào tạo ở các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk để thấy được những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của nó trong lĩnh vực này trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về đào tạo ở các trường ĐH, CĐ ở địa phương

Trang 15

- Ý nghĩa về thưc tiễn: Luận văn cung cấp những thông tin giúp các nhà

hoạch định chính sách, những người làm công tác quản lý có cách nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về giáo dục, đào tạo ở các trường ĐH, CĐ địa bàn tỉnh Đắk Lắk Góp phần tích cực vào việc thực hiện tốt chính sách, pháp luật của nhà nước về giáo dục, đào tạo, nâng cao hiêu lực, hiệu quả QLNN về đào tạo ở các trường ĐH, CĐ nói riêng và hệ thống giáo dục nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về về đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ ĐÀO TẠO Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

1.1 Khái niệm, vai trò của đào tạo đại học, cao đẳng

1.1.1 Khái niệm đào tạo, đào tạo đại học, đào tạo cao đẳng

Theo Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam, đào tạo “là quá

trình tác động đến con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị cho việc thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người” [30, tr.365] Đào tạo, cùng với nghiên cứu khoa học là hoạt

động đặc trưng của trường ĐH, CĐ Đó là hoạt động chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng,

kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước

Còn theo trang Wikipedia Bách khoa toàn thư: “Đào tạo đề cập đến

việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định” [31, tr.1]

Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, đào tạo đề cập đến giai đoạn sau khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa

Như vậy, đào tạo là hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể dạy học (người dạy và người học), là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và học tiến hành trong một cơ sở giáo dục mà trong đó tính chất, phạm vi, cấp

độ, cấu trúc, quy trình của hoạt động được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể

Trang 17

về mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, đánh giá kết quả đào tạo, cũng như về thời gian

và đối tượng đào tạo cụ thể

Đào tạo là một công việc thường xuyên của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Hoạt động đào tạo là một công việc cần thiết để tạo ra nguồn nhân lực cho xã hội Sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia, dân tộc đó Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp, kỹ năng, kỹ xảo cho người lao động Đặc biệt, trong quá trình CNH - HĐH đất nước, hoạt động đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng lực lượng lao động có tay nghề cao, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực

Đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách Kết quả và trình độ được đào tạo (trình độ học vấn) của một người còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ra ở việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút kinh nghiệm của người

đó quyết định Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao Tuỳ theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp Hai loại này gắn bó và hỗ trợ cho nhau với những nội dung do các đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kĩ thuật và văn hoá của đất nước Khái niệm giáo dục nhiều khi bao gồm cả các khái niệm đào tạo

Tùy theo từng trình độ, đối tượng mà thời gian đào tạo khác nhau Sau khi kết thúc thời gian đào tạo cho từng đối tượng, người học được cấp chứng chỉ hoặc văn bằng Đào tạo thường có thời gian kéo dài từ 2 đến 4 năm, trong một số trường hợp có thể kéo dài 6 năm (trong lĩnh vực y khoa) Kết thúc khóa đào tạo, người học được nhận văn bằng tốt nghiệp tương ứng với chuyên ngành được đào tạo Văn bằng, chứng chỉ là cơ sở pháp lý để khẳng định người được đào tạo đã đạt được một trình độ chuyên môn nhất định, được xã

Trang 18

hội thừa nhận và có đủ điều kiện để thực hiện nghề nghiệp theo chuyên môn

đã được đào tạo

Trường đại học (tiếng Anh: college; La-tinh: collegium) là một cơ

sở giáo dục ĐH hay một phần của một viện đại học hay đại học College có nguồn gốc từ chữ La-tinh là collegium

Ở La Mã thời xa xưa, collegium là một câu lạc bộ hay một hội, một nhóm người sống với nhau, tuân theo một tập hợp những quy tắc chung Trong tiếng Anh, từ college còn có thể được dùng để chỉ một trường trung học, một trường giảng dạy chương trình sau trung học nhưng không thuộc giáo dục đại học, hay một trường huấn nghệ cấp các chứng chỉ nghề Ở Việt Nam, từ college có khi được dịch sang tiếng Việt là "trường cao đẳng", còn "trường đại học" có khi được dịch sang tiếng Anh là university

Hầu hết các cơ sở giáo dục ĐH Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có tên là trường đại học và theo mô hình phân mảnh ngành học và phân mảnh cơ sở giáo dục của Liên Xô cũ, tức là mỗi trường đại học tồn tại độc lập và tập trung vào một chuyên ngành hay một nhóm chuyên ngành riêng; ví dụ: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Xây dựng, Trường Đại học Thủy lợi Trong trường đại học thường có các khoa, trong khoa có các bộ môn Trường đại học có khi là một đơn vị thành viên trong một đại học hoặc viện đại học;

ví dụ: Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Văn khoa thuộc Đại học Sài Gòn

Việt Nam có mô hình trường đại học tổng hợp và trường đại học bách khoa Các trường đại học tổng hợp tập trung vào các ngành nhân văn và khoa học cơ bản Loại này gồm có Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Tổng hợp Huế (thuộc Đại học Huế),

và Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) Các trường đại học bách khoa thì tập trung vào các ngành kỹ thuật và công nghệ Loại này gồm có Trường Đại học Bách

Trang 19

khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng (thuộc Đại học Đà Nẵng),

và Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)

Trường cao đẳng là trường đào tạo trình độ sau trung học nhưng thấp hơn bậc đại học, gọi là bậc cao đẳng, hệ cao đẳng, hay giáo dục cao đẳng Các trường cao đẳng tuyển những người có bằng trung học phổ thông hoặc tương đương, và

có chương trình đào tạo khoảng ba năm Sinh viên học xong cao đẳng có thể tham gia thi tuyển để được chọn vào học liên thông lên bậc đại học

Cao đẳng là một hệ đào tạo trong giáo dục đại học của Việt Nam Đào tạo cao đẳng thường diễn ra trong các trường cao đẳng Tuy vậy, các đại học và trường đại học cũng thường có cả hệ cao đẳng Từ điển học và Bách

khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa "cao đẳng là cấp học thuộc giáo dục đại

học, tuyển chọn những người có bằng trung học phổ thông hoặc tương đương, đào tạo trong thời gian ba năm Người tốt nghiệp cao đẳng có khả năng hoạt động thực hành nghề nghiệp trong các quy trình công nghệ không quá phức tạp, với trình độ giới hạn về mặt lí thuyết." [30, tr.366]

Từ đó có thể đưa ra khái niệm Đào tạo cao đẳng thuộc giáo dục đại

học có mục tiêu đào tạo chung là đào tạo người học có phẩm chất chính trị,

có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm kiếm việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trường Đại học do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập, trường cao đẳng công lập do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kinh phí cho các hoạt động của trường chủ yếu do ngân sách Nhà nước bảo đảm

Trang 20

Chương trình đào tạo trình độ cao đẳng được xây dựng theo định hướng thực hành, áp dụng cho hình thức giáo dục chính quy và thường xuyên

Cơ sở đào tạo trình độ cao đẳng bao gồm trường cao đẳng và trường đại học

Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản

lý lên đối tượng quản lý bằng việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức

để đạt được mục tiêu đặt ra

Vận dụng khái niệm quản lý vào lĩnh vực đào tạo, có thể hiểu quản lý đào tạo ở trường ĐH,CĐ là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý (gồm các cấp quản lý khác nhau từ Ban giám hiệu, các Phòng, Ban, Khoa, đến Tổ bộ môn và giảng viên) lên các đối tượng quản lý (bao gồm giảng viên, sinh viên, cán bộ quản lý cấp dưới và cán bộ phục vụ đào tạo) thông qua việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý nhằm đạt được mục tiêu đào tạo của nhà trường

1.1.2 Vị trí, vai trò của đào tạo đại học, cao đẳng

Hiện nay Việt Nam đang thực hiện CNH - HĐH nền kinh tế thì giáo dục đào tạo ĐH, CĐ giữ vị trí hết sức quan trọng để thực hiện thành công nhiệm vụ này

Điều 61 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ “Phát triển giảo dục là quốc sách

hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [25, tr.13] Giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhân tố chủ yếu

quyết định sự phát triển KT-XH

Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì đào tạo ĐH, CĐ thuộc giáo dục đại học giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong cấu trúc của nền giáo dục quốc gia Trong nền kinh tế trí thức, khi mà trí thức là động lực của kinh tế thì

sự phân công lao động có sự khác biệt với nền kinh tế truyền thống Đó là xuất hiện đội ngũ những người lao động tri thức, có trình độ cao là các kỹ sư, những nhà khoa học, sản phẩm của họ là ý tưởng, những công trình nghiên

Trang 21

cứu khoa học trên một số lĩnh vực cụ thể được đưa trực tiếp vào nền kinh tế

và tạo ra giá trị cho xã hội

Tuy nhiên, trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế nước ta như hiện nay không thể thiếu những người được đào tạo Họ là những người lao động được đào tạo bài bản, có khả năng được tiếp nhận những ý tưởng và đưa các ý tưởng đó vào thực tiễn của hoạt động sản xuất Họ có khả năng tổ chức các hoạt động sản xuất để biến các ý tưởng đó thành sản phẩm, thành của cải, tạo

ra giá trị to lớn cho xã hội Chính vì vậy, ở Việt Nam hiện nay, khi mà cả nước đang ra sức thực hiện CNH - HĐH nền kinh tế thì giáo dục ĐH, CĐ) giữ

vị trí hết sức quan trọng, góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ này

Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm sự nghiệp chăm sóc và phát huy yếu tố con người Điều đó xuất phát từ nhận thức sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của yếu tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh của mọi quốc gia Xây dựng và phát triển con người có trí tuệ cao, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Để đạt được điều đó giáo dục và đào tạo có vai trò quyết định

Phát triển giáo dục - đào tạo sẽ nâng cao mặt bằng dân trí, yếu tố thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội của môi trường quốc gia Là một trong những nhân tố của lĩnh vực giáo dục - đào tạo, đào tạo ĐH, CĐ đang đóng góp một vai trò quan trọng cho sự phát triển của giáo dục Việt Nam Đào tạo

ĐH, CĐ góp phần hiện thực hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu

Nhận thức rõ vai trò của giáo dục - đào tạo, Nghị quyết Hội nghị Ban

chấp hành Trung ương lần thứ 2 khóa (VIII) đã khẳng định “Thực sự coi giáo

dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư cho phát triển Thực

Trang 22

hiện chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với giáo dục – đào tạo, đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương Có các giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục - đào tạo” Thêm vào đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X

cũng nhấn mạnh “Giáo dục - đào tạo là một trong những động lực thúc đẩy

sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố

cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [32,

tr.10] Cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước trong thời kì quá độ lên

CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) một lần nữa khẳng định lại quan điểm

xuyên suốt của Đảng ta là “Giáo dục - đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí,

phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 được thông qua tại Đại hội

XI, vai trò của giáo dục - đào tạo lại được làm rõ: “Giáo dục - đào tạo cần

tập trung vào việc phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” [32, tr.11]

Đào tạo trình độ ĐH, CĐ góp phần đảm bảo quyền học tập của con người Quyền học tập là một trong những quyền cơ bản của con người và

được quy định tại Điều 39 Hiến pháp năm 2013 “Công dân có quyền và

nghĩa vụ học tập”, “ Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục, nhà nước không thu phí, từng bước phổ cập giáo dục trung học, phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý” [25, tr.9]

Tóm lại trong các nguồn lực để phát triển, nguồn nhân lực có trí tuệ là nhân tố cơ bản, quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Cho nên, giáo dục - đào tạo có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng tới sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là giáo dục ĐH, CĐ, lĩnh vực có trọng trách đào tạo đội ngũ lao động trình độ cao Các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh Đăk Lắk, hiểu rõ tầm quan trọng cũng như trọng trách phải đảm nhiệm nên luôn đề rõ mục tiêu đào tạo đội ngũ nhân lực vừa hồng vừa chuyên để xây dựng và phát

Trang 23

triển vùng Tây Nguyên nói riêng, cả nước nói chung Góp phần quan trọng đưa nước ta nhanh chóng hoàn thành quá trình CNH - HĐH, thực hiện thắng lợi mục tiêu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng phát triển hiện đại đến năm 2020

1.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng

1.2.1 Đảm bảo cho thực hiện thành công mục tiêu giáo dục, đào tạo

Giáo dục đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, mang tính xã hội hóa cao, do đó phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự tham gia của toàn xã hội Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, QLNN về giáo dục không chỉ là quản lý, điều hành, huy động các nguồn lực quốc gia, Nhà nước còn thực hiện các chương trình quốc tế hóa giáo dục, liên kết huy động các nguồn lực ngoại lực để đáp ứng yêu cầu quốc tế hóa thông qua hợp tác

Phát triển giáo dục luôn là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh

và bền vững Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực, có khả năng huy động, tổ chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội

Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, biểu hiện ở sự hình thành và hoàn thiện từng bước

về thể lực, kiến thức, kỹ năng, trình độ và nhân cách nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu hoạt động, lao động của cá nhân và sự phát triển xã hội

Đào tạo là công cụ để phát triển chất lượng nguồn nhân lực Đào tạo nâng cao năng suất lao động của cá nhân thông qua tích luỹ kiến thức, kỹ năng, thái độ lao động Đào tạo nâng cao chất lượng của lực lượng lao động,

Trang 24

được thể hiện bằng việc tích luỹ vốn, tăng thu nhập của người lao động Đào tạo cũng là công cụ để thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau các tư tưởng và tiến bộ khoa học, công nghệ Đào tạo thực hiện mục đích nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức

và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Đào tạo gắn học với hành, những điều sinh viên học trong nhà trường sẽ gắn với nghề nghiệp

và cuộc sống trong tương lai của họ Đào tạo giúp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, có ý thức vươn lên về khoa học, công nghệ, xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, đào tạo các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà văn hoá, nhà kinh doanh và nhà quản lý, phát huy mọi tiềm năng của đội ngũ trí thức để tạo nguồn lực trí tuệ, nhân tài cho đất nước

Đây là cơ sở cho việc xác định mục tiêu của giải pháp phát triển giáo dục là phải phát triển quy mô đào tạo một cách hợp lý để chuẩn bị nguồn nhân lực cho đất nước thời kỳ CNH - HĐH; là cơ sở cho giải pháp phát triển giáo dục; xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo; xây dựng các trường đạt trình độ quốc tế

Ngoài ra, đào tạo ĐH, CĐ cần một nguồn nhân lực, vật lực rất lớn nhưng hiệu quả thu về không phải trong chốc lát vì đó là lợi ích “ trăm năm” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy Vì vậy, Nhà nước phải đầu tư chiều sâu cho đào tạo ĐH, CĐ

Nhà nước định hướng cho sự phát triển các trường ĐH, CĐ, đặc biệt là

dự báo về số lượng, chất lượng, cơ cấu, chương trình, trình độ đào tạo từng nhóm ngành nghề hoặc từng ngành nghề cụ thể Nhà nước tạo cơ chế để các trường cao đẳng phát triển, tạo khuôn khổ pháp lý để các trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao chất lượng đào tạo phát triển nguồn nhân lực

Trang 25

1.2.2 Cung cấp nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội

Đào tạo ĐH, CĐ bao gồm nhiều bộ phận hợp thành Trong quá trình phát triển, các bộ phận này luôn xuất hiện mâu thuẫn theo tính chất biện chứng của chúng Để đạt được mục tiêu đào tạo cần phải có những tác động, những điều tiết của Nhà nước làm cho tính thống nhất giữa các bộ phận cấu thành để phát triển ổn định Hoạt động QLNN có tác dụng làm cho các bộ phận cấu thành hệ thống đào tạo vận hành đúng mục đích, làm cho hoạt động của toàn bộ hệ thống giáo dục ĐH, CĐ nói riêng đạt hiệu quả cao

Để đáp ứng những nhu cầu cơ bản về giáo dục ĐH, CĐ, Nhà nước cần quản lý, điều chỉnh ở một mức độ nhất định Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực chiến lược có tiếng nói quyết định trong việc tạo lập và phát triển nguồn nhân lực quan trọng nhất của mỗi quốc gia, đó là nguồn lực con người Trong những năm qua Đảng và Nhà nước các cấp chính quyền địa phương luôn quan tâm đầu tư cho giáo dục Vì vậy công tác đào tạo ĐH, CĐ trên địa bàn ngày một hoàn thiện và phát triển tạo ra nguồn nhân lực có trình độ điều đó góp phần thúc đẩy KT - XH trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk phát triển

Bên cạnh đó, QLNN về giáo dục còn nhằm hạn chế những mặt trái của nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế hiện nay, khi mà chất lượng đào tạo

bị coi nhẹ mà việc tuyển chọn nhân lực nhất là trong các cơ quan nhà nước còn nặng nề về bằng cấp, thì chất xám, trí tuệ nhiều khi bị coi như những món hàng hóa đơn thuần được đem ra mua bán, trao đổi… điều đó dẫn đến xu hướng thương mại hóa giáo dục Chính vì vậy, Nhà nước cần phải thực hiện chức năng quản lý đối với giáo dục nói chung và đào tạo ĐH, CĐ nói riêng nhằm hạn chế những tiêu cực và đảm bảo cho đào tạo ĐH, CĐ đi đúng hướng

đã đề ra Nhà nước hỗ trợ cho các trường đào tạo về thông tin, khoa học kỹ thuật, cơ sở vật chất và ngân sách để các trường phát triển tùy theo tính chất, quy mô điều kiện cụ thể của từng trường Nhà nước đầu tư vào những ngành

Trang 26

mũi nhọn nhằm phát huy vai trò chủ đạo của Nhà nước, đầu tư không vì mục đích lợi nhuận, đầu tư vào các trường ở các vùng kinh tế khó khăn, vào các ngành nghề mà tư nhân không muốn đào tạo nhằm đáp ứng nguồn nhân lực góp phần đưa KT-XH của tỉnh nhà phát triển

1.2.3 Bảo đảm cho việc phát triển nguồn nhân lực

Sự nghiệp giáo dục ĐH, CĐ là của toàn Đảng, toàn dân, mang tính xã hội hóa cao, do đó phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều chỉnh của Nhà nước, sự tham gia của toàn xã hội Trong xu thế hội nhập quốc

tế hiện nay, QLNN về giáo dục không chỉ là quản lý, điều hành, huy động các nguồn lực quốc gia, Nhà nước còn thực hiện các chương trình quốc tế hóa giáo dục, liên kết huy động các nguồn lực ngoại lực để đáp ứng yêu cầu quốc

tế hóa thông qua hợp tác

Phát triển giáo dục luôn là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh

và bền vững Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực, có khả năng huy động, tổ chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội

Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, biểu hiện ở sự hình thành và hoàn thiện từng bước

về thể lực, kiến thức, kỹ năng, trình độ và nhân cách nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu hoạt động, lao động của cá nhân và sự phát triển xã hội

Đào tạo là công cụ để phát triển chất lượng nguồn nhân lực Đào tạo nâng cao năng suất lao động của cá nhân thông qua tích luỹ kiến thức, kỹ năng, thái độ lao động Đào tạo nâng cao chất lượng của lực lượng lao động, được thể hiện bằng việc tích luỹ vốn, tăng thu nhập của người lao động Đào tạo cũng là công cụ để thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau các tư tưởng và

Trang 27

tiến bộ khoa học, công nghệ Đào tạo thực hiện mục đích nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức

và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Đào tạo gắn học với hành, những điều sinh viên học trong nhà trường sẽ gắn với nghề nghiệp

và cuộc sống trong tương lai của họ Đào tạo giúp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, có ý thức vươn lên về khoa học, công nghệ, xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, đào tạo các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà văn hoá, nhà kinh doanh và nhà quản lý, phát huy mọi tiềm năng của đội ngũ trí thức để tạo nguồn lực trí tuệ, nhân tài cho đất nước

Đây là cơ sở cho việc xác định mục tiêu của giải pháp phát triển giáo dục là phải phát triển quy mô đào tạo một cách hợp lý để chuẩn bị nguồn nhân lực cho đất nước thời kỳ CNH - HĐH; là cơ sở cho giải pháp phát triển giáo dục; xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo; xây dựng các trường đạt trình độ quốc tế

Ngoài ra, đào tạo ĐH, CĐ cần một nguồn nhân tài, vật lực rất lớn nhưng hiệu quả thu về không phải trong chốc lát vì đó là lợi ích “ trăm năm” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy Vì vậy, Nhà nước phải đầu tư chiều sâu cho đào tạo ĐH, CĐ

Nhà nước định hướng cho sự phát triển các trường ĐH, CĐ, đặc biệt là

dự báo về số lượng, chất lượng, cơ cấu, chương trình, trình độ đào tạo từng nhóm ngành nghề hoặc từng ngành nghề cụ thể Nhà nước tạo cơ chế để các trường cao đẳng phát triển, tạo khuôn khổ pháp lý để các trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao chất lượng đào tạo phát triển nguồn nhân lực

Trang 28

1.2.4 Phát triển các loại hình đào tạo đại học, cao đẳng

Sự nghiệp GD - ĐT của tỉnh Đắk Lắk ngày càng có nhiều điểm sáng

Sự tiến bộ đó thể hiện qua chất lượng đào tạo ĐH, CĐ được nâng lên rõ rệt, công tác giảng dạy đã và đang được đầu tư thoả đáng, tạo hành trang cho lực lượng lao động trẻ, đặc biệt là lao động ở khu vực nông thôn, vùng sâu, đóng góp trí tuệ và sức lực cho sự phát triển KT-XH của địa phương

Vượt qua những giai đoạn khó khăn, kiên trì đường lối giáo dục của Đảng và lời dạy của Bác Hồ kính yêu dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt, học tốt, đào tạo cao đẳng trên địa bàn Đắk Lắk tiếp tục có những bước đi vững chắc, đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Các loại hình đào tạo cao đẳng phát triển mạnh, đào tạo cao đẳng đã có bước phát triển

rõ nét khi nhân dân và các doanh nghiệp cùng tích cực tham gia vào công tác

xã hội hoá giáo dục Sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội

đã tạo tiền đề cho đào tao cao đẳng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk mở rộng quy

mô và nâng cao chất lượng, hướng tới sự phát triển toàn diện

Với chủ đề đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng đào tạo, trên phương châm giữ vững kỷ cương, tăng cường đội ngũ, duy trì sỹ số, nâng cao chất lượng; Tuy nhiệm vụ trước mắt còn nặng nề, khó khăn, nhưng với sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, với phương châm giữ vững kỷ cương, tăng cường đội ngũ, duy trì sỹ số, nâng cao chất lượng cán bộ, giảng viên quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần đưa sự nghiệp giáo dục - đào tạo Đắk Lắk ngày càng phát triển và đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài", tích cực góp phần đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa địa phương

Vì vậy, QLNN về đào tạo là một đòi hỏi tất yếu khách quan Đào tạo

ĐH, CĐ cũng như tất cả các hoạt động xã hội khác đều cần Nhà nước điều chỉnh, QLNN ở mức độ nhất định Nếu không có sự quản lý của Nhà nước thì

sẽ không đồng bộ hóa hoạt động của các lực lượng tham gia phát triển đào tạo

Trang 29

ĐH, CĐ, sẽ không thể huy động các nguồn lực to lớn cho đào tạo CĐ, sẽ khó làm cho đào tạo CĐ đi đúng hướng Quản lý nhà nước về đào tạo CĐ tạo môi trường thuận lợi cho các trường hoạt động và phát triển theo mục tiêu nhà nước đặt ra Nhà nước kiểm soát các hoạt động đào tạo của các trường để kịp thời phát hiện sai sót, kịp thời điều chỉnh, bổ sung Góp phần cho quá trình đào tạo trên địa bàn phát triển một cách toàn diện và đạt chất lượng

1.3 Quản lý nhà nước về đào tạo đại học, cao đẳng

1.3.1 Khái niệm Quản lý nhà nước về đào tạo đại học, cao đẳng

QLNN về đào tạo ĐH, CĐ là sự tác động điều chỉnh thường xuyên của Nhà nước bằng quyền lực vào hoạt động đào tạo của một quốc gia nhằm thiết lập kỷ cương của hoạt động đào tạo, hướng đến mục tiêu và yêu cầu của sự phát triển NNL

QLNN về đào tạo ĐH, CĐ nhằm đảm bảo chương trình đào tạo thống nhất, theo định hướng, theo quy hoạch và theo mục đích phát triển quốc gia Bên cạnh đó nhà nước quản lý các cơ sở giáo dục đào tạo ĐH, CĐ nhằm đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho hoạt động giáo dục của các cơ sở đào tạo, đảm bảo cho việc giáo dục đạt được hiệu quả theo yêu cầu

Quản lý nhà nước về đào tạo ĐH, CĐ là hoạt động có mục đích, có tổ chức bằng quyền lực nhà nước đối với hoạt động đào tạo nhằm đảm bảo cho hoạt động đào tạo phát triển theo đúng mục tiêu, yêu cầu, kế hoạch đề ra, đúng theo các quy định của Nhà bước để góp phần đào tạo lực lượng lao động có kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết phục vụ cho sự phát triển KT-XH

1.3.2 Nội dung quản lý nhà nước về đào tạo đại học, cao đẳng

Hiện nay, việc QLNN về đào tạo ĐH, CĐ được thực hiện theo các văn bản như: Luật giáo dục 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Luật giáo dục đại học năm 2012; Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014; Điều lệ trường đại học năm 2014; Điều lệ trường cao đẳng năm 2016 và các văn bản liên quan khác Nội dung cơ bản như sau:

Trang 30

- Xây dựng thể chế, chính sách phát triển giáo dục đại học, cao đẳng

Việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục đại học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác đào tạo ĐH, CĐ, là cơ sở để nâng cao chất lượng đào tạo Chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển giáo dục phải phù hợp với các chiến lược, chính sách phát triển giáo dục và đào tạo, các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch sản xuất của cả nước, từng vùng từng ngành, Việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, chính sách, kế hoạch phát giáo dục ĐH, CĐ nhằm tạo

ra sự chủ động, có kế hoạch phát triển trên mỗi lĩnh vực của các trường cao đẳng, trường đại học, học viện, bảo đảm cho các trường hoạt động đúng theo

yêu cầu, quy định, đúng mục đích và bảo đảm chất lượng đào tạo

- Tổ chức bộ máy quản lý đào tạo đại học, cao đẳng

Để tỏ chức bộ máy quản lý, việc đầu tiên cần ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo ĐH, CĐ Căn cứ vào các văn bản, quy định của trung ương về hoạt động giáo dục trong các trường trường

ĐH, CĐ, cơ quan quản lý các trường tổ chức triển khai thực hiện các quy định của cơ quan quản lý cấp trên và ban hành quy chế, quy định phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, của từng trường Việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản, quy định quản lý nhà nước về đào tạo ĐH, CĐ là căn cứ pháp lý quan trọng giúp các trường hoạt động đúng kỷ cương, trật tự

- Duy trì thực hiện chính sách pháp luật về đào tạo đại học, cao đẳng

Để duy trì chính sách pháp luật về đào tạo ĐH, CĐ cần phải xây dựng các quy định, quy chuẩn các vấn đề liên quan như khối lượng, cấu trúc chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, tiêu chuẩn giảng viên; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị của cơ sở giáo dục đại học,…

Công tác tổ chức bộ máy quản lý có vai trò rất quan trọng, quyết định đến sự phát triển của các trường CĐ, trường ĐH Phải đảm bảo tổ chức bộ máy các trường thật tinh gọn, thống nhất, thông suốt, có sự phân công, phân

Trang 31

cấp cụ thể để phát huy tính chủ động, sáng tạo, đề cao trách nhiệm cá nhân đồng thời quan tâm đến dân chủ ở cơ sở

Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục ĐH, CĐ Đây là hoạt động không thể thiếu nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả đào tạo trong các trường CĐ, trường ĐH, học viện và chất lượng quản lý nhà nước đối với các trường Công tác đào tạo, bồi dưỡng phải đi đôi với công tác quy hoạch, phân công, điều động, bổ nhiệm cán bộ Đào tạo, bồi dưỡng phải phù hợp với các tiêu chuẩn chức danh, chức vụ giảng viên, viên chức, công chức

Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực xã hội để phát triển trong giáo dục ĐH, CĐ Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục ĐH, CĐ: Hoạt động đào tạo như đã phân tích ở phần các khái niệm, đó là hoạt động khoa học

Tổ chức, quản lý hoạt động hợp tác quốc tế đối với giáo dục ĐH, CĐ: Các trường cao đẳng, trường đại học cũng không nằm ngoài xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, việc tổ chức, quản lý tốt công tác hợp tác quốc tế về giáo dục tạo điều kiện cho các trường phát triển Qua các dự án hợp tác quốc tế, các trường cao đẳng, trường đại học, học viện có cơ hội tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật trong giáo dục đào tạo và phương pháp giáo dục hiện đại Ngoài ra, làm tốt công tác hợp tác quốc tế còn tạo điều kiện cho người học có cơ hội học tập và cơ hội tìm việc làm cao hơn Nhà nước phải quản lý, kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo hoạt động hợp tác quốc tế về giáo dục đại học đi đúng hướng

Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục ĐH, CĐ: Việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao trong sự nghiệp giáo dục đại học nhằm ghi nhận và tôn vinh những đóng góp vì sự nghiệp giáo dục qua đó sẽ thúc đẩy những cống hiến về trí và lực của họ phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội

Trang 32

- Đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo

Thế kỷ 21, nền giáo dục của nhân loại có những bước tiến lớn với nhiều thành tựu về mọi mặt Hầu hết các quốc gia đều nhận thức được sự cần thiết

và cấp bách phải đầu tư cho giáo dục

Đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư có lãi lớn nhất cho tương lai của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, mỗi gia đình, dòng tộc và mỗi cá nhân

Muốn hoạch định được chính sách đầu tư sâu rộng có hiệu quả cho giáo dục phải có tầm nhìn xa trông rộng Chính vì vậy, UNESCO đã chỉ ra vai trò của giáo dục trong thời đại ngày nay và đã từng kêu gọi các quốc gia đầu tư cho giáo dục Theo ước tính: Cứ ba phút thế giới lại có một phát minh khoa học, nên UNESCO đã khuyến nghị với mọi người về khối lượng tri thức khổng lồ của nhân loại cần được chuyển giao cho các thế hệ Điều đó khẳng định rằng: Quốc gia nào không đầu tư cho giáo dục sẽ có nguy cơ tụt hậu nghiêm trọng trong tương lai

Tại Điều 13 Luật Giáo dục năm 2005 nhấn mạnh: “Đầu tư giáo dục là

đầu tư phát triển, Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục Khuyến khích bảo

hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho giáo dục, trong đó ngân sách Nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục” [22, tr.12]

Là một trong năm quốc gia được đánh giá là có nền kinh tế mới nổi, Việt Nam đang trên đà hội nhập khu vực và quốc tế, thu nhập xã hội đang từng bước tăng lên, mặc dù hiện nay đang gặp khó khăn trước tình hình suy thoái kinh tê thế giới, nhưng chúng ta vẫn có quyền hy vọng việc đầu tư cho giáo dục sẽ được toàn xã hội quan tâm, coi đó là đầu tư cho phát triển để tiến tới đạt được mục tiêu xây dựng một nền giáo dục “Chuẩn hoá, hiện đại hoá,

xã hội hoá”

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đào tạo

Trang 33

Thanh tra, kiểm tra là một trong những chức năng quản lý Trong nội

dung hoạt động quản lý, bao giờ cũng phải có nội dung thanh tra, kiểm tra Hoạt động thanh tra kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo được thực hiện tốt thì mới đảm bảo hoạt động của các trường cao đẳng, trường đại học, học viện đúng theo quy định pháp luật Thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra kịp thời phát hiện hạn chế, sai phạm cũng như những vướng mắc trong quá trình hoạt động của các trường cao đẳng, trường đại học, học viện để kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn giải quyết hoặc đề xuất bổ sung hoàn thiện chính sách pháp luật Qua thanh tra, kiểm tra cũng kịp thời phát hiện và nhân rộng, phát huy những nhân tố tích cực, tiên tiến Giải quyết tốt những khiếu nại, tố cáo và xử

lý vi phạm pháp luật về giáo dục góp phần bảo vệ lợi ích nhà nước, của nhân dân, phát huy dân chủ cơ sở, tạo lòng tin cho người học, cho nhân dân

1.3.3 Hình thức quản lý nhà nước về đào tạo đại học, cao đẳng

1.3.3.1 Hình thức quản lý hành chính nhà nước

Là những hình thức biểu hiện bên ngoài của hoạt động chấp hành, điều hành các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước thực hiện như: ban hành các văn bản quản lý, áp dụng các biện pháp tổ chức trực tiếp…

1.3.3.2 Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản QPPL là văn bản do cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục luật định, trong đó chứa đựng các quy tắc xử

sự chung được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong quản lý hành chính nhà nước, hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật là hình thức quản lý hành chính nhà nước quan trọng của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước nhằm thực hiện chức năng chấp hành và điều hành

Trang 34

1.3.3.3 Ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật

Văn bản áp dụng QPPL là văn bản thi hành của văn bản QPPL, văn bản này được ban hành trên cơ sở văn bản QPPL nhằm giải quyết các công việc liên quan đến cá nhân, tổ chức

Hình thức ban hành văn bản áp dụng QPPL là hình thức chủ yếu của cơ quan QLHCNN sử dụng để giải quyết các công việc, cụ thể hàng ngày Do

đó, văn bản áp dụng QPPL có số lượng rất lớn, có nội dụng, tính chất, mục đích sử dụng rất khác nhau Tuy nhiên, căn cứ vào mục đích áp dụng, chúng

ta có thể chia thành 2 nhóm lớn là:

- Những văn bản chấp hành pháp luật;

- Những văn bản bảo vệ pháp luật

1.3.3.4 Thực hiện những hoạt động mang tính chất pháp lý

Những hoạt động mang tính chất pháp lý là những hoạt động do các chủ thể quản lý HCNN tiến hành khi pháp sinh những điều kiện tương ứng được quy định trước trong các văn bản QPPL nhưng không cần ban hành văn bản áp dụng QPPL Những hoạt động mang tính pháp lý bao gồm rất nhiều các hoạt động cụ thể khác nhau như: Áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn

và phòng ngừa VPPL như kiểm tra bằng cấp, giấy chứng nhận chuyên môn, nghiệp vụ…

- Lập và cấp một số giấy tờ nhất định như giấy phép đào tạo, bồi dưỡng

- Công chứng, chứng thực văn bằng, chứng chỉ…

1.3.3.5 Áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp

Là hình thức hoạt động không mang tính pháp lý do chủ thể quản lý hành chính nhà nước tiến hành nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi để ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý Tiến hành các hoạt động tổ chức thực hiện gồm các hoạt động nghiên cứu, tổng kết và phổ biến những kinh nghiệm tiên tiến, áp dụng các biện pháp cụ thể nhằm ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật vào quản lý, tổ chức kiểm tra, điều phối hoạt động, tổ chức hội thảo…

Trang 35

1.3.3.6 Thực hiện những tác động về nghiệp vụ - kỹ thuật

Là hoạt động sử dụng kiến thức nghiệp vụ, áp dụng thành tựu khoa học

kỹ thuật vào quá trình quản lý hành chính nhà nước

Thực hiện những tác động về nghiệp vụ - kỹ thuật có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao hiệu suất công tác của bộ máy hành chính nhà nước, đảm bảo công tác quản lý hành chính nhà nước được tiến hành một cách nhanh chóng, hiệu quả và chính xác

1.3.4 Phương pháp quản lý nhà nước

Các phương pháp QLHCNN bao gồm phương pháp thuyết phục, phương pháp cưỡng chế, phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế

1.3.4.1 Phương pháp thuyết phục

Thuyết phục là làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết và tự giác thực hiện những hành vi nhất định hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất định

Nội dung của phương pháp thuyết phục:

- Phương pháp thuyết phục do chủ thể QLHCNN sử dụng để tác động lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình

- Bản chất của phương pháp thuyết phục là làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết và tự giác thực hiện hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất định

- Phương pháp thuyết phục được thể hiện bằng những hoạt động như: giải thích, động viên, hướng dẫn, chứng minh làm cho đối tượng hiểu rõ và

tự giác chấp hành các yêu cầu của chủ thể quản lý

1.3.4.2 Phương pháp cưỡng chế

Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đối với những cá nhân, tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật quy định buộc cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện hay không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế

về mặt tài sản hoặc tự do thân thể

Trang 36

Nội dung của phương pháp cưỡng chế:

- Chủ thể áp dụng phương pháp cưỡng chế phải là cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật như: cơ quan công an, ủy ban nhân dân… Đối tượng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế là cá nhân, tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật quy định như: cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính

- Biểu hiện của phương pháp cưỡng chế là buộc cá nhân, tổ chức phải chấp hành các quyết định đơn phương của chủ thể quản lý

1.3.4.3 Phương pháp tổ chức hành chính

Phương pháp tổ chức hành chính là phương thức tác động tới cá nhân thông qua qui định chức năng, nhiệm vụ của tổ chức, trong đó quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua hệ thống thể chế hoặc những mệnh lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

1.3.4.4 Phương pháp kinh tế

Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp đến hành vi của các đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế tác động đến lợi ích của con người

- Đặc điểm của phương pháp kinh tế

+ Đây là phương pháp tác động gián tiếp đến đối tượng quản lý thông qua lợi ích kinh tế như việc quy định chế độ thưởng, phạt

+ Phương pháp kinh tế được thể hiện trong việc sử dụng đòn bẩy kinh

tế nhằm tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho hoạt động có hiệu quả của đối tượng quản lý phát huy năng lực sáng tạo, chọn cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đào tạo đại

học, cao đẳng

Đào tạo là các hoạt động học tập cung cấp những kiến thức, kỹ năng nhằm giúp công chức có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ vị trí việc làm của mình Đó là quá trình truyền thụ khối kiến thức mới một cách

Trang 37

có hệ thống để người công chức thông qua đó trở thành người có văn bằng mới hoặc cao hơn trình độ trước đó, “đào tạo là các hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện có hiệu quả hơn chức năng và nhiệm vụ của mình” Có thể thấy đào tạo là hoạt động làm cho công chức trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định gắn với vị trí việc làm, khung năng lực của tổ chức Quá trình đào tạo được tiến hành trong khoảng thời gian dài và được hiểu là quá trình chuẩn bị cho nguồn nhân lực phát triển trong tương lai Đặc trưng của đào tạo là phải gắn liền với những thay đổi của môi trường, đáp ứng đòi hỏi của công việc và môi trường trong hiện tại và tương lai

Thứ ba, dựa vào các văn bản quy định chính sách để xây dựng chiến lược, kê' hoạch đào tạo và bồi dưỡng phù hợp với đặc thù của ngành, địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của ngành đủ về số lượng, nâng cao chất lượng và hợp lý về cơ cấu

Thứ tư, dựa vào văn bản quy định để kiểm tra, kiểm soát công tác đào tạo và bồi dưỡng, chất lượng và nội dung chương trình cũng như kết quả đạt được của công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức

Trang 38

1.4.2 Hệ thống các cơ sở đào tạo

Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức là nơi tổ chức thực hiện các khóa đào tạo, bổi dưỡng trang bị, cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng hoạt động công vụ cho công chức Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cần bảo đảm các tiêu chuẩn tối thiểu của một trường/viện/ trung tâm đào tạo công chức hiện đại, như: khuôn viên rộng rãi, có hội trường, các phòng học, ký túc xá, khu vui chơi giải trí thể thao; trang thiết bị giảng dạy hiện đại; cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm quản lý, phần mềm đào tạo hiện đại và chất lượng; đội ngũ giảng viên đảm bảo về số lượng và đủ năng lực giảng dạy; đội ngũ quản lý đào tạo chuyên nghiệp

1.4.3 Trình độ, kỹ năng của đội ngũ giảng viên

Đây là yếu tố mang tính quyết định đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng,

vì vậy yêu cầu đội ngũ giảng viên phải có trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm đạt chuẩn và kinh qua thực tế công tác Bởi vì trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức giảng viên là người hướng dẫn học viên học tập, rèn luyện

kỹ năng làm việc Một nguyên tắc của việc bồi dưỡng là cung cấp kiến thức ở mức cần thiết, rèn luyện kỹ năng đến mức có thể Cho nên, giảng viên phải là người có kiến thức, có kỹ năng và kinh nghiệm thực tế đối với lĩnh vực chuyên môn đảm nhận, chỉ có như vậy công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức mới thu được kết quả như mong muốn

1.4.4 Ngân sách đào tạo và bồi dưỡng

Sô liệu thực tế về trình độ, năng lực của đội ngũ công chức cho thấy:

“Theo đánh giá chung, đội ngũ này còn không ít hạn chế so với đòi hỏi của thời kỳ mới: chỉ khoảng 30% trong số họ đáp ứng được yêu cầu, khoảng 40%

"tàm tạm" và khoảng 30% còn lại là chưa đáp ứng được yêu cầu”

Sử dụng và quản lý ngân sách dành cho đào tạo, bồi dưỡng tốt sẽ có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưõng Nguồn kinh phí được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng cần đào tạo, bồi dưỡng sẽ đem lại kết quả cho tổ chức cũng như cá nhân cống chức Ngược lại, nếu nguồn ngân

Trang 39

sách được sử dụng sai mục đích, lãng phí không những vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý đào tạo, bồi dưỡng công chức mà còn ảnh hưởng tới quyền lợi chính đáng của công chức về nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng

1.4.5 Hội nhập và toàn cầu hóa

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu, rộng và kinh tế - xã hội không ngừng phát triển, vấn đề dự báo nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đặt ra những yêu cầu cấp bách đối với toàn xã hội nói chung và đối với khu vực hành chính công nói riêng Vì vậy, yêu cầu đội ngũ cán bộ, công chức phải có kiến thức về hội nhập quốc tế, trang bị đầy đủ kiến thức tin học, ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu của tổ chức và yêu cầu của từng vị trí việc làm công chức đảm nhận Tiếp cận chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phát triển công chức của các nước tiên tiến, tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành chính công là rất cần thiết Qua đó đội ngũ cán bộ, công chức trưởng thành, nhanh chóng hội nhập với khu vực

và thế giới, nâng cao chất lượng công tác hoạch định, xây dựng chính sách phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đào tạo đại học, cao đẳng ở một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm

Hiện nay, các quốc gia đều tập trung vào việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực để tăng khả năng cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước Để có thể hội nhập và cạnh tranh được với các quốc gia khác trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, chúng ta cần phải nhanh chóng chuyển nền kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào tài nguyên, vốn sang phát triển dựa vào nguồn nhân lực có chất lượng và khoa học, công nghệ Muốn vậy, Việt Nam nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng phải có một chiến lược đào tạo nguồn nhân lực đúng đắn

Trang 40

1.5.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đào tạo đại học, cao đẳng của một số quốc gia trên thế giới

1.5.1.1 Kinh nghiệm của Mỹ

Mỹ đã xác định rõ phương châm “nguồn nhân lực là trung tâm của mọi

sự phát triển” Để giữ vị trí siêu cường về kinh tế và khoa học, công nghệ, chiến lược nguồn nhân lực tập trung vào đào tạo nguồn nhân lực và thu hút nhân tài Trong đào tạo nguồn nhân lực, Mỹ đã xây dựng một hệ thống giáo dục với hai đặc trưng là tính đại chúng và tính khai phóng, hệ thống giáo dục

Mỹ đặc biệt coi trọng giáo dục đại học, ở Mỹ có 4200 trường đại học, cao đẳng, đảm bảo cho mọi người dân có nhu cầu đều có thể tham gia vào các chương trình đào tạo ĐH, CĐ

Ở Mỹ, hệ thống các trường ĐH, CĐ cộng đồng phát triển mạnh đảm bảo tính đại chúng trong giáo dục đại học, các trường này hướng vào đào tạo

kỹ năng làm việc cho người lao động, hiện ở Mỹ 78% có khoảng dân số tốt nghiệp ĐH, CĐ và trung học chuyên nghiệp Ở Mỹ, phát triển cả những trường đại học cộng đồng và đại học nghiên cứu Tỷ lệ các trường nghiên cứu

và đại học cộng đồng là 1/30, nghĩa là cứ 1 trường đại học nghiên cứu thì có tới 30 trường đại học cộng đồng Trong giáo dục đại học ở Mỹ, tính cạnh tranh giữa các trường rất khốc liệt Các trường đại học khẳng định mình bằng chính chất lượng giảng dạy và tự xây dựng thương hiệu riêng cho mình Nếu sinh viên vào được các trường đại học tốt, nổi tiếng và học giỏi, cơ hội có việc làm sẽ tăng lên rất nhiều Cùng với việc đầu tư nhiều tiền từ ngân sách nhà nước cho đào tạo nhân lực thì Mỹ còn huy động được nhiều nguồn lực khác từ trong xã hội vào công tác đào tạo nhân lực Các công ty ở Mỹ cũng rất chú ý phát triển NNL, đào tạo nhân công Năm 1992, chi phí đào tạo nhân công ở các công ty là 210 tỷ USD; năm 1995 chi phí đó lên tới 600 tỷ USD, năm 2000 là trên 800 tỷ USD và đến nay lên tới gần 1.000 tỷ USD

Ngày đăng: 25/11/2020, 14:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w