Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, công tác QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc trên địa bàn huyện Đồng Xuân còn chứa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN NGỌC TIẾN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
ĐĂK LĂK – NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN NGỌC TIẾN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGÔ VĂN TRÂN
ĐĂK LĂK – NĂM 2018
Trang 4i
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1 Mục đích 4
3.2 Nhiệm vụ 5
4 Đối tượng nghiên cứu 5
5 Phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
6.1 Phương pháp luận 5
6.2 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6
8 Kết cấu nội dung của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 8
1.1 Một số khái niệm 8
1.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số 16
1.3 Nội dung quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số 20
1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của một số dân tộc ở Việt Nam 24
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN 33
Trang 5ii
2.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội tác động đến quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn
huyện Đồng Xuân 33
2.2 Tình hình các dân tộc và đặc điểm văn hóa các dân tộc thiểu số huyện Đồng Xuân 41
2.3 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đồng Xuân 50
2.4 Đánh giá chung 63
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG XUÂN THỜI GIAN TỚI 70
3.1 Phương hướng, mục tiêu hoàn thiện quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số 70
3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở huyện Đồng Xuân thời gian tới 74
3.3 Kiến nghị 82
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 92
Trang 7iv
DANH MỤC CÁC BIỂU, BẢNG
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Đồng Xuân 34 Hình 2.2.Biểu đồthể hiện trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức ngành văn hóa thông tin huyện Đồng Xuân 56 Hình 2.3.Biểu đồ thể hiện sự hiểu biết của cán bộ, công chức, viên chức về Luật
Di sản văn hóa 59 Hình 2.4.Biểu đồ thể hiện sự hiểu biết của cán bộ, công chức, viên chức về quản
lý nhà nước đối với di sản văn hóa 59 Hình 2.5 Biểu đồ ngân sách cấp cho hoạt động văn hóa huyện Đồng Xuân 60
Trang 8v
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn đảm bảo tính khách quan, trung thực, chính xác, có nguồn gốc cụ thể Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung công trình nghiên cứu của mình
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Ngọc Tiến
Trang 9vi
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được
sự động viên và giúp đỡ của nhiều tập thể và cá nhân
Trước tiên, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy, cô giáo đã giảng dạy trong chương trình học tập của lớp cao học Quản lý công HC20-TN7, quý thầy, cô công tác tại Phân viện Học viện Hành chính quốc gia khu vực Tây nguyên, Học viện Hành chính quốc gia
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, UBND huyện Đồng Xuân, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện, Chi cục Thống kê huyện, UBND các xã Phú Mỡ, Xuân Quang 1, Xuân Quang 2, Xuân Phước, Xuân Lãnh, Đa Lộc và đặc biệt là lãnh đạo Văn phòng HĐND & UBND huyện và các đồng nghiệp đang công tác tại Văn phòng HĐND & UBND huyện Đồng Xuân đã tạo điều kiện về thời gian và giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến TS Ngô Văn Trân, người đã hết lòng giúp đỡ và hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận văn này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và các bạn
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Ngọc Tiến
Trang 10vii
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, là cơ sở góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với sự tác động của toàn cầu hóa, một mặt các chuẩn mực văn hóa định hướng thúc đẩy con người không ngừng hoàn thiện, mặt khác các giá trị văn hóa truyền thống tạo nên sức mạnh, góp phần hạn chế hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội Xuất phát từ vai trò của văn hóa, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo phát triển văn hóa, coi văn hóa là một mặt trận quan trọng trên lĩnh vực tư tưởng, góp phần thắng lợi to lớn vào sự nghiệp cách mạng
Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các DTTS có ý nghĩa sống còn đối với mỗi dân tộc, đặc biệt trong xu hướng hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay thì vấn đề này càng được chú trọng hơn Đặc biệt, Việt Nam vốn là nước đa sắc tộc, vì vậy việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy tính đa dạng, phong phú và độc đáo của văn hóa các dân tộc
là hết sức quan trọng
Việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống đó đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XI: “Phát triển văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển là thể hiện rõ nhất tính ưu việt của xã hội ta”
Đồng Xuân là huyện miền núi của tỉnh Phú Yên có 17 dân tộc sinh sống Trong đó đồng bào DTTS hơn 10.116 người chiếm tỉ lệ 16,82% dân số toàn huyện với 2 dân tộc chính là Chăm Hroi và Ba na Trong đó: Dân tộc Chăm Hroi có 7.931 người chiếm tỉ lệ 13,18%, dân tộc Ba na có 1.944 người chiếm tỉ
lệ 3,23% Đồng bào các DTTS sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, lâm nghiệp, cuộc sống bình yên và gắn bó với núi rừng, có truyền thống yêu nước, với những giá trị văn hóa phong phú, độc đáo và chứa đựng tính nhân văn cao cả
Trang 122
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đặc biệt là sự ủng
hộ chung sức của cộng đồng các dân tộc trên địa bàn huyện Đồng Xuân, vấn đề QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc đã đạt được nhiều kết quả tích cực
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, công tác QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc trên địa bàn huyện Đồng Xuân còn chứa đựng nhiều hạn chế: Nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc chưa được chú trọng; nguồn lực để xây dựng các thiết chế văn hóa chưa tương xứng Đặc biệt, trong bối cảnh phát triển đất nước theo kinh tế thị trường định hướng XHCN, dưới tác động của quá trình
đô thị hóa cũng như tư tưởng thực dụng, chạy theo lợi nhuận, phần nào tạo ra sự buông lỏng quản lý của Nhà nước đối với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc, làm cho văn hóa các dân tộc không chỉ bị mai một
mà không được duy trì, củng cố và mất dần bản sắc
Do vậy, việc nghiên cứu cả trên phương diện lý luận và thực tiễn về QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên hiện nay có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc góp phần nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của cộng đồng dân cư trên địa bàn, tạo động lực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, ổn định chính trị, giữ vững quốc phòng,
an ninh của địa phương
Với những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề: “Quản lý nhà nước về bảo
tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
QLNN về văn hóa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Có thể nêu một số công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến đề tài như sau:
Trang 133
- Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm (1999), NXB Giáo dục,
Hà Nội Tác giả đã khái quát về văn hóa và văn hóa học Việt Nam; văn hóa nhận thức; văn hóa tổ chức trong đời sống tập thể, cá nhân; văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội
- Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa nước ta của Hoàng
Vinh (1999), NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Tác giả đã trình bày những nguyên lý cơ bản của lý luận văn hóa và những vấn đề về xây dựng văn hóa văn hóa của nước ta
- Lược sử quản lý văn hóa ở Việt Nam của Hoàng Sơn Cường (1998) Tập
bài giảng Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.Tác giả đã khái lược về công tác quản lý văn hóa ở Việt Nam
- Về lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới của
Nguyễn Duy Bắc (2001) NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đã đánh giá công tác lãnh đạo, quản lý về văn học nghệ thuật của nước ta trong thời kỳ đổi mới
Những công trình trên đã bước đầu làm rõ một số vấn đề quan trọng liên quan đến phương diện lý luận của công tác quản lý văn hóa như: Mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, đại cương về quản lý hoạt động văn hóa, chính sách quản lý hoạt động văn hóa, nội dung quản lý hoạt động văn hóa, quản lý xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở hiện nay…
Ngoài ra, còn có một số luận án tiến sĩ, luận văn cao học của nhiều tác giả liên quan đến đề tài
- Vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH ở Thừa Thiên Huế hiện nay, Trần Thị
Hồng Minh (2014), Luận án tiến sỹ Triết học, Học viện Chínhtrị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Tác giả luận án làm rõ thực trạng, một số vấn đề đặt ra của việc giữ gìn, phát huy DSVH ở Thừa Thiên Huế hiện nay Trên cơ sở đó, Luận
án đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giữ gìn và phát huy DSVH tại địa phương trong thời gian tới
Trang 144
- Quản lý nhà nước về trùng tu di tích cố đô Huế, Hà Xuân Hậu (2014),
Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội Luận văn tập trung
nghiên cứu hoạt động QLNN về trùng tu DTLS-VH được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt-Cố đô Huế Trên cơ sở phân tích, đánh giá, tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân, thực trạng QLNN về trùng tu di tích Cố đô Huế; đề xuất một số giải pháp, kiến nghị thiết thực góp hoàn thiện QLNN về trùng tu di tích Cố đô Huế trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới
- Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên
Huế, Trần Quang Tuấn Minh (2014), Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính
quốc gia, Hà Nội Luận văn nghiên cứu thực trạng QLNN của chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, những mặt tích cực cần phát huy và hạn chế cần khắc phục để đạt hiệu quả cao hơn Đề xuất những giải pháp để chính quyền địa phương hoàn thiện hơn công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong tương lai
- Quản lý nhà nước về di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên, Phạm Như Thùy (2014), Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính quốc
gia, Hà Nội Tác giả đi sâu phân tích thực trạng QLNN về DTLS-VH ở tỉnh Thái Nguyên Từ đó, đề xuất một số giải pháp QLNN về DTLS-VH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới
Bên cạnh những công trình tiêu biểu nêu trên, nhiều công trình, bài viết liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến QLNN về văn hoá, di sản, DTLS-
VH, thực trạng bảo tồn, phát huy DSVH ở nhiều địa phương trong cả nước về góc độ lý luận và thực tiễn khác nhau được công bố, nhưng đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến QLNN về DTLS-VH trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên Những kiến thức, kết quả nghiên cứu đã được công
bố là những tư liệu quý, tác giả luận văn sẽ kế thừa trong quá trình triển khai và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trang 155
Đề tài góp phần hoàn thiện QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài luận văn tập trung thực hiện
3 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS và kinh nghiệm QLNN về lĩnh vực này ở một số địa phương tương
đồng, rút ra bài học tham khảo cho huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên
- Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên thời gian đến
4 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên
- Không gian nghiên cứu: Trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Luận văn dựa trên phương pháp luận Duy vật biện chứng và Duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 166
- Để thực hiện đề tài, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể: phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp và điều tra XHH
- Phương pháp điều tra XHH bằng bảng hỏi: Phương pháp này sử dụng nhằm thu thập thông tin về nhận thức, quan điểm, những khó khăn bất cập trong công tác QLNN đối với hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa ở cơ sở Đối tượng điều tra: Cán bộ, công chức của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện và 6 xã: (Xuân Quang 1, Xuân Quang 2, Xuân Phước, Xuân Lãnh, Đa Lộc và Phú Mỡ)
- Số lượng phiếu điều tra: 100 phiếu
- Cơ cấu điều tra, mỗi đơn vị khảo sát bình quân khảo sát từ 10 đến 15 công chức
- Phương pháp thu thập, xử lý thông tin, số liệu điều tra:
Sau khi thu thập phiếu điều tra, tác giả tổng hợp kết quả, nội dung trả lời từng câu hỏi ở các phiếu điều tra, thống kê và xử lý số liệu bằng các phương pháp thống
kê thông thường qua việc tìm kết quả bình quân gia quyền Sau khi có kết quả từng nội dung, tác giả xem xét, so sánh, đối chiếu và rút ra những nhận xét, đánh giá từng tiêu chí một trên cơ sở thực trạng trình độ, nhận thức của cán bộ, công chức Từ đó, rút ra những tồn tại, hạn chế của công tác QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS hiện nay và đưa ra những kiến nghị, đề xuất những giải pháp tăng cường QLNN tại địa phương
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Trên cơ sở mới về khoa học của luận văn góp phần thực hiện tốt công tác QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS trên địa bàn huyện
Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý ngành và địa phương trong hoạt động QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh
Phú Yên
8 Kết cấu nội dung của luận văn
Trang 188
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
ra trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội nhằm phục vụ lợi ích nhu cầu của con người Nhìn từ góc độ đó, con người làm ra rất nhiều sản phẩm văn hóa hấp dẫn như các công trình kiến trúc chùa chiền, lễ hội, đời sống tâm linh, ẩm thực…Trong đó, những sản phẩm ẩm thực là gần gũi với đời sống nhất
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa Cho tới nay trên thế giới có hơn 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, rất phong phú và phức tạp, do đó khái niệm văn hóa cũng đa nghĩa
Nghĩa ban đầu của văn hóa trong tiếng Hán là những nét xăm mình, qua
đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt với người khác Theo ngôn ngữ phương tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng việt là culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức…có nguồn gốc từ các dạng động từ của tiếng Latinh có nghĩa là giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt, cầu cúng
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra một định nghĩa chung về văn hóa như
sau: “Văn hóa là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức
và cảm xúc của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”
Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích
của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
Trang 199
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [19,tr.431].
Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII nêu: “Văn hóa Việt Nam là thành
quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang dân tộc”[4]
Như vậy, nói một cách tổng quát, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo, phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người, của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống
và hành động của con người cũng như giá trị vật chất tinh thần do con người tạo
ra và được con người thừa nhận, bao gồm trong đó có cái Chân, cái Thiện, cái
Mỹ Xây dựng và phát triển tốt những thành tố cấu thành khái niệm văn hóa chính là để tạo ra nền tảng tinh thần cho xã hội, góp phần khai thác và phát huy sức mạnh nội sinh của đất nước trong thời kỳ đổi mới hội nhập và phát triển
1.1.2 Khái niệm về bảo tồn và phát huy
Trong Từ điển Tiếng việt do GS Hoàng Phê (chủ biên) đã định nghĩa:
“Bảo tồn là giữ lại, không để cho mất đi” [24, tr.37], còn “phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nỡ thêm” [24, tr.742] Chúng ta
thường nghe nói: bảo tồn các di tích lịch sử, bảo tồn nền văn hóa dân tộc Tuy nhiên, quá trình giữ lại này không phải là giữ lại một cách nguyên xi mà bao giờ cũng có sự kế thừa những nét tiến bộ và lọc bỏ những yếu tố lạc hậu
Trang 2010
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật, hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Bảo tồn là không để mai một, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm
“cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển” Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn
“phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn
1.1.3 Khái niệm quản lý và quản lý nhà nước
1.1.3.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là hoạt động tất yếu khách quan của mọi quá trình lao động xã hội Nói quản lý là nói đến một dạng hoạt động có mục đích của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định đã định trước thông qua nguyên tắc, hình thức, phương pháp nào đó thích hợp Quản lý bao giờ cũng có tính mục đích, tính tổ chức và hướng tới tính hiệu quả Như vậy, nó là một quá trình bao gồm chuỗi hoạt động khác nhau để đạt được kết quả mà chủ thể ngầm định đề ra để tồn tại và phát triển, quản lý cần thiết đối với mọi phạm vi hoạt động của xã hội
Chúng ta có thể hiểu khái niệm về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động
có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản
lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn nhân lực, các thời cơ của tổ chức
để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động
1.1.3.2 Khái niệm quản lý nhà nước
QLNN xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là quản lý công việc của Nhà nước Nội hàm QLNN thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử Ngày nay, QLNN xét về mặt chức năng bao gồm hoạt động lập pháp, hành pháp
và tư pháp
QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước
và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người
Trang 2111
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì ổn định
và phát triển của xã hội
Theo giáo trình Quản lý hành chính nhà nước của Học viện Hành chính
Quốc gia, xuất bản năm 2011: “QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh
bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc XHCN” [14, tr.407].
QLNN được đề cập trong đề tài này là khái niệm QLNN theo nghĩa rộng: QLNN bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý
và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của nhà nước Hoạt động QLNN chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước ủy quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật
Đặc điểm của QLNN mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước QLNN được thiết lập trên cơ sở mối quan hệ “quyền uy” và “sự phục tùng” QLNN mang tính tổ chức và điều chỉnh; tính khoa học, tính kế hoạch QLNN là những tác động mang tính liên tục, ổn định lên các quá trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội
QLNN về văn hóa: Là quản lý của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động
văn hóa của quốc gia bằng quyền lực, thông qua hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách nhằm đảm bảo cho sự phát triển của văn hóa dân tộc
QLNN về văn hóa là thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, bởi cơ quan thực hiện quyền lực này có thẩm quyền riêng, thống nhất từ Trung ương đến địa phương Quản lý, điều hành các thiết chế, các tổ chức văn
Trang 2212
hóa hoạt động theo chương trình, kế hoạch quốc gia, xây dựng đội ngũ cán bộ,
tổ chức thanh tra, kiểm tra về văn hóa
Quản lý sự nghiệp văn hóa là quản lý về phương tiện chuyên môn theo từng chuyên ngành của hoạt động văn hóa Phương tiện quản lý này thuộc trách nhiệm, chức trách của từng hệ thống thiết chế chuyên ngành thông qua việc xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động, các biện pháp chỉ đạo, hướng dẫn của hệ thống thiết chế văn hóa ở các cấp
Từ những khái niệm trên, theo tác giả có thể khái quát QLNN về bảo tồn
và phát huy giá trị văn hóa các DTTS là hoạt động của các cơ quan nhà nước được tiến hành trên cơ sở pháp luật và thi hành pháp luật đối với hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS
Chủ thể QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS:
- Cấp Trung ương:
+ Chính Phủ: Là cơ quan ban hành các chính sách để QLNN trên tất cả
các lĩnh vực
+ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Là cơ quan của Chính phủ, thực
hiện chức năng QLNN về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trên phạm vi cả nước; QLNN các dịch vụ công thuộc lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch theo quy định của pháp luật
Để tăng cường QLNN và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ về công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS, Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch đã phân cấp quản lý, quy định cụ thể quyền hạn, chức năng và nhiệm vụ cho các đơn vị trực thuộc, chính quyền địa phương như:
- Cấp địa phương:
+ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:
Trong đó Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND cấp tỉnh, có chức năng tham mưu thực hiện QLNN trên các lĩnh vực: văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trên địa bàn tỉnh; các dịch
vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Sở và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền
Trang 2313
hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp tỉnh và theo quy định của pháp luật; chịu
sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động UBND tỉnh; đồng thời, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn, nghiệp vụ của
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
+ Ủy ban nhân dân cấp huyện:
Trong đó Phòng Văn hóa và Thông tin là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND cấp huyện, có chức năng tham mưu thực hiện QLNN trên các lĩnh vực: văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trên địa bàn huyện; các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Phòng và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động UBND huyện; đồng thời, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn, nghiệp vụ của
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
QLNN về trên các lĩnh vực: văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trên địa bàn cấp xã là UBND cấp xã
1.1.4 Quan điểm về văn hóa và bảo tồn, phát huy các di văn hóa của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Ý thức rõ về sức mạnh của văn hóa đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, ngay trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Đảng ta đã đưa ra Cương lĩnh đầu tiên về văn hóa, đó là “Đề cương văn hóa Việt Nam” năm 1943 Đề cương xác định: Văn hóa là một trong ba mặt trận: Kinh tế, chính trị, văn hóa
Vì vậy, phải hoàn thiện cách mạng văn hóa mới hoàn thành được công cuộc cải tạo xã hội và Đảng tiên phong phải lãnh đạo văn hóa tiên phong; đồng thời đề ra
ba nguyên tắc cuộc vận động văn hóa mới: Dân tộc, đại chúng, khoa học Đến thời kỳ hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, Đại hội IV của Đảng đã tiếp tục khẳng định: Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, trong
đó tập trung “Xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa” với những giá trị đạo đức, niềm tin, lý tưởng, lẽ sống cao đẹp Trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta chủ trương đổi mới tư duy trên mặt trận văn hóa
Trang 2414
Tháng 11 năm 1987, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 05 về văn hóa – nghệ thuật trong cơ chế thị trường và những Chỉ thị quan trọng về đổi mới và nâng cao chất lượng phê bình văn học nghệ thuật, công tác quản lý văn học nghệ thuật và một số nhiệm vụ văn hóa - nghệ thuật Đến hội nghị Trung ương 5, Khóa VIII, Đảng ra Nghị quyết chuyên đề về “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, khẳng định vai trò của văn hóa trong tiến trình lịch sử dân tộc và tương lai đất nước, “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là
mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” với mục đích
làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể, và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp Hội nghị Trung ương 10, Khóa IX khẳng định: không ngừng nâng cao văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước Đại hội X của Đảng tiếp tục nhấn mạnh chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong quá trình hội nhập và phát triển, bên cạnh những cơ hội thuận lợi, Đảng ta đã kịp thời ban hành Nghị quyết 23-NQ/TW “Về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới” và Chỉ thị số 46-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, định hướng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân quyết tâm giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hóa trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Đảng ta khẳng định: “Nền văn hóa Việt Nam đã phát triển trong sự tiếp
thu có chọn lọc và biến thành của mình nhiều tinh hoa văn hóa của những nền văn hóa lớn trên thế giới Ông cha ta đã tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trên tinh thần độc lập dân tộc, với lòng tự hào sâu sắc về những giá trị của con người Việt Nam, của truyền thống lịch sử và văn hóa Việt Nam” [3, tr.20]
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đề ra:
“Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn,
Trang 2515
dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển…Phát triển, nâng cao chất lượng sáng tạo văn học, nghệ thuật; khẳng định và biểu dương các giá trị chân, thiện, mỹ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém, đấu tranh chống những biểu hiện phản văn hóa” [5, tr.75-
76]
Về bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa truyền thống, Văn kiện Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ: “Tăng đầu tư của Nhà nước, đồng thời tăng
cường huy động các nguồn lực xã hội cho sự phát triển văn hóa, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản dân tộc, vừa kế thừa, phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội….Phát triển mạnh sự nghiệp văn học, nghệ thuật, hệ thống thông tin đại chúng; bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống, cách mạng,
mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về văn hóa” [5, tr.40-41] Đồng
thời: “Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu
trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hóa, nghệ thuật, bảo tồn, phát huy các giá trị các di sản văn hóa với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hóa công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số Xây dựng và thực hiện các chính sách, chế độ đào tạo, bồi dưỡng, chăm lo đời sống vật chất
và tinh thần, tạo điều kiện để đội ngũ những người hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị cao về tưởng và nghệ thuật” [5,
tr.225]
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
đề ra: “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng
các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một
Trang 26mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực
sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
“Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóadân tộc.Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp
lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch Phục hồi và bảo tồn một số loại hình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một Phát huy các di sản được UNESCO công nhận, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam” [6]
Như vậy, vai trò của văn hóa nói chung và vấn đề bảo tồn và phát huy các
di sản văn hoá nói riêng đã được Đảng và Nhà nước ta khẳng định với quan điểm khá thống nhất và luôn chú trọng trong cả thời chiến lẫn thời bình, đặc biệt
là trong thời kỳ hội nhập ngày nay
1.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số
1.2.1 Thực hiện chức năng quản lý của nhà nước đối với ngành, lĩnh vực
Chức năng của Nhà nước trong QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa có sự phân công cụ thể:
Trang 2717
Quốc hội là cơ quan ban hành Luật Di sản văn hóa để QLNN đối với văn hóa nói chung và bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nói riêng và thực hiện chức năng giám sát đối với hoạt động QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong phạm vi cả nước Quốc hội yêu cầu các cơ quan QLNN có thẩm quyền thực hiện việc quản lý bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa theo đúng quy định của pháp luật
Chính phủ là cơ quan quản lý hành chính cao nhất ở nước ta, đối với lĩnh vực quản lý văn hóa nói chung và bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nói riêng, Chính phủ ban hành các chủ trương, chính sách và văn bản chỉ đạo QLNN về văn hóa nói chung Các chính sách của Chính phủ là cơ sở để các cơ quan chuyên môn quản lý về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cấp dưới cụ thể hóa thành các văn bản cụ thể Như vậy, Chính phủ có chức năng định hướng về mặt chỉ đạo, hỗ trợ về mặt chính sách đối với việc quản lý về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các cơ quan chuyên môn cấp dưới
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chuyên môn của Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nói riêng và văn hóa nói chung Bộ tham mưu Chính phủ phê duyệt, ban hành các chủ trương, chính sách lớn quản lý và phát huy giá trị về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Đồng thời, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan QLNN về văn hóa, trong đó có Di sản văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa,…
HĐND các cấp có chức năng thông qua các chủ trương lớn về việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tại địa phương như: thông qua quy hoạch, kế hoạch đầu tư dài hạn,… Trên cơ sở đó, UBND cùng cấp xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức, quản lý bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tại địa phương Ngoài ra, HĐND thực hiện chức năng giám sát đối với chủ trương, chính sách của Nhà nước về hoạt động QLNN về văn hóa của các cơ quan quản
lý cùng cấp và cấp dưới
UBND cấp tỉnh là cơ quan quản lý hành chính tại địa phương, chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành QLNN về về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trên
Trang 2818
địa bàn tỉnh UBND cấp tỉnh ban hành các chính sách QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trên địa bàn toàn tỉnh trên cơ sở chính sách chung của Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để phù hợp với điều kiện của địa phương Bên cạnh đó, UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng QLNN về về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa theo phân cấp quản lý
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu UBND cấp tỉnh ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý văn hóa nói chung, Di sản văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nói riêng; các chính sách QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trên địa bàn tỉnh; là cơ quan thực hiện sự quản lý ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
UBND cấp huyện là cơ quan quản lý hành chính trên địa bàn huyện, thực hiện chức năng QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trên địa bàn huyện
Phòng Văn hóa và Thông tin là cơ quan chuyên môn của UBND cấp huyện thực hiện chức năng tham mưu UBND cấp huyện thực hiện các chính sách cũng như ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành về QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trên địa bàn
UBND cấp xã là cơ quan hành chính ở cơ sở, thực hiện chức năng QLNN
về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trên địa bàn theo phân cấp Công chức văn hóa - xã hội là người giúp việc cho UBND cấp xã thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
Như vậy, QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nói riêng và văn hóa nói chung có sự phân công chức năng, nhiệm vụ nhất định và trách nhiệm phải thực hiện của các cơ quan QLNN, nhất là các cơ quan hành chính Nhà nước
1.2.2 Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số thời kỳ hội nhập
Trang 2919
Đại hội lần thứ VI (tháng 12-1986) của Đảng ta xác định đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới về kinh tế, thực hiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Song song với đó là hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội
Hơn 30 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã gặt hái được nhiều thắng lợi trên các lĩnh vực, đời sống kinh tế, văn hóa tinh thần của nhân dân được thay đổi một cách rõ rệt Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường và hội nhập
đã tác động không nhỏ đến các mặt của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa Lối sống thực dụng, sự coi trọng đồng tiền thái quá du nhập vào Việt Nam làm cho một bộ phận dân cư tiếp nhận, thay đổi lối sống, suy nghĩ, hành động lệch lạc, thậm chí đi ngược lại thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa, xói mòn những chuẩn mực giá trị văn hóa, đạo đức của dân tộc
Mặt khác, phát triển kinh tế đồng nghĩa với sự ra đời của nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất thu hút đầu tư cùng với đó là quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh, tác động đến nhiều lĩnh vực trong đó có phần nào ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, đặc biệt là việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS Một số dự án mở rộng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp,… đã lấn chiếm, lấy đi không gian, cảnh quan đe dọa sự bảo tồn, làm ảnh hưởng giá trị của di tích Mặt khác, do tác động của cơ chế thị trường làm nảy sinh quan niệm coi trọng lợi ích kinh tế hơn giá trị văn hóa; xuất hiện tư tưởng thương mại hóa lĩnh vực văn hóa, tạo ra lực cản cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc
Vì vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nói riêng, văn hóa các DTTS nói chung đạt kết quả trong bối cảnh thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập, các cấp chính quyền, cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương cần tăng cường QLNN về lĩnh vực này vừa là trách nhiệm, vừa thực hiện chức năng QLNN theo luật định
1.2.3 Phát huy vai trò của văn hóa trong đời sống các dân tộc thiểu số
Trang 3020
Văn hóa các DTTS là di sản quý giá, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng và thống nhất của nền văn hóa Việt Nam Việc giữ gìn bản sắc văn hóa nói chung nói chung và văn hóa của đồng bào các dân tộc nói riêng là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước
Văn hóa của đồng bào DTTS được hình thành qua quá trình lao động và sáng tạo,những giá trị văn hóa tốt đẹp ấy, vừa phong phú, vừa đa dạng trong thống nhất và giàu bản sắc mà đồng bào các dân tộc là chủ thể sáng tạo, từ ngôn ngữ, chữ viết, trang phục, các làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc, lễ hội, tín ngưỡng,… không chỉ có ý nghĩa phản ánh đời sống tâm hồn, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân mà còn là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Chính vì vậy mà văn hóa có vai trò rất quan trọng trong đời sống và sinh hoạt hàng ngày của đồng bào DTTS
1.3 Nội dung quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số
1.3.1 Xây dựng chính sách chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số
Quy hoạch và phát triển ngành văn hóa và thông tin là việc làm quan trọng, có ý nghĩa đối việc quản lý và bảo tồn, phát huy văn hóa của mỗi địa phương Để xây dựng quy hoạch có tính khả thi, đạt hiệu quả yêu cầu chủ thể quản lý về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phải nắm rõ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về văn hóa nói chung và về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa nói riêng, đồng thời cần khảo sát, đánh giá đầy đủ, chính xác thực trạng di sản văn hóa, tình hình kinh tế - xã hội của địa phương; vị trí vai trò của di sản văn hóa đối với đời sống xã hội; các yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến công tác QLNN về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Quy hoạch phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, phục vụ quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương
Trang 3121
Quy hoạch cần được đánh giá toàn diện, đầy đủ về thực trạng hệ thống di tích lịch sử và di sản văn hóa của địa phương, nêu bật những ưu điểm, tồn tại và hạn chế; phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung và nhiệm vụ thực hiện quy hoạch trung hạn, dài hạn; phân công trách nhiệm cho các cơ quan, ban ngành liên quan, UBND các cấp cụ thể, để tổ chức thực hiện theo đúng chức năng, thẩm quyền được phân cấp quản lý Trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch, các cơ quan, ban ngành liên quan, UBND các cấp cần tích cực phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ để thực hiện đạt kết quả Ngoài ra, đó cũng là khung pháp lý để định hướng phát triển văn hoá, thực hiện QLNN về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của địa phương trong một giai đoạn
Cùng với việc xây dựng quy hoạch, chủ thể quản lý cần xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Hệ thống văn bản này là hành lang pháp lý,
là công cụ, phương tiện để nhà quản lý tổ chức thực hiện nhiệm vụ QLNN về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Cơ quan QLNN phải thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn cho nhân dân hiểu rõ về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với bảo tồn và phát huy di sản văn hóa; đồng thời tạo điều kiện để người dân tham gia quản lý, phát huy giá trị
di tích cùng với cơ quan chức năng
1.3.2 Xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số
Xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý văn hóa nhằm mục đích khắc phục những tồn tại, bất cập hiện nay, qua đó củng cố bộ máy, tạo cơ sở vững chắc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng tốt hơn Trong quá trình xây dựng tổ chức bộ máy, cần chú trọng mối quan hệ đặc biệt là quản
lý chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ về công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Hoàn thiện cơ chế quản lý di sản, di tích theo hướng đẩy mạnh phân cấp quản lý, quy định rõ ràng, cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng ban, ngành chức năng, chính quyền các cấp, phân cấp về tu bổ, tôn
Trang 3222
tạo di tích, bảo tồn và phát huy giá trị các di vật, cổ vật, bảo vật và các loại hình
di sản văn hóa phi vật thể Cần thực hiện việc quản lý bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa theo hướng: Chính quyền các cấp thực hiện chức năng QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa; ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý chuyên môn và chịu trách nhiệm tham mưu UBND các cấp trong việc bảo tồn
và phát huy tác dụng của di sản văn hóa
Hoạt động QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa mang tính khoa học, yêu cầu có tính chuyên môn cao; vì vậy, chúng ta phải có đội ngũ cán bộ
có trình độ, năng lực thực sự mới đủ khả năng để nghiên cứu, bảo vệ, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích theo đúng khoa học chuyên ngành Do đó, yêu cầu nhà quản lý cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, có chất lượng về chuyên môn, nghiệp vụ Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất, cần quan tâm Cơ quan QLNN về di tích, di sản văn hóa cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm nhiệm vụ QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, xem đây là việc làm thường xuyên, liên tục Hằng năm, UBND các cấp, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho cán
bộ, công chức tham gia QLNN về di sản, di tích, đồng thời cử cán bộ tham gia các lớp học, khóa học bồi dưỡng trong và ngoài nước ở trình độ cao hơn Đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ QLNN về văn hóa cần phải có kiến thức chuyên môn, am hiểu về Luật Di sản văn hóa, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về di sản, di tích, cũng như yêu cầu về khôi phục các bản sắc văn hóa tốt đẹp
1.3.3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số
Tuyên truyền, vận động đồng bào thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, chính sách dân tộc và đại đoàn kết dân tộc; chú trọng nâng cao nhận thức về chính sách dân tộc, tạo niềm tin của đồng bào vào sự lãnh đạo Đảng, Nhà nước, yên tâm lao động,
Trang 331.3.4 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số
Vốn là nguồn yếu tố quan trọng, cơ bản, quyết định khả năng thực hiện chương trình bảo tồn các giá trị văn hóa có nguy cơ mai một Có 03 nguồn tài chính chủ yếu tham gia tích cực vào quá trình bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của các DTTS số đó là:
Một là, kinh phí từ ngân sách Nhà nước cấp: Hàng năm, Nhà nước dành
một khoảng kinh phí khá lớn cho mục tiêu kiểm kê, bảo tồn các giá trị văn hóa nói chung và giá trị văn hóa đồng bào các DTTS nói riêng
Hai là, kinh phí từ phong trào xã hội hóa hoạt động bảo tồn, trong đó có
kinh phí do các tổ chức và cá nhân đóng góp; các tổ chức nước ngoài hỗ trợ, như
tổ chức UNESCO,…
Ba là, nguồn thu từ hoạt động phát huy giá trị văn hóa (khai thác các lễ
hội, vé vào tham quan di tích, công đức)
Các cơ quan QLNN có trách nhiệm huy động các nguồn vốn đầu tư tu bổ, khôi phục các giá trị văn hóa Ngân sách Nhà nước tập trung đầu tư cho các di tích lịch sử, di tích cách mạng và kháng chiến, các di tích khảo cổ học, khôi phục các giá trị văn hóa Các di tích khác được đầu tư một lần bằng nguồn ngân sách Nhà nước và một phần bằng các nguồn vốn khác Nguồn thu từ hoạt động phát huy giá trị di tích được Nhà nước cho giữ lại đầu tư
Trang 3424
1.3.5 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại
tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số
Công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa nói chung và hoạt động quản lý nhà nước về bảo tồn văn hóa nói riêng là hoạt động thường xuyên, cần thiết trong QLNN về văn hóa Thông qua thanh tra, kiểm tra, Nhà nước phát hiện và ngăn chặn những vấn đề tiêu cực nảy sinh trong công tác quản lý, hoạt động văn hóa, kịp thời điều chỉnh làm lành mạnh hóa các hoạt động văn hóa
Tổ chức thanh tra, kiểm tra, Nhà nước sẽ thiết lập lại trật tự cho các hoạt động văn hóa nói chung, quản lý bảo tồn văn hóa nói riêng, đưa quản lý hoạt động văn hóa theo đúng quy định pháp luật Những vấn đề sai phạm, các hoạt động văn hóa và quản lý di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa bị lợi dụng, bị thương mại hóa sẽ được phát hiện và chấn chỉnh Để hoạt động thanh tra, kiểm tra QLNN về văn hóa đạt hiệu quả, cơ quan chức năng cần bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật; tăng cường phối kết hợp với các cơ quan, đoàn thể, tổ chức chính trị, xã hội liên quan; kiện toàn và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ thanh tra chuyên ngành và liên ngành từ trung ương đến cơ sở; tổ chức
và sắp xếp lại các cơ quan QLNN cũng như các cơ quan sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ văn hóa
1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của một số dân tộc ở Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Ơ Đu ở tỉnh Nghệ An
Người Ơ Đu là một trong những dân tộc ít người nhất Việt Nam Hầu hết người Ơ Đu dùng các tiếng Khơ Mú, Thái làm công cụ giao tiếp hàng ngày vì chưa có chữ viết riêng Người Ơ Đu sử dụng thông thạo tiếng Thái và tiếng Khơ
Mú, còn ngôn ngữ của riêng mình thì hầu như đã mất Bản sắc văn hóa của người Ơ Đu dần mờ nhạt vì chịu ảnh hưởng của người Thái và người Khơ Mú
Do sống lẫn với dân tộc Khơ Mú và Thái nên người Ơ Đu cũng sử dụng thành
Trang 3525
thạo các loại nhạc cụ của người Khơ Mú, Thái như: sáo, khèn, chiêng, trống; thuộc các làn điệu dân ca Khơ Mú, Thái, kể chuyện đã sử trong các hoạt động lễ hội, văn hóa dân gian
Người Ơ Đu sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy và một phần ruộng nước Nghề phụ gia đình như đan lát đồ gia dụng bằng giang, mây, một phần tiêu dùng, phần để trao đổi Do thiếu kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi và phòng chống dịch bệnh cho người và gia súc nên cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu
số, UBND tỉnh Nghệ An đã thực hiện dự án hỗ trợ phát triển đồng bào dân tộc Ơ
Đu tại địa điểm bản Văng Môn, xã Nga My, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ
An
Từ năm 2005 đến năm 2015, tỉnh Nghệ An đã hỗ trợ phát triển sản xuất cho đồng bào Ơ Đu như: Cung cấp bò giống địa phương, gà giống đen, măng tre, điền trúc, giống Ngô lai, hỗ trợ trồng cỏ voi và một số dụng cụ sản xuất cầm tay Người dân Ơ Đu được tập huấn kiến thức khuyến nông, khuyến lâm
Hỗ trợ lương thực và một số dụng cụ sinh hoạt thiết yếu dùng cho hộ gia đình đề giúp đồng bào ổn định đời sống tại nơi ở mới Hỗ trợ xây dựng nhà văn hóa cộng đồng theo kiểu nhà truyền thống, nâng cấp sửa chữa hệ thống nước sinh hoạt, làm đường giao thông liên thôn, lắp đặt hệ thống truyền thanh không dây phục vụ cho các hoạt động tuyên truyền của thôn bản
Tỉnh Nghệ An đã hỗ trợ học phí cho các em học sinh các cấp; tổ chức khảo sát, biên soạn tài liệu mở lớp học phổ biến tiếng Ơ Đu cho mọi người trong cộng đồng Tổ chức các chuyến đi tìm hiểu thực tế về đời sống, kinh tế và một
số nét cơ bản về văn hóa, tiếng nói, phong tục tập quán của dân tộc Ơ Đu tại nước CHDCND Lào, để thu thập thêm tư liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, sưu tầm và bảo tồn phát triển văn hóa cho dân tộc Ơ Đu ở tỉnh Nghệ An
Cùng với chính sách di dân tái định cư, dự án đã hỗ trợ kịp thời cả về phát triển sản xuất và đời sống, giúp cho dân tộc Ơ Đu sớm ổn định, yên tâm sản xuất
và sinh sống Các hộ gia đình đã được giao đất sản xuất, đất ở ổn định, cơ bản đã
Trang 3626
xóa bỏ được phát rừng làm rẫy theo hình thức quản canh trước đây, qua các lớp tập huấn khuyến nông, khuyến lâm, bước đầu đồng bào Ơ Đu đã biết ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, trồng cỏ phát triển chăn nuôi, trồng cây nguyên liệu trên diện tích rừng được giao
Hiện tại, điều kiện sản xuất, cơ sở hạ tầng được đầu tư cơ bản, đảm bảo phục vụ nhu cầu thiết yếu cho sinh hoạt cộng đồng, giao thông đi lại thuận tiện,
hệ thống điện thắp sáng và nước sinh hoạt được hỗ trợ lắp đặt đến hộ gia đình Trường học kiên cố, công tác khám chữa bệnh thuận lợi kịp thời góp phần tích cực nâng cao chất lượng dân số.Đến nay, dân tộc Ơ Đu đã biết phát triển kinh tế vườn rừng Một số gia đình đã tự vươn lên làm giàu chính đáng Tại khu vực tái định cư ở bản Văng Môn đồng bào đã có nhà ở kiên cố do dự án thuỷ điện Bản
Vẽ đầu tư xây dựng Cuộc sống của người Ơ Đu nay đã có nhiều đổi thay so với trước
Trước khi thực hiện dự án, bản sắc văn hoá dân tộc đang bị đồng hoá rất nhanh, đặc biệt là ngôn ngữ, sau khi thực hiện dự án bước đầu đã sưu tầm được hơn ba trăm từ giao tiếp trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày và được biên soạn thành tài liệu (phiên âm tiếng Việt) phổ biến cho cộng đồng dân tộc Ơ Đu, giúp tăng số lượng người biết nói tiếng Ơ Đu; một số nét văn hóa truyền thống tốt đẹp đang được nghiên cứu, sưu tầm
Nhà văn hóa cộng đồng được làm bằng nhà sàn truyền thống và trang bị phương tiện nghe, nhìn cơ bản đầy đủ, nhà văn hóa vừa là nơi làm việc của các
tổ chức đoàn thể vừa là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng của bản nhân dịp các ngày lễ, ngày hội của đồng bào Các hộ dân được tiếp cận các thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thông qua hệ thống truyền hình, truyền thanh không dây của thôn bản Hệ thống chính trị ở thôn, bản và nơi sinh hoạt cộng đồng đã được tăng cường, chất lượng hoạt động ngày càng hiệu quả hơn
1.4.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Rục ở tỉnh Quảng Bình
Trang 3727
Người Rục (một bộ phận của người Chứt) là một trong số dân tộc ít người
ở Việt Nam Người Rục quen ở hang sâu, ít tiếp xúc với người ngoài, điều kiện canh tác thô sơ lạc hậu, để duy trì cuộc sống hàng ngày họ thường duy trì các tập quán nguyên thủy lạc hậu như: săn bắt, hái lượm, do đó đời sống vật chất, tinh thần hết sức khó khăn
Để dân tộc Rục phát triển một cách bền vững, sớm thoát khỏi đói nghèo, từng bước vươn lên hoà nhập cùng cộng đồng các dân tộc, Tỉnh Quảng Bình đã xây dựng dự án đầu tư, hỗ trợ đồng bào trong khoảng thời gian từ 2011-2015 và định hương đến năm 2020
Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu: Xây dựng mới và nâng cấp các công trình về: giao thông, thủy lợi, nước sinh hoạt, điện, nhà văn hoá, trường học
Hỗ trợ phát triển sản xuất: Hỗ trợ khai hoang, cải tạo đất, giao đất, khoán bảo vệ rừng theo mức bình quân 20ha/hộ Hỗ trợ con giống, cây giống và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất ở các bản định canh định cư tập trung
Giáo dục: Tổ chức các lớp xóa mù chữ tại bản cho đối tượng trong độ tuổi lao động, hỗ trợ kinh phí các em học sinh, đào tạo giáo viên người dân tộc theo phương thức cử tuyển ở các trường dự bị đại học trong khu vực
Y tế: Các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân: phòng trừ dịch bệnh, tiêm chủng cho trẻ em, cấp phát thuốc miễn phí chữa trị các bệnh thông thường, cấp tủ thuốc y tế bản và bảo đảm số cán bộ y tế ở thôn, bản tập trung và có số hộ đồng bào dân tộc cấp đủ thẻ bảo hiểm y tế cho các hộ nghèo Hỗ trợ thực hiện các hoạt động trong công tác kế hoạch hóa gia đình Đào tạo cán bộ y tế cơ sở người dân tộc tại chỗ
Văn hóa: Thực hiện các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, đưa văn hóa thông tin về cơ sở nhằm nâng cao mức độ hưởng thụ văn hóa cho người dân kết hợp tuyên truyền vận động đồng bào thực hiện nếp sống văn hóa mới, hủy bỏ các tập quán lạc hậu Trợ cấp cho các nghệ nhân truyền bá văn hóa dân tộc trong cộng đồng và tổ chức các đội văn nghệ dân tộc truyền thống Khôi phục và phát triển một số nghề thủ công truyền thống Hỗ trợ nghề dệt thổ cẩm
Trang 3828
và khuyến khích sử dụng trang phục dân tộc truyền thống Tổ chức các hoạt động lễ hội giao lưu văn hóa, thế thao giữa các dân tộc theo định kỳ Xây dựng các chương trình giới thiệu, quảng bá hình ảnh, văn hóa các dân tộc trên các phương tiện thông tin đại chúng Trung ương và địa phương
Đào tạo cản bộ: Bồi dưỡng, đào tạo số cán bộ và tạo nguồn cán bộ cho địa phương
Giải quyết cơ bản cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và các công trình phúc lợi xã hội khác ở vùng đồng bào dân tộc Rục như: Giao thông thuỷ lợi, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế, nhà văn hoá, góp phần ổn định đời sống và phát triển sản xuất, tạo các tiền đề để tổ chức lại sản xuất, tiếp thu và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, thực hiện tốt định canh định cư, khai thác có hiệu quả các tiềm năng về đất đai, lao động, thúc đẩy nông - lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển theo hướng sản xuất có hàng hoá, xoá bỏ dần kinh tế tự cung,
tự cấp.Cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc Rục Tiếp tục thực hiện có hiệu quả xoá đói, giảm nghèo, giải quyết tốt các vấn
đề phúc lợi xã hội như giáo dục, y tế và nâng cao mức độ hưởng thụ văn hoá cho người dân, từng bước xoá bỏ các tập tục lạc hậu Khôi phục và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc Rục Đội ngũ cán bộ là đồng bào dân tộc Rục được đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ có chất lượng Góp phần thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường sự đoàn kết trong cộng đồng dân tộc và các dân tộc khác trên địa bàn
1.4.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Rơ Măm ở tỉnh Kon Tum
Dân tộc Rơ Măm là một trong những dân tộc rất ít người ở Việt Nam Cư trú tập trung tại làng Le, xã Mô Ray, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
Canh tác nông nghiệp là loại hình kinh tế chủ yếu của đồng bào dân tộc
Rơ Măm Trước đây sản xuất lúa rẫy là chính và các loại cây hoa màu điều kiện canh tác thô sơ lạc hậu, đời sống vật chất, tinh thần gặp nhiều khó khăn, một số bản sắc vãn hóa tiêu biểu, đặc trưng có nguy cơ bị mai một
Trang 3929
Để tạo điều kiện cho dân tộc Rơ Măm có cơ hội phát triển bền vững, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, từ năm 2006 - 2015 UBND tỉnh Kon Tum đã thực hiện đề án hỗ trợ phát triển dân tộc Rơ Măm
Phát triển cơ sở hạ tầng: Xây dựng, nâng cấp đường giao thông liên thôn, đường vào khu sản xuất, thủy lợi, giáo dục, văn hóa, điện, nước sinh hoạt và các loại thiết bị thông tin truyền thông nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân
Hỗ trợ sản xuất: Bố trí đất sản xuất, đất ở cho các hộ thiếu đất, thực hiện
tổ chức tập huấn kỹ thuật khuyến nông, khuyến lâm, hỗ trợ vật tư, phân bón xây dựng vườn ươm cây giống Hỗ trợ đời sống cho đồng bào bằng cách cung cấp lương thực bình quân đầu người của dân tộc Rơ Măm 250kg-300kg thóc/người/năm
Hỗ trợ Giáo dục, Đào tạo: Hỗ trợ cho học phí cho học sinh ở các cấp học tạo điều kiện cho các em đi học đúng độ tuổi Thực hiện cử tuyển các em học sinh vào các chuyên ngành tại các trường từ trung cấp đến đại học trong cả nước
Văn hóa: Tổ chức các hoạt động chiếu phim, biểu diễn văn nghệ, thông tin tuyên truyền chính sách của Đảng, Nhà nước đến với đồng bào Thực hiện chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình Cấp miễn phí phương tiện nghe nhìn, các loại báo, tạp chí nhờ đó đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá, tiếp cận học tập những thông tin, kiến thức khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm làm ăn từ những nơi khác để vươn lên thoát nghèo
Về tiếng nói, chữ viết: Ngôn ngữ đồng bào sử dụng ngôn ngữ riêng tiếng
Rơ Măm thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me, chữ viết hiện nay chưa Về trang phục: Các trang phục, đồ trang sức truyền thống của đồng bào như: quần áo, khố, vòng đeo tay, bông tai hiện nay đã mai một hoàn toàn, người dân trong làng sử dụng quần áo, đồ trang sức phổ thông như người Kinh
Trang 4030
Phong tục, tập quán và các lễ hội truyền thống như: Đâm trâu, cầu cúng trong sản xuất các nghi thức trong cưới hỏi, tục bỏ mả, nhạc cụ như cồng, chiêng vẫn được sử dụng trong các lễ hội, nhưng số lượng còn rất ít
Việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Rơ Măm luôn được
sự quan tâm của chính quyền địa phương, của các cấp các ngành Trong đó dự
án đã hỗ trợ đồng bào xây dựng 01 nhà Rông văn hoá tại làng Le theo nguyên mẫu của dân tộc Rơ Măm Hỗ trợ kinh phí để may trang phục truyền thống Mua cồng chiêng và hỗ trợ kinh phí tổ chức các lễ hội trong năm, cụ thể: hỗ trợ hoạt động văn hóa thực hiện phục dựng các lễ hội truyền thống năm đầu và công tác tuyên truyền, tổ chức sinh hoạt cộng đồng Trong những năm gần đây, chính quyền địa phương đã tổ chức nhiều ngày hội văn hoá thể thao các dân tộc thiểu
số ở cấp tỉnh, huyện, có sự tham gia tích cực của các nghệ nhân, thanh niên dân tộc Rơ Măm Đội văn nghệ của làng đã từng đạt nhiều giải biểu diễn văn nghệ thể thao của huyện, tỉnh tổ chức
Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bước đầu tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại phục vụ sản xuất, vận chuyển nông sản phẩm sau khi thu hoạch được thuận lợi hơn, góp phần phát triển sản xuất, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc Rơ Măm.Dự án hỗ trợ, phát triển đã giúp nâng cao kiến thức mới cho đồng bào dân tộc Rơ Măm tiếp cận những tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng lực trong phát triển sản xuất, cải thiện đời sống tinh thần và vật chất của người dân Việc học của con cái được thuận lợi, chăm sóc sức khỏe tốt hơn, góp phần đẩy nhanh xóa đói giảm nghèo, tiếp tục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc như: Lễ hội đâm trâu,
Lễ hội tỉa lúa, cúng lúa lên tốt, thu hoạch lúa về kho, cúng kho lúa (mở kho lúa) góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc của dân tộc Các hủ tục mê tín, lạc hậu như cúng ma cho người ốm, tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết từng bước giảm mạnh, tiếp tục vận động để xóa bỏ dứt điểm
1.4.4.Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Đồng Xuân trong quản lý nhà nước đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số