1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu tại cục hải quan gia lai kon tum

115 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan Hải quan là công tác quản lý đối với việc xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu đúng và phù hợp với cam kết quốc tế nhằm tạo thuận

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

………… /….……… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HỒ THỊ KIM OANH

QUẢN LÝ TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG HÓA

NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN

GIA LAI – KON TUM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

………… /….……… ……/……

HỒ THỊ KIM OANH

QUẢN LÝ TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG HÓA

NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN

GIA LAI – KON TUM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, các kết quả nghiên cứu trong luận văn là xác thực và chưa từng được công bố trong

kỳ bất công trình nào khác trước đó

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

5 Tình hình nghiên cứu đề tài 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU 8

1.1 Khái quát chung về trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu: 8

1.2 Quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu 21

1.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu 24

1.4.Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu 28

1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu của một số nước trên thế giới 32

Tiểu kết chương 1 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN GIA LAI-KONTUM 40

2.1 Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum với nhiệm vụ quản lý trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu 40

2.2 Thực trạng quản lý trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu tại Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum 43

2.3 Đánh giá công tác quản lý trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu tại Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum 69

Tiểu kết chương 2 81

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO QUẢN LÝ TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN GIA LAI-KON TUM 82 3.1 Định hướng, mục tiêu tăng cường quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu 82

3.2 Giải pháp nâng cao quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu 87

3.3 Một số kiến nghị 100

Tiểu kết chương 3 103

KẾT LUẬN 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

01 2.1 Số lượng công chức quản lý trị giá tính

thuế

62

02 2.2 Số lượng hồ sơ hải quan làm thủ tục tại

Cục Hải quan Gia lai-kon Tum giai đoạn 2014-2018

64

03 2.3 Số thu nộp ngân sách của Cục Hải quan

Gia lai-Kon Tum gia đoạn 2014-2018

66

04 2.4 Kiểm tra hải quan tại Cục Hải quan Gia

Lai-Kon Tum giai đoạn 2014-2018

67

05 2.5 Thống kê phương pháp xác định trị giá

tính thuế hàng nhập khẩu tại Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum giai đoạn 2014-

2018

69

06 2.6 Thống kê tỷ lệ nghi ngờ trị giá khai

baostreen tổng số tờ khai kiểm tra tại Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum giai đoạn 2014-2018

70

07 2.7 Thống kê tổ chức tham vấn, kết quả

tham vấn tại Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum giai đoạn 2014-2018

71

08 2.8 Tình hình kiểm tra sau thông quan dược

thực hiện giai đoạn 2014-2018 tại Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum

Trang 6

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

01 2.1 Tổ chức bộ máy của Cục Hải quan Gia

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

01 2.1 Số lƣợng hồ sơ hải quan tại Cục Hải

quan Gia Lai-Kon Tum giai đoạn

2014-2018

65

02 2.2 Kiểm tra hải quan tại Cục Hải quan Gia

Lai-Kon Tum giai đoạn 2014-2018

68

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, khi nền kinh tế của Việt Nam đã và đang hội nhập sâu, rộng và mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới, việc Việt Nam tham gia ký kết vào các Hiệp định thương mại tự do tạo nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn thách thức đối với nền kinh tế, nhất là các đối với các hoạt động kinh tế đối ngoại, thương mại quốc tế Trước thực tế trên, rõ ràng vai trò quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về hải quan nói riêng là cực kỳ quan trọng,

có tính quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế nước nhà

Trong nhiều năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, ngành Hải quan đã nỗ lực, quyết tâm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động Quản lý nhà nước về hải quan có phạm vi nội dung rộng lớn, chịu

sự tác động của nhiều yếu tố cả về chủ quan và khách quan Trong khi đó hoạt động quản lý nhà nước về hải quan đòi hỏi phải không ngừng được tăng cường và hoàn thiện Hiện nay, việc tăng cường và hoàn thiện quản lý nhà nước về hải quan là tất yếu, cần phải được chú trọng hơn bao giờ hết

Thực tiễn hiện nay đặt ra yêu cầu đối với hoạt động quản lý nhà nước

về Hải quan phải thực sự hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; Để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi hệ thống chính sách phải rõ ràng, minh bạch; các quy trình nghiệp vụ phải được chuẩn hóa; thủ tục hải quan phải nhanh, đơn giản, minh bạch, công khai,

dễ hiểu, dễ tiếp cận và dễ thực hiện, phù hợp với cam kết quốc tế, nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, giảm thời gian, giảm chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tạo cơ sở cho nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế Đó là mục tiêu, yêu cầu đặt ra cho ngành Hải quan trong kế hoạch cải cách, hiện đại thủ tục hải quan, cũng là yêu cầu cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng về

Trang 9

2

đẩy mạnh cải cách hành chính nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan Hải quan là công tác quản lý đối với việc xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu đúng và phù hợp với cam kết quốc tế nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, thực hiện đúng các chính sách xuất nhập khẩu, chính sách đầu tư, thương mại, đảm bảo thu đúng, thu đủ cho ngân sách quốc gia, số liệu thống kê ngoại thương phục vụ cho đàm phán thương mại song phương, đa phương…

Là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam cam kết và đã thực hiện việc xác định giá trị tính thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo WTO Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với các nước trên thế giới và khu vực, cụ thể là việc ký kết 13 và đã đưa vào thực hiện 10 Hiệp định thương mại tự do (FTA) tạo thuận lợi thương mại tự do đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước từ thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của ngành Hải quan Việc cắt giảm thuế các dòng hàng theo lộ trình cam kết các Hiệp định thương mại tự

do gây ảnh hưởng không nhỏ tới ngân sách Nhà nước vì số thu thuế từ hàng hóa xuất nhập khẩu chiếm xấp xỉ 10% trong tổng thu ngân sách quốc gia hàng năm Bên cạnh đó, trong các năm gần đây, xuất hiện ngày càng nhiều các trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa, nhất là hàng hóa có trị giá cao, kim ngạch lớn, thuế suất nhập khẩu cao thường có xu hướng gian lận qua khai báo giá tính thuế hàng nhập khẩu; khai báo giá thấp so với giá giao dịch nhằm mục đích giảm số thuế phải nộp khi nhập khẩu hàng hóa

Trước thực tế trên, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đặt

ra đối với ngành Hải quan trong thực hiện nhiệm vụ thu là quản lý trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước ngày càng hạn hẹp

Trang 10

3

Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum là một đơn vị cơ sở trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan trên địa bàn 2 tỉnh Tây nguyên là Gia Lai và Kon Tum, thực hiện thu thuế từ hàng hóa xuất nhập khẩu.Trong những năm qua, triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về trị giá tính thuế đối với hàng hóa, nhất là hàng hóa nhập khẩu đã đạt được những kết quả đáng kích lệ, tuy nhiên công tác quản lý trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu còn bộc lộ một số hạn chế như: việc triển khai thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý trị giá tính thuế còn thiếu đồng bộ, gặp nhiều vướng mắc trong thực hiện Hệ thống tổ chức công tác quản lý trị giá tính thuế còn mỏng và phân tán về nguồn nhân lực; Còn thiếu chính sách tập trung xây dựng, hoàn thiện đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực này; Việc điều hành, hoạt động giữa các đơn vị trong Cục hải quan Gia Lai-Kon Tum còn chưa thống nhất, thiếu quyết đoán; Lãnh đạo các chi cục hải quan nơi trực tiếp thực hiện nghiệp vụ còn buông lỏng, chưa chú trọng công tác đấu tranh, chống gian lận qua giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu

Thực trạng đó đòi hỏi phải có giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về quản lý trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu trong giai đoạn hiện nay tại Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum, đảm bảo đáp ứng yêu cầu về quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu, vừa đảm bảo nguồn thu nộp ngân sách nhà nước vừa thực hiện công bằng giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa sản xuất trong nước

Với vị trí là công chức hải quan, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chuyên môn liên quan đến quản lý trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu nói chung, hàng hóa nhập khẩu nói riêng tại đơn vị cơ sở, từ thực tiễn công

tác, học viên chọn đề tài “Quản lý trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu tại

Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 11

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu

- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu tại Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu tại Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các hoạt động quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu của Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu làm thủ tục tại các Chi cục trực thuộc Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum từ năm 2014

đến 2018

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Luận văn nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối

Trang 12

5 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong nhiều năm gần đây, nhất là vào giai đoạn Đảng và Nhà nước tăng cường cải cách hành chính, tạo điều kiện thúc đẩy thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đã có rất nhiều các Đề tài nghiên cứu cấp ngành Hải quan về thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu Cụ thể như:

- Đề tài khoa học cấp Ngành: "Hoàn thiện pháp luật thuế xuất nhập

khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế và cải cách hải quan",

mã số 13-N2015, Chủ nhiệm đề tài: Lỗ Thị Nhụ - Cục trưởng Cục thuế xuất nhập khẩu – Tổng cục Hải quan Đề tài khoa học đã đề cập đến việc cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về thuế của Việt Nam đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo thông lệ quốc tế vì hiện nay Việt Nam đã, đang và sẽ hội nhập một cách sâu rộng, toàn diện vào kinh tế quốc tế, ngày càng mở rộng và tham gia các Hiệp định song phương, đa phương với hầu hết các quốc gia trên thế giới Điều này là điều kiện cần và đủ đối với sự phát triển kinh tế ngoại thương của bất kỳ quốc gia, lãnh thổ nào

- Đề tài khoa học cấp ngành: "Tác động của các Hiệp định thương mại

tự do (FTA) đến công tác quản lý thu ngân sách của Hải quan Việt Nam giai đoạn 2016-2020", mã số 01-2016, Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Hồng Phong –

Viện nghiên cứu hải quan - Tổng cục Hải quan Đề tài đã đưa ra được bức tranh tổng quan về vị trí của kinh tế ngoại thương của Việt Nam và trách

Trang 13

6

nhiệm của Hải quan Việt Nam trong thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước từ thuế hàng hóa xuất nhập khẩu, nêu rõ các khó khăn, thách thức của Hải quan Việt Nam khi thực hiện cam kết giảm thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu theo các Hiệp định thương mại tự do

- Đề tài khoa học cấp ngành: "Nâng cao năng lực quản lý, xác định trị

giá hải quan trong điều kiện hiện đại hóa hải quan", mã số 03-2016, Chủ

nhiệm đề tài: Lê Ngọc Đại – Cục Thuế xuất nhập khẩu – Tổng cục Hải quan

Đề tài đã đưa ra các giải pháp tổng quan nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước về trị giá hải quan trong ứng dụng công nghệ thông tin của hải quan Việt Nam

- Đề tài khoa học cấp ngành: "Nâng cao hiệu quả chống gian lận trị giá

tính thuế trong công tác kiểm tra sau thông quan", mã số 08-N2017, Chủ

nhiệm đề tài: Đàm Mạnh Hiếu – Văn phòng Tổng cục Hải quan Đây là đề tài đưa ra các giải pháp cụ thể giúp lực lượng kiểm tra sau thông quan của cơ quan hải quan các cấp trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra trị giá tính thuế sau thông quan, truy thu thuế từ hàng hóa xuất nhập khẩu, chống thất thu cho ngân sách nhà nước

- Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa ngành Hải quan giai

đoạn 2016- 2020, ban hành kèm theo Quyết định 1614/QĐ-BTC, ngày

19/7/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Đây là toàn bộ các giải pháp tổng thể tập trung vào các nhóm nhiệm vụ quan trọng của Hải quan Việt Nam, trong

đó có nhóm nhiệm vụ quản lý thuế, mà các nhiệm vụ cụ thể được triển khai tập trung cao và quyết liệt vào công tác quản lý trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu đến năm 2020

Tất cả các công trình nghiên cứu, đề án trên đã trực tiếp và gián tiếp đưa ra các mục tiêu, phương hướng, luận cứ khoa học, các giải pháp nhằm từng bước cải cách, chuẩn hóa hoạt động hải quan mang tính chuyên nghiệp,

Trang 14

7

chuyên sâu, hoạt động minh bạch có hiệu quả theo yêu cầu hội nhập quốc tế đồng thời đảm bảo nguồn thu nộp ngân sách nhà nước bằng các biện pháp quản lý trị giá tính thuế đối với hàng hóa, nhất là hàng hóa nhập khẩu

Các nghiên cứu trên về Hải quan có đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu trên cơ sở lý luận, khoa học

và thực tiễn, tuy nhiên dưới giác độ khoa học quản lý công về quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng nhập khẩu tại Cục hải quan Gia Lai-Kon Tum thì chưa có đề tài nghiên cứu nào

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Đề tài đóng góp những lý giải nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến hải quan và hoạt động quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu

Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài phân tích và làm sáng tỏ thực trạng quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu tại đơn vị cơ sở đóng chân trên các tỉnh Tây Nguyên là Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường chất lượng của hoạt động quản lý nhà nước đối với ngành hải quan nói chung, Cục Hải quan Gia lai-Kon Tum nói riêng Sản phẩm của nghiên cứu còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo

có ích cho công chức hải quan trực tiếp làm công tác kiểm tra trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu và công chức giữ chức vụ lãnh đạo từ cấp Đội thuộc Chi cục, lãnh đạo Chi cục Hải quan và lãnh đạo cấp Cục hải quan tỉnh thành phố trong quản lý, điều hành và triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về trị giá hải quan

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương Cụ thể:

Trang 15

CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TRỊ GIÁ TÍNH

THUẾ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU 1.1 Khái quát chung về trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu

1.1.1.Một số khái niệm

- Hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa được làm thủ tục hải quan nhập khẩu vào Việt Nam qua cửa khẩu biên giới, có xuất xứ từ nước ngoài, được sản xuất từ một nước khác

- Trị giá hải quan là giá trị của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được sử dụng làm cơ sở cho việc tính thuế và thống kê hàng hóa khi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu

- Trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu là giá trị của hàng hóa làm cơ sở tính các sắc thuế phải nộp khi nhập khẩu

Trị giá hải quan làm cơ sở tính thuế được gọi là trị giá tính thuế, sau đây trong khuôn khổ luận văn này, tác giả thống nhất sử dụng trị giá hải quan nhằm mục đích tính thuế được gọi là trị giá tính thuế Trường hợp viện dẫn nội dung quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật thì trị giá hải quan được hiểu là trị giá tính thuế

Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vì vậy hiện nay, trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu phải tuân thủ Hiệp định xác

Trang 16

9

định trị giá tính thuế hải quan (Là Hiệp định thực thi điều VII của Hiệp định

chung về thuế quan và thương mại - Tiếng Anh là General Agreement on

Tariffs and Trade – được viết tắt là GATT) Theo GATT, cơ sở chủ yếu để

xác định trị giá tính thuế theo Hiệp định là trị giá giao dịch, tức là trị giá thực

tế đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu Việc xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu trước hết phải là trị giá giao dịch, khi không thể được xác định theo trị giá giao dịch thì mới xem xét đến các phương pháp xác định tiếp theo

Trên cơ sở tuân thủ Hiệp định GATT, theo quy định của Luật Hải quan: trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được quy định là giá thực tế mà người mua (bên nhập khẩu hàng hóa) phải thanh toán cho người bán (bên xuất khẩu hàng hóa), bao gồm cả phí bảo hiểm và chi phí vận tải hàng hóa đến cửa khẩu nhập đầu tiên, phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Cửa khẩu nhập đầu tiên được xác định tùy theo phương thức vận chuyển, cụ thể: Đối với phương thức vận chuyển đường biển, đường hàng không thì cửa khẩu nhập đầu tiên là cảng dỡ hàng ghi trên vận đơn của hãng vận chuyển; Đối với phương thức vận chuyển bằng đường sắt, cửa khẩu nhập đầu tiên là ga đường sắt liên vận quốc tế được khai báo trên tờ khai hải quan hàng hóa nhập khẩu; Đối với phương thức vận tải bằng đường bộ, đường thủy nội địa thì cửa khẩu nhập đầu tiên là cửa khẩu biên giới nơi hàng hóa nhập khẩu đi vào lãnh thổ Việt Nam, được khai báo trên tờ khai hải quan nhập khẩu hàng hóa

1.1.2 Phương pháp xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu

Tuân thủ GATT, các quốc gia thành viên đều xây dựng các phương pháp xác định giá trị tính thuế với các điều kiện và trình tự áp dụng cụ thể, trong đó có 01 phương pháp chuẩn và 05 phương pháp thay thế (được sử

Trang 17

- Chi phí hoa hồng và môi giới;

- Chi phí bao bì gắn liền với hàng hóa nhập khẩu, gồm: giá mua bao bì, các chi phí liên quan đến việc mua bán và vận chuyển bao bì đến địa điểm đóng gói, bảo quản hàng hóa

- Chi phí đóng gói, kể cả chi phí vật liệu và chi phí nhân công;

- Các khoản trợ giúp, giảm giá: Giá trị được phân bổ thích hợp của những hàng hóa và dịch vụ dưới đây do người mua cung cấp trực tiếp hay gián tiếp, miễn phí hoặc giảm giá để sử dụng trong sản xuất và bán để xuất khẩu hàng nhập khẩu, trong phạm vi giá trị này chưa được tính vào giá thực tế

đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán:

+ Nguyên vật liệu, bộ phận cấu thành hàng hóa, các phụ tùng và các hàng hóa tương tự hợp thành trong hàng hóa nhập khẩu;

+ Các công cụ, khuôn đúc, khuôn rập và các hàng hóa tương tự được sử dụng trong sản xuất hàng nhập khẩu;

+ Nguyên vật liệu tiêu hao trong hoạt động sản xuất hàng nhập khẩu;

Trang 18

11

+ Thiết kế kỹ thuật, thiết kế triển khai, thiết kế mỹ thuật, bản vẽ thiết kế

và các sơ đồ và phác đồ được lập ra ở bất cứ nơi nào ngoài nước nhập khẩu và cần thiết cho hoạt động sản xuất hàng nhập khẩu;

- Tiền bản quyền và phí giấy phép liên quan đến hàng hóa được xác định giá trị; những chi phí này do người mua phải trả, trực tiếp hay gián tiếp, như điều kiện cho giao dịch bán hàng hóa đang được xác định giá trị, trong phạm vi các chi phí này chưa được tính vào giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán;

- Các khoản tiền mà người nhập khẩu phải trả từ số tiền thu được sau khi bán hàng lại;

- Chi phí vận tải và chi phí có liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa nhập khẩu đến cửa khẩu nhập đầu tiên (Trừ chi phí bốc, xếp, dữ hàng từ phương tiện vận tải xuống cửa khẩu nhập đầu tiên)

- Chi phí bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu đến cửa khẩu nhập đầu tiên Các khoản phải cộng trên phải là chi phí mà người mua phải thanh toán

và chưa được tính trong trị giá thực tế sẽ phải thanh toán, có số liệu khách quan, định lượng được, chứng từ phù hợp Trường hợp hàng hóa có các khoản phải cộng nhưng không có chứng từ, không có số liệu cụ thể khách quan thì không được xác định trị giá tính thuế theo phương pháp trị giá giao dịch mà phải chuyển sang phương pháp tiếp theo Bên cạnh đó, WTO cũng quy định

rõ, ngoài các khoản phải cộng nêu trên, khi xác định trị giá tính thuế không được cộng thêm bất cứ khoản nào khác

Mặc dù phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu là phương pháp các nước thành viên WTO bắt buộc phải áp dụng, xem xét trước hết nhưng vẫn cho phép Hải quan các nước nhập khẩu, nếu đủ cơ sở vẫn được nghi ngờ giá giao dịch là không chính xác, được yêu cầu người khai phải chứng minh và được áp dụng các phương pháp thay thế khác trong trường

Trang 19

12

hợp không đủ điều kiện áp dụng trị giá giao dịch Tuy nhiên để đảm bảo rằng Hải quan không lạm dụng quyền này để tùy tiện từ chối dùng phương pháp tính thuế theo giá giao dịch, WTO đã quy định những điều kiện và tình huống

cụ thể mà Hải quan được phép không công nhận trị giá giao dịch Đó là:

- Không có hành vi mua bán Ví dụ giao dịch hàng đổi hàng, chuyển hàng từ các đơn vị khác nhau của cùng một công ty…

- Khi có những hạn chế đối với người mua về việc bán hoặc sử dụng hàng hóa đó, trừ các trường hợp hạn chế do luật pháp hay các cơ quan có thẩm quyền tại nước nhập khẩu áp đặt, hoặc yêu cầu (ví dụ pháp luật yêu cầu

về bao bì cho lưu thông hàng hóa); Giới hạn về khu vực địa lý tại đó hàng hóa được bán nhượng lại (ví dụ hợp đồng quy định chỉ được phân phối hàng hóa

đó trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam); hoặc những hạn chế không ảnh hưởng đáng kể đến giá trị của hàng hóa (ví dụ đối với loại hàng hóa mới, điều khoản hợp đồng quy định không được bán hàng hóa đó trước một thời điểm nhất định)

- Khi hoạt động bán hàng, hay giá cả, phải phụ thuộc vào một số điều kiện mà từ đó người ta không thể xác định được giá trị của những hàng hóa cần được xác định giá trị Ví dụ nếu người bán định giá giao dịch với điều kiện người mua cũng phải nhập một loại hàng hóa khác với số lượng nhất định

- Sau khi tiếp tục bán lại, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng nhập khẩu, người nhập khẩu phải chuyển bất cứ một khoản tiền nào đó từ doanh thu mà họ đạt được, dù là trực tiếp hay gián tiếp, cho người bán

- Người mua và người bán có quan hệ đặc biệt với nhau, và giá cả bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ đó Ví dụ nếu người bán và người mua là công ty mẹ-con- chi nhánh của công ty xuyên quốc gia và mối quan hệ này có ảnh hưởng đến giá hàng hóa

Trang 20

13

1.1.2.2 Phương pháp thay thế

WTO quy định 05 phương pháp tính thuế hải quan thay thế trong trường hợp Hải quan có nghi ngờ về trị giá giao dịch và quyết định không thừa nhận giá khai báo của doanh nghiệp là giá tính thuế Các phương pháp này được áp dụng một cách tuần tự, lần lượt Khi không áp dụng được phương pháp trước mới áp dụng phương pháp sau Các phương pháp thay thế gồm:

- Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt:

Khi giá trị tính thuế của hàng hóa nhập khẩu không thể xác định được theo phương pháp trị giá giao dịch thì trị giá tính thuế sẽ là trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt được bán để xuất khẩu cho cùng một nước nhập khẩu vào cùng một thời điểm hay cùng kỳ với lô hàng đang được xác định giá trị

Hàng hóa giống hệt là những hàng hóa giống nhau về mọi khía cạnh, kể

cả các đặc tính vật lý, chất lượng và danh tiếng Những khác biệt nhỏ bên ngoài không ảnh hưởng đến đánh giá hàng hóa là hàng hóa giống hệt, trừ khi chúng thỏa mãn theo định nghĩa hàng hóa giống hệt

Để được coi là hàng hóa giống hệt thì hàng hóa đó phải được sản xuất cùng một nước với hàng hóa đang được xác định giá trị Nếu hàng hóa giống hệt do nhiều người sản xuất thì chỉ được xem xét trong trường hợp không có hàng hóa do cùng người sản xuất so với hàng hóa đang được xác định giá trị

Khi sử dụng phương pháp này phải đảm bảo giá trị giao dịch của hàng hóa giống hệt có cùng cấp độ thương mại và (hoặc) có cùng số lượng với hàng hóa đang được xác định giá trị Nếu không tìm được hàng hóa giống hết như vậy thì giá trị của hàng hóa đang cần xác định giá sẽ phải có sự điều chỉnh cho phù hợp về sự khác nhau của các yếu tố đó và sự khác nhau về cước vận tải, bảo hiểm, xếp dỡ do có số lượng khác nhau và (hoặc) do sử

Trang 21

14

dụng các phương thức vận tải khác nhau Việc khác nhau về thời điểm nhập khẩu giữa hàng hóa giống hệt và hàng hóa đang cần xác định giá trị cũng là một yếu tố cần xem xét để điều chỉnh cho phù hợp

- Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự: Nếu không thể xác định được giá trị tính thuế theo phương pháp giá trị giao dịch hay phương pháp giá trị giao dịch của hàng giống hệt, thì giá trị tính thuế nhằm mục đích tính thuế của hàng hóa nhập khẩu phải là giá trị giao dịch của hàng tương tự bán để xuất khẩu cho cùng một nước nhập khẩu vào cùng thời điểm hay cùng kỳ với lô hàng đang được xác định giá trị hải quan

Hàng hóa tương tự là những hàng hóa, dù không giống nhau về mọi khía cạnh, nhưng có các đặc trưng giống nhau, và được làm từ các nguyên vật liệu cấu thành giống nhau, như thế làm cho những hàng hóa này thực hiện được các chức năng tương tự và có thể hoán đổi cho nhau trong giao dịch thương mại Chất lượng của hàng hóa, danh tiếng uy tín hàng hóa và sự hiện diện của nhãn hiệu thương mại là những yếu tố nên được xem xét trong quá trình đánh giá hàng hóa đó có phải là mặt hàng tương tự hay không

Khi xem xét xác định hàng hóa được coi là tương tự cần phải đảm bảo các tiêu chí:

+ Được sản xuất cùng một nước với hàng hóa đang được xác định giá trị hải quan

+ Hàng hóa tương tự do nhiều người sản xuất ra thì chỉ được xem xét trong trường hợp không có hàng hóa do cùng người sản xuất so với hàng hóa đang được xác định giá trị

+ Phương pháp chế tạo giống nhau

+ Kích cỡ, kiểu dáng giống nhau

+ Chất lượng, danh tiếng, nhãn mác của hàng hóa cũng là yếu tố cần phải xem xét

Trang 22

15

Khi sử dụng phương pháp này phải đảm bảo giá trị giao dịch của hàng hóa tương tự có cùng cấp độ thương mại và (hoặc) có cùng số lượng với hàng hóa đang được xác định giá trị Nếu không tìm được hàng hóa tương tự như vậy thì giá trị của hàng hóa đang cần xác định giá sẽ phải có sự điều chỉnh cho phù hợp về sự khác nhau của các yếu tố đó và sự khác nhau về cước vận tải, bảo hiểm, xếp dỡ do có số lượng khác nhau và (hoặc) do sử dụng các phương thức vận tải khác nhau Việc khác nhau về thời điểm nhập khẩu giữa hàng hóa tương tự và hàng hóa đang cần xác định giá trị cũng là một yếu tố cần xem xét để điều chỉnh cho phù hợp

- Phương pháp trị giá khấu trừ:

Nếu không thể xác định được giá trị tính thuế cho hàng hóa nhập khẩu theo phương pháp giá trị giao dịch, giá trị giao dịch hàng hóa nhập khẩu giống hệt, giá trị giao dịch hàng hóa nhập khẩu tương tự, thì giá trị tính thuế được xác định theo phương pháp giá trị khấu trừ hoặc, trừ trường hợp theo yêu cầu của người nhập khẩu thứ tự áp dụng phương pháp giá trị khấu trừ và phương pháp dự phòng được hoán đổi

Nếu hàng nhập khẩu, hàng nhập khẩu giống hệt hay hàng nhập khẩu tương tự được bán tại nước nhập khẩu ở điều kiện như khi hàng hóa được nhập khẩu, giá trị tính thuế của hàng nhập khẩu được xác định trên cơ sở đơn giá, mà tại mức giá đó, hàng nhập khẩu giống hệt hay hàng nhập khẩu tương

tự được bán cho người mua không có quan hệ đặc biệt với người bán hàng hóa đó, với số lượng tổng cộng lớn nhất, vào cùng thời điểm hay cùng kỳ nhập khẩu hàng hóa đang được xác định giá trị, sau khi đã được khấu trừ đi các khoản sau:

+ Các khoản hoa hồng thường trả hoặc thỏa thuận sẽ trả hay các khoản

bổ sung thường trả để bù đắp khoản lợi nhuận và các chi phí chung liên quan

Trang 23

- Phương pháp trị giá tính toán:

Phương pháp này xác định giá tính thuế bằng giá thành để sản xuất ra loại hàng hóa đang cần tính thuế cộng với một khoản lợi nhuận và các chi phí chung (ở mức tương đương với lợi nhuận và chi phí chung thường tính trong giá bán của các mặt hàng cùng loại được sản xuất để xuất khẩu bởi cùng một nhà sản xuất ở nước xuất khẩu)

Giá trị tính toán bao gồm tổng các khoản sau:

+ Giá thành hay giá trị của nguyên vật liệu, giá thành của quá trình sản xuất hoặc của các quá trình gia công khác được sử dụng vào sản xuất hàng nhập khẩu;

+ Khoản lợi nhuận và các chi phí chung tương đương với hai khoản này thường phát sinh trong giao dịch bán hàng cùng phẩm cấp hay cùng chủng loại với hàng hóa đang được xác định giá trị; những hàng hóa đó cùng được sản xuất ở nước xuất khẩu tới nước nhập khẩu;

+ Chi phí hay giá trị các khoản chi phí khác

+ Phương pháp này hoàn toàn phụ thuộc vào sự đồng ‎ý cung cấp thông tin của nhà sản xuất và độ tin cậy của các thông tin đó đối với nước nhập khẩu Nhà sản xuất hoặc Chính phủ của người đó có thể cảm thấy các yêu cầu

đó của nước ngoài như là một yêu cầu không chính đáng nên không đáp ứng cung cấp thông tin Do đó, việc xác định giá trị tính thuế theo phương pháp tính toán gặp rất nhiều khó khăn cho nước nhập khẩu

Trang 24

17

- Phương pháp suy luận thích hợp:

Nếu không thể xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu theo bất kỳ phương pháp nào từ phương pháp 1 đến phương pháp 5 như trên thì sẽ xác định theo một phương pháp suy luận thích hợp WTO đã không đưa ra một phương pháp cụ thể nào mà chỉ nêu ra nguyên tắc chung để xác định giá trị tính thuế như sau:

+ Sử dụng linh hoạt dựa trên các phương pháp từ 1 đến 5;

+ Dựa trên số liệu sẵn có ở nước nhập khẩu

Tuy nhiên, Hải quan không được xác định giá trị tính thuế theo:

+ Giá hàng hóa của nước xuất khẩu được xuất khẩu sang một nước khác;

+ Không được sử dụng giá cả mà hàng sản xuất nội địa được bán ở nước nhập khẩu để xác định giá trị hàng hóa nhập khẩu;

+ Sử dụng giá trị tính thuế tối thiểu;

+ Sử dụng các giá trị áp đặt và hư cấu

1.1.3 Yếu tố ảnh hưởng trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu

- Vấn đề chuyển đổi tiền tệ:

+ Về công bố tỷ giá hổi đoái: Tỷ giá hối đoái được sử dụng theo mục đích xác định giá trị tính thuế do một cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu ban hành Tỷ giá này được ban hành trước một thời gian để người nhập khẩu có thể chuẩn bị trước tờ khai nhập khẩu Nếu có thể thì được áp dụng tỷ giá này cho một khoảng thời gian nhất định để tạo thuận lợi cho thương mại, khoảng thời gian có thể là một tuần hay một tháng

+ Về thời điểm chuyển đổi tiền tệ: Cơ quan Hải quan cần quy đổi các khoản thanh toán đối với hàng nhập khẩu sang một số lượng tương đương bằng đồng tiền nước nhập khẩu (nội tệ) thông qua việc sử dụng tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái sử dụng sẽ là tỷ giá có hiệu lực vào thời điểm xuất khẩu

Trang 25

Tuy nhiên theo khuyến nghị thì các nước nên thực hiện chuyển đổi tại thời điểm nhập khẩu

- Vấn đề chi phí vận tải và bốc xếp:

WTO cho phép các thành viên tính gộp vào hay loại trừ một phần hay toàn bộ chi phí vận tải, chi phí bốc xếp, xếp dỡ có liên quan đến vận chuyển hàng hóa tới cảng hoặc địa điểm nhập khẩu và chi phí bảo hiểm

Tất cả các chi phí này đều là những chi phí dịch vụ phát sinh ngoài nước nhập khẩu, vì vậy nếu giá trị tính thuế bao gồm cả những chi phí này thì coi như là đã đánh thuế trên các dịch vụ nhập khẩu, đối với Nhà nước thì việc này sẽ tăng thu cho ngân sách, đối với người kinh doanh, tạo sự công bằng giữa các ngành nghề kinh doanh

Với điều khoản này các nước thành viên ASEAN đều lựa chọn việc xác định giá trị tính thuế theo giá CIF của hàng nhập khẩu

- Giải phóng hàng theo bảo lãnh:

Giải phóng hàng theo bảo lãnh là việc cơ quan hải quan cho phép hàng hóa đủ điều kiện được nhập khẩu tuy nhiên chưa xác định được chính xác số thuế phải nộp Hải quan cần giải phóng hàng ngay sau khi người nhập khẩu nộp đủ tiền bảo lãnh hoặc cam kết nộp đủ mọi loại thuế khi trị giá chính thức của lô hàng được xác định xong

Trang 26

và không đưa ra hướng dẫn nào thêm

Số tiền bảo lãnh cần căn cứ vào số tiền ước tính phải nộp thuế Để ước tính được số tiền đó, cần ước tính được giá trị tính thuế của hàng hóa Thông thường sẽ có những thông tin có thể sử dụng để ước tính giá trị tính thuế

Có thể thấy bảo lãnh nhận hàng này là một thủ tục rất có lợi đối với những nước áp dụng để đảm bảo môi trường hoạt động tốt nhất có thể được đối với cộng đồng doanh nghiệp Việc cho phép các chủ hàng có quyền yêu cầu được giải phóng hàng ngay là một trong những điểm khác biệt giữa việc xác định giá trị tính thuế theo WTO và các hệ thống xác định giá khác

1.1.4 Ý nghĩa vai trò của việc quản lý trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu

1.1.4.1 Đáp ứng yêu cầu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Hiện nay Việt Nam đã ký kết 13 và đã đưa vào thực hiện 10 Hiệp định thương mại tự do (FTA) tạo thuận lợi thương mại tự do, vì vậy việc xác định trị giá tính thuế theo các điều khoản cam kết liên quan trực tiếp tới việc xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu là điều bắt buộc Bên cạnh đó, là thành viên của tổ chức WTO thì phải thực hiện cam kết trong lĩnh vực thuế quan, tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế, áp dụng phương pháp xác định trị giá theo GATT để đảm bảo công bằng cho hàng hóa

Như vậy, tăng cường công tác quản lý giá tính thuế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Ngành Hải quan nhằm đảm bảo thực hiện những cam kết trong quá trình hội nhập khi đã là thành viên chính thức của WTO

1.1.4.2 Tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong cộng đồng doanh nghiệp

Trang 27

20

Việc quản lý trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu, đảm bảo việc xác định trị giá tính thuế đúng với trị giá thực tế giao dịch của hàng hóa và tuân thủ Hiệp định GATT đã tạo được môi trường cạnh tranh bình đẳng về giá đối với hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước Giá của hàng hóa nếu được quản lý tốt sẽ phản ánh đúng thực chất và bản chất của hàng hóa đó Nếu loại

bỏ được sự gian lận về giá, sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhập khẩu và doanh nghiệp sản xuất nội địa

1.1.4.3 Hỗ trợ Doanh nghiệp chủ động trong kinh doanh

Khi thực hiện xác định trị giá tính thuế theo GATT thì doanh nghiệp hoàn toàn có thể chủ động trong tính toán, xác định được các khoản chi phí cấu thành trong giá Vì vậy doanh nghiệp có thể tự tính được số thuế phải nộp

do đó cũng sẽ tự xác định trước được giá thành, giá bán lại hàng hóa nên hoàn toàn chủ động trong xác định phương án kinh doanh cho hàng hóa nhập khẩu Hơn nữa, việc thực hiện xác định giá trị tính thuế theo GATT cũng rút ngắn thời gian thông quan cho hàng hóa do chủ yếu hàng nhập khẩu được thông quan theo phương pháp giao dịch nên doanh nghiệp cũng tiết kiệm được nhiều chi phí và tận dụng được cơ hội trong kinh doanh

1.1.4.4 Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Việc áp dụng xác định trị giá tính thuế theo GATT đặt ra cho Ngành Hải quan những thách thức trước sự gian lận thương mại qua giá Các doanh nghiệp đã lợi dụng việc cho phép áp dụng khai báo trị giá giao dịch để tìm cách hạ thấp giá thực tế của hàng hóa Trên thực tế, kể từ khi áp dụng xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu có nhiều hình thức gian lận thương mại qua giá đã được phát hiện như:

- Hợp thức hoá hồ sơ bằng cách khai báo các khoản được khấu trừ ra khỏi trị giá tính thuế

Trang 28

Quản lý nói chung là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản

lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra Tùy vào mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu sẽ có các chủ thể quản lý, đối tượng quản lý khác nhau

“Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính

quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy sự ổn định và phát triển xã hội” [19, tr.3]

Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong

Trang 29

22

quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt

Quản lý nhà nước bao gồm các đặc điểm cơ bản sau đây :

- Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước

- Đối tượng quản lý nhà nước là các cá nhân, cơ quan tổ chức trong phạm vi tác động của quản lý nhà nước

- Phạm vi quản lý nhà nước là trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như : kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh…

- Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển bền vững trong đồi sống xã hội

- Nội dung, hình thức, phương pháp và công cụ quản lý nhà nước do pháp luât quy định

1.2.1.2 Quản lý nhà nước về Hải quan

- Khái niệm quản lý nhà nước về hải quan:

Có thể nói, hải quan là một trong những công cụ đối ngoại quan trọng của Chính Phủ, có nhiệm vụ thay mặt Nhà nước để tiến hành các biện pháp kiểm tra nhà nước về hải quan tại các cửa khẩu, thu thuế xuất nhập khẩu, thuế gián thu và các lệ phí khác có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu; chống buôn lậu, gian lận, vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới; thực hiện thống kê nhà nước đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Quản lý nhà nước về hải quan là việc cơ quan hải quan sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thực hiện các quy định liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu Quản lý nhà nước về hải quan đảm bảo sự chấp hành pháp luật về hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu từ đó góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Công tác quản lý nhà nước về hải quan đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội thông qua việc tạo thuận lợi

Trang 30

23

cho thương mại, thúc đẩy đầu tư, sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đồng thời đóng góp nguồn thu không nhỏ cho ngân sách nhà nước Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, cơ quan hải quan phải đối mặt với những thách thức rất lớn: sự gia tăng về quy mô, tính phức tạp của các hoạt động thương mại quốc tế; nguy cơ gian lận cao khi thực hiện môi trường thông thương điện tử; mối đe dọa môi trường và sức khỏe cộng đồng; nghĩa vụ thực hiện các cam kết quốc tế liên quan lĩnh vực hải quan; yêu cầu đảm bảo tạo thuận lợi tối đa cho các hoạt động thương mại hợp pháp đồng thời tuân thủ các quy định của pháp luật

Như vậy, có thể rút ra khái niệm quản lý nhà nước về hải quan như sau: quản lý nhà nước về hải quan là việc cơ quan hải quan sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thực hiện các quy định liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu, quản lý nhà nước về hải quan đảm bảo sự chấp hành pháp luật về hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu từ đó góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội; bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

- Nội dung quản lý nhà nước về hải quan:

+ Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển Hải quan Việt Nam

+ Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về hải quan; + Hướng dẫn, thực hiện và tuyên truyền pháp luật về hải quan;

+ Quy định về tổ chức và hoạt động của Hải quan;

+ Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ công chức hải quan;

+ Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, phương pháp quản

lý hải quan hiện đại;

+ Thống kê nhà nước về hải quan;

+ Hợp tác quốc tế về hải quan

+ Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật

về hải quan

Trang 31

24

1.2.1.3 Quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của cơ quan Hải quan là quản lý đối với việc xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu đúng và phù hợp với cam kết quốc tế nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, thực hiện đúng các chính sách xuất nhập khẩu, chính sách đầu tư, thương mại; đảm bảo thu đúng, thu đủ cho ngân sách quốc gia; là nguồn số liệu thống kê ngoại thương phục vụ cho đàm phán thương mại song phương, đa phương.v.v

Như vậy, có thể quan niệm quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện và thi hành pháp luật trong việc xác định trị giá tính thuế, chống gian lận thương mại, bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu

- Ban hành chính sách, xây dựng hệ thống pháp luật, các biện pháp quản lý trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu

Nhà nước ban hành các quy định pháp luật về quản lý đối với việc xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu phù hợp với từng thời kỳ, phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đặt ra Trước hết là các quy định pháp lý được đề cập trong các bộ luật cơ bản như Luật Hải quan, Luật quản lý thuế, Luật quản lý ngoại thương….các quy định pháp luật mang tính chuyên ngành như Luật Thuế XNK, Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt…Tiếp đến là các biện pháp, công cụ cụ thể để quản lý công tác xác định giá trị tính thuế hàng hóa nhập khẩu hiệu quả, đạt mục tiêu đề ra…

Trang 32

- Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực thực hiện quản lý trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu

Một trong những yếu tố quan trọng tạo nên hiệu quả hoạt động của bất

kỳ một tổ chức nào, đó là cơ cấu tổ chức Sự hợp lý của tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực góp phần cho hoạt động quản lý nhà nước đối với việc xác định giá trị tính thuế hàng hóa nhập khẩu có hiệu lực hiệu quả Hiện nay, tại các Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nhiệm vụ quản lý xác định trị giá tính thuế chủ yếu tập trung tại cấp Chi cục, được thực hiện trong quá trình làm thủ tục hải quan và sau khi hàng hóa đã thông quan

Yêu cầu đặt ra hiện nay là phải tổ chức mô hình bộ máy triển khai thực hiện nhiệm vụ kiểm tra xác định trị giá tính thuế một cách hiệu quả, thông suốt theo hướng tạo điều kiện trong khi làm thủ tục hải quan, đảm bảo thông quan nhanh chóng, không gây ách tắc, kéo dài thời gian chờ thông quan nhưng đảm bảo kiểm soát được gian lận qua khai báo giá, như vậy việc quản

lý tập trung vào khâu hậu kiểm như hiện nay là hợp lý

Vấn đề còn lại là chất lượng nhân lực trực tiếp làm công tác kiểm tra, xác định trị giá tính thuế Trên thực tế, đây là yếu tố thực sự ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về xác định giá trị tính thuế hàng hóa nhập khẩu

- Tổ chức thực hiện các quy định pháp luật đối với việc quản lý trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu

Trang 33

26

Pháp luật chỉ trở thành công cụ hữu hiệu trong quản lý nhà nước đối với việc xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu khi nó được các cơ quan nhà nước, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện nghiêm Do vậy, việc triển khai tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả, hiệu lực quản lý của nhà nước đối với việc xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu

Tổ chức thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động, có mục đích làm cho các quy định của pháp luật trở thành hành vi xử sự của chủ thể quản

lý và đối tượng quản lý Trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu cần quan tâm đến việc phân công rõ trách nhiệm quyền hạn của từng cơ quan, tổ chức để tránh tình trạng chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau Nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nhất là sự am hiểu về pháp luật của đội ngũ công chức thực thi; đề cao vai trò trách nhiệm và phẩm chất đạo đức của đội ngũ công chức trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước đối với việc xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu nhằm đảm bảo cho quá trình thực hiện pháp luật đúng đắn, khách quan và công bằng xã hội

Việc tổ chức thực hiện các quy định đối với việc xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu bao gồm công việc cụ thể như :

+Thực hiện kiểm tra việc tuân thủ theo các quy định của pháp luật về xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu của người khai hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan và sau khi hàng hóa đã thông quan

+ Thực hiện xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu theo các phương pháp phù hợp với chuẩn mực quốc tế

+ Tham vấn giá trị tính thuế hàng hóa nhập khẩu: Tham vấn giá trị tính thuế là một hoạt động nghiệp vụ hải quan trong quy trình kiểm tra, xác định trị giá tính thuế khi làm thủ tục hải quan Căn cứ các thông tin thu thập được,

Trang 34

27

cơ quan hải quan có nghi vấn về giá trị tính thuế theo khai báo của người khai hải quan thì sẽ tổ chức tham vấn Mục đích của tham vấn là để chứng minh tính chính xác, trung thực của trị giá khai báo của người khai hải quan trước những nghi vấn của cơ quan hải quan và tạo điều kiện cho người khai hải quan giải trình và cung cấp những chứng từ tài liệu có liên quan tính trung thực của giá khai báo Trên cơ sở các nguồn thông tin giá trong nội bộ ngành hải quan (khai thác từ cơ sở dữ liệu giá) và các nguồn thông tin khác như thông tin do các Bộ, Ngành, Hiệp hội…, thông tin do Hải quan các nước cung cấp…và đối thoại với doanh nghiệp trong quá trình tham vấn, cơ quan hải quan sẽ xác định giá trị tính thuế cho hàng hóa nhập khẩu đảm bảo khách quan, chính xác phù hợp với các cam kết quốc tế

+ Quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu giá : Cơ sở dữ liệu giá là tất cả các thông tin liên quan đến việc kiểm tra, xác định trị giá tính thuế do người khai hải quan khai báo, cung cấp cho cơ quan Hải quan hoặc do cơ quan Hải quan thu thập được liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, được quản lý và

sử dụng trong nội bộ ngành Hải quan để phục vụ công tác kiểm tra giá trị khai báo, xác định giá trị tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

Cơ sở dữ liệu giá là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu thông qua việc cung cấp thông tin về giá những mặt hàng giống hệt và tương tự được nhập khẩu Trên cơ sở đó cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra giá trị khai báo của doanh nghiệp

+ Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy trình xác định giá trị tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu tại các đơn vị hải quan cấp cơ sở, qua đó để chấn chỉnh các sai sót… cũng như đúc rút ra các kinh nghiệm từ thực tế để áp dụng

và nâng cao trong công tác quản lý đối với việc xác định giá trị tính thuế hàng hóa nhập khẩu

Trang 35

28

1.3.Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu

- Hệ thống pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật:

Pháp luật là công cụ quan trọng và chủ yếu nhất trong quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu nói riêng Hệ thống pháp luật hoàn thiện thì tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý nhà nước về xác định giá trị tính thuế hàng hóa nhập khẩu Ngược lại nếu pháp luật không hoàn thiện, có nhiều quy định không phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn với nhau thì sẽ cản trở, tác động tiêu cực đến hoạt động quản

lý nhà nước Cùng với quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng đã và đang tích cực hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sơ pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động hải quan Tuy nhiên, vẫn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót dẫn đến tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, chắp vá thiếu thống nhất trong một văn bản cũng như một văn bản với một hệ thống pháp luật Có những văn bản cùng điều chỉnh một vấn đề nhưng nội dung quy định lại khác nhau, gây khó khăn trong việc thực hiện Nhiều quy định chỉ dừng ở nguyên tắc chung, mang tính chất khung, thiếu những quy định chi tiết, cụ thể… Với đặc thù là cơ quan quản lý liên quan đến nhiều văn bản quy phạm của nhiều chuyên ngành khác nhau, Do vậy, tình trạng này cần phải được khắc phục bằng việc thực hiện các giải pháp :

+ Chú trọng rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản

lý nhà nước về hải quan; kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi bổ sung phù hợp và khả thi

+ Triển khai nghiên cứu, có ý kiến tham gia trong quá trình ban hành Luật và các văn bản hướng dẫn có liên quan

- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước

Trang 36

29

Trong bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào việc hợp lý trong cơ cấu tổ chức

có tác dụng quan trọng làm cho cơ quan, tổ chức đó hoạt động có hiệu quả

Sự hợp lý của tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hải quan góp phần là cho hoạt động quản lý nhà nước đối với việc xác định giá trị tính thuế hàng hóa nhập khẩu đạt hiệu quả Hiện tại, các cấp tổ chức bộ máy hải quan phù hợp với cấp về hành chính thuận lợi cho các hoạt động mang tính hành chính; mô hình tổ chức hải quan theo địa phương thuận lợi trong phối kết hợp tổ chức thực hiện từng nhiệm vụ cụ thể Đồng thời, với cách tổ chức hải quan theo địa phương tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan chức năng, cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương với cơ quan hải quan Với cơ chế giám sát quản lý đã góp phần tích cực trong đấu tranh phòng chống tiêu cực, tham nhũng, tạo môi trường làm việc minh bạch hiệu quả

- Năng lực trình độ nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm của công chức hải quan

Công chức hải quan là những con người cụ thể thực hiện chức trách, nhiệm vụ, hoạt động quản lý nhà nước về hải quan Năng lực, trình độ, nghiệp

vụ, ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức hải quan tác động trực tiếp đến quản lý nhà nước đối với giá trị tính thuế hàng hóa nhập khẩu Công chức hải quan có năng lực, trình độ, nghiệp vụ tốt, ý thức trách nhiệm cao sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu Ngược lại, đội ngũ công chức hải quan năng lực, trình độ nghiệp

vụ yếu, ý thức trách nhiệm kém sẽ làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước

Hiện tại, nhìn chung đội ngũ công chức hải quan có trình độ chuyên môn, đã qua đào tạo cơ bản, có nhiều công chức đã công tác lâu năm, có kinh nghiệm nghiệp vụ; đội ngũ công chức thuộc trẻ thì được đào tạo cơ bản, năng động, có khả năng nắm bắt những vấn đề mới, nhiệt tình với công việc, tạo thuận lợi cho việc hoàn thành tốt nhiệm vụ

Trang 37

30

Bên cạnh đó, còn có những hạn chế như, thiếu về số lượng và chất lượng công chức được đào tạo về hải quan hiện đại và các chuyên đề nghiệp

vụ chuyên sâu; trình độ ngoại ngữ, tin học nhìn chung đxa được nâng lên một bậc nhưng chưa đồng đều Vẫn còn có một số công chức thiếu rèn luyện, nâng cao nghiệp vụ Thái độ làm việc thiếu nghiêm túc, qua loa, chiếu lệ Những hạn chế này ảnh hưởng tiêu cực đến quản lý nhà nước về hải quan nói chung

và quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu nói riêng Vì vậy cần phải chuẩn hóa các khâu trong công tác quản lý công chức bao gồm tuyển dụng, đào tạo lại, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá nhận xét, điều động luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại … Đồng thời cần cá thể hóa trách nhiệm

cá nhân trong các khâu nghiệp vụ; thực hiện nghiêm chế độ thanh tra, kiểm tra công vụ, khen thưởng, kỷ luật, kết hợp với tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức của công chức hải quan

- Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về hải quan

Trong quản lý nhà nước, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến các đối tượng điều chỉnh là việc quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến ý thức chấp hành của đối tượng điều chỉnh Đối với quản lý nhà nước về hải quan nói chung, quản lý trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu nói riêng, công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật đến cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ công chức hải quan thực thi là nhiệm vụ quan trọng Việc thực hiện tốt công tác này, giới thiệu, tuyên truyền đầy đủ, rõ ràng các quy định giúp doanh nghiệp tiếp cận, nắm vững và từ đó chủ động trong chấp hành, tuân thủ pháp luật

Hiện nay, việc tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về hải quan được thực hiện bằng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau như: tập huấn cho cán bộ chủ chốt trong ngành, cập nhật, đăng tải đầy đủ các văn bản mới,

Trang 38

- Hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế mở ra nhiều cơ hội cho nền kinh tế nhưng lại đặt ra không ít thách thức đối với các cơ quan quản lý nhà nước Đối với ngành hải quan thì hội nhập quốc tế thực sự tác động mạnh mẽ, buộc phải thay đổi phương thức quản lý nhà nước để bắt kịp với tốc độ phát triển của kinh tế ngoại thương

Từ năm 2014, với mốc sự kiện chính thức đưa vào vận hành và thực hiện Hệ thống thông quan tự động, Hải quan Việt Nam về cơ bản đã có những thay đổi mang tính bước ngoặt trong công tác quản lý, chuyển từ thủ công sang điện tử Đối với công tác quản lý trị giá tính thuế hàng nhập khẩu, từ việc áp dụng trị giá tính thuế do cơ quan hải quan áp đặt sang tự khai tự tính,

từ việc chuyển kiểm tra hàng hóa khi làm thủ tục hải quan sang kiểm tra sau thông quan, cho đến xây dựng một danh mục hàng hóa XNK thống nhất trong

cả nước, đến triển khai áp dụng quản lý rủi ro, thực hiện kiểm soát quyền sở hữu trí tuệ và từ mô hình thủ công chuyển sang mô hình tự động Có được sự thay đổi đó một phần quan trọng là do hợp tác quốc tế về hải quan Những chuẩn mực quốc tế của các công ước quốc tế về hải quan và những thông lệ hải quan tiên tiến đã được nội luật hóa vào các văn bản pháp luật hải quan Việt Nam đó là : những chuẩn mực quốc tế được quy định trong công ước

Trang 39

32

Kyoto sửa đổi, Công ước HS, Khung tiêu chuẩn của hải quan thế giới về an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại, các cam kết ASEAN về mô hình hải quan một cửa…

1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu của một số nước trên thế giới

1.4.1.Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản cũng là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, vì vậy,

về cơ bản Nhật Bản cũng quản lý trị giá tính thuế đối với hàng hóa khi nhập khẩu theo GATT và hàng hóa nhập khẩu của Nhật Bản cũng được xác định theo trị giá giao dịch là chủ yếu

Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước về trị giá tính thuế của Nhật bản được chia thành hai cấp:

- Cấp Hải quan vùng: Là phòng giá Hải quan thuộc Vụ thông quan của Hải quan các vùng

- Cấp Trung ương: Trung tâm xác định giá hải quan, đặt tại Hải quan vùng Tokyo

Ở Nhật Bản tại cấp cửa khẩu, cơ cấu tổ chức của Hải quan chỉ bao gồm

02 bộ phận chính là thông quan - nơi tiếp nhận và xử lý khai báo nhập khẩu hàng hóa và hành chính Công chức Hải quan làm nhiệm vụ thông quan ở cửa khẩu chỉ làm nhiệm vụ hướng dẫn cho người khai hải quan và cách xác định trị giá hải quan khi cần thiết

Trang 40

Công tác kiểm tra trị giá tính thuế của doanh nghiệp được đặt chú trọng tại khâu kiểm tra sau thông quan Khâu kiểm tra trị giá sau khi hàng hóa đã thông quan có tính độc lập tương đối với việc thông quan trị giá khi làm thủ tục hải quan Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra sau thông quan, kiểm tra viên sẽ đồng thời kiểm tra tính chính xác, trung thực của khai báo về trị giá hải quan Nhiệm vụ này đòi hỏi người kiểm tra phải có kiến thức thực

sự sâu sắc về xác định trị giá hải quan Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, công chức kiểm tra sẽ lấy ‎ý kiến của công chức tại bộ phận trị giá về phương pháp và kết quả xác định trị giá cho hàng hóa Khi đó, các dữ liệu về hàng nhập khẩu được chuyển đến bộ phận trị giá Công chức giá có trách nhiệm sử dụng đúng phương pháp và xác định đúng trị giá hải quan của hàng hóa Công chức kiểm tra sau thông quan căn cứ kết quả xác định của bộ phận giá và đối chiếu với kết quả xác định của doanh nghiệp để đưa ra kết luận về tính chính xác của khai báo Công chức giá không có trách nhiệm nhận xét khai báo của doanh nghiệp

Như vậy, Hải quan Nhận Bản phân định rõ trách nhiệm của bộ phận kiểm tra sau thông quan và bộ phận giá hải quan trong lĩnh vực quản lý giá hàng hóa Một bên là nghiên cứu, hướng dẫn việc xác định giá trị, một bên là người trực tiếp kiểm tra kết quả xác định trị giá Đây là mô hình hoạt động khá hiệu quả và phát huy tốt vai trò quản lý của cơ quan Hải quan mà Hải quan Việt Nam nên tham khảo trong quá trình cải cách, hiện đại hóa nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý xác định giá trị hải quan

Ngày đăng: 25/11/2020, 13:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w