1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Biện-pháp-rèn-kĩ-năng-làm-văn-miêu-tả-cho-HS-lớp-4

19 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 110,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở lớp Bốn, văn miêu tả là dạng bài dựa vào những căn cứ quan sát được, cảm nhận về đối tượng cây cối, con vật, đồ vật đã để lại ấn tượng.. - Học sinh chưa biết quan sát đối tượng được mi

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Họ và tên : Lê Thị Mỹ Thiện

2 Chức vụ: Giáo viên

3 Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Chu Văn An

4 Lý do chọn đề tài :

Như chúng ta đã biết ở Tiểu học, môn Tiếng Việt có một vị trí đặc biệt quan trọng Nó là môn học hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp, góp phần rèn luyện thao tác tư duy, tạo điều kiện và cơ sở cho học sinh học tốt các môn học khác

Đặc biệt, môn Tiếng Việt lại có nhiều phân môn khác nhau Mỗi phân môn chứa những nội dung, kiến thức nhất định, chúng bổ trợ cho nhau; song phân môn Tập làm văn là một trong những phân môn quan trọng nhất và khó nhất đối với học sinh Tiểu học Nó trang bị kiến thức và rèn luyện kĩ năng sản sinh ngôn ngữ nói và viết, góp phần cùng với các môn học khác mở rộng vốn từ, rèn luyện khả năng tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, thẩm mĩ nhằm hình thành nhân cách con người Ở lớp Bốn, văn miêu tả là dạng bài dựa vào những căn cứ quan sát được, cảm nhận về đối tượng (cây cối, con vật, đồ vật) đã để lại

ấn tượng Từ những hình ảnh trực quan sinh động đó chuyển sang tư duy trừu tượng và sản sinh ngôn ngữ Đối với học sinh lớp Bốn nói đúng, viết đúng, diễn đạt mạch lạc đã khó; vậy mà để làm văn hay có cảm xúc, giàu hình ảnh lại càng khó hơn nhiều Để dạy tốt phân môn này, đòi hỏi người giáo viên phải luôn tìm tòi phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, tổ chức hướng dẫn các hoạt động linh hoạt nhằm kích thích các em hứng thú học tập, lĩnh hội được kiến thức có hiệu quả

Xuất phát từ thực tế như vậy, là giáo viên đứng lớp, tôi luôn không ngừng nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn và đổi mới phương pháp dạy học sao cho giảng dạy đạt hiệu quả Vậy làm thế nào để dạy tốt phân môn Tập làm văn nhằm góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt? Vì vậy tôi đã chọn sáng

Trang 2

kiến: “Một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4A1 –

Trường TH Chu Văn An”

5 Giới hạn (Phạm vi nghiên cứu):

Nội dung chương trình văn miêu tả lớp 4, học sinh lớp 4A1 trường TH Chu Văn An

6 Thời gian nghiên cứu:

Năm học 2018 - 2019

PHẦN II: NỘI DUNG

1 Thực trạng:

* Thuận lợi:

- Các em có đầy đủ sách giáo khoa, vở bài tập, sách tham khảo;

- Ngày nay phát triển, các em được tiếp cận nhiều nguồn thông tin, cho nên việc tiếp cận, quan sát vật để miêu tả dễ dàng hơn;

- Nhà trường luôn có đầy đủ trang thiết bị để phục vụ cho việc dạy phân môn này đạt hiệu quả như : tranh, ảnh, máy chiếu, ti vi

* Khó khăn:

Qua quá trình điều tra học sinh lớp 4A1,tôi nhận thấy trình độ học sinh trong lớp không đồng đều, số lượng học sinh làm văn hay rất ít Phân môn Tập làm văn lớp 4 vô cùng khó, mang tính trừu tượng cao nên phần lớn học sinh không thích học phân môn này

Học sinh làm bài hời hợt, chung chung; chưa miêu tả để phân biệt đối tượng được miêu tả này với đối tượng khác Những bài văn dạng này giống văn

kể hơn là văn miêu tả

Vốn từ của các em còn nghèo nàn nên dẫn đến diễn đạt lủng củng, dùng

từ trùng lặp, sai nghĩa, sai lỗi chính tả trong bài Tập làm văn

Nhiều em chưa phân biệt từ ngữ sử dụng trong văn nói và văn viết

Đa số các em chưa tích cực đọc sách tham khảo để trau dồi cách diễn đạt

và cách hành văn lưu loát hoặc nếu có đọc, các em thường vay mượn ý của sách,

Trang 3

lệ thuộc vào bài mẫu, có thể chép vào làm bài của mình chứ các em chưa biết vận dụng, liên tưởng một cách sáng tạo và linh hoạt

Sở dĩ thực trạng học sinh nêu trên tôi thiết nghĩ là do những nguyên nhân sau:

- Học sinh chưa thực sự thấy yêu thích môn học

- Học sinh chưa biết quan sát đối tượng được miêu tả hoặc quan sát một cách qua loa và khi quan sát học sinh không ghi chép lại từng chi tiết cụ thể nên khi làm bài văn chưa đạt hiệu quả

- Vốn từ của các em còn nghèo nàn, lại không biết sắp xếp như thế nào cho bài văn mạch lạc, đảm bảo bố cục và chưa biết cách chọn từ ngữ, hình ảnh miêu tả

- Học sinh chưa biết cách lập một dàn bài cụ thể để tả

- Học sinh chưa biết cách sử dụng biện pháp nghệ thuật vào bài và bộc lộ cảm xúc

- Phần lớn học sinh trong lớp đều là con nông dân Nên việc dạy dỗ, rèn luyện ở nhà còn hạn chế

Năm học 2017-2018 tôi chưa áp dụng đề tài này, tôi tiến hành khảo sát một bài văn miêu tả đồ vật của lớp 4A1 như sau:

Lớp 4 A2

2 Giải pháp thực hiện :

Từ những thực trạng nêu trên, trong thời gian giảng dạy trên lớp, bản thân tôi có những biện pháp như sau:

2.1.Tìm hiểu và phân loại đối tượng học sinh

Quá trình dạy ở lớp khoảng vài tuần đầu, tôi căn cứ vào đó để phân loại từng đối tượng học sinh: học sinh năng khiếu, học sinh trung bình và học sinh yếu Cụ thể:

Trang 4

Lớp 4A1: 28 em Học sinh có năng khiếu: 2 em chiếm 7%

Học sinh Trung bình: 20 em chiếm 71%

Học sinh Yếu : 6 em chiếm 22%

Từ đó, tôi nắm chắc từng đối tượng học sinh để đề ra được kế hoạch dạy học phù hợp, phát triển được năng lực viết văn miêu tả, đồng thời giúp những

em yếu biết vận dụng làm một bài văn miêu tả hoàn chỉnh

Chẳng hạn: Học sinh năng khiếu viết được bài văn miêu tả đúng bố cục,

có sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh, tôi hướng dẫn thêm để học sinh biết sử dụng nhiều từ ngữ miêu tả giàu hình ảnh và sử dụng các biện pháp nghệ thuật vào bài để bài viết hay hơn

Cụ thể: Đoạn tả chú gà trống: “Con gà trống ra dáng một con gà trống oai

vệ Chú khoác bộ lông tía sặc sỡ nhiều màu sắc Trên đầu đội chiếc mào đỏ chót Đôi mắt sáng, con ngươi đưa đi đưa lại Cái đuôi cao vổng lên Những ngón

chân có móng vuốt sắc nhọn (bài viết của em Nguyễn Thị My- Lớp 4A1).

Tôi khen bài viết của em đã hay, đã biết dùng từ giàu hình ảnh, em cần sử dụng thêm phép nghệ thuật vào bài Tôi hướng dẫn viết lại đoạn viết như sau: Chú gà trống ra dáng một chú gà oai vệ Chú khoác trên mình một bộ trang phục màu tía sặc sỡ Cái mào đỏ chót uốn cong, có nhiều ria nhọn như bông hoa mào

gà Đôi mắt sáng trong như hai viên ngọc Cái đuôi cao vổng lên với những chiếc lông đủ màu như một cái cầu vồng trông thật đẹp mắt Đôi chân có móng vuốt sắt nhọn là thứ vũ khí lợi hại của chú

Còn học sinh yếu, tôi hướng dẫn bước đầu học sinh viết đúng và đủ bố cục bài văn miêu tả, dùng từ ngữ phù hợp, viết đúng chính tả

Cụ thể: Nhà em có nuôi một con mèo lông nó màu trắng Hai con mắt tròn, nó có bốn chân và cái đuôi Nó có răng sắc nhọn Em thích con mèo này

(bài viết của em Nguyễn Duy Quang- Lớp 4A1).

Tôi đã hướng dẫn để giúp học sinh viết lại đảm bảo bố cục Trước tiên, tôi cho học sinh nhắc lại cấu tạo bài văn miêu tả con vật gồm mấy phần? (ba phần)

và hệ thống cho học sinh từng phần viết như thế nào?(trình bày thành các đoạn)

Trang 5

Chẳng hạn: Mở bài: Giới thiệu con vật ở đâu? Ai nuôi?(Nhà em nuôi được một chú mèo trông rất đáng yêu)

Thân bài: Tả ngoại hình: Bộ lông thế nào?(Bộ lông màu xám tro, rất mượt), Hai mắt ra sao?(Hai mắt sáng và tinh) Tai như thế nào? (Tai vểnh lên để nghe ngóng Mỗi khi có tiếng động nhẹ là chú phát hiện ngay) Bốn chân như thế nào?(Bốn chân thon thon và rất nhanh nhẹn, đi lại nhẹ nhàng)

Tả hoạt động: Bắt chuột thế nào?(Sau mỗi bữa ăn là chú ngồi ngay bao thóc để rình, hễ chú chuột nào đến là mèo nhảy ra vồ ngay)

Kết bài: Cảm nghĩ của em về con vật? ( Em rất thích chú mèo này Nhờ có chú mà nhà em đã hết chuột phá hoại)

2.2 Hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả

Để các em có thể vẽ lại được cụ thể, sinh động mọi vật trong đời sống hằng ngày, các em cần phải quan sát cụ thể vật đó: Quan sát phải kết hợp sử dụng nhiều giác quan (mắt – nhìn, tai – nghe, mũi – ngửi, tay - sờ…) để thu nhận được càng nhiều chi tiết thì bài miêu tả càng giống với đối tượng miêu tả; quan sát theo trình tự từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ tổng quát đến cụ thể

rồi ghi chép lại vào sổ tay văn học.

* Nếu tả đồ vật: cần quan sát bao quát đồ vật, rồi quan sát tỉ mỉ từng phần của đồ vật theo trình tự hợp lí từ ngoài vào trong

Ví dụ: Tả chiếc cặp: quan sát bao quát cặp có hình thù như thế nào ? Màu sắc gì ? quan sát từng phần đồ vật từ ngoài vào trong, đặc biệt quan sát các bộ phận có đặc điểm nổi bật: phía trước cặp được trang trí hình gì? Sau cặp có bộ phận gì ?(quai cặp, dây đeo) Rồi đến quan sát bên trong (cặp có mấy ngăn?), dùng mũi ngửi thấy mùi gì? Và dùng tay sờ vào từng ngăn cặp có cảm giác như thế nào?

* Nếu tả cây cối: cần quan sát kĩ từng bộ phận của cây hay từng thời kì phát triển của cây và ích lợi

Ví dụ: Tả cây xoài: Quan sát kĩ các bộ phận (thân, gốc, cành, lá, hoa, quả…) hay từng thời kì phát triển của cây (cây non, cây lớn lên và cây trưởng

Trang 6

thành cho quả…) và ích lợi (cho quả, tăng thu nhập cho gia đình….)Ngoài ra cần sử dụng thêm các giác quan khác như mũi ngửi thấy mùi của xoài như thế nào?, tay sờ thấy vỏ cây, da của quả như thế nào? Và lưỡi nếm vị của quả ra sao?

* Nếu tả con vật: cần quan sát kĩ đặc điểm ngoại hình (bộ lông, mắt, mũi, chân, đuôi…), thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của nó

Ví dụ: Tả con gà trống: quan sát con gà to cỡ nào ? lông màu gì ? Mào ra sao ? chân to hay nhỏ, đuôi thế nào ? Thói quen của gà (gáy vào sáng sớm) Hoạt động chính (tìm mồi, chọi nhau với gà khác) Tôi còn hướng dẫn kĩ cho học sinh

sử dụng những giác quan khác nữa để quan sát con vật như tay thì sờ vào bộ lông cảm thấy thế nào? Tai để nghe tiếng gáy ra sao?

Đối với việc quan sát, học sinh được học cụ thể một tiết “Luyện tập quan sát” Giáo viên tổ chức tiết học này thật kĩ và kèm theo hệ thống câu hỏi định hướng để học sinh biết cách quan sát phát hiện những đặc điểm riêng, phân biệt đối tượng miêu tả này với đối tượng khác và quan sát thật hiệu quả Giáo viên tổ chức cho học sinh quan sát theo nhiều hình thức: tranh ảnh, vật thật như quan sát

đồ chơi (vật thật) quan sát con vật (tranh ảnh hoặc quan sát con vật trước ở nhà)

2.3 Mở rộng vốn từ ngữ và lựa chọn từ ngữ miêu tả

Để giúp học sinh viết văn miêu tả tốt, đòi hỏi phải trang bị cho các em có vốn từ phong phú, hiểu nghĩa của từ, nhận biết từ phổ thông, từ địa phương, từ cùng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ nhiều màu sắc biểu cảm…Để đáp ứng được nhu cầu như vậy, tôi đã giúp cho học sinh tích lũy vốn từ và biết lựa chọn từ miêu

tả phù hợp Khi dạy các bài Tập đọc, giúp cho học sinh hiểu nghĩa một số từ có trong bài, học sinh nắm được nội dung và nghệ thuật của bài đó và cảm nhận được cách sử dụng ngôn từ và hình ảnh của mỗi tác giả

Ví dụ: Bài “Đôi giày ba ta màu xanh” (sách Tiếng Việt trang 81) Tôi chỉ

cho học sinh thấy, tác giả sử dụng câu văn miêu tả đôi giày: “Cổ giày ôm sát chân Thân giày làm bằng vài cứng, dáng thon thả, màu vải như màu da trời

Trang 7

những ngày thu” Tác giả đã dùng từ ngữ giàu hình ảnh và sử dụng phép nghệ thuật so sánh để tô thêm vẻ đẹp cho đôi giày

Ví dụ: Bài Con chuồn chuồn nước (sách Tiếng Việt trang 127) Tác giả

đã sử dụng câu văn miêu tả con chuồn chuồn: ”Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như thủy tinh Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng mùa thu Bốn cánh khẽ rung rung như đang còn phân vân” Tác giả đã sử dung hình ảnh so sánh để miêu tả chú chuồn chuồn một cách sinh động, hấp dẫn

Không những phân môn Tập đọc mà còn các phân môn khác như Luyện

từ và câu cũng giúp cho học sinh mở rộng vốn từ cho mình như các bài: Mở rộng vốn từ theo chủ điểm, các em cũng lĩnh hội thêm được một ít từ ngữ và phân môn Mĩ thuật cũng giúp cho học sinh rèn kĩ năng quan sát và trí tưởng tượng phong phú…và một số phân môn khác nữa (Kể chuyện, Khoa học…)Bên một cạnh đó, học sinh đọc các bài tham khảo cần phải biết học tập cách miêu tả

và chọn lọc số từ ngữ miêu tả Từ đó học sinh bổ sung được vốn từ ngữ cho mình

Đặc biệt là học sinh tích lũy vốn từ qua thực tế cuộc sống hằng ngày ví dụ như nghe và ghi nhớ tiếng kêu của con mèo(meo…meo), Tiếng gáy của con gà(ò ó o), tiếng sủa của con chó(gâu gâu) …

Ngoài ra, tôi còn giới thiệu thêm một số từ, ngữ cần thiết để làm giàu thêm vốn từ cho học sinh

Chẳng hạn:

- Tả cây cối :

Thân cây to xù xì, rễ cây ăn sâu xuống lòng đất, cành đâm ra tua tủa, hoa kết lại từng chùm, quả treo lúc lỉu, hương thơm ngào ngạt

- Tả con vật:

Chú khoác lên mình bộ áo đẹp; đầu tròn, mắt sáng và tinh, tai vểnh lên để nghe ngóng, chân nhanh nhẹn, đi lại rất nhẹ nhàng, móng vuốt sắc nhọn là vũ khí tự vệ và rất lợi hại, khi kiếm được mồi, chú mang về cho con cùng ăn

Trang 8

Từ vốn từ mà học sinh đã tích lũy được, tôi hướng dẫn cho học sinh lựa chọn từ ngữ, hình ảnh khi miêu tả, sử dụng cho phù hợp Khi trình bày kết quả quan sát được hoặc khi học sinh luyện viết đoạn, tôi đã uốn nắn, chỉ chỗ sai cho học sinh ngay khi phát hiện học sinh dùng chưa đúng

Ví dụ: Thân bút màu xanh lá cây, thon thả như búp cây (sử dụng từ không

phù hợp)

Sửa lại: Thân bút màu xanh lá cây, thon nhỏ như ngón tay em.

Ví dụ: Em viết lên trang giấy, nét bút trơn hiện lên những dòng chữ mềm

mềm (sử dụng từ không phù hợp)

Sửa lại: Em viết lên trang giấy, nét bút trơn hiện lên những dòng chữ đều

đều, mềm mại

2.4 Tìm ý và lập dàn bài

Trước tiên, tôi đã định hướng cho học đọc kĩ đề, xác định thể loại, kiểu bài, xác định nội dung tả gì? Và thể hiện tư tưởng tình cảm gì vào bài? Đối với bài văn miêu tả, quan sát đối tượng được miêu tả là cơ sở để học sinh tìm ý Sau khi học sinh đã quan sát và có những ghi chép chi tiết về đối tượng miêu tả, tôi hướng dẫn học sinh tìm ý cho bài văn của mình dựa vào hình ảnh đã quan sát và lựa chọn hình ảnh để lập dàn ý cho bài văn Một bài văn hoàn chỉnh là bài văn phải có cách sắp xếp chặt chẽ Mặc dù mở bài, thân bài, kết bài là ba phần riêng song chúng phải có sự thống nhất về ý

* Mở bài: Giới thiệu đối tượng định miêu tả (tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật) Phần mở bài giống như một lời thân ái mời chào của chúng ta đối với người khách đến thăm “vườn văn” của mình Lời mời chào ấy phải hấp

dẫn, gợi mở, gây được những ấn tượng ban đầu và nêu được ý muốn diễn đạt ở phần thân bài( giới thiệu được đối tượng cần nói đến ở thân bài)

Ta có thể dùng cách mở bài trực tiếp (giới thiệu ngay đối tượng) hoặc mở bài gián tiếp(nói chuyện khác  liên tưởng giới thiệu đối tượng)

Ví dụ: Tả cái bàn học

Trang 9

Chiếc bàn học này là người bạn ở trường thân thiết với tôi gần hai năm

nay (Mở bài trực tiếp-Bài làm của em Nguyễn Thành Trung)

Tôi rất yêu gia đình tôi, ngôi nhà của tôi Ở đó, tôi có bố mẹ và chị gái thân thương, có những đồ vật, đồ chơi thân quen và một góc học tập sáng sủa

Nổi bật trong góc học tập đó là cái bàn học xinh xắn của tôi.( Mở bài gián

tiếp-bài làm của em Phương Thanh)

* Thân bài: +Tả đồ vật: Tả bao quát đồ vật rồi đến tả những bộ phận có đặc điểm nổi bật và nêu công dụng

+Tả cây cối: Tả từng bộ phận của cây hoặc từng thời kì phát triển của cây và ích lợi của cây

+Tả con vật: Tả ngoại hình rồi đến thói quen sinh hoạt của con vật

và hoạt động chính của con vật

Phần thân bài chính là phần trọng tâm của một bài văn Một bài văn có phần mở đầu và kết thúc hấp dẫn nhưng phần thân bài sáo rỗng, hời hợt, không giải quyết được đầy đủ các yêu cầu được đặt ra ở phần đề bài thì chưa phải là một bài văn hay Để khắc phục khuyết điểm này, khi lập dàn ý của bài văn, chúng ta cần tách phần thân bài thành các ý lớn cho đầy đủ, rồi từ các ý đó, viết thành các đoạn văn hoàn chỉnh

* Kết bài: Nêu cảm nghĩ, ấn tượng, tình cảm của mình với đối tượng miêu tả

Nếu như phần mở bài giống như một lời mời chào thân ái thì phần kết bài giống như một cuộc tiễn đưa người khách vừa đến thăm “vườn văn” của mình

Để tạo cho khách sự quyến luyến không muốn rời xa, cuộc tiễn đưa ấy phải thật tình cảm và chân thành Muốn vậy, khi viết phần kết bài, giáo viên hướng dẫn học sinh viết thật cô đọng, ngắn gọn và súc tích, tránh kết thúc một cách đơn điệu, tẻ nhạt và cộc lốc Kết bài chính là kết lại, khép lại nội dung vừa trình bày

ở phần thân bài Vì vậy cần khép bài một cách khéo léo để nó đọng lại và mở ra trong lòng người đọc những cảm xúc tràn trề, những hình ảnh đẹp đẽ mà chúng

ta đã miêu tả, đã kể trong bài văn của mình

Trang 10

Ta có thể dùng 2 cách kết bài: Kết bài không mở rộng (Cho biết kết thúc, không có lời bình luận thêm) và kết bài mở rộng (nói lên tình cảm, cảm xúc của mình, liên tưởng và có thêm lời bình luận )

Ví dụ:Tả cái trống trường

“Nhờ có anh trống mà giúp cho chúng em thực hiện ra vào lớp đúng giờ

Khi hết giờ, chúng em tạm biệt anh trống để ra về.” (Kết bài không mở

rộng-Bài làm của em Gia Hân)

“Tiếng trống là nhịp đập thời gian của trường em Tiếng trống là hiệu lệnh hoạt động cho tất cả thầy trò trong trường Theo nhịp trống, chúng em xếp hàng Theo nhịp trống, chúng em vào lớp, Mai đây, em sẽ lớn lên, có thể đi đến bất

cứ nơi nào, song tiếng trống trường sẽ mãi mãi đọng lại trong tâm trí em cùng

với những kí ức đẹp đẽ của tuổi học trò.” (Kết bài mở rộng-Bài làm của em

Nguyễn Thị Hồng Ngọc)

Ví dụ: Tả đồ chơi em thích

Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đề và hướng dẫn một số câu hỏi: đề bài yêu cầu gì? Em chọn đồ chơi nào để tả? đồ chơi ấy có đặc điểm gì? Từ đó học sinh bám vào yêu cầu đề, huy động vốn từ và dựa vào kết quả quan sát được, lựa chọn những nét nổi bật của đối tượng để miêu tả rõ ràng và đầy đủ

Dàn ý: * Mở bài: Gấu bông là con vật em yêu thích

* Thân bài:

+ Hình dáng không to lắm, gấu luôn ngồi, dáng người tròn, hai tay trước bụng

+ Bộ lông: màu trắng pha hồng rất xinh xắn + Hai mắt: đen láy, trông như mắt thật rất nghịch và thông minh + Mũi: màu đen nhỏ, trông như chiếc cúc áo

+ Trên cổ: thắt một cái nơ đỏ trông thật đáng yêu + Hai tai: cụp xuống trông rất ngộ nghĩnh

* Kết bài: em rất yêu thích gấu bông và em giữ gìn nó cẩn thận

Ngày đăng: 25/11/2020, 13:03

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w