1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp FDI tại các khu chế xuất và khu công nghiệp TP HCM sau khủng hoảng

120 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 873,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3 Đánh giá tác động cuộc khủng hoảng tài chính đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp FDI tại các KCX – KCN TP.HCM, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp giúp các cơ quan quản lý Nhà n

Trang 1

HUỲNH PHÚC NGUYÊN THỊNH

NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI TẠI CÁC KHU CHẾ XUẤT VÀ KHU CÔNG NGHIỆP TP.HCM SAU KHỦNG HOẢNG.

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

HUỲNH PHÚC NGUYÊN THỊNH

NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI TẠI CÁC KHU CHẾ XUẤT VÀ KHU CÔNG NGHIỆP TP.HCM SAU KHỦNG HOẢNG.

Chuyên ngành : Kinh tế Tài chính – Ngân hàng

Trang 3

hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung của luận văn.

HUỲNH PHÚC NGUYÊN THỊNH

Trang 4

MỤC LỤC Trang phụ bìa.

Lời cam đoan.

Mục lục.

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt.

Danh mục các bảng, biểu.

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

Mở đầu.

Chương 1 Tổng quan lý thuyết về hiệu quả tài chính DN và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính.

1.1 Hiệu quả tài chính của DN 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Ý nghĩa của việc phân tích hiệu quả tài chính của DN 5

1.2 Các chỉ tiêu sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính 6

1.2.1 Khái niệm về vốn đầu tư 6

1.2.1.1 Khái niệm 6

1.2.1.2 Xác định vốn đầu tư. 8

1.2.2 Khái niệm về thu nhập 10

1.2.2.1 Khái niệm 10

1.2.2.2 Xác định thu nhập. 10

1.2.3 Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) 11

1.2.4 Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (RE) 11

1.2.5 Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) 14

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính 14

1.3.1 Hiệu quả kinh doanh 15

1.3.2 Khả năng tự chủ về tài chính 15

1.3.3 Độ lớn đòn bẩy tài chính 16

1.3.4 Khả năng thanh toán lãi vay 17

1.4 Nguồn thông tin và phương pháp phân tích 19

Trang 5

1.4.1 Nguồn thông tin sử dụng phân tích 19

1.4.1.1 Thông tin từ báo cáo tài chính. 19

1.4.1.2 Các nguồn thông tin khác. 19

1.4.2 Phương pháp phân tích 21

Kết luận chương 1 22

Chương 2 Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và tác động của nó đến hiệu quả tài chính các DN FDI tại các KCX – KCN TP.HCM. 2.1 Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 23

2.1.1 Nguồn gốc hình thành nên cuộc khủng hoảng 23

2.1.2 Diễn biến và hậu quả 25

2.1.3 Ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam 27

2.2 Đánh giá thực trạng hoạt động và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp FDI tại KCX-KCN TP.HCM 30

2.2.1 Tổng quan về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp FDI tại KCX -KCN TP.HCM. 31

2.2.1.1 Tình hình chung về hoạt động và thu hút đầu tư. 31

2.2.1.2 Tình hình hoạt động thực tế của các doanh nghiệp FDI. 34

2.2.2 Đánh giá hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp FDI 40

2.2.2.1 Đánh giá chung về tình hình hoạt động. 40

2.2.2.2 Chỉ tiêu ROE từ năm 2005 đến năm 2009. 44

2.2.2.3 Phân tích các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính. 47

2.2.2.4 Đánh giá các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính. 56

Kết luận chương 2 57

Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp FDI tại các KCX – KCN TP.HCM sau khủng hoảng tài chính thế giới nă M 2008. 3.1 Các giải pháp thực hiện từ bản thân doanh nghiệp 58

3.1.1 Giải pháp nâng cao kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 58

3.1.1.1 Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. 58

3.1.1.2 Có chính sách quản trị chi phí tốt hơn. 59

Trang 6

3.1.2 Đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh 60

3.1.3 Tái cấu trúc lại doanh nghiệp bằng hoạt động M&A 60

3.2 Các kiến nghị đối với công tác quản lý nhà nước 63

3.3.1 Chính sách pháp luật thông thoáng nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp hoạt động thuận lợi 63

3.3.2 Giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu.64 3.3.3 Phải định hướng ngành nghề khi thu hút đầu tư 64

3.3.4 Giải pháp về nguồn nhân lực 66

3.3.5 Giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế 66

3.3.6 Giải pháp chống chuyển giá 67

3.2.6.1 Hình thành bộ phận chuyên về “chuyển giá” thuộc cơ quan thuế và tăng cường công tác đào tạo, huấn luyện 67

3.2.6.2 Tăng cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm với các chuyên gia “chuyển giá” của các công ty kiểm toán và tư vấn 69

Kết luận chương 3 71

Kết luận chung Tài liệu tham khảo Phụ lục 1 1

Phụ lục 2 18

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU.

Bảng 1.2: Chia tách tỷ suất lợi nhuận trên tài sản 12

Bảng 1.3: Mối quan hệ giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay với lợi nhuận thuần 13

Bảng 1.4: Mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến ROE 22

Bảng 2.3: Tổng hợp DN KCX – KCN tính đến 30/06/2010 32

Bảng 2.4: Bảng các quốc gia đầu tư vào KCX – KCN TP.HCM 33

Bảng 2.6 Tỷ lệ DN FDI triển khai dự án từ năm 2006 – 2010 35

Bảng 2.7 Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện so vốn đăng ký của DN FDI 36

Bảng 2.12: Số liệu về nộp Ngân sách của các DN FDI từ năm 2005 – 2010 40

Bảng 2.18: Bảng so sánh chỉ số ROE của DN FDI và DN trong nước 45

Bảng 2.19: Bảng phân tích nhân tố hiệu quả kinh doanh 47

Bảng 2.20: Bảng phân tích nhân tố khả năng tự tài trợ 52

Bảng 2.21: Bảng phân tích nhân tố độ lớn đòn bẩy tài chính 53

Bảng 2.22: Bảng phân tích khả năng thanh toán lãi vay 55

Bảng 3.2: Hoạt động M&A tại Việt Nam từ năm 2005 – 2009 61

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ.

Hình 1.1 Vốn đầu tƣ của một DN điển hình 8

Hình 2.1: Diễn biến thay đổi giá nhà trong thời kỳ bong bóng nhà đất ở Mỹ 24

Hình 2.2: Diễn biến thay đổi của lãi suất 25

Hình 2.5: Biểu đồ về lĩnh vực đầu tƣ của các doanh nghiệp FDI 34

Hình 2.8: Biểu đồ tỷ lệ vốn đầu tƣ thực hiện của DN FDI từ năm 2006 – 2010 36

Hình 2.9: Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu của DN FDI từ 2006 – 2010 37

Hình 2.10: Biểu đồ kim ngạch nhập khẩu DN FDI năm 2006 – 2010 38

Hình 2.11: Biểu đồ số lao động làm việc tại các DN FDI từ năm 2006 – 2010 39

Hình 2.13: Biểu đồ vốn đầu tƣ thực hiện bình quân theo ngành 41

Hình 2.14: Biểu đồ cấu trúc vốn bình quân theo ngành 41

Hình 2.15: Biểu đồ về doanh thu bình quân theo ngành 42

Hình 2.16: Biểu đồ về lợi nhuận bình quân theo ngành 43

Hình 2.17: Biểu đồ về chỉ số ROE bình quân theo ngành 45

Hình 3.1 : Tỷ trọng chi phí bình quân trên doanh thu bình quân 59

Trang 10

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:

Sự phát triển của các KCX và KCN tại TP.HCM trong thời gian qua đã tạo động lực cho phát triển kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất nhập khẩu của thành phố và đẩy nhanh tốc độ

đô thị hóa … Qua đó, đã có những đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phát triển kinh tế thành phố nói riêng và cả nước nói

chung Trong đó, các doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đầu

tư hàng tỷ USD, giải quyết hàng chục vạn lao động có việc làm, tạo ra hàng tỷ

USD kim ngạch xuất khẩu, thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước hàng ngàn tỷ đồng, đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của thành phố.

Từ năm 2005, khi Quốc hội thông qua Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp và Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã tạo một sự chuyển đổi môi trường rất lớn đối với các nhà đầu tư trong những năm gần đây Tính đến nay, tại

TP.HCM đã có 15 KCX – KCN được hình thành với tổng diện tích gần 3.600 ha, thu

hút hơn 1400 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp FDI là hơn 2,77 tỷ USD và doanh nghiệp trong nước là hơn 27 ngàn tỷ đồng Trong năm 2007, tổng vốn đầu tư thu hút (kể cả cấp mới và điều chỉnh) đạt 537,96 triệu USD, tăng 141% so với năm 2006; năm 2008, đạt 681,09 triệu USD, tăng 27% so với năm

2007

Tuy nhiên, đến năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới,

suy giảm kinh tế thế giới, nhiều doanh nghiệp KCX – KCN bị thu hẹp sản xuất, cắt

giảm lao động do thiếu đơn đặt hàng Đối với các doanh nghiệp FDI, nếu so với năm

2008 có sự giảm sút đáng kể, cụ thể: vốn đầu tư thu hút giảm 41%, kim ngạch xuất khẩu giảm 22,8%, kim ngạch nhập khẩu giảm 3,7%, doanh thu giảm 19,8%.

Trước thực trạng trên đã đặt ra cho người nghiên cứu câu hỏi là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới xảy ra như thế nào? Đâu là nguyên nhân sâu xa gây ra cuộc khủng hoảng? Cuộc khủng hoảng tài chính đã tác động như thế nào đến tình hình

Trang 11

hoạt động kinh doanh cũng như hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp FDI tại các

KCX – KCN TP.HCM? Làm thế nào để khắc phục và ngăn chặn cuộc khủng hoảng

xảy ra trong tương lai? Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp FDI? Từ đó, rút ra được bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Từ các vấn đề đặt ra nêu trên nên tác giả đã chọn đề tài

“NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI TẠI CÁC KHU CHẾ XUẤT VÀ KHU CÔNG NGHIỆP TP.HCM SAU KHỦNG HOẢNG” để làm luận văn tốt nghiệp cao học ngành kinh tế tài chính ngân hàng.

2. Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề như sau:

(1) Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 Nguyên nhân sâu xa gây ra khủng hoảng.

(2) Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp FDI tại các KCX – KCN TP.HCM.

(3) Đánh giá tác động cuộc khủng hoảng tài chính đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp FDI tại các KCX – KCN TP.HCM, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp giúp các cơ quan quản lý Nhà nước có chính sách thu hút nguồn vốn FDI hợp lý hơn và kiểm soát hiệu quả hơn tình hình hoạt động của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam nói chung và KCX – KCN thành phố nói riêng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Trong tiến trình bùng nổ kinh tế của đất nước, TP.HCM đã phát triển một bước dài và trở thành đầu tàu của nền kinh tế đất nước, đồng thời cũng là viên nam châm

có sức hút mạnh mẽ với nhiều nhà đầu tư nước ngoài (FDI) Trong đó, các khu chế xuất và khu công nghiệp TP.HCM đã góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và phát triển TP.HCM và các doanh nghiệp FDI tại khu vực này đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đóng góp vào ngân sách và

Trang 12

các cân đối vĩ mô, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác…, Do đó, đối tượng nghiên cứu là hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp FDI tại các KCX–KCN TP.HCM.

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp FDI tại các KCX – KCN TP.HCM trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến quý 2 năm 2010.

4. Phương pháp nghiên cứu:

Áp dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp so sánh, phương trình Dupont, phân tích, tổng hợp, áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, định tính và phương pháp nghiên cứu tham khảo ý kiến của các chuyên gia.

5. Nguồn số liệu dự kiến :

Nguồn số liệu là các chỉ tiêu như vốn đầu tư đăng ký, doanh thu, lợi nhuận, tổng tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu được thu thập từ Báo cáo tài chính và Báo cáo tình thực hiện dự án của các doanh nghiệp trong KCX – KCN TP.HCM từ năm 2005 đến quý 2 năm 2010.

6. Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài:

Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học khách quan nhằm phân tích, tìm hiểu nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính đã xảy ra trong thời gian vừa qua Đồng thời, đánh giá tác động của nó đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp FDI tại các KCN - KCX TP.HCM hiện tại Qua đó giúp các nhà quản lý, các nhà quản trị doanh nghiệp có cái nhìn tổng thể về các chính sách tài chính hiện tại, thấy được những bất cập có tác động tích cực cũng như tiêu cực đến hiệu quả hoạt động và hiệu quả tài chính, từ đó có các chính sách phù hợp trong điều kiện hiện

nay

Trang 13

7. Kết cấu luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn dài 67 trang và được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan lý thuyết về hiệu quả tài chính doanh nghiệp và các

nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính.

Chương 2: Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và tác động của nó

đến hiệu quả tài chính các DN FDI tại các KCX – KCN TP.HCM.

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp FDI tại các KCX – KCN TP.HCM sau khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008.

Trang 14

Chương 1 Tổng quan lý thuyết về hiệu quả tài chính DN và các nhân tố ảnh

hưởng đến hiệu quả tài chính.

1.1 Hiệu quả tài chính của DN.

Theo lý thuyết tổ chức và quản trị chiến lược của Murphy (1996) thì hiệu quả hoạt động được đo lường trên cả phương diện tài chính và tổ chức Hiệu quả tài chính được hiểu như là sự tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên tài sản, hay tối đa hóa giá trị cho cổ đông.

1.1.2 Ý nghĩa của việc phân tích hiệu quả tài chính của DN.

Hiệu quả tài chính thường được các nhà đầu tư quan tâm, đó là thái độ gìn giữ và phát triển nguồn vốn chủ sở hữu Một DN có hiệu quả tài chính cao chính

là điều kiện cho DN tăng trưởng Để phát triển, DN phải đầu tư và sự đầu tư luôn cần các nguồn vốn Vấn đề này đặt ra một câu hỏi lớn: DN nên gia tăng vốn chủ sở hữu hay nên huy động vốn vay? Việc huy động vốn sẽ dễ dàng nếu có những chứng cớ về khả năng tạo ra các khoản lãi cao Hơn nữa nếu tỷ lệ này cao, người chủ sở hữu dễ dàng chấp nhận để lại phần lớn lợi nhuận vào việc đầu tư,

và như vậy, DN có điều kiện để bổ sung thêm các phương tiện kinh doanh Do vậy, hiệu quả tài chính là mục tiêu chủ yếu của các nhà quản trị, các nhà lãnh đạo, nhất là trong trường hợp họ cũng là người chủ và có vốn đầu tư.

Ngoài ra, sự tồn tại hiệu quả tài chính sẽ đảm bảo an toàn trong một môi trường tài chính, đặc biệt đối với người cho vay vì lợi nhuận đối với họ là một giao ước, một đảm bảo đối với sự thay đổi của những điều kiện hiệu quả.

Trang 15

Nghiên cứu hiệu quả tài chính nhằm đánh giá sự tăng trưởng của tài sản cho

DN so với tổng số vốn mà DN thực có, đó là khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu 1.2 Các chỉ tiêu sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính.

Phân tích hiệu quả DN có thể thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Doanh thu, lợi nhuận gộp và thu nhập ròng là các thước đo hiệu quả được sử dụng phổ biến nhất Tuy nhiên, không có thước đo riêng lẻ nào đánh giá tốt nhất hiệu quả hoạt động toàn diện DN Nguyên nhân là do chúng độc lập với nhau và độc lập với hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, khi phân tích hiệu quả hoạt động cũng như hiệu quả tài chính của một DN, hiểu rõ các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính và phương pháp phân tích các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính tại một DN, đòi hỏi chúng ta phải phân tích kết hợp, đánh giá một thước đo trong mối liên quan với một thước đo khác Đặc biệt là xem xét thước đo phổ biến nhất, mối quan hệ giữa thu nhập và vốn đầu tư hay được gọi là tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư (ROI).

Tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư (ROI) được tính toán như sau:

Thu nhập

ROI =

Vốn đầu tư Mặc dù, ROI được tính toán theo công thức trên, nhưng không có một sự thống nhất hoàn toàn về cách tính tử số lẫn mẫu số trong mối liên hệ này Các khác biệt này xuất phát từ các góc nhìn khác nhau của những người sử dụng báo cáo tài chính Do đó, để hiểu rõ các khác biệt này phải tìm hiểu về vốn đầu

tư và thu nhập của DN.

1.2.1 Khái niệm về vốn đầu tư.

1.2.1.1 Khái niệm:

Theo quy định tại Điều 3, Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 được Quốc hội thông

qua ngày 29/11/2005 thì vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp.

- Tiền là đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi.

- Tài sản hợp pháp gồm:

Trang 16

Cổ phần, cổ phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác; Trái

phiếu, khoản nợ và các hình thức vay nợ khác;

Các quyền theo hợp đồng, bao gồm cả hợp đồng chìa khóa trao tay, hợp đồng xây dựng, hợp đồng quản lý, hợp đồng phân chia sản phẩm hoặc doanh

thu;

Các quyền đòi nợ và quyền có giá trị kinh tế theo hợp đồng;

Công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm cả nhãn hiệu thương mại, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, tên thương mại, nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ; Các quyền chuyển nhượng, bao gồm cả các quyền đối với thăm dò và khai thác tài nguyên;

Bất động sản, quyền đối với bất động sản, bao gồm cả quyền cho thuê, chuyển nhượng, góp vốn, thế chấp hoặc bảo lãnh;

Các khoản lợi tức phát sinh từ hoạt động đầu tư, bao gồm cả lợi nhuận, lãi cổ phần, cổ tức, tiền bản quyền và các loại phí;

Các tài sản và quyền có giá trị kinh tế khác theo quy định của pháp luật

và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

- Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

- Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

Như vậy, theo quy định như trên thì vốn đầu tư được hiểu là vốn hoạt động của DN với một lượng giá trị mà DN phải bỏ ra để sử dụng, luân chuyển vốn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hóa giá trị DN

và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất.

Tuy nhiên, trong thực tế không có một thước đo vốn đầu tư chuẩn để tính tỷ suất sinh lợi Tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư phản ánh các khái niệm cơ bản và có

Trang 17

thể chấp nhận được về thu nhập và các mức độ tài trợ Các thước đo vốn đầu tư phản ánh các góc nhìn khác nhau, tùy thuộc vào mục tiêu, đối tượng phân tích.

Hình 1.1 Vốn đầu tư của một DN điển hình

Như đã trình bày ở trên, việc phân loại vốn đầu tư tùy thuộc vào mục tiêu

và đối tượng phân tích Do đó, khi phân tích tỷ suất sinh lợi có thể xem xét vốn đầu tư dưới các góc độ sau:

Tổng tài sản:

Tỷ suất sinh lợi của một DN có thể được tính trên góc độ tổng tài trợ - nợ cộng vốn cổ phần hay đơn giản là tổng tài sản Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản là một thước đo thích hợp để tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh Tỷ số này phản ánh lợi nhuận của DN được sinh ra từ tổng tài sản Thước đo này không phân biệt lợi nhuận được tạo ra từ nguồn tài trợ nào Do vậy, phân tích chỉ tập trung vào đánh giá hoặc dự báo thành quả hoạt động Tuy nhiên, khi lấy tổng tài sản làm cơ sở tính ROI đôi khi phải thực hiện một số điều chỉnh sau:

- Điều chỉnh tài sản không hoạt động: là một loại điều chỉnh liên quan đến các tài sản không hoạt động Các điều chỉnh loại bỏ các khoản đầu tư vào chứng khoán thị trường và các khoản tiền mặt vượt trội từ vốn đầu tư Việc điều chỉnh nhằm tập trung phân tích các tài sản hoạt động và tách biệt phân tích hoạt động

Trang 18

kinh doanh và các hoạt động tài chính của DN Việc điều chình này đặc biệt hữu ích đối với DN có đầu tư đáng kể vào tài sản tài chính.

- Điều chỉnh tài sản vô hình: là loại trừ các tài sản vô hình ra khỏi vốn đầu

tư Điều chỉnh này xuất phát từ nghi vấn liên quan đến giá trị hoặc giả định là bản chất tài sản vô hình có đặc điểm khác hơn tài sản hữu hình Trong điều kiện chuẩn mực kế toán GAAP hiện nay, các tài sản vô hình định kỳ phải được xem xét có sụt giảm hay không? Điều chỉnh nên thực hiện trước khi tiến hành phân tích Mặc dù vậy, việc loại trừ các tài sản vô hình ra khỏi vốn đầu tư một cách hoàn toàn không được lý giải thuyết phục vì chúng đại diện cho các đầu tư có giá trị bất chấp bản chất vô hình.

 Vốn cổ phần:

Việc xem vốn đầu tư là vốn cổ phần cho ta một thước đo về tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần của cổ đông Điều này ngụ ý tập trung vào tỷ suất sinh lợi cho cổ đông nhưng không bao gồm cổ phần ưu đãi do tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần chịu tác động của đòn bẩy mà cổ phần ưu đãi nhận tỷ suất sinh lợi cố định.

Giá trị sổ sách so với giá trị thị trường của vốn đầu tư:

ROI thường được tính toán bằng cách sử dụng các giá trị từ các báo cáo tài chính hơn là giá thị trường Mặc dù vậy, giá thị trường đôi khi lại thích hợp cho phân tích hơn bởi vì có một số tài sản không được ghi nhận trong báo cáo tài chính (chẳng hạn như: nhãn hiệu thương mại được phát triển trong nội bộ, danh tiếng, nguồn nhân lực ) Ngoài ra, thu nhập DN đôi khi bị trì hoãn do các tiêu chuẩn ghi nhận kế toán quá bảo thủ Việc sử dụng vốn đầu tư theo thị trường đôi khi vẫn được các nhà phân tích sử dụng Quá trình này sẽ thay thế giá sổ sách bằng giá thị trường trong khi tính tỷ suất sinh lợi.

Vốn đầu tư của DN so với vốn đầu tư của nhà đầu tư:

Trong khi tính ROI cần phải phân biệt giữa vốn đầu tư của DN và vốn đầu tư của nhà đầu tư Vốn đầu tư của nhà đầu tư là giá phải trả cho các chứng khoán của

DN Ngoại trừ, trường hợp một nhà đầu tư mua giá chứng khoán bằng giá trị sổ

Trang 19

sách thì vốn đầu tư của nhà đầu tư luôn khác với vốn đầu tư của DN Trong khi đó phân tích ROI tập trung vào vốn của DN chứ không phải là vốn của cá nhân nhà đầu tư.

Vốn đầu tư được tính trong một thời kỳ:

Bất kỳ vốn đầu tư được xem xét dưới góc độ như thế nào, cũng phải so sánh tỷ suất sinh lợi của từng thời kỳ trên cơ sở đầu tư của thời kỳ đó Con số trung bình phản ánh thay đổi vốn đầu tư trong một thời kỳ.

Phương pháp phổ biến nhất là cộng vốn đầu tư đầu kỳ và cuối kỳ chia cho

2 Ngoài ra, có thể sử dụng phương pháp tính bình quân theo quý, theo đó cộng vốn đầu tư tại thời điểm cuối mỗi quý và chia cho 4.

1.2.2 Khái niệm về thu nhập.

Nếu vốn đầu tư được xác định là tài sản thì sử dụng thu nhập trước thuế hoặc thu nhập trước thuế và lãi vay Không loại trừ lãi vay ra khỏi thu nhập là cần thiết bởi vì lãi vay được xem là khoản phải thanh toán cho nhà cung cấp nợ Tương tự, cổ tức cũng được xem là khoản thanh toán cho cổ đông Do đó, thu nhập trước lãi vay và cổ tức được sử dụng khi tính tỷ suất sinh lợi trên tài sản.

Trang 20

Vốn đầu tư được xác định là cổ phần thường thì sử dụng thu nhập ròng

sau khi khấu trừ các khoản lãi vay và cổ tức cổ phần ưu đãi khi tính tỷ suất

sinh lợi trên vốn cổ phần thường Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải tính đến

thuế khi tính thu nhập do thuế thu nhập làm giảm thu nhập của công ty.

Trên cơ sở xem xét và xác định vốn đầu tư và thu nhập tương ứng từ các góc

độ khác nhau, có thể để đánh giá hiệu quả tài chính của DN bằng các chỉ tiêu sau:

1.2.3 Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA).

Tỷ suất sinh lợi của tài sản biểu hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận so với tài sản.

Tỷ suất sinh lời trên tài sản Chỉ tiêu này phản ánh, cứ 100 đồng tài sản đầu tư tại DN sẽ tạo ra bao nhiêu

đồng lợi nhuận trước thuế Chỉ tiêu ROA càng cao phản ánh khả năng sinh lời tài

sản càng lớn Lợi nhuận xem xét ở đây cũng gồm cả lợi nhuận từ hoạt động sản

xuất kinh doanh, hoạt động tài trợ và hoạt động đầu tư, do vậy số liệu về tài sản

xem xét ở đây cũng chính là số liệu tài sản tổng cộng trên bảng cân đối kế toán.

Trong trường hợp DN có nhiều đơn vị thành viên, tỷ suất này tính cho

từng đơn vị để đánh giá sức sinh lời từng bộ phận tại DN Nếu những đơn vị

thành viên kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau thì cần phân tích sức

sinh lợi tài sản theo từng ngành kinh doanh Tuy nhiên việc tách riêng từng loại

tài sản phục vụ cho từng lĩnh vực hoạt động rất khó khăn.

Trong các chỉ tiêu kể trên thì chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản là chỉ tiêu

phản ánh tổng hợp nhất Nó thể hiện ảnh hưởng một cách tổng hợp kết quả

của các chỉ tiêu đã nghiên cứu.

Ngoài ra, để làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu tỷ suất sinh lời tài

sản, chỉ tiêu ROA còn được chi tiết qua phương trình Dupont:

ROA =

Trang 21

Trong chỉ tiêu trên, tỷ suất sinh lời của tài sản là kết quả tổng hợp của những nỗ lực nhằm nâng cao hiệu quả cá biệt của các yếu tố sử dụng cho quá trình kinh doanh,

là kết quả của những nỗ lực mở rộng thị trường, tăng doanh số, tiết kiệm chi phí Mối quan hệ giữa lợi nhuận và doanh thu được gọi là tỷ suất sinh lợi trên doanh thu và đo lường khả năng sinh lời của DN trên mức doanh số đạt được Doanh thu trên tài sản được gọi là hiệu suất sử dụng tài sản và đo lường tính hiệu quả của tài sản tạo được

từ doanh thu Hai tỷ số này là thước đo hữu ích thường được đòi hỏi khi phân tích

để đánh giá khả năng sinh lợi của DN Mối quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản có thể minh họa qua bảng 1.2.

Bảng 1.2 Chia tách tỷ suất lợi nhuận trên tài sản.

Doanh thu

Giá vốn hàng bán

Trên cơ sở số liệu tính toán được ta có thể xác định được các nhân tố chủ yếu dẫn đến sự tăng giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN, từ đề ra các biện pháp tăng hiệu quả của DN.

Trang 22

vốn của DN Nếu hai DN kinh doanh trong cùng một ngành có các điều kiện

Trang 23

tương tự như nhau nhưng áp dụng chính sách tài trợ khác nhau sẽ dẫn đến hiệu quả

khác nhau Vì vậy, để thấy rõ thật sự hiệu quả của hoạt động thuần kinh tế ở DN, ta

sử dụng chỉ tiêu tỷ suất sinh lời kinh tế Chỉ tiêu này được xác định như sau:

Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản Gọi là tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản vì thu nhập ở tử số của chỉ tiêu

này không quan tâm đến cấu trúc nguồn vốn, nghĩa là không tính đến chi phí

lãi vay Tỷ suất này đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư so với các chi

phí cơ hội khác Áp dụng tỷ suất này, DN sẽ có quyết định nên huy động từ vốn

chủ sở hữu hay huy động vốn vay Nếu tỷ suất sinh lời kinh tế của DN lớn hơn

lãi suất vay thì DN nên tiếp nhận các khoản vay và tạo ra phần tích lũy cho

người chủ sở hữu Về phía các nhà đầu tư, chỉ tiêu này là căn cứ để xem xét

đầu tư vào đâu, đầu tư như thế nào là có hiệu quả nhất.

Có thể thấy mối quan hệ giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay với lợi

nhuận thuần SXKD qua sơ đồ sau (bảng 1.3), trong đó chúng ta giả sử hoạt

động của DN không có thu nhập bất thường, không có thu nhập tài chính và

chi phí tài chính chỉ là chi phí lãi vay.

Bảng 1.3 Mối quan hệ giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay với lợi nhuận thuần.

Doanh thu thuần Giá vốn hàng bán

Trang 24

1.2.5 Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE).

Khả năng sinh lợi vốn chủ sở hữu thể hiện qua mối quan hệ giữa lợi nhuận của

DN với vốn chủ sở hữu, vốn thực có của DN:

Chỉ tiêu này thể hiện một trăm đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cuối cùng, lợi nhuận sau thuế Hiệu quả của toàn bộ các nguồn lực tài chính suy cho cùng thể hiện qua chỉ tiêu khả năng sinh lời vốn chủ

sở hữu Do đó, ROE là thước đo chủ yếu để đo lường hiệu quả tài chính.

Trong điều kiện DN huy động vốn từ nhiều nguồn, nhất là thông qua thị trường tài chính, chỉ tiêu này càng cao thì DN càng có cơ hội tìm được nguồn vốn mới.

Ngược lại, tỷ lệ này càng thấp dưới mức sinh lời cần thiết của thị trường thì khả năng thu hút vốn chủ sở hữu, khả năng đầu tư vào DN càng khó.

Thông thường một công ty tốt thì chỉ tiêu ROE cao hơn mức trung bình của các công ty cùng ngành vì điều này cũng đồng nghĩa với việc công ty kiếm được nhiều hơn đồng vốn bỏ ra đầu tư Mức biến động của ROE cho thấy ảnh hưởng đáng kể của chính sách đòn bẩy tài chính đối với khả năng sinh lời của DN.

Tuy nhiên, ROE có nhược điểm là không tính đến mức độ rủi ro; không tính đến lượng vốn đầu tư; có thể dẫn đến những quyết định của các nhà quản

lý không vì lợi ích của các cổ đông ROE chỉ tập trung vào yếu tố tỷ suất lợi nhuận; một thước đo tốt hơn cần xem xét khi phân tích ROE là cần quan tâm thêm yếu tố mức độ rủi ro.

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính.

Có thể nhận thấy rằng, chỉ tiêu ROE chịu sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố.

Nó phụ thuộc trực tiếp vào các quyết định của các nhà quản lý thông qua nhiều chính sách, như: chính sách tiêu thụ, chính sách sản xuất và chính sách tài chính Để

Trang 25

đánh giá những ảnh hưởng đến chỉ tiêu ROE hay hiệu quả tài chính, chúng ta xem xét đến các nhân tố sau:

1.3.1 Hiệu quả kinh doanh.

Dĩ nhiên, ảnh hưởng trước tiên đến hiệu quả tài chính phải là hiệu quả kinh doanh của DN Ảnh hưởng này có thể thể hiện chi tiết chỉ tiêu ROE như sau:

Tỷ suất

sinh lời =

VCSH

với T là thuế suất thu nhập DN

Trong mối quan hệ trên, ROE có mối liên hệ với chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản Rõ ràng, hiệu quả kinh doanh của

DN cao sẽ dẫn đến khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu lớn và ngược lại Hiệu quả kinh doanh là nguồn gốc chủ yếu tạo nên hiệu quả tài chính của DN Tuy nhiên không phải lúc nào hiệu quả kinh doanh tăng sẽ dẫn dến hiệu quả tài chính tăng, điều đó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác.

1.3.2 Khả năng tự chủ về tài chính.

Khả năng tự chủ tài chính được thể hiện qua chỉ tiêu tỷ suất tự tài trợ Có thể thấy rằng, ứng với hiệu quả kinh doanh cho trước nếu tỷ suất tự tài trợ càng lớn thì hiệu quả tài chính của DN sẽ càng nhỏ Có thể xem xét qua công thức sau:

Tài sản

ROE

hayHTC

với: HTC là hiệu quả tài chính.

HKD là hiệu quả kinh doanh.

HTTT là khả năng tự tài trợ của DN.

Trang 26

1.3.3 Độ lớn đòn bẩy tài chính.

Đòn bẩy tài chính được định nghĩa là tỷ lệ nợ phải trả trên nguồn vốn chủ

sở hữu Thực chất nó thể hiện cấu trúc nguồn vốn của DN ở thời điểm hiện tại.

Ở đây chúng ta chấp nhận một khái niệm cấu trúc nguồn vốn theo nghĩa rộng trong đó các khoản nợ phải trả cho các đối tác như nhà cung cấp, khoản ứng trước của người mua cũng được tính trong khoản này Cấu trúc tài chính như thế nào là do chính sách tài chính của DN Liên quan đến đòn bẩy tài chính, công thức của hiệu quả tài chính có thể được viết lại như sau:

Nếu gọi: LNTT là lợi nhuận trước thuế.

LNST là lợi nhuận sau thuế.

LV là chi phí lãi vay.

N là nợ phải trả.

TS là tổng tài sản trong bảng CĐKT.

T là thuế suất thu nhập DN.

RE là tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản.

r là lãi suất vay

Trang 27

ROE = [RE + (RE – r) x ĐBTC](1 – T)

Kết quả cuối cùng cho thấy, nếu tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (RE) lớn hơn lãi suất vay thì việc vay nợ sẽ làm cho hiệu quả tài chính của DN tăng lên Trong trường hợp này đòn bẩy tài chính được gọi là đòn bẩy dương DN nên vay thêm để kinh doanh nếu có nhu cầu mở rộng kinh doanh mà vẫn giữ được hiệu quả kinh doanh như cũ.

Nếu tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản nhỏ hơn lãi suất vay thì việc vay nợ sẽ làm cho hiệu quả tài chính của DN giảm và rủi ro của DN tăng lên vì hệ số tự tài trợ giảm Trong trường hợp này đòn bẩy tài chính được gọi là đòn bẩy âm DN không nên vay thêm để kinh doanh Nếu có nhu cầu mở rộng kinh doanh trước hết nên tổ chức lại công việc kinh doanh hoặc thay đổi lĩnh vực kinh doanh.

1.3.4 Khả năng thanh toán lãi vay.

Khả năng thanh toán lãi vay là hệ số được xem xét trong mối quan hệ giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay với lãi vay:

Khả năng thanh toán lãi vay càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, lợi nhuận tạo ra được sử dụng để trả nợ vay và tạo phần tích lũy cho DN Chỉ tiêu này nhỏ hơn hoặc bằng 1 chứng tỏ vốn sử dụng không có hiệu quả, và

DN phải sử dụng vốn chủ sở hữu để trả lãi vay.

Trang 28

Đối với những DN hoạt động dựa vào vốn vay, việc thanh toán lãi vay cũng là

một trong những căn cứ đánh giá khả năng thanh toán của DN Tuy nhiên, khả

năng này có nguồn gốc từ hiệu quả sử dụng vốn vay vào hoạt động kinh doanh.

Nguồn gốc để thanh toán lãi chính là lợi nhuận của DN Do vậy, khả năng thanh

toán lãi vay có thể dùng để đánh giá khả năng sinh lời hoạt động kinh doanh và

đây cũng là một nhân tố khá quan trọng để xem xét hiệu quả tài chính của DN.

Thật vậy, chỉ tiêu ROE có thể đƣợc tách thành nhiều thành phần, mỗi

thành phần biểu hiện các chính sách, các nhân tố khác nhau.

Trong đó: KNTTLV là khả năng thanh toán lãi vay

ĐBTC là tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, còn gọi là đòn bẩy tài chính.

Trang 30

1.4 Nguồn thông tin và phương pháp phân tích.

1.4.1 Nguồn thông tin sử dụng phân tích.

1.4.1.1 Thông tin từ báo cáo tài chính.

Phân tích hiệu quả tài chính là quá trình sử dụng các kỹ thuật phân tích thích hợp để xử lý dữ liệu từ báo cáo tài chính và các tài liệu khác Như vậy, phân tích tài chính trước hết là việc chuyển các dữ liệu trên báo cáo tài chính thành những thông tin hữu ích Các dữ liệu trên bao gồm:

Bảng cân đối kế toán: là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp dưới hình thái tiền tệ tại một thời điểm nhất định Thời điểm đó thường là ngày cuối tháng, cuối quý, cuối năm.

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ (quý, năm) chi tiết theo các loại hoạt động.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh theo các hoạt động khác nhau trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.

Ngoài ra, khi phân tích tài chính doanh nghiệp, cần sử dụng thêm các dữ liệu chi tiết từ thuyết minh báo cáo tài chính hoặc các báo cáo kế toán nội bộ để hệ thống chỉ tiêu phân tích được đầy đủ hơn, đồng thời khắc phục tính tổng hợp của số liệu thể hiện trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

1.4.1.2 Các nguồn thông tin khác.

Ngoài thông tin từ các báo cáo kế toán ở doanh nghiệp, phân tích tài chính doanh nghiệp còn sử dụng nhiều nguồn thông tin khác để các kết luận trong phân tích tài chính có tính thuyết phục Các nguồn thông tin khác được chia thành ba nhóm sau:

Thông tin liên quan đến tình hình kinh tế:

Trang 31

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động bởi nhiều nhân tố thuộc môi trường vĩ mô nên phân tích tài chính cần đặt trong bối cảnh chung của kinh tế trong nước và các nền kinh tế trong khu vực Kết hợp những thông tin này sẽ đánh giá đầy đủ hơn tình hình tài chính và dự báo những nguy cơ,

cơ hội đối với họat động của doanh nghiệp Do đó, khi phân tích cần quan tâm những thông tin như: tăng trưởng, suy thoái kinh tế, lạm phát; lãi suất ngân hàng, trái phiếu kho bạc, tỷ giá hối đoái; các chính sách kinh tế lớn của Chính phủ, đường lối chính trị, ngoại giao …

Thông tin theo ngành:

Ngoài những thông tin về môi trường vĩ mô; những thông tin liên quan đến ngành, lĩnh vực kinh doanh cũng cần được chú trọng đến các khía cạnh như trình độ công nghệ của ngành, mức độ cạnh tranh và qui mô của thị trường, tính chất cạnh tranh của thị trường hay mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp và khách hàng, xu hướng vận động phát triển của ngành …Những thông tin trên sẽ làm rõ hơn nội dung các chỉ tiêu tài chính trong từng ngành, lĩnh vực kinh doanh, đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp.

Thông tin về đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp:

Do mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm riêng trong tổ chức sản xuất kinh doanh và trong phương hướng hoạt động nên để đánh giá hợp lý tình hình tài chính, nhà phân tích cần nghiên cứu kỹ lưỡng đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp Những vấn đề cần quan tâm bao gồm:

- Mục tiêu và chiến lược họat động của doanh nghiệp, gồm cả chiến lược tài chính và chiến lược kinh doanh.

- Đặc điểm quá trình luân chuyển vốn trong các khâu kinh doanh ở từng loại hình doanh nghiệp.

- Tính thời vụ, tính chu kỳ trong hoạt động kinh doanh.

- Mối liên hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp, khách hàng, ngân hàng,

và các đối tượng khác.

Trang 32

1.4.2 Phương pháp phân tích.

Để phân tích hiệu quả tài chính, thường so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tài chính kỳ này so với kỳ trước, thực tế so kế hoạch hoặc so sánh giữa các doanh nghiệp có cùng điều kiện, so với trung bình ngành để đánh giá mức độ tăng giảm, mức độ hoàn thành kế hoạch, xu hướng phát triển hiệu quả, và biết được vị trí của doanh nghiệp so với trung bình ngành.

Ngoài ra, có thể thiết lập các công thức thể hiện mối liên quan giữa các chỉ tiêu hiệu quả với các nhân tố ảnh hưởng, qua đó vận dụng phương pháp thay thế liên hoàn để làm rõ mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đối với khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu.

Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính được xác định như sau:

- Hiệu quả kinh doanh: thể hiện hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong họat động kinh doanh của doanh nghiệp mà không xét đến khía cạnh nguồn vốn Một doanh nghiệp nâng cao không ngừng hiệu quả kinh doanh là điều kiện để nâng cao hiệu quả tài chính.

- Hiệu ứng đòn bẩy tài chính: thể hiện ảnh hưởng của chính sách tài chính trong việc tạo ra hiệu quả của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp sử dụng khéo léo nguồn vốn vay thì cùng một hiệu quả kinh doanh, nó có thể tạo ra lợi nhuận tăng hơn rất nhiều so với trước.

- Ảnh hưởng của mối quan hệ giữa lợi nhuận trước thuế và chi phí trả lãi vay đến hiệu quả tài chính có thể được xem xét thông qua tỷ suất khả năng thanh toán lãi nợ vay Nếu khả năng thanh toán lãi vay càng nhỏ thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ kém đi.

Trên cơ sở mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, nhà phân tích sẽ tìm hiểu các nguyên nhân, dự đoán các biện pháp để cải thiện hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng có thể thấy qua sơ đồ.

Trang 33

Bảng 1.4 : Mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến ROE.

Khả năng sinh lời của tài sản

Tài sản

Tài sản cố định

Tài sản lưu động

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Qua nội dung trong chương 1 đã giúp chúng ta khái quát được các khái niệm về

vốn đầu tư, thu nhập và hiệu quả tài chính doanh nghiệp cũng như ý nghĩa của việc

phân tích hiệu quả tài chính Ngoài ra, chương 1 còn trình bày các chỉ tiêu đánh giá,

xác định các nhân tố tác động và phương pháp phân tích hiệu quả tài chính DN.

Những lý thuyết trên sẽ được vận dụng ở chương 2 để đánh giá hiệu quả

tài chính và các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của các DN FDI tại các

KCX - KCN TP Hồ Chí Minh.

Trang 34

Chương 2 Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và tác động của nó đến

hiệu quả tài chính các DN FDI tại các KCX – KCN TP.HCM.

2.1 Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng trên thị trường cho vay thế chấp nhà đất dưới chuẩn ở Mỹ đã tác động tiêu cực đến thị trường tài chính thế giới Hàng loạt các định chế tài chính ở Mỹ đã công bố phá sản hoặc bị quản lý bởi Chính phủ hay bị tổn thất nặng nề từ hậu quả của cuộc khủng hoảng gây nên Hơn thế nữa, do vấn đề tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa mà cuộc khủng hoảng đã lan rộng ra khắp thế giới Một số định chế tài chính ở các quốc gia này cũng lâm vào tình trạng khủng hoảng tương

tự Hậu quả của nó không chỉ được xem xét dưới góc độ của từng doanh nghiệp, từng quốc gia mà phải xem xét những ảnh hưởng mang tính toàn cầu, đến sự chu chuyển dòng vốn quốc tế nói riêng và sự tăng trưởng nền kinh tế thế giới nói chung Do đó, cần phải xem xét diễn biến, đánh giá những tác động

và tìm hiểu nguyên nhân của cuộc khủng hoảng sẽ giúp chúng ta hiểu rõ về cuộc khủng hoảng, từ đó có thể rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 2.1.1 Nguồn gốc hình thành nên cuộc khủng hoảng.

Cuộc khủng hoảng lần này bắt nguồn hoạt động cho vay có phần dễ dãi và ồ ạt – được gọi là “cho vay dưới chuẩn – subprime lending” của các ngân hàng Mỹ Thông thường, muốn vay nợ ngân hàng để trả góp mua nhà thì người đi vay cần có một số vốn để trả trước một phần trị giá căn nhà và đồng thời phải chứng tỏ là mình

có đủ khả năng tài chính để trả nợ đều đặn trong suốt thời gian đi vay, hay được gọi

là “cho vay theo đúng chuẩn” Ngược lại, thuật ngữ “dưới chuẩn – subprime” liên quan đến vị thế tín dụng của người vay, đó là những người thường có quá khứ tín dụng không tốt, như thường có những khoản thanh toán quá hạn, và có thể có những vấn đề quan trọng như phải ra tòa, phá sản … Ngoài ra, họ cũng có khả năng thanh toán thấp nếu xét trên những chỉ số như điểm tín dụng, tỷ lệ nợ trên thu nhập, hoặc một số tiêu chí kkác Những khoản vay này lãi suất được điều chỉnh theo lãi

Trang 35

suất thị trường ARM và đương nhiên sẽ cao hơn so với lãi suất của các khoản vay thông thường Tuy không có một tài liệu chính thức nào quy định cụ thể về người đi vay dưới chuẩn nhưng ở Mỹ hầu hết những người vay này có điểm tín dụng thấp hơn 620, chiếm gần 25% dân số Mỹ.

Nhờ những chính sách “dưới chuẩn” của ngân hàng mà những khoản vay thế chấp dưới chuẩn đã phát triển rất mạnh Trong giai đoạn từ 2004 – 2006, cho vay thế chấp dưới chuẩn chiếm khoảng 21% tổng các khoản vay thế chấp, tăng 9% so với giai đoạn 1996 – 2004 Các khoản thế chấp dưới tiêu chuẩn này

đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ sở hữu nhà của những hộ gia đình ở Mỹ từ 65% trong năm 1995 đến 69% vào 2003 Tổng cộng vào cuối năm 2007 có hơn 7 triệu hộ gia đình Mỹ đã được phê duyệt các khoản vay thế chấp dưới chuẩn Giá trị của các khoản thế chấp này vào thời gian đó lên đến

$1.300 tỷ tăng hơn 4 lần so với năm 2003.

Hình 2.1: Diễn biến thay đổi giá nhà trong thời kỳ bong bóng nhà đất ở Mỹ.

Nguồn: Wikimedia Commons.

Sự phát triển mạnh của hình thức cho vay dưới chuẩn cùng với việc Cục Dữ trữ liên bang Mỹ (FED) đã giảm lãi suất xuống thấp kỷ lục đã kích thích người dân Mỹ mua nhà để đầu cơ, làm bùng nổ thị trường nhà đất của Mỹ Đây là nguồn gốc hình thành nên cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Trang 36

2.1.2 Diễn biến và hậu quả.

Do lo lắng về diễn biến lạm phát, FED bắt đầu tăng dần lãi suất từ 1% vào năm 2003 lên 5,25% năm 2006 Do đó, bắt buộc các ngân hàng thương mại phải đẩy lãi suất cho vay tiền mua nhà lên cao hơn nhiều nữa Tình hình lãi suất cao đã khiến cường độ vay để mua nhà giảm lại Giá nhà bắt đầu trượt dốc vì cung vượt cầu Nhiều người mua nhà giá cao trước đây bắt đầu thấy giá thị trường của căn nhà đang sở hữu thấp hơn khoản nợ mà mình đang vay Bên cạnh đó, rất nhiều người trong nhóm vay tiền với lãi suất dưới chuẩn bắt đầu mất khả năng trả nợ khi lãi suất của họ bị điều chỉnh trở lại theo lãi suất mới hiện hành khá cao Họ muốn bán nhà để trả nợ cũng không được vì giá nhà thấp hơn khoản nợ do thị trường tụt dốc Hệ quả là họ đành bỏ nhà cho ngân hàng trưng thu lại Trong suốt quý 3 của năm 2007, các hợp đồng cho vay dưới chuẩn chiếm 13% trên thị trường cho vay thế chấp của Mỹ, nhưng chỉ có khoảng 55% tài sản có khả năng được tịch thu để phát mãi trong giai đoạn này.

Hình 2.2: Diễn biến thay đổi của lãi suất.

Nguồn: Wikimedia Commons.

Việc ngày càng nhiều người không có khả năng trả nợ ngân hàng mỗi tháng dẫn đến việc trị giá của các MBS, CDO bị tụt dốc, đó là các sản phẩm tài chính phức hợp

mà rất nhiều nhà đầu tư ở Phố Wall đã mua Do đó, khi MBS, CDO mất giá thì đồng nghĩa với việc tài sản của họ cũng bị mất theo, dẫn đến việc thiếu hụt

Trang 37

vốn Bên cạnh đó, các công ty bảo hiểm cho MBS, CDO, chẳng hạn như American

International Group, cũng lâm vào cảnh khốn đốn khi phải đứng ra bảo lãnh ngày

càng nhiều các khoản vay xấu Ngoài ra, các ngân hàng thương mại hoặc các công

ty cho vay thế chấp còn giữ lại phần lớn các khoản vay cho mình thay vì bán lại cho các nhà tài trợ cũng nhìn dòng vốn và tín dụng của mình bị cạn kiệt khi phải đương đầu với tỷ lệ mất khả năng trả nợ ngày càng cao của người vay thuộc nhóm dưới chuẩn Điều đó, đã làm cho các tổ chức này rơi sâu vào khủng hoảng Tháng 8 năm 2007, New Century Financial Corporation phải làm thủ tục xin

90% như Countrywide Financial, Corporation Novastar Financial Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và đến rút tiền, gây ra hiện tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm khó khăn Nguy cơ

Trước tình hình đó, FED đã tiến hành các biện pháp nhằm tăng mức độ thanh khoản của thị trường tín dụng chẳng hạn như thực hiện nghiệp vụ thị trường mở khi mua vào các loại công trái Mỹ, trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ và trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ đảm bảo theo tín dụng nhà ở Tháng 9 năm

2007, FED còn tiến hành giảm lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng (Fed fund rates) từ 5,25% xuống 4,75% Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Châu Âu đã bơm 205 tỷ USD vào thị trường tín dụng để nâng cao mức thanh khoản Tuy nhiên, hiệu quả của các động thái trên không như mong đợi do sự điều chỉnh của thị trường bất động sản diễn ra lâu hơn dự tính và quy mô của khủng hoảng cũng rộng hơn dự tính Tình trạng đói tín dụng trở nên rõ ràng Mỹ và cả thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính được coi là tồi tệ nhất, có thể so sánh với cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới thời kỳ 1929 - 1933, mà cựu Chủ tịch FED,

Alan Greenspan đánh giá là “chỉ xảy ra một lần trong thế kỷ”.

Đến năm 2008, tình hình khủng hoảng diễn biến rất phức tạp Mặc dù, được sự

hỗ trợ của Chính phủ, nhưng liên minh các ngân hàng vẫn từ chối mua lại các ngân hàng đang gặp khó khăn do lo ngại tỷ lệ nợ xấu quá cao của các ngân hàng này.

Trang 38

Hơn nữa, giá nhà tiếp tục giảm và tạo tâm lý cho dân Mỹ rằng giá nhà sẽ còn giảm sâu Ngoài ra, do có nhiều mối liên hệ chằng chịt giữa người vay và nhiều thành phần cho vay trực tiếp cũng như gián tiếp, việc tụt dốc của thị trường bất động sản đã ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường tài chính nói chung, đã gây ra hiệu ứng “domino” đã làm suy yếu hệ thống tài chính – ngân hàng của Mỹ Hệ quả là hàng loạt các ngân hàng lớn nhỏ bị sụp đổ, bị sáp nhập hoặc quốc hữu hóa như

Countrywide Financial, Bear Stearns, IndyMac, Lehman Brothers, … Trước đó,

Chính phủ Mỹ cũng bị buộc phải chi 200 tỷ USD để tiếp quản Fannie Mae và Freddie Mac, hai công ty sở hữu và bảo lãnh trên 5.000 tỷ đô la bất động sản, tương đương gần 50% giá trị thị trường bất động sản Mỹ, sau những báo động về tình trạng cạn kiệt vốn của hai công ty này.

Trước khả năng phá sản dây chuyền khiến các nhà đầu tư bán tháo cổ phiếu của American International Group (AIG), tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới, vì

lo ngại AIG sẽ không cán đáng nổi trách nhiệm của những khoản bảo hiểm phá sản Chỉ trong vòng vài ngày, cổ phiếu của AIG đã mất tới 90% giá trị Do đó, nhằm cứu vãn AIG tránh tình trạng phá sản và ngăn chặn sự đổ vỡ dây chuyền, Chính phủ Mỹ đã quyết định tài trợ 85 tỷ USD vào cứu tập đoàn AIG.

Nhiều tổ chức tài chính thế giới, cũng đầu tư vào các công cụ tài chính phái sinh (các MBS, CDO và CDS) Hơn nữa, kinh tế Mỹ có quan hệ mật thiết với kinh tế thế giới Chính vì vậy, bóng bóng nhà ở của Mỹ bị vỡ cũng làm các

tổ chức tài chính này gặp nguy hiểm tương tự như các tổ chức tài chính của Hoa Kỳ và đã làm cho thị trường tài chính thế giới bị sụp đổ, khủng hoảng tài chính đã lan tỏa toàn cầu.

2.1.3 Ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam.

Cuộc khủng hoảng tài chính cũng ảnh hưởng đến một số hoạt động của kinh tế Việt Nam, nhưng mức độ tác động không lớn như các nước đang phát triển khác.

Về xuất nhập khẩu

Trang 39

Cuộc khủng hoảng đã và đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu Việt Nam sang thị trường Mỹ, Nhật Bản và Châu Âu Đây là những thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam.

Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê, ngay từ những tháng đầu năm 2008,

đã xuất hiện xu hướng giảm tốc độ xuất khẩu sang Mỹ, thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Do cầu tiêu dùng tại Mỹ đang trên đà suy giảm mạnh bởi tác động của khủng hoảng tài chính, trong năm, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt 5%, thấp hơn khá nhiều so với mức 26,7% của năm

2007 Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu giảm 22% so với năm 2008, chỉ đạt 45,4

tỷ USD, trong đó xuất khẩu sang Mỹ giảm 15%; Nhật giảm 29%; Châu Âu giảm 16% Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng nhất

là may mặc, giày da, gạo, cá basa, cà phê

Cuộc khủng hoảng cũng tác động đến tình hình nhập khẩu vào Việt Nam Năm 2008, tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu chỉ đạt 13%, thấp hơn nhiều so với mức tăng của năm 2007, trong đó nhập khẩu từ Mỹ giảm 12% so với năm 2007 Năm 2009, ảnh hưởng nhiều bởi cuộc khủng hoảng, mặc dù Chính phủ đã có một

số giải pháp phát triển kinh tế như kích thích tiêu dùng, hỗ trợ lãi suất … nhưng tình hình nhập khẩu vẫn giảm 22% so với năm 2008, trong đó xuất khẩu sang Mỹ giảm 36%; Nhật giảm 25% và Châu Âu giảm 6% (theo Tổng Cục Thống kê).

Về hoạt động ngân hàng và thị trường tiền tệ.

Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng về mặt tiền tệ đối với Việt Nam có lẽ không đáng kể Những loại chứng khoán mà hiện nay đang có vấn đề của những công ty chứng khoán và bảo hiểm của Mỹ chưa bán ở Việt Nam Hệ thống tiền tệ

và thị trường vốn, thị trường chứng khoán ở Việt Nam chưa lành mạnh, dễ tổn thương, dễ lâm vào bất ổn chủ yếu là do các yếu tố trong nội bộ Việt Nam như thiếu tính công khai, thiếu minh bạch, dân chúng khó tiếp cận, tồn tại giao dịch nội gián , chứ không liên quan nhiều đến cuộc khủng hoảng ở Mỹ.

Trang 40

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng cũng có một số tác động gián tiếp hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán như diễn biến phức tạp của tỷ giá và lãi suất USD; luồng tiền đầu tư gián tiếp vào Việt Nam suy giảm và đã có hiện tượng các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường, chỉ số VN-INDEX giảm liên tục và lập đáy mới xuống dưới 350 điểm.

Về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Cuộc khủng hoảng đã bước đầu có ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Số dự án FDI đăng ký mới có xu hướng chững lại, trong tháng 10-

2008, tổng số dự án đăng ký mới là 68 dự án với tổng vốn đăng ký là 2,02 tỷ USD, thấp hơn nhiều so với các tháng đầu năm (bình quân mỗi tháng có khoảng 98 dự án đăng ký với tổng số vốn đăng ký là 6,25 tỷ USD) Trong năm

2009, cuộc khủng hoảng đã có nhiều tác động đến doanh nghiệp FDI, tổng vốn đầu tư đăng ký chỉ đạt 23,11 tỷ USD, giảm 68% so với năm 2008.

Khả năng giải ngân vốn FDI trong năm 2008 và năm 2009 cũng đang chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Tổng vốn FDI thực hiện trong năm 2008 so với tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm chỉ đạt khoảng 16% và chỉ tiêu này năm 2009 là

43%

Về tăng trưởng kinh tế

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, biến động của kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng GDP của Việt Nam Khi kinh tế toàn cầu suy giảm trong năm

2009, những thị trường xuất khẩu lớn của chúng ta như Mỹ, Nhật Bản, EU và một số khu vực có nguy cơ bị thu hẹp, đồng thời thu hút đầu tư, cả gián tiếp và trực tiếp của chúng ta cũng sẽ bị giảm sút Theo website Đảng Cộng sản Việt Nam, tổng mức đầu

tư toàn xã hội năm 2008 là 39%; năm 2009 bằng 40,2% GDP, thấp hơn so với năm

2007 là 45% GDP Nhiều doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã gặp khó khăn do tiêu thụ hàng hóa giảm và thiếu vốn đầu tư.

Những tác động trực tiếp và gián tiếp nêu trên của khủng hoảng tài chính thế giới đã ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của nước ta Theo Tổng Cục Thống kê, tốc độ tăng trưởng GDP trong năm 2008 chỉ đạt khoảng

Ngày đăng: 25/11/2020, 09:50

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w