1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nguyên nhân học thêm của học sinh PTTH trường hợp thành phố quy nhơn và những can thiệp cần thiết từ phía nhà nước để điều chỉnh hoạt động này theo hướng tích cực , luận văn thạc sĩ

99 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 216,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này nhằm mục tiêu giải thích nhu cầu của học thêm ở học sinh THPTthông qua tình huống tại thành phố Quy Nhơn, tìm hiểu vai trò của nhà nước trongviệc can thiệp vào thị trường

Trang 1

PHAN THỊ LY GIANG

NGUYÊN NHÂN HỌC THÊM CỦA HỌC SINH TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ QUY NHƠN VÀ NHỮNG CAN THIỆP CẦN THIẾT TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC ĐỂ ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NÀY THEO HƯỚNG TÍCH CỰC

THPT-LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh- Năm 2010

Trang 2

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

PHAN THỊ LY GIANG

NGUYÊN NHÂN HỌC THÊM CỦA HỌC SINH TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ QUY NHƠN VÀ NHỮNG CAN THIỆP CẦN THIẾT TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC ĐỂ ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NÀY THEO HƯỚNG TÍCH CỰC

THPT-LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: Chính sách công

Mã số: 603114 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS TS DWIGHT PERKINS

TP Hồ Chí Minh- Năm 2010

Trang 3

liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trongphạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm củaTrường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình giảng dạy kinh tếFulbright.

Phan Thị Ly Giang

Trang 4

Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn cô Đinh Vũ Trang Ngân đã nhiệt tình giúp đỡ, vàđộng viên tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô, những người đã tận tình truyền đạtkiến thức cho tôi trong những năm học tập vừa qua

Xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu các trường THPT trên địa bàn thành phốQuy Nhơn, các anh chị và các bạn đồng nghiệp, các em học sinh đã hết lòng giúp đỡ vàtạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc thu thập số liệu để thực hiện luận văn

Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình và người thân đã động viên và

hỗ trợ tôi hết lòng trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn này

Trang 5

Nghiên cứu này nhằm mục tiêu giải thích nhu cầu của học thêm ở học sinh THPTthông qua tình huống tại thành phố Quy Nhơn, tìm hiểu vai trò của nhà nước trongviệc can thiệp vào thị trường học thêm và gợi ý một số chính sách cần thiết để điềuchỉnh hoạt động học thêm theo hướng tích cực.

Kết quả nghiên cứu cho thấy chính mục tiêu giáo dục, thông qua hệ thống đánh giáthi cử, chú trọng nhiều đến khối lượng kiến thức cần truyền đạt cho học sinh mà chưathật sự chú trọng đến những năng lực cần thiết của con người hiện đại như khả năng

tư duy sáng tạo, khả năng tự học và khả năng thích ứng là yếu tố quan trọng nhất khiếncho nhu cầu học thêm phát triển

Bên cạnh những lợi ích trước mắt mà học thêm đem lại cho người học là góp phầnnâng cao thành tích học tập, nâng cao khả năng thành công trong thi cử, sự phát triểnquá mức của hiện tượng học thêm tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực lâu dài cho xã hội.Chính tác động của học thêm trong việc nâng cao thành tích học tập và khả năng thi cửgóp phần làm gia tăng bất bình đẳng trong giáo dục, khi mà những người nghèo không

đủ khả năng tài chính để tham gia học thêm sẽ có khả năng có thành tích học tập thấphơn, khả năng thành công trong thi cử thấp hơn và do đó về lâu dài khả năng tìm kiếmviệc làm, gia tăng thu nhập cũng thấp hơn Một ảnh hưởng tiêu cực nữa của học thêmđối với cá nhân và xã hội là nó góp phần hạn chế sự phát triển toàn diện của học sinh,

về lâu dài, điều này ảnh hưởng tới chất lượng người lao động và do đó ảnh hưởng tới

sự phát triển chung của nền kinh tế Chính vì những tác động tiêu cực này của họcthêm, không thể để hiện tượng này tự do phát triển mà cần có sự can thiệp của nhànước

Trang 6

giá học sinh và giáo viên Việc đánh giá hoạt động học tập của người học thông quakiểm tra, thi cử cần tập trung vào việc đánh giá năng lực tiếp nhận tri thức, năng lực tưduy sáng tạo Trên cơ sở đó, việc đánh giá hoạt động giảng dạy của giáo viên cũng cầntập trung vào khả năng phát huy năng lực tư duy và khả năng học tập của học sinh.Mục đích của giải pháp này là nhằm thay đổi hệ thống khuyến khích, khiến chophương pháp học tập nhồi nhét kiến thức không còn lí do để tồn tại và qua đó hạn chế

sự gia tăng nhu cầu học thêm Bên cạnh đó, về lâu dài, cần có chính sách thu hút ngườitài cho giáo dục phổ thông và phát triển hệ thống giáo dục chuyên nghiệp cả về sốlượng và chất lượng Những giải pháp này góp phần nâng cao chất lượng giáo dụcchính thức, giúp cho giáo dục chính thức đáp ứng tốt yêu cầu học tập, đồng thời tạothêm nhiều cơ hội học tập cho mọi người, thông qua đó sẽ góp phần ngăn chặn triệt để

sự phát triển của hiện tượng học thêm

Trang 7

Lời cảm ơn

Tóm tắt

Mục lục

Mục lục phụ lục

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Danh mục bảng biểu

Danh mục hình vẽ

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Vấn đề nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Phát biểu đề tài 3

1.7 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG 2 ĐIỂM QUA CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5

2.1 Qui mô của hiện tượng học thêm 5

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học thêm 7

2.2.1 Các yếu tố vi mô 7

2.2.2 Các yếu tố vĩ mô 7

2.3 Phản ứng của chính phủ các nước đối với học thêm 7

CHƯƠNG 3 SỐ LIỆU KHẢO SÁT 9

3.1 Định nghĩa học thêm 9

3.2 Thành phố Quy Nhơn 9

3.3 Mô tả mẫu và phương pháp tiến hành khảo sát 9

Trang 8

4.1.2 Tỷ lệ học thêm xét theo nhóm học lực .

4.1.3 Tỷ lệ học thêm xét theo loại hình trường

4.1.4 Tỷ lệ học thêm xét theo môn học

4.1.5 Tỷ lệ học thêm xét theo nhóm thu nhập

4.1.6 Tỷ lệ học thêm xét theo trình độ học vấn của cha mẹ

4.1.7 Tỷ lệ học thêm xét theo số con đi học trong hộ gia đình

4.1.8 Thời gian học thêm

4.2 Nguyên nhân học thêm của học sinh THPT- trường hợp thành phố Quy Nhơn

4.2.1 Học thêm để chuẩn bị thi tốt nghiệp phổ thông, đại học, cao đẳng

4.2.2 Học thêm vì môn học khó

4.2.3 Học thêm vì ở lớp không có thời gian giải bài tập hay thực hành

4.2.4 Học thêm vì sợ thua kém bạn bè

4.2.5 Học thêm vì thích môn học

4.2.6 Học thêm vì không có khả năng tự học

4.2.7 Học thêm vì thầy cô giảng không hiểu

4.3 Tác động của học thêm đối với đời sống kinh tế xã hội

4.3.1 Học thêm tạo gánh nặng chi phí cho các hộ gia đình và làm tăng bất bình đẳng trong giáo dục

4.3.2 Học thêm góp phần gây ra sự quá tải ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của học sinh

4.3.3 Ảnh hưởng của việc dạy thêm đối với giáo viên

CHƯƠNG 5 GỢI Ý CHÍNH SÁCH

5.1 Tính cần thiết cho những can thiệp của nhà nước đối với hoạt động dạy thêm, học thêm 33 5.2 Thảo luận về những giải pháp đã được cân nhắc và thực hiện

5.3 Gợi ý chính sách

Trang 9

CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

PHỤ LỤC 46

MỤC LỤC PHỤ LỤC Phụ lục 1: Bảng câu hỏi điều tra dành cho học sinh 46

Phụ lục 2:Bảng câu hỏi điều tra dành cho giáo viên 54

Phụ lục 3:Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu 58

Phụ lục 4: Số liệu thống kê mẫu giáo viên 59

Phụ lục 5: Số liệu thống kê mẫu học sinh 60

Phụ lục 6: Tỷ lệ học thêm của từng khối lớp phân theo học lực 64

Phụ lục 7: Thu nhập trung bình hộ gia đình phân theo loại hình trường 64

Phụ lục 8: Số con đi học trong gia đình phân theo loại hình trường 65

Phụ lục 9: Tỷ lệ cha mẹ có trình độ từ đại học trở lên phân theo loại hình trường 65

Phụ lục 10: Lý do hoàn toàn không đi học thêm 66

Phụ lục 11: Số con đi học phân theo trình độ học vấn của cha, mẹ 66

Phụ lục 12: Thu nhập trung bình của hộ gia đình theo trình độ học vấn của cha, mẹ 67

Phụ lục 13: Lý do học thêm phân theo nhóm học lực 69

Phụ lục 14: Lý do học thêm phân theo khối lớp 70

Phụ lục 15: Giáo viên dạy thêm qua trả lời của học sinh 71

Phụ lục 16: Ý kiến học sinh về tác dụng tích cực của học thêm 71

Phụ lục 17: Ý kiến giáo viên về tác dụng tích cực của học thêm đối với học sinh 72

Trang 10

THPT: Trung học phổ thông

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2-1: Tình hình học thêm khảo sát ở một số quốc gia 6

Bảng 4-1:Tỷ lệ học sinh học thêm phân theo nhóm thu nhập 15

Bảng 4-2: Tỷ lệ học thêm xét theo trình độ học vấn của cha, mẹ 16

Bảng 4-3: Tỷ lệ học thêm xét theo số con đi học của hộ gia đình 16

Bảng 4-4:Thời gian học thêm trung bình hàng tuần phân theo khối lớp 17

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 4-1: Tỷ lệ học sinh học thêm phân theo môn học 14

Hình 4-2: Kết quả khảo sát ý kiến học sinh về lí do chính đi học thêm 19

Hình 4-3: Ý kiến của giáo viên về lý do dạy thêm 23

Hình 4-4:Ý kiến của giáo viên về ảnh hưởng tiêu cực của học thêm đối với học sinh 27 Hình 4-5: Ý kiến của học sinh về ảnh hưởng tiêu cực của học thêm 28

Hình 4-6: So sánh chi tiêu cho học thêm của nhóm có thu nhập cao nhất và nhóm có thu nhập thấp nhất 29

Trang 11

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Những năm vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, nền giáo dục Việt nam có nhữngbước tiến đáng kể Mặc dù vậy, giáo dục, trong đó có giáo dục phổ thông vẫn được đánhgiá là một lĩnh vực còn nhiều yếu kém và bất cập Học thêm là một hiện tượng đang tồntại phổ biến trong giáo dục phổ thông ở Việt nam Hiện tượng này được đánh giá do nhiềunguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân thường được đề cập tới nhiều nhất là mức

độ cạnh tranh vào đại học quá lớn So sánh quy mô đào tạo đại học, cao đẳng của ViệtNam với các nước, có thể thấy tỷ lệ sinh viên/1 vạn dân của Việt Nam còn rất thấp: năm

2009, tỷ lệ này ở Việt Nam là 195 sinh viên/1 vạn dân trong khi năm 2005 Thái Lan có

374 sinh viên/1vạn dân; Chi Lê có 407 sinh viên/1 vạn dân, Nhật Bản có 316 sinh viên/1vạn dân, Pháp có 359 sinh viên/1 vạn dân, Anh có

380 sinh viên/1 vạn dân, Úc có 504 sinh viên/1 vạn dân, Mỹ có 576 sinh viên/1 vạndân và Hàn quốc có 674 sinh viên/1 vạn dân (Bộ GDĐT, 2009) Hàng năm, trong sốkhoảng 1 triệu học sinh tốt nghiệp THPT, chỉ có khoảng 300.000 đến 400.000 học sinhtrúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng Những con số này cho thấy quy mô giáodục đại học, cao đẳng ở Việt Nam thực sự còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu học tập củangười dân Đây được cho là một lý do cơ bản khiến cho việc học thêm của học sinhTHPT để cạnh tranh vào đại học trở nên phổ biến như hiện nay Mặc dù việc học thêmảnh hưởng nhiều tới sự phát triển toàn diện của học sinh, tạo nên một gánh nặng chiphí cho các hộ gia đình và có thể làm nảy sinh những vấn đề tiêu cực, nhưng tỷ lệ họcsinh học thêm cao chứng tỏ học sinh và phụ huynh học sinh đánh giá không nhỏ lợi íchcủa học thêm đối với bản thân và gia đình Đây chính là mâu thuẫn trong việc đánh giá

về hiện tượng học thêm hiện nay

Trang 12

1.2 Vấn đề nghiên cứu

Trong các mô hình tăng trưởng nội sinh, vốn con người được coi là một yếu tốđóng góp quan trọng đến sự tăng trưởng, kiến thức và lợi ích ngoại tác của giáo dụcđược xem như một động cơ chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Học thêm với tư cách

là một thành phần tồn tại thực tế trong giáo dục Việt Nam hiện nay chắc chắn cũng cóảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, trước mắt cũng như lâu dài Vì vậy, sẽ là hữu íchnếu chúng ta nghiên cứu sâu về hiện tượng này

Như trên đã nói, việc học thêm vừa được đánh giá là có nhiều tiêu cực, nhưngcũng được cho là đem lại nhiều lợi ích Vì vậy, luận văn cố gắng đánh giá hiện tượngnày một cách toàn diện nhằm tìm hiểu đâu là căn nguyên thực sự của vấn đề Đó là mộtviệc làm cần thiết nhằm xác định những giải pháp phù hợp để quản lý hoạt động họcthêm dạy thêm một cách có hiệu quả

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Trong tình huống thành phố Quy Nhơn, nghiên cứu nhằm mục đích trả lời cho cáccâu hỏi: nguyên nhân nào dẫn tới nhu cầu học thêm của học sinh THPT ở thành phốQuy Nhơn? Nên để cho thị trường học thêm tự do phát triển hay cần có sự can thiệpcủa nhà nước, nếu cần thì nhà nước nên can thiệp như thế nào?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khảo sát được thực hiện trên hai nhóm đối tượng là học sinh và giáo viên tại cáctrường THPT trong địa bàn thành phố Quy Nhơn Thời điểm khảo sát vào tháng 01 và02/ 2010

Do những yếu tố địa phương, nghiên cứu không có tham vọng tổng quát hóatrường hợp thành phố Quy Nhơn cho cả nước Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu ở QuyNhơn có thể là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu trên phạm vi rộng hơn

Trang 13

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định tính các số liệu thống kê mô tả rút

ra từ bộ số liệu thu thập được từ cuộc khảo sát trên địa bàn thành phố Quy Nhơn dochính tác giả thực hiện về tình hình học thêm của học sinh THPT và thu thập ý kiếnchuyên gia

Trong các nghiên cứu định lượng trước, thông qua bộ số liệu có sẵn, các tác giảthường sử dụng các mô hình hồi qui nhằm tập trung chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng mộtcách có ý nghĩa đến nhu cầu học thêm, và chưa chú trọng nhiều đến các yếu tố khôngđược lượng hóa Nghiên cứu này tập trung vào phần phân tích định tính các số liệukhảo sát thu thập được với mục đích tìm cách lý giải về sự ảnh hưởng của các yếu tốnhằm đề ra được một số gợi ý chính sách phù hợp

Một lý do nữa khiến cho người viết lựa chọn phương pháp định tính kết hợp địnhlượng nhưng chỉ sử dụng các số liệu thống kê mô tả là bởi vì đa số những người liênquan hay chịu ảnh hưởng của hiện tượng học thêm có thể quan tâm đến nghiên cứunày đều không phải là các chuyên gia kinh tế

Để đưa ra các gợi ý chính sách, nghiên cứu dựa trên khung phân tích về cơ sở của

sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh tế và kinh tế học thể chế

1.6 Phát biểu đề tài

Kết quả nghiên cứu cho thấy nguyên nhân chính dẫn đến nhu cầu học thêm của họcsinh THPT là tác động của hệ thống kiểm tra đánh giá trong giáo dục và hiện tượnghọc thêm của học sinh nói chung và học sinh THPT nói riêng gây ra nhiều ngoại táctiêu cực đến toàn xã hội, đồng thời góp phần làm tăng sự bất bình đẳng trong giáo dục,

vì vậy, cần có sự can thiệp của nhà nước

Trang 14

1.7 Kết cấu của luận văn

Sau chương mở đầu, luận văn được viết theo trình tự sau: Chương 2 điểm qua một

số nghiên cứu đã có về học thêm Chương 3 trình bày về số liệu khảo sát Chương 4trình bày kết quả nghiên cứu Chương 5 nêu một số gợi ý chính sách và chương 6 làkết luận

Trang 15

CHƯƠNG 2 ĐIỂM QUA CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Vì học thêm là hoạt động không chính thức và những người tham gia hoạt độngnày thường e ngại cung cấp thông tin nên thông tin về chủ đề này là rất hiếm Dù vậyvẫn có nhiều nghiên cứu ở khắp nơi trên thế giới cho thấy bối cảnh chung của tình hìnhhọc thêm: học thêm không chỉ tồn tại ở Việt Nam hay ở những nước đang phát triển

mà còn xuất hiện ở rất nhiều nước có những đặc điểm rất khác nhau về địa lý và trình

độ kinh tế như Canada, Cam-pu-chia, Ai cập, Hy lạp, Nhật Bản, Kê-nya, Singapore,Đài Loan, Morocco, Rumania, Anh, Mỹ, Zimbabue Đặc biệt hiện tượng học thêm pháttriển mạnh ở các quốc gia Đông Á (Bray M, 2007, 24-25)

2.1 Qui mô của hiện tượng học thêm

Trang 16

Bảng 2-1: Tình hình học thêm khảo sát ở một số quốc gia

Quốc gia

2003, 72,6% học sinh tham gia học thêm Chi tiêu về học thêm trong năm 2003 ước lượng vào khoảng 12,4 tỉ USD, tương đương Hàn quốc với khoảng 56% ngân sách quốc gia về giáo dục Tính trung bình,

hộ gia đình Hàn Quốc chi tiêu khoảng 10% thu nhập của họ cho việc học thêm.

TP HCM đi học thêm từ khi vào học THCS, chi phí trung bình cho việc học

thêm của một HS là 326.474 VND/tháng, trong đó cấp THCS là 287.024 VND và cấp THPT là 391.171 VND.

Trang 18

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học thêm

Nghiên cứu định lượng của Đặng Hải Anh (Dang Hai Anh, 2007) và một số nghiêncứu khác đã chỉ ra một số các yếu tố ảnh hưởng (có ý nghĩa) đến nhu cầu học thêm củahọc sinh, bao gồm:

2.2.2 Các yếu tố vĩ mô

Ngày nay, rất nhiều nền kinh tế đang có sự chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường.Bối cảnh đó tạo ra một thị trường lao động mà suất sinh lợi của học tập cao hơn hẳn ởnhững bậc học cao, dẫn đến cạnh tranh khốc liệt để học lên Các nghiên cứu đã chỉ rarằng điều đó khiến cho nhu cầu học thêm để tìm kiếm cơ hội học lên tăng cao Bêncạnh đó, ở những quốc gia mà chất lượng của hệ thống giáo dục công lập còn yếu kém,lương giáo viên thấp cùng với việc quản lý, giám sát chất lượng giáo dục không hiệuquả thì hiện tượng học thêm cũng có xu hướng gia tăng

2.3 Phản ứng của ch nh phủ các nước đối với học thêm

Theo các nghiên cứu, phản ứng của các chính phủ với hiện tượng học thêm có thểchia thành 4 nhóm (Bray M, 2007):

Trang 19

Nhóm 1 (như Campuchia, Mianma…)- cấm dạy thêm và học thêm Thực tế cho

thấy những chính phủ lựa chọn giải pháp này đều thất bại vì thể chế yếukém không đủ năng lực áp chế và/hay gặp phải nhiều phản ứng từ cácnhóm lợi ích

Nhóm 2- Để thị trường học thêm tự do phát triển, có thể vì một trong hai lí do:

 Một số nước (như Nigeria) chính phủ lờ đi hiện tượng này vì tựđánh giá không có khả năng kiểm soát

kiểm soát cao, nhưng chính phủ cho rằng hiện tượng học thêm khôngquá phổ biến và tác động không đáng kể đến phát triển kinh tế nên khôngcần thiết phải can thiệp

Nhóm 3 (như Hồng Kông, Trung Quốc, Việt Nam…)- Chính phủ nhận thức rằng

học thêm là vấn đề lớn cần quan tâm, tiến hành kiểm soát hoạt động họcthêm thông qua các quy định về đối tượng, nội dung, giá trần…

Nhóm 4 (như Singapore) - Chủ động thúc đẩy học thêm vì cho rằng học thêm đóng

góp quan trọng trong việc phát triển vốn con người và việc học thêm đápứng được nhu cầu của từng đối tượng học sinh một cách hiệu quả

Dựa vào thông tin từ các nghiên cứu trước, người viết có một cái nhìn bao quáthơn về hiện tượng học thêm trên thế giới, từ đó đặt hiện tượng học thêm ở Việt Namtrong một bối cảnh chung Đồng thời người viết cũng nhận thấy những điểm khác biệtcủa hiện tượng này ở Việt Nam so với thế giới Phương pháp nghiên cứu được thiết kếtrên cơ sở học hỏi một số nghiên cứu trước như nghiên cứu của Bray M và Kwok Pnăm 2003 ở Hồng Kông

Trang 20

CHƯƠNG 3 SỐ LIỆU KHẢO SÁT 3.1 Định nghĩa học thêm

Trong nghiên cứu này, học thêm được định nghĩa là việc học các môn học trongchương trình chính khóa, ngoài thời gian học chính thức trong nhà trường, khôngbao gồm việc học thêm được tổ chức đồng loạt cho tất cả học sinh theo kế hoạchchung của nhà trường

3.2 Thành phố Quy Nhơn

Thành phố Quy Nhơn là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Bình Định với diện tích 216,4 km2, dân số 255.100 người, trong đó nữ 130.000 người (UBND tỉnh Bình Định, 2010) GDP bình quân đầu người năm 2009 của thành phố đạt 26,9 triệu đồng (Thái Ngọc Bích, 2010)1 Toàn thành phố có 8 trường THPT, số học sinh THPT cuối năm học 2008-2009 là 11.425 học sinh Trong đó hệ trường chuyên có

823 học sinh, hệ trường công lập có 4.984 học sinh và hệ trường ngoài công lập có 5.618 học sinh (Sở GDĐT Bình Định, 2009)

3.3 Mô tả mẫu và phương pháp tiến hành khảo sát

Khảo sát điều tra được tiến hành tại thành phố Quy Nhơn, vào tháng 01 và tháng02/ 2010 2

1 So với mức bình quân cả nước đạt 19,4 triệu đồng/người (chinhphu.vn, 2010), Hà Nội đạt 32 triệu đồng/người

(Nguyễn Hưng, 2009) và thành phố Hồ Chí Minh đạt hơn 46,3 triệu đồng/người (Báo Thương mại, 2010)

2Đây là lúc học sinh vừa có kết quả học tập học kỳ 1, do đó có thể có những nhận xét xác thực hơn về ảnh hưởng và tác dụng của học thêm Đây cũng là lúc mà hoạt động học tập và giảng dạy tương đối nhẹ nhàng so với các thời điểm khác trong năm học do đó giáo viên và học sinh có thể nhiệt tình hơn trong việc tham gia nghiên cứu.

Trang 21

Mẫu khảo sát bao gồm 504 học sinh và 73 giáo viên THPT được chọn theo phươngpháp phân tổ 3 tại 4/8 trường THPT trên địa bàn thành phố Quy Nhơn bao gồm 1trường chuyên, 2 trường công lập và 1 trường công lập tự chủ tài chính 4

Ban đầu, tác giả dự định tiến hành khảo sát tại 5 trường, nhưng một trường cônglập tự chủ tài chính đã từ chối tham gia nghiên cứu vì e ngại những thông tin đượccung cấp có thể gây ra những ảnh hưởng bất lợi 5 Do việc từ chối này mà tỷ lệ mẫu cóphần thiên lệch về phía nhóm trường công Tại mỗi trường, cán bộ nghiên cứu chọnngẫu nhiên 3 lớp, có chú ý cân đối giữa các lớp phân ban Riêng ở trường chuyên, mẫukhảo sát chỉ chọn học sinh ở các lớp thuộc khối không chuyên với lý do rằng học sinhthuộc khối chuyên có thể học lệch hơn và có thể học thêm để chuẩn bị cho các kỳ thihọc sinh giỏi Đây không phải là mục tiêu của số đông học sinh mà nghiên cứu nàymuốn tìm hiểu Tuy nhiên điều này cũng khiến cho mẫu được chọn có phần thiên lệch

vì các lớp không chuyên ở trường chuyên đều học theo chương trình cơ bản có nângcao 4 môn tự nhiên là toán, lý, hóa, sinh mà không học nâng cao các môn xã hội.Người nghiên cứu cho rằng sự thiên lệch này không làm thay đổi đáng kể kết quảthống kê vì thực tế tỷ lệ học sinh học ban xã hội hay học nâng cao các môn xã hội hiệnnay là rất ít, trong năm học 2008 – 2009, cả nước chỉ có 1,92 học sinh lớp 10 chọn ban

Xã hội (Thanh Châu, 2009)

Với sự đồng ý của nhà trường, cán bộ điều tra tiến hành đưa bảng hỏi (Phụ lục 1),hướng dẫn cho học sinh trả lời tại lớp học và nhận lại kết quả ngay sau khi học sinh trả

3Có thể chia học sinh THPT tại thành phố Quy Nhơn thành 3 nhóm là nhóm học trường chuyên, trường công lập và trường ngoài công lập Các nhóm này được chọn thông qua hai kì thi đầu vào cấp THPT là Tuyển sinh vào trường chuyên và tuyển sinh vào trường công lập Các học sinh khá, giỏi ở lớp 9 có thể tham gia thi tuyển vào trường chuyên Sau đó đến kì thi tuyển vào trường công dành cho tất cả học sinh đã tốt nghiệp cấp THCS bao gồm cả số học sinh khá giỏi chưa trúng tuyển vào trường chuyên Những học sinh chưa trúng tuyển vào trường công có thể nộp đơn

dự tuyển vào các trường hệ ngoài công lập Việc phân tổ chọn mẫu dựa trên tỷ lệ học sinh của 3 hệ trường này ở thành phố Quy Nhơn Theo Giuseppe Larossi (2006), việc phân tổ trước khi chọn mẫu làm tăng hiệu quả của việc thiết kế mẫu và tính đồng nhất của các yếu tố thuộc nhóm giống nhau (Larossi,2006).

4 Được xếp vào nhóm ngoài công lập.

5Điều này có thể xuất phát từ việc tại trường này mới có sự thay đổi về nhân sự của cấp lãnh đạo, nên mọi người còn ở trong trạng thái thăm dò.

Trang 22

lời6 Phương pháp này có lợi là tỷ lệ phiếu thu hồi cao và có sự hướng dẫn trực tiếp từcán bộ điều tra Tuy vậy, thời gian ngắn có thể khiến cho học sinh không hiểu một cáchchính xác toàn bộ bảng hỏi hay có thể trả lời không đầy đủ các câu hỏi Ngoài ra, việctrả lời các vấn đề có tính chất riêng tư trong điều kiện lớp học có thể khiến một số họcsinh e ngại và né tránh trả lời hay có sự thiên lệch khi trả lời những câu hỏi nhạy cảm 7.Đối với giáo viên, cán bộ điều tra cũng gặp trực tiếp tại trường, đưa bảng hỏi (Phụ lục2) và nhận lại kết quả trả lời sau vài ngày Bảng hỏi do người nghiên cứu tự thiết kếdựa vào việc tham khảo những yếu tố liên quan được đề cập trong các nghiên cứutrước và kết quả một cuộc khảo sát mini trước đó mà người nghiên cứu đã thực hiện

về tình hình học thêm của một số học sinh THPT tại thành phố Quy Nhơn Sau khihoàn thành bảng hỏi, người hỏi đã tiến hành khảo sát thử để đánh giá hiệu quả thu thậpthông tin của bảng hỏi

Kết quả phản hồi: 504/504 học sinh (chiếm tỉ lệ 100 ) và 73/85 giáo viên (chiếm tỉ

lệ 85,9 ) có phiếu trả lời

6 Không có mặt giáo viên phụ trách lớp học.

7 Câu hỏi về thu nhập trung bình của hộ gia đình chỉ có 476 phiếu trả lời (đạt tỷ lệ 94,4 mẫu) và có thể thu được kết quả có độ chính xác không cao vì nhiều học sinh không biết chính xác mức thu nhập của gia đình mình Câu hỏi về trình độ học vấn của cha có 397 phiếu trả lời (đạt tỷ lệ 78,8 mẫu), câu hỏi về trình độ học vấn của mẹ có

400 phiếu trả lời (đạt tỷ lệ 79,4 mẫu)

Trang 23

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Thống kê chung về hiện tượng học thêm

442 trên tổng số 504 học sinh được hỏi trả lời có học thêm, chiếm tỷ lệ 87,70%.Tuy nhiên, có sự khác biệt về tỷ lệ học thêm xét theo khối lớp, học lực, loại hìnhtrường, môn học, thu nhập trung bình của hộ gia đình, trình độ học vấn của cha mẹ vàquy mô hộ gia đình

4.1.1 Tỷ lệ học thêm xét theo khối lớp

Kết quả kháo sát cho thấy tỷ lệ học sinh học thêm tăng dần ở những khối lớp caohơn: ở lớp 10 tỷ lệ học sinh đi học thêm là 80,24 ; lớp 11 là 88,62 và lớp 12 là 94,12%(Phụ lục 6)

Ở lớp cuối cấp, học sinh THPT phải trải qua một kỳ thi tốt nghiệp và sau đó hầu hếthọc sinh tốt nghiệpTHPT đều tham dự kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng Đây là kỳthi được coi là quan trọng nhất đối với học sinh phổ thông để tìm kiếm những cơ hộitốt cho tương lai, do đó thường tạo ra áp lực rất lớn đối với học sinh và gia đình 8 Tỷ

lệ học sinh đi học thêm ở lớp 12 lên tới 94,1% cho thấy áp lực thi cử đóng vai trò lớntrong việc dẫn đến quyết định đi học thêm của học sinh

4.1.2 Tỷ lệ học thêm xét theo nhóm học lực

Xét chung cả ba khối lớp, tỷ lệ học sinh đi học thêm cao nhất ở nhóm học sinh khá

và thấp nhất ở nhóm học sinh giỏi 9 (Phụ lục 6) Có vẻ như vì nhóm học sinh giỏi cókhả năng tự học tốt hơn các nhóm khác nên tỷ lệ đi học thêm là thấp nhất Điều này thểhiện rõ nhất ở nhóm học sinh lớp 10, trong đó chỉ có 50 học sinh giỏi được hỏi chobiết có đi học thêm, trong khi tỷ lệ học sinh đi học thêm ở các nhóm học lực khác đều

8 Kỳ thi tốt nghiệp THPT không phải là một kỳ thi mang tính cạnh tranh và kết quả thường có tỷ lệ học sinh đậu

tốt nghiệp cao ( Ở Quy Nhơn, tỷ lệ này trong những năm vừa qua thường trên đưới 90 ).

9 Bỏ qua nhóm học sinh có học lực kém chỉ có duy nhất 1 quan sát.

Trang 24

trên 80 Những số liệu trên phù hợp với số liệu cho biết lí do hoàn toàn không đi họcthêm được đề cập nhiều nhất là “có khả năng tự học”, với 44,4 số ý kiến của học sinhkhông đi học thêm trong mẫu khảo sát (Phụ lục 10).

Ở lớp 11 và 12, tỷ lệ học sinh giỏi được hỏi cho biết có đi học thêm tăng lên đếntrên 90 , xấp xỉ tỷ lệ học thêm ở các nhóm học lực khác Nếu giả định “học sinh giỏi cónăng lực tự học tốt hơn” là đúng thì điều này chứng tỏ rằng mục tiêu vượt qua kỳ thituyển sinh đại học, cao đẳng đã khiến cho ngay cả những học sinh có khả năng tự họccũng không tự tin vào khả năng của bản thân mình mà phải lựa chọn giải pháp họcthêm

Nhóm học sinh yếu có tỷ lệ học thêm thấp nhất Điều này có thể được lí giải theohai cách: nhóm học lực yếu ít có hứng thú học tập hay cũng có thể chính vì không đihọc thêm mà kết quả yếu Đáng tiếc là các số liệu thống kê chưa đủ để làm sáng tỏluận điểm thứ hai này

4.1.3 Tỷ lệ học thêm xét theo loại hình trường

Xét theo loại hình trường, trường chuyên có tỷ lệ học sinh học thêm cao nhất(89,66 ), tiếp đến là các trường công lập (88,03 ) và cuối cùng là các trường ngoàicông lập (85,71 ) Có thể giải thích xu hướng này theo một số cách: Thứ nhất, học sinhtrường chuyên kỳ vọng cao hơn vào việc thi đậu vào các trường đại học, cao đẳng nên

đi học thêm nhiều hơn nhằm đạt được mục tiêu này Thứ hai, mức độ ưa thích học tậpcủa học sinh trường chuyên cao hơn Thứ ba, điều kiện gia đình ( thu nhập, trình độhọc vấn của cha mẹ, qui mô gia đình) của nhóm học sinh trường chuyên xét trung bìnhthường tốt hơn so với các nhóm khác (Phụ lục 7, Phụ lục 8, Phụ lục 9), và như sau sẽtrình bày, các yếu tố này ảnh hưởng tới nhu cầu học thêm của học sinh

Trang 25

4.1.4 Tỷ lệ học thêm xét theo môn học

Tỷ lệ học thêm không đồng đều ở các môn, chủ yếu tập trung ở các môn Toán (80,8), Lý (59,5 ), Hóa (61,1 ) và Ngoại ngữ (38,1 ) Tỷ lệ học thêm cao nhất ở môn toáncũng là kết quả nhìn thấy ở hầu hết các nghiên cứu khác Có thể lập luận rằng nhu cầuhọc thêm toán cao vì đây là môn học nền tảng cho nhiều môn học khác Càng gần với

kỳ thi tuyển sinh đại học, tỷ lệ học thêm các môn học càng tăng Riêng môn ngoại ngữ

có sự khác biệt: tỷ lệ học sinh đi học thêm giảm ở lớp 12 so với lớp 10 và 11 (Hình

4-1) Có thể thấy rằng môn ngoại ngữ (tiếng Anh) không chỉ đơn thuần là một môn học,

và học tốt môn tiếng Anh không chỉ quan trọng trong các kỳ thi Trình độ tiếng Anh tốthay các chứng chỉ anh văn quốc tế là một điều kiện rất quan trọng khi tìm kiếm cơ hộihọc tập hay tham gia vào thị trường lao động, vì vậy việc học thêm để nâng cao khảnăng tiếng Anh được nhiều học sinh và phụ huynh lựa chọn Tuy nhiên, lên lớp 12,những học sinh không thi khối D phải dồn sức cho các môn học thi đại học nên phải bỏqua môn tiếng Anh, vì vậy mà tỷ lệ học thêm tiếng Anh lại giảm Không có học sinhđược hỏi nào trả lời có đi học thêm môn Sử và Địa, đa số ý kiến cho rằng không đi họcthêm môn Sử và Địa vì đây là các môn thuộc bài và có khả năng tự học

Hình 4-1: Tỷ lệ học sinh học thêm phân theo môn học

Nguồn: Tính toán của tác giả

Trang 26

4.1.5 Tỷ lệ học thêm xét theo nhóm thu nhập

Xu hướng nhận thấy trong kết quả khảo sát là thu nhập trung bình hàng tháng của

hộ gia đình càng cao thì tỷ lệ học thêm của học sinh cũng càng cao (Bảng 4-1) Kết quảnày tương tự với kết quả của đa số nghiên cứu thực hiện ở các quốc gia khác Điều này

có thể xảy ra do hai tác động: Một mặt, đối với các hộ gia đình có thu nhập khá hơn,chi tiêu cho học thêm được coi là một khoản đầu tư cho tương lai, do đó người ta sẵnsàng đầu tư nhiều hơn Mặt khác, những hộ gia đình có thu nhập thấp bị hạn chế vềkhả năng tài chính để chi cho việc học thêm

Bảng 4-1:Tỷ lệ học sinh học thêm phân theo nhóm thu nhập

Dưới 1 triệu

Từ 1 triệu đến dưới 3 triệu

Từ 3 triệu đến dưới 5 triệu

Từ 5 triệu đến dưới 8 triệu

Trên 8 triệu

Không trả lời

Nguồn: Tính toán của tác giả

4.1.6 Tỷ lệ học thêm xét theo trình độ học vấn của cha mẹ

Tương tự các nghiên cứu trước, tỷ lệ học thêm trong mẫu khảo sát có xu hướng

tăng theo trình độ học vấn của cha mẹ (Bảng 4-2).

Trang 27

Bảng 4-2: Tỷ lệ học thêm xét theo trình độ học vấn của cha, mẹ

Trình độ học vấn

Số quan sát Cha

Học

Tần số

thêm

Tỷ lệ

Nguồn: Tính toán của tác giả

Số liệu cho thấy những bậc cha mẹ có trình độ học vấn cao hơn có khả năng tài

chính tốt hơn để chi trả cho hoạt động học thêm của con cái (Phụ lục 12) Họ cũng có

thể đánh giá cao hơn lợi ích của học vấn cho con cái mình trong tương lai và vì vậy

sẵn sàng chi trả cho việc học thêm để tìm kiếm cơ hội học tập lên cao của con cái

4.1.7 Tỷ lệ học thêm xét theo số con đi học trong hộ gia đình

Những học sinh thuộc các gia đình có hai con đi học có tỷ lệ học thêm cao nhất và

tỷ lệ học thêm giảm mạnh ở nhóm học sinh mà gia đình có 4 con đi học (Bảng 4-3) 10

Bảng 4-3: Tỷ lệ học thêm xét theo số con đi học của hộ gia đình

Số quan sát

Học thêm

Nguồn: Tính toán của tác giả

Trang 29

Những số liệu này thể hiện tác động của sự hỗ trợ của cha mẹ đối với việc học tậpcủa con cái Số liệu thống kê trong mẫu cho thấy những gia đình mà cha mẹ có trình độhọc vấn càng cao thì tỷ lệ có nhiều con đi học lại càng thấp(Phụ lục 11) Như vậy, khảnăng là trong nhiều gia đình chỉ có một con, cha mẹ có đủ trình độ và thời gian để hỗtrợ con cái học tập Ở những gia đình có số con đi học càng đông thì có khả năng lànăng lực hỗ trợ của cha mẹ đối với việc học của con càng giảm, góp phần làm tỷ lệ họcthêm gia tăng Tuy nhiên, như trên đã nói, số con đi học nhiều lại thường gắn với trình

độ học vấn của cha mẹ thấp, và trình độ thấp lại thường gắn với thu nhập thấp Do đó,không phải nhờ sự hỗ trợ của cha mẹ mà chính gánh nặng chi phí đã khiến cho tỷ lệhọc thêm ở nhóm gia đình có nhiều con đi học giảm mạnh

4.1.8 Thời gian học thêm

Thời gian học thêm trung bình của học sinh trong mẫu quan sát là 7,66 buổi/tuần(mỗi buổi 1,5 giờ) tương đương với 11,49 giờ Thời gian học thêm trung bình ít nhất ởlớp 10 và nhiều nhất ở lớp 12 (Bảng 4-4)

Bảng 4-4:Thời gian học thêm trung bình hàng tuần phân theo khối lớp

Lớp 10

Lớp 11

Lớp 12

Chung

Nguồn: Tính toán của tác giả

Cùng với số liệu về tỷ lệ học thêm, số liệu về thời gian học thêm cũng cho thấymức độ hết sức phổ biến của học thêm, đồng thời cho thấy càng gần với kỳ thi tuyểnsinh đại học thì hoạt động học thêm càng trở nên căng thẳng

Trang 30

Lưu ý rằng cuộc khảo sát không đề cập đến việc học thêm được tổ chức trong nhàtrường cho đồng loạt học sinh 11 Hình thức học thêm này hiện nay rất phổ biến Có batrên bốn trường được khảo sát có tổ chức học thêm đồng loạt cho học sinh có thu phí.

Ở một trường chuyên và một trường công, thời lượng học thêm tập trung là 12tiết/tuần (tương đương 9giờ) Ở một trường ngoài công lập, thời lượng học thêm tậptrung của lớp 12 là 12 tiết/tuần (tương đương 9giờ), lớp 10 và 11 là 4 tiết/tuần (tươngđương 3giờ) Nếu kể cả hình thức học thêm này thì số liệu về chi phí và thời gian họcthêm còn lớn hơn nữa Cũng cần lưu ý thời điểm khảo sát là sau khi kết thúc học kỳ 1,trước kỳ nghỉ tết Nguyên đán Thông thường, việc học thêm sẽ diễn ra nhiều hơn nữavào những thời điểm kề cận với thi cử

11 có thể coi đây là một hình thức học thêm “bắt buộc” nên việc hỏi lý do học thêm thực sự không có ý nghĩa.

Trang 31

4.2 Nguyên nhân học thêm của học sinh THPT- trường hợp thành phố Quy

Nhơn

Kết quả khảo sát cho thấy lí do học thêm được học sinh đề cập đến nhiều nhất là

“để chuẩn bị cho các kỳ thi tốt nghiệp phổ thông, đại học và cao đẳng”, tiếp theo là “vìmôn học khó”, “ở lớp không có thời gian giải bài tập/ thực hành”, “sợ thua kém bạnbè”, “thích môn học”, “không có khả năng tự học” và “thầy cô giảng không hiểu”(Hình 4-2)

0.00%

Hình 4-2: Kết quả khảo sát ý kiến học sinh về lí do chính đi học thêm

Nguồn: Tính toán của tác giả

4.2.1 Học thêm để chuẩn bị thi tốt nghiệp phổ thông, đại học, cao đẳng

Trang 32

13) Điều này có thể đƣợc giải thích nhƣ lập luận ở phần trên cho rằng học sinh khágiỏi kỳ vọng cao hơn vào việc thi đậu đại học, cao đẳng so với học sinh TB yếu Đồng

Trang 33

thời 97,6 học sinh và 89,4% giáo viên được hỏi cho rằng học thêm có thể làm tăng khảnăng đậu đại học, cao đẳng Các số liệu này cho thấy mong muốn thi đậu vào đại học,cao đẳng là một lí do chính khiến cho học sinh đi học thêm Tỷ lệ học thêm các mônhọc theo kết quả khảo sát khá phù hợp với tỷ lệ hồ sơ dự thi đại học vào các khối: mùathi năm 2007, tỷ lệ học sinh đăng ký dự thi khối A là 53,2 , khối B là 20,2%, khối C là12,1 và khối D là 14,5% (Ninhbinh.edu.vn, 2007) Tỷ lệ ý kiến cho biết đi học thêm đểchuẩn bị cho các kỳ thi có sự khác biệt đáng kể giữa các khối lớp: ở lớp 10 tỷ lệ nàychỉ có 27,05 , nhưng ở lớp 12 tỷ lệ này lên đến 87,35% (Phụ lục 14) Số liệu này chothấy càng gần đến các kỳ thi thì áp lực học tập càng lớn.

Dưới góc độ kinh tế, có thể cho rằng nhu cầu học thêm để chuẩn bị thi đại học/ caođẳng là do nguồn cung về giáo dục bậc cao không đáp ứng đủ nhu cầu của xã hội ỞViệt Nam hiện nay, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi 18-22 học tại các trường Đại học, caođẳng chỉ vào khoảng 21 trong khi ở một số nước phát triển như Thụy Điển tỷ lệ này là82% (Vũ Quang Việt, 2008) Tuy nhiên lập luận này lại không thuyết phục trongtrường hợp một số nước có hiện tượng học thêm phổ biến tương tự Việt Nam nhưHàn Quốc Mặc dù tỷ lệ học sinh học đại học ở Hàn quốc lên đến 60 (Trần Văn Tùng,2004), gấp 3 lần so với Việt Nam, nhưng ở Hàn quốc hiện tượng học thêm lại không

hề thua kém

Trong khi phần lớn học sinh Việt Nam (hay Hàn Quốc…) học thêm để cạnh tranhvào đại học, cao đẳng thì ở nhiều nước phương tây, học sinh không cạnh tranh vào đạihọc bằng con đường này Có vẻ như ở Việt Nam, để cạnh tranh vào đại học thì họcthêm là một phương cách hiệu quả với số đông học sinh, trong khi ở các nước phươngtây thì đây không phải là một phương cách hiệu quả Lý do nằm ờ tiêu chí, nội dung vàphương pháp tuyển sinh đại học Khi mà tiêu chí đánh giá thông qua nội dung thituyển không chú trọng đến khả năng tư duy mà chú trọng nhiều đến lượng kiến thứckhổng lồ mà học sinh nắm được thì chắc chắn học thêm là cần thiết

Trang 34

4.2.2 Học thêm vì môn học khó

Theo kết quả khảo sát, 45,60% ý kiến cho biết đi học thêm vì môn học khó Số liệunày ủng hộ cho những ý kiến cho rằng chương trình học hiện nay là quá tải đối với họcsinh Tuy nhiên có một điều bất ngờ ở kết quả khảo sát là tỷ lệ ý kiến của học sinh giỏicho biết đi học thêm vì môn học khó lên đến 53,93 , cao hơn nhiều so với học sinh khá(37,82 ) và học sinh trung bình (48,59 ) Trong số 20 học sinh giỏi cho biết có đi

học thêm vì môn học khó thì 15 học sinh là học sinh trường chuyên, chiếm tỷ lệ 75

Có thể phân tích số liệu bất thường này theo hai cách: Thứ nhất, những học sinh đượcđánh giá là giỏi này có thật sự là giỏi không hay họ chỉ giỏi khả năng ghi nhớ máy móc

mà thiếu hẳn khả năng tự học Nghĩa là chúng ta cần phải xem lại cách đánh giá họcsinh chỉ căn cứ trên điểm số Thứ hai, liên hệ với số liệu cho biết có đến 64,3% giáoviên trường chuyên cho rằng chương trình học là khó đối với học sinh có học lựctrung bình, trong khi xét chung toàn mẫu, tỷ lệ này là 47,8%, có thể dự đoán rằngchương trình học ở trường chuyên đã bị đẩy lên quá mức12 Phải chăng người ta chorằng để học giỏi cần phải học thật nhiều, nắm được lượng kiến thức thật lớn và biếtgiải thật nhiều dạng bài tập Một lần nữa lại thấy xuất hiện tác động của sự sai lệchtrong chuẩn đánh giá chất lượng đối với nhu cầu học thêm

4.2.3 Học thêm vì ở lớp không có thời gian giải bài tập hay thực hành

Theo mẫu khảo sát, 45,22% ý kiến nêu lí do đi học thêm vì ở lớp không có thờigian giải bài tập hay thực hành 71,4% số giáo viên cho rằng lượng kiến thức cho mộttiết dạy dài và 73,9 số giáo viên cho rằng không đủ thời gian giải bài tập trên lớp Cùngmột hướng nhận định trên, có 98,6% số học sinh và 85,4% số giáo viên được hỏi chorằng đi học thêm có tác dụng cung cấp kiến thức mới, 97,8% số học sinh và 91,5% sốgiáo viên cho rằng học thêm có tác dụng nâng cao kỹ năng thực hành/ giải

12 Trên danh nghĩa, học sinh ở các loại hình trường khác nhau vẫn học chung chương trình và sách giáo khoa, nhưng thực tế học sinh trường chuyên đều phải học dồn chương trình Điều đó tạo nên áp lực rất lớn đối với các em.

Trang 35

bài tập (Phụ lục 16, Phụ lục 17) Một mặt có thể cho rằng thực sự chương trình quánặng khiến cho giáo viên chỉ có thể trình bày bài học một cách sơ lược, không có thờigian đào sâu kiến thức và hướng dẫn học sinh giải bài tập, vì thế học sinh phải tìm đếncác lớp học thêm để bổ sung cho những thiếu hụt này Mặt khác, điều này cho thấy cảhọc sinh và giáo viên đều cho rằng rèn luyện khả năng giải bài tập là cực kỳ quan trọngđối với việc học Thực tế phỏng vấn trực tiếp học sinh, giáo viên và kinh nghiệm củabản thân người nghiên cứu cho thấy nội dung chủ yếu của các lớp học thêm là phânloại và giải các dạng bài tập Tỷ lệ 100 giáo viên đi dạy thêm trong mẫu khảo sát chobiết đi dạy thêm để nâng cao tay nghề dạy học dường như cũng phần nào cho thấyquan niệm của giáo viên cho rằng khả năng giải bài tập là yếu tố quan trọng tạo nên taynghề dạy học Đương nhiên khả năng giải bài tập phần nào phản ánh khả năng vậndụng tri thức của người học, nhưng quan trọng hơn nhiều là việc vận dụng tri thứctrong các tình huống và hoàn cảnh thực tế, qua đó khả năng tư duy sáng tạo của ngườihọc được phát huy Không nhiều học sinh và giáo viên coi trọng việc rèn luyện khảnăng này, Không chú trọng đến khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn cuộc sống,nhiều học sinh và thậm chí cả giáo viên gọi sử, địa, và thậm chí cả văn là “các mônthuộc lòng”, hàm ý rằng đây là những môn học chỉ cần khả năng ghi nhớ máy móc.Khi mà các lớp học thêm tìm mọi cách cung cấp cho người học càng nhiều càng tốtcác dạng bài tập có thể xuất hiện trong các kỳ thi thì khả năng giải bài tập có khi khôngcòn là khả năng sáng tạo mà chỉ là khả năng ghi nhớ máy móc ở trình độ cao hơn màthôi Một nền giáo dục đánh giá cao khả năng ghi nhớ máy móc thì khó có thể tạo ranhững con người sáng tạo, có khả năng tư duy độc lập và khả năng tự học suốt đời Có

lẽ vì vậy mà một kết quả nghiên cứu gần đây về tính sáng tạo của sinh viên ở mộttrường đại học lớn của Việt Nam cho biết, trong một mẫu điều tra khá lớn gồm hàngngàn sinh viên, chỉ có khoảng 20 sinh viên đạt hoặc vượt mức sáng tạo trung bình củathế giới (Vũ Thành Tự Anh, 2005)

Trang 36

4.2.4 Học thêm vì sợ thua kém bạn bè

Theo kết quả khảo sát, 32,48% ý kiến nêu lí do đi học thêm “vì sợ thua kém bạn bè” Con số này phù hợp với kết quả của cuộc Điều tra xã hội học năm 2003 "Người Việt Nam trong quan niệm của các tầng lớp cư dân tiêu biểu" của Viện Nghiên cứu Con người, theo đó, có 73,5% người được hỏi cho biết muốn con trở thành trí thức, 78,3 “xấu hổ vì con học hành không bằng con người khác”, trong khi chỉ có 42,4 “xấu

hổ vì mình nghèo hơn người khác”(Trọng Phước, 2003)

Dưới góc độ tâm lý, sợ thua kém người khác là một suy nghĩ thông thường của conngười Nhưng “học thêm vì sợ thua kém bạn bè” thì có thể nhìn nhận dưới góc độ khác.Xét về góc độ kinh tế, “học thêm vì sợ thua kém bạn bè” thể hiện ảnh hưởng của “hiệuứng trào lưu”, nghĩa là nhu cầu học thêm của một người không chỉ phụ thuộc bản thânngười đó mà còn phụ thuộc vào việc những người khác có hay không đi học thêm

Nỗi lo sợ thua kém người khác cũng là một triệu chứng của căn bệnh thành tích,một căn bệnh vốn được coi là nan y trong ngành giáo dục Việt Nam hiện nay Cănbệnh thành tích còn thể hiện ở số liệu điều tra cho biết có 65,6 giáo viên có dạy thêmnêu lí do “để nâng cao thành tích học tập của học sinh ở lớp do mình phụ trách” (Hình4-3)

Trang 38

Nhiều giáo viên cho biết vì chương trình học quá dài nên thời gian giảng trên lớpkhông đủ để truyền tải toàn bộ kiến thức một cách sâu sắc, cũng như không có thờigian luyện tập cho học sinh Họ lo ngại rằng nếu chỉ với học chính khóa, học sinhkhông thể đạt được thành tích như mong muốn, ảnh hưởng tới thành tích thi đua củalớp, thành tích thi đua và uy tín của giáo viên nên tổ chức dạy thêm để nâng cao thànhtích thi đua Vấn đề là ở chỗ, lâu nay, chất lượng dạy và học được xác định chủ yếutrên số lượng HS giỏi, tiên tiến, yếu và kém Chúng ta vẫn đánh đồng thành quả họctập với điểm số, vẫn xem điểm số là mục tiêu dạy và học Chính vì vậy, mọi nỗ lực củahọc sinh và giáo viên đều nhằm hướng tới việc giúp học sinh đạt điểm số cao trong họctập và thi cử Rõ ràng, căn bệnh thành tích có điều kiện phát triển không phải do ý chícủa học sinh và giáo viên mà do chính những bất ổn trong cơ chế đánh giá chất lượngdạy và học của chúng ta hiện nay.

4.2.5 Học thêm vì thích môn học

26,16% ý kiến cho biết “ Học thêm vì thích môn học” Có thể cho rằng “ Học thêm

vì thích môn học” là biểu hiện của tinh thần hiếu học Tỷ lệ này ở nhóm học sinh khá,giỏi là 30,34 , TB là 22,97 và yếu là 23,53 Số liệu này góp phần củng cố lập luận chorằng học sinh khá, giỏi có mức độ ưa thích học tập cao hơn nhóm học sinh trung bình,yếu

Tuy nhiên, đáng quan tâm là tỷ lệ ý kiến cho biết đi học thêm vì thích môn học càng lên lớp cao càng giảm, tỷ lệ này ở lớp 10 là 33,33 ; lớp 11 là 23,89 và lớp 12 là 23,09% Phải chăng áp lực học tập ngày một nặng nề khiến cho hứng thú học tập của học sinh ngày càng giảm sút

Trang 39

4.2.6 Học thêm vì không có khả năng tự học

23,77% ý kiến nêu lí do đi học thêm vì “không có khả năng tự học”, trong đó tỷ lệ này ở nhóm học lực giỏi là 8,99 nhƣng ở nhóm học lực yếu lên đến 33,82% Một lần nữa, điều này ủng hộ cho giả định “học sinh giỏi có khả năng tự học tốt hơn”

Học sinh không có khả năng tự học thật sự là một vấn đề của nền giáo dục chúng tahiện nay Nguyên nhân chính là do học sinh không đƣợc rèn luyện khả năng tự họcngay từ nhỏ, do đó gặp khó khăn khi học lên bậc học cao hơn Một khảo sát năm 2002đối với học sinh 8 tuổi ở Việt Nam cho thấy, 46 học sinh có đi học thêm, chủ yếu doquyết định của cha mẹ (Tran Thu Ha, 2005) Nội dung đi học thêm của học sinh tiểuhọc chủ yếu là giúp giải quyết các bài tập tại lớp, ở các lớp trên thì nội dung bài tập cóthể mở rộng và nâng cao hơn, nhƣng đại đa số các em cũng chỉ bị động ngồi ghi chéplại những gì giáo viên trình bày, không một chút động não Đến buổi học chính, các emchỉ nhớ lại những gì đã học ở lớp học thêm, không phải suy nghĩ gì nhiều Thói quen đihọc thêm từ nhỏ đã góp phần làm cho học sinh không có thói quen tự học Không quen

tự học nên phải đi học thêm Đi học thêm làm cho không còn thời gian tự học Đâychính là cái vòng luẩn quẩn trong việc rèn luyện khả năng tự học của học sinh

Lý do khiến cho việc học tập thụ động vẫn khá phổ biến là do việc đánh giá khảnăng học tập của học sinh trong nền giáo dục của chúng ta chú trọng quá nhiều đến khảnăng ghi nhớ máy móc, trình độ học sinh đƣợc đánh đồng với điểm số và thành tíchhọc tập (Hoàng Tuyết, 2007) Chính vì tiêu chí đánh giá này mà mọi hoạt động của họcsinh và giáo viên đều nhằm truyền tải cho học sinh lƣợng kiến thức càng nhiều càngtốt, chƣa coi trọng đúng mức việc rèn luyện tƣ duy, rèn luyện khả năng tự học

4.2.7 Học thêm vì thầy cô giảng không hiểu

21,6 ý kiến cho biết lí do học thêm là “thầy cô giảng không hiểu” Tỷ lệ này ởnhóm học sinh giỏi chỉ là 4,49 , tăng dần ở những nhóm có kết quả học tập thấp hơn

Trang 40

và cao nhất ở nhóm học sinh yếu là 51,47% Học sinh có thể cảm thấy thầy cô giảngkhông hiểu trong một số trường hợp sau: Thứ nhất, giáo viên có thể giảng khó hiểunếu trình độ và khả năng truyền đạt của họ bị hạn chế Thứ hai, nội dung chương trìnhquá dài khiến giáo viên không đủ thời gian giảng kỹ bài trên lớp Thứ ba, một số giáoviên cố tình không giảng dạy hết nội dung kiến thức theo yêu cầu, dành phần kiến thứccòn lại cho các lớp học thêm (với 2,78% số ý kiến cho rằng đi học thêm vì bị thầy cô

ép buộc, 3,47% cho rằng đi học để biết trước đề thi, kiểm tra, và 20,52% ý kiến chobiết học thêm với chính giáo viên dạy trên lớp (Phụ lục 15), có thể cho rằng trườnghợp thứ ba này là không phổ biến) Cuối cùng, một số giáo viên “thực dụng” dạy đểthi chứ không dạy để biết Họ chỉ dạy bằng cách bắt học sinh học thuộc lòng những gì

sẽ thi hay kiểm tra mà không chú trọng đến những dẫn dắt và giải thích cần thiết giúpcho học sinh nắm được bản chất vấn đề

Tóm lại, khi phân tích những nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng học thêm củahọc sinh THPT tại thành phố Quy Nhơn, có thể thấy bao trùm lên tất cả là những lệchlạc trong chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục Tiêu chí, phương pháp đánh giá họcsinh trong năm học cũng như tiêu chí và nội dung thi cử quá tập trung vào việc kiểmtra đánh giá lượng kiến thức mà học sinh nắm được, chưa chú trọng đến việc đánh giákhả năng tư duy và khả năng tự học của học sinh Tiêu chí đánh giá giáo viên dựa chủyếu trên thành tích học tập (điểm số) của học sinh Sự lệch lạc đó là nguồn gốc củaphương pháp giảng dạy và học tập nhồi nhét và là nguyên nhân cơ bản khiến cho nhucầu học thêm trở nên rất lớn

Ngày đăng: 25/11/2020, 09:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w