Phân tích tình hình lạm phát của Việt Nam --> giải pháp
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý Do Chọn Đề Tài :
Năm 2007 chứng kiến những biến động lớn trong nền kinh tế Việt Nam Theo các báo cáo thống kê, tốc độ tăng trưởng kinh tế tiếp tục đạt con số ấn tượng8,5%, đứng thứ hai trong khu vực châu Á, sau Trung Quốc, tuy nhiên nền kinh tếđang phải đối mặt với nguy cơ lạm phát cao, sự biến động của thị trường tài chính,bao gồm cả thị trường bất động sản, và những rủi ro tiềm ẩn về sự mất ổn định tàichính và tăng trưởng trong dài hạn Chủ đề lạm phát và chính sách tiền tệ đã vàđang được quan tâm chú ý đặc biệt của công luận lẫn các nhà hoạch định chínhsách và các nhà khoa học Những phân tích về nguyên nhân và vai trò của chínhsách tiền tệ cũng đả được đưa ra bởi nhiều nhà kinh tế, do vậy trong bài viết này
em tiếp cận dưới một góc độ khác thông qua việc xem xét vai trò của cách thứcthực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương đối với việc thiết lập kì vọngcủa công chúng và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua Ngoài rabài viết cũng nêu một số gợi ý về việc thực hiện chính sách tiền tệ ở Việt Namhiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
2 1 Mục tiêu chung :
- Nghiên cứu lạm phát và chính sách kiềm chế lạm phát của chính phủ ở Việt Nam trong hai năm qua
2.2 Mục tiêu cụ thể :
- Lạm phát và nguyên nhân gây ra lạm phát
- Phân tích và đánh giá tình hình lạm phát ở VIỆT NAM và những tác động của lạm phát đối với nền kinh tế
- Đưa ra các biện pháp để đảm bảo hạn chế lạm phát ở mức vừa phải, tốtnhất cho nền kinh tế hiện nay
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp thu thập liệu : số liệu đã được tính toán từ Niên giámthống kê và Tổng cục thống kê, sách báo , Internet, thư điện tử, các bài nghiên cứuliên quan …
Trang 2Mục tiêu 3 : Từ mô tả và đánh giá thực trạng trên sử dụng phương pháp tựluận để đưa ra các biện pháp nhằm đảm bảo hạn chế lạm phát ở mức vừa phải, tốtnhất cho nền kinh tế
4 Phạm vi nghiên cứu :
4.1 Phạm vi về không gian : Thực trạng lạm phát ở Việt Nam
4.2 Phạm vi thời gian : Tìm hiểu lạm phát và việc thực thi chính sách tiền tệcủa ngân hàng trung ương ở Việt Nam trong năm 2007 và 6 tháng đầu năm 2008
4.3 Phạm vi nội dung : Phân tích về lạm phát và các giải pháp kiềm chế ởViệt Nam
PHẦN NỘI DUNG
Trang 3Trong hơn 10 năm trở lại đây, kinh tế Việt Nam đă có những sự chuyểnmình to lớn Từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp gây ra hậu quả nặng nề đốivới sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, lạm phát trên 3 con số, kinh tế tăngtrưởng âm, kéo dài trong nhiều năm Sự chuyển đổi kịp thời sang nền kinh tế thịtrường cùng nhiều chính sách phát triển kinh tế như thu hút nguồn vốn đầu tư từnước ngoài của chính phủ ta đă đem lại hiệu quả tốt Kinh tế nước ta tăng trưởng
ở mức 8,5 % bình quân hằng năm (2004-2006), lạm phát được duy trì mức độ thấp6,6% năm 2006 Trải qua các giai đoạn phát triển trên, chúng ta có thể nhận thấy
sự liên quan giữa tỷ lệ lạm phát và sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tếViệt Nam Không chỉ đối với Việt Nam mà đối với bất kỳ nền kinh tế nào thì tỷ lệlạm phát luôn luôn có ảnh hưởng nhất định đến sự tăng trưởng của nền kinh tế đó Tuy nhiên sự tồn tại của lạm phát ở một mức độ vừa phải không nguy hại, ngượclại còn là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế Nghiên cứu những ảnh hưởngcủa lạm phát tới nền kinh tế là một việc hết sức cần thiết Việc đó giúp chúng ta
dự đoán, khống chế lạm phát ở mức độ phù hợp nhằm xây dựng một nền tài chính
ổn định và nhằm tạo một động lực duy trì và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng
1 Khái niệm và phân loại lạm phát
“Lạm phát là sự mất giá tương đối lâu dài và liên tục của tiền giấy so vớihàng hóa, ngoại tệ và vàng.”
Trang 4Như vậy, để được coi là lạm phát thì sự mất giá phải kéo dài và có tính liêntục chứ không chỉ là trong một thời gian ngắn hoặc có tính ngắt quãng Cũng cầnlưu ý rằng trong giai đoạn đầu, tiền giấy chỉ mất giá so với hàng hoá, nhưng khilạm phát tăng mạnh, lúc này do nhu cầu chuyển sang sử dụng các đồng tiền thaythế tiền giấy nên lạm phát mất giá cả so với vàng và ngoại tệ.
1.2 Phân loại lạm phát
Có ba mức độ lạm phát được nhắc tới nhiều:
Lạm phát thông thường (Normal inflation): tốc độ lạm phát khoảng 10%Lạm phát phi mã (High inflation): tốc độ lạm phát được đo lường bằng 2đến 3 con số
Siêu lạm phát (Hyper Inflation): tốc độ lạm phát lớn hơn 3 con số
Trong trường hợp lạm phát thông thường thì lạm phát không gây ra hậu quảlớn, thậm chí trong nhiều trường hợp lạm phát thông thường còn có tác dụng kíchthích sự phát triển của nền kinh tế xã hội Tuy nhiên nếu đã xảy ra lạm phát phi mãhay siêu lạm phát thì hậu quả mà chúng mang lại cho nền kinh tế là không thểlường hết được Tuy nhiên người ta cũng có một cách khác nữa để phân loại lạmphát, đó là lạm phát có thể lường trước được và lạm phát không thể lường trướcđược Nếu lạm phát là lường trước được, tức là nó diễn ra ổn định theo quy luật,
và thông thường là với một tỷ lệ thấp, thì các tác động đến nền kinh tế là khônglớn vì xã hội đã tính đến khoản lạm phát này khi lập các kế hoạch hoạt động sảnxuất kinh doanh… Bên cạnh đó là loại lạm phát không lường trước được, nhữnglạm phát này xảy ra đột ngột và không được báo trước cho nên các thành phầnkinh tế trong xã hội không có những dự báo và phải ứng phó một cách đột ngột Những lạm phát kiểu này thường nguy hiểm và dễ bị đẩy lên thành lạm phát phi
mã hoặc siêu lạm phát, gây ra những hậu quả rất xấu cho sự phát triển của nềnkinh tế xã hội
1.3 Một số luận thuyết về lạm phát
- Lạm phát lưu thông tiền tệ: nguyên nhân là do đưa quá nhiều tiền thừa vào
lưu thông làm giá cả hàng hóa tăng lên
- Lạm phát cầu dư thừa: nguyên nhân là do sự biến động cung cầu và trong
trường hợp này lạm phát có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển và chống suythoái
Trang 5- Lạm phát chi phí: nguyên nhân là do tăng chi phí sản xuất kinh doanh
nhanh hơn mức tăng năng suất
- Lạm phát cơ cấu: do sự mất cân đối trong cơ cấu.
2 Chính Sách Tiền Tệ Của Ngân Hàng Trung Ương
Vấn đề cần được nghiên cứu tiếp theo là các chính sách tiền tệ của Nhànước, mặc dù chỉ là một bộ phận trong hệ thống chính sách kinh tế, tài chính củaNhà nước nhằm điều chỉnh nền kinh tế xã hội nhưng đây là một trong những nhómchính sách quan trọng nhất tác động tới sự phát triển của nền kinh tế một quốc gia
2.1 Chính sách hoạt động công khai trên thị trường
Là một trong những biện pháp tác động gián tiếp tới nền kinh tế của Nhànước, theo đó Nhà nước thông qua ngân hàng trung ương để tác động tới các loạithị trường nhằm tạo ra những sự thay đổi theo mong muốn của Nhà nước Thịtrường mà Nhà nước ở đây có thể là thị trường tiền tệ (thị trường vốn ngắn hạn),thị trường hối đoái hoặc thị trường chứng khoán (thị trường vốn trung và dài hạn)
2.2 Chính sách tái chiết khấu
Là chính sách thể hiện sự cho vay của ngân hàng trung ương đối với cácngân hàng thương mại Trong nghiệp vụ của mình, các ngân hàng thương mại cónhững lúc thiếu hụt tạm thời tiền mặt để giải quyết các yêu cầu thanh toán hoặc bùđắp lượng dự trữ bắt buộc Khi đó, ngân hàng thương mại phải tìm đến ngân hàngtrung ương để vay tiền, thường dưới dạng chiết khấu lại các chứng khoán có giá(tái chiết khấu) Khi ngân hàng trung ương thay đổi mức lãi suất tái chiết khấu,hạn mức tái chiết khấu hay điều kiện tái chiết khấu đối với các ngân hàng thươngmại thì các ngân hàng thương mại sẽ tự động phải thay đổi lượng cung tiền ra thịtrường, dẫn đến sự thay đổi trong thị trường tiền tệ
dự trữ bắt buộc và dự trữ dư thừa Việc thực hiện dự trữ bắt buộc là một chính
Trang 6sách nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho các ngân hàng thương mại, nhưngbên cạnh đó đây cũng là một chính sách có thể được sử dụng nhằm thay đổi cơ cấutiền mặt trong lưu thông
2.4 Chính sách quản lý ngoại hối
Chính sách quản lý ngoại hối thể hiện sự quản lý của Nhà nước đối vớingoại hối Mục đích chính của chính sách này là việc kiểm soát các luồng ra vàocủa ngoại hối, đặc biệt là với các nước đang phát triển, nơi tình hình thiếu hụt cáncân thanh toán vãng lai đã trở nên phổ biến Nói chung, nguyên tắc của chính sáchquản lý ngoại hối là thu hút càng nhiều ngoại hối càng tốt, kiểm soát chặt chẽ vàhạn chế ở mức hợp lý nhất các luồng ngoại hối ra khỏi biên giới quốc gia, cùng đó
là việc quản lý nghiêm ngặt dự trữ ngoại hối quốc gia
2.5 Chính sách quản lý tỷ giá hối đoái
Sử dụng chính sách tỷ giá hối đoái để điều tiết nền kinh tế cũng là một giảipháp thường được sử dụng Chính sách này được thể hiện chủ yếu ở việc bán ra vàmua vào ngoại tệ của ngân hàng trung ương trên thị trường ngoại hối
3 Thực trạng lạm phát ở nước ta trong những năm gần đây (2006 – 2007)
Năm 2007, nhờ quá trình đổi mới đã hơn 20 năm tạo thế và lực, trong đó cóphần đóng góp của năm đầu tiên gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),kinh tế Việt Nam đạt được thành tựu trên nhiều lĩnh vực, tăng trưởng kinh tế đạt8,5% Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt mức cao nhờ cải thiện trong chínhsách đầu tư, môi trường kinh doanh, mở cửa thị trường theo cam kết WTO Tínhđến tháng 12/2007, vốn FDI đăng ký đạt 15 tỉ USD, tăng gần 40% so với cùng kỳnăm trước Thị trường xuất khẩu mở rộng với kim ngạch xuất khẩu đạt 48 tỷ USD,tăng 20,5% so với năm 2006 và vượt 3,1% so với kế hoạch Dự trữ ngoại tệ được
bổ sung thêm 9 tỷ USD Hội nghị lần thứ 15 các nhà tài trợ tổ chức đầu tháng12/2007 tại Hà Nội đã mang lại cho Việt Nam 5,426 tỷ USD ODA cam kết trongnăm 2008, tăng 20% so với năm 2007
Việc thực hiện các cam kết WTO khi Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tếquốc tế lớn nhất hành tinh này đưa đến những thời cơ lớn và thách thức lớn đanxen vào nhau về kinh tế và xã hội Vấn đề kinh tế nào cũng có chiều cạnh xã hội
và tác động về mặt xã hội, đồng thời có những vấn đề trực tiếp có tính chất xã hội,tạo ra những hệ quả xã hội đặc trưng Về kinh tế cũng như về xã hội, nếu biết vượt
Trang 7thách thức có hiệu quả thì thách thức sẽ biến thành thời cơ, còn nếu không biếttranh thủ thời cơ kịp thời thì thời cơ cũng có thể biến thành thách thức Mặt khác,
từ cuối năm 2007, do những vấn đề đã tích tụ trong nhiều năm trước, cộng vớinhững diễn biến không thuận của kinh tế thế giới, đặc biệt là những khó khăn,thậm chí suy thoái của kinh tế Mỹ, lại thêm những hậu quả ngày càng rõ của sựbiến đổi khí hậu toàn cầu, nên tình hình kinh tế vĩ mô của nước ta đã bộc lộ nhữngnhân tố bất ổn, như hiệu quả thấp của đầu tư, nhập siêu tăng cao, thâm hụt ngânsách lớn, thị trường chứng khoán chao đảo, thị trường bất động sản hình thànhbong bóng nguy hiểm, và nhất là lạm phát hai con số tác động xấu đến đời sốngcủa nhân dân, nhất là những người nghèo Hơn một năm nay đã có nhiều côngtrình nghiên cứu, nhiều hội thảo, cả trong nước và quốc tế, về tác động của việcgia nhập WTO đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam
Sau cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra ở Châu Á năm 1997, Việt Nam chủtrương chính sách kích cầu nhằm giảm bớt ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng và bùlại mức giảm đầu tư của nước ngoài vào Nhìn vào bảng thống kê tình hình kinh tếViệt Nam (xem bảng ở phía bên dưới) ta thấy mức tăng trưởng GDP từ 8,2% năm
2006 lên 8,5% năm 2007 Đây cũng là tỷ lệ tăng cao nhất trên thế giới, thế nhưng
do hiệu quả sản xuất thấp vì chính sách đầu tư vẫn tập trung vào khu vực nhànước, Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2007 theo giá thực tế ướctính đạt 461,9 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% tổng sản phẩm trong nước (đạt kế hoạch
đề ra 40% GDP) và tăng 15,8% so với năm 2006, trong đó vốn khu vực Nhà nước
200 nghìn tỷ đồng, chiếm 43,3% tổng vốn và tăng 8,1%; vốn khu vực ngoài Nhànước 187,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,7% và tăng 24,8%; vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài 74,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 16% và tăng 17,1%
Trong vốn nhà nước, vốn đầu tư từ ngân sánh nhà nước (gồm vốn dự án vàchương trình mục tiêu) ước tính thực hiện 97 nghìn tỷ đồng, bằng 101,6% kếhoạch năm, trong đó vốn do địa phương quản lý 64,4 nghìn tỷ đồng, bằng 107,2%,vốn trung ương quản lý đạt thấp hơn so với dự toán, chỉ bằng 92,2%; vốn tín dụngđầu tư phát triển của Nhà nước ước tính 40,3 nghìn tỷ đồng, đạt kế hoạch năm vàvốn của các doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức nhà nước khác khoảng 62,7nghìn tỷ Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng khá, ước tính năm 2007 đạt
Trang 820,3 tỷ USD, tăng 69,3% so với năm 2006 và vượt 56,3% kế hoạch cả năm, trong
đó vốn cấp phép mới là 17,86 tỷ USD
Trong đầu tư, chính sách của nhà nước vẫn là tập trung phát triển sản xuấtthay thế nhập khẩu (sắt, thép, xi măng, đường), kể cả đưa tới việc bảo vệ thịtrường nội địa cho đầu tư nước ngoài (xe hơi, xe gắn máy), thay vì tập trung pháttriển sản xuất nhằm xuất khẩu Do chính sách trên, thiếu hụt cán cân xuất nhậpkhẩu ngày càng cao, nhập siêu năm 2007 ở mức 14,1 tỷ USD Mức thiếu hụt nàychưa tạo nên khủng hoảng cán cân thanh toán vì hiện nay thiếu hụt được bù đắpbằng 20,3 tỷ USD do Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhưng tình hình phát triểnkích cầu hệ thống quốc doanh thiếu hiệu quả này không thể tiếp tục trong tươnglai
Chính sách kích cầu, đi liền và đòi hỏi ngân hàng tăng tín dụng đã đưa lạmphát đến mức báo động Cả năm 2006, lạm phát là 6,6%, năm 2007 là 12,6%.Vìvậy việc tăng lương nhằm tăng hiệu quả lao động sẽ không bắt kịp lạm phát, điềunày làm nổ ra nhiều cuộc tranh luận tại sao lại gọi tăng giá là lạm phát? Tăng giákhông phải là lạm phát, có người lý luận như vậy Có người lại đặt vấn đề là tănggiá hiện nay khác tăng giá năm 1980-1990 về bản chất vì tăng giá ở Việt Nam là
do tăng giá xăng dầu từ nước ngoài, thiên tai và các biến động kinh tế trên thế giớinhất là các nước lớn như Mỹ và Nhật Bản
Từ lạm phát là dịch của chữ inflation Về ngữ nghĩa thì lạm phát là lạm phát
in tiền Do đó có thể lý luận rằng tăng giá không nhất thiết là do lạm phát tiềnnhưng lý thuyết tiền tệ đã chỉ ra rằng: tăng giá nói chung là vấn đề tăng tiền tệ.Nếu giá thành như xăng dầu, sắt, thép nhập từ nước ngoài có tăng thì các giá khácphải giảm nếu như lượng tiền tệ và tín dụng không tăng, nhìn vào tốc độ tăng tíndụng ở Việt Nam, ta thấy rõ là tốc độ tăng đã ở mức rất cao và đang có chiềuhướng đi lên Không thể in tiền và tung tin dụng kích cầu mãi để đạt chỉ tiêu pháttriển cao
Khi phân tích trong nền kinh tế mở, do tính kém linh hoạt của giá cả và tiềnlương trong ngắn hạn, khi lượng tiền tăng sẽ tạo ra sự chênh lệch giữa tỉ suất sinhlợi vốn đầu tư của tài sản tài chính trong nước và nước ngoài, điều này dẫn đếnmột sự gia tăng luồng vốn ra nước ngoài trong ngắn hạn dưới chế độ tỷ giá cóquản lý hay cố định trong nền kinh tế mở Vì vậy, trong ngắn hạn áp lực của lạm
Trang 9phát một phần cũng được giảm đi bởi sự gia tăng trong cầu hàng hóa, dịch vụ và
tài sản ở bên ngoài
Với chính sách kích cầu mà Việt Nam đã thực hiện, đầu tư trong nền kinh tế
tăng khá nhanh, tỷ lệ GDP từ đạt 425,135 nghìn tỷ đồng vào năm 2006 lên tới
461,189 nghìn tỷ đồng vào năm 2007 Trong đó nguồn vốn đầu tư trên GDP từ
ngân sách là 17.5% và vay nước ngoài khoảng 6.5% phần còn lại là vốn của doanh
nghiệp mà chủ yếu là vay từ Ngân hàng thương mại Chính sách đầu tư của Chính
phủ hướng vào phát triển ngành sản xuất trong nước thay thế nhập khẩu và bảo vệ
thị trường trong nước như: sắt, thép, xi măng, đường, xe hơi Do hiệu suất đầu
tư quá thấp từ khu vực Nhà nước cùng với sự thất thoát quá lớn và sự có giới hạn
của ngân sách nên các Ngân hàng thương mại quốc doanh rót tín dụng cho các dự
án đầu tư của Nhà nước Chính sách tín dụng mềm dẫn đến lượng cung tín dụng
trên thị trường tăng ngày càng mạnh đã đưa lạm phát đến mức báo động
Về phương diện chính sách, các nhà kinh tế cho rằng giá tăng mạnh là tín
hiệu cho thấy nền kinh tế bất ổn, nếu chính phủ không có sự điều chỉnh kịp thời về
chiến lược phát triển và có chính sách tiền tệ thận trọng để kiểm soát lạm phát thì
tình hình sẽ trở nên xấu hơn Nếu chính phủ vẫn tiếp tục duy trì mức tăng tín dụng
là 25% để giữ ổn định mức tăng GDP là 7,5% - 8% một năm thì có thể làm mất
khả năng kiểm soát lạm phát trong tương lai không xa
Trong phân tích ngắn hạn, chẳng hạn một cú sốc bất lợi về phía cung hoặckhi mà các cá nhân trong nền kinh tế mất lòng tin vào giá trị đồng tiền trong tương
lai với bất kỳ lý do gì thì giá sẽ tăng lên ngay cả cho dù không có sự thay đổi trong
mức cung tiền, thu nhập và lãi suất thực
Bảng 1 : Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Việt Nam 2004 – Quý 1 2008
Trang 10Tăng trưởng GDP %
Nông nghiệp % 4,4 4,0 4,0 3,4 2,9 Công nghiệp % 10,6 10,6 10,2 10,2 8,9 Xây dựng % 9,0 10,8 11,1 12,0 3,3 Dịch vụ % 7,3 8,5 8,3 8,7 8,1
Cán cân thanh toán Tỷ USD
Xuất khẩu Tỷ USD 26,5 32,5 39,8 48,6 13,0 Nhập khẩu Tỷ USD 32,0 36,8 44,9 62,7 20,4
Cán cân thương mại Tỷ USD ( 5,5) (4.,3) (5,1) (14,1) (7,4) Đầu tư trực tiếp nước ngoài Tỷ USD 1,9 2,0 2,4 4,6 1,7
GDP danh nghĩa Tỷ đồng 715.200 839.200 973.800 1.143,400 254.086
Tỉ giá hối đoái (VND/USD, trung
bình)
15.728 15.843 15.984 16.072 16.035
Nguồn: Tổng cục Thống kê Tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát của Q1/2008 được tính
so với cùng kỳ năm trước.
Bằng cả hai công cụ: kinh tế lẫn hành chính, trong năm 2006 lạm phát củaViệt Nam được kiềm chế không vượt qua hai con số Từ đầu năm 2007 lạm phát
bắt đầu tăng vọt và kéo dài cho đến những tháng cuối năm và dừng lại ở mức
12,6% Nhưng chỉ trong vòng quý I của năm 2008 lạm phát đã tăng vọt ở mức
16,4% và cho đến tháng 5 năm 2008 thì lạm tỷ lệ phát là 20,34% Mặc dù, bằng
mọi biện pháp để kiềm chế lạm phát nhưng diễn biến của lạm phát là một thách
thức cho các mục tiêu đề ra để kìm hãm nó và nó còn là thách thức cho mục tiêu
tăng trưởng kinh tế Trong bất kỳ nền kinh tế nào cũng phải có sự đánh đổi giữa
lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Và cũng từ đây có nhiều cuộc tranh luận chính thức và phi chính thức giữa
các nhà kinh tế và cả những người quản lý về cách lý giải nguyên nhân của sự tăng
giá nhưng cuộc tranh luận có ý nghĩa nhất là phân tích nguyên nhân nào dẫn đến
lạm phát cao như vậy
Lý lẽ thứ nhất dễ hiểu hơn bắt nguồn từ những sự kiện như dịch cúm gà, giá
dầu tăng, biến động giá của một số mặt hàng theo mùa vụ, đây là lý lẽ của các nhà
quản lý chính sách tiền tệ Việt Nam, thực tế bắt đầu từ năm 2006 và kéo dài cả
năm 2007, nhiều mặt hàng quan trọng trong nền kinh tế đã tăng giá Sự tăng giá
Trang 11này vừa bắt nguồn từ giá của thế giới tăng hoặc từ cơ cấu của chính bên trong nềnkinh tế Dựa vào chỉ số CPI chúng ta thấy rằng lạm phát tăng cao bắt nguồn từ banhóm cơ bản:
+ Nhóm thứ nhất: là hàng lương thực thực phẩm với chỉ số trong CPI là18,92% Nhóm hàng này có giá cả tăng vọt là do dịch cúm gia cầm, giá gạo tăngđột biến, thiên tai trên thế giới và nhiều biến động chính trị liên tiếp xãy ra
+ Nhóm thứ hai: là vật liệu xây dựng với chỉ số trong CPI là 17,12% nhómhàng này tăng là do giá thép trên thị trường thế giới tăng tăng
+ Nhóm thứ ba: là vận tải, bưu điện, viễn thông, nhóm này tăng giá là doảnh hưởng của giá dầu trên thế giới
Sự tăng giá của các nhóm hàng hóa nói trên tạo nên cú sốc về phía cung làmgiá tăng vọt Điều này cũng chỉ ra rằng tất cả các nguyên nhân làm tăng giá đều lànguyên nhân khách quan chứ không phải là sai lầm của một chính sách nào đó
Lý lẽ thứ hai cho rằng lạm phát bắt nguồn từ tiền tệ nghĩa là tăng cung tiền tệquá nhiều vì việc thực thi chính sách tiền tệ còn nhiều bất cập của chính phủ Ởcách lý giải này, dù bất cứ giá cả của các loại hàng hóa nào có tăng thì sẽ có giácủa hàng hóa nào đó phải giảm nếu lượng tiền trong nền kinh tế là không đổi
Để hiểu được lí do tại sao sự bất nhất trong việc thực thi chính sách tiền tệ lạiđẩy tỉ lệ lạm phát lên cao, Giả sử ngân hàng trung ương có hai mục tiêu đồng thời
là duy trì lạm phát ở một tỉ lệ mục tiêu, và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (hoặc giảm
tỉ lệ thất nghiệp xuống gần mức tự nhiên) Vì một lí do nào đó giả sử tỉ lệ thấtnghiệp đang cao và ngân hàng trung ương muốn đưa nó trở về mức tự nhiên Trong nền kinh tế người lao động đàm phán với doanh nghiệp để xác định mứctiền lương dựa trên kì vọng của họ về lạm phát Người lao động càng dự báochính xác về lạm phát thì tỉ lệ thất nghiệp sẽ càng tiến gần tới tỉ lệ thất nghiệp tạitrạng thái cân bằng dài hạn của thị trường lao động Trong tình huống này muốngiảm tỉ lệ thất nghiệp xuống mức tự nhiên sẽ khiến họ có hành vi bất nhất Giả sửngân hàng trung ương thông báo rằng họ thực thi chính sách tiền tệ sao cho lạmphát ở mức mục tiêu 5% Nếu người lao động tin vào thông báo này của ngânhàng trung ương và đàm phán hợp đồng với doanh nghiệp điều chỉnh tiền lươngdanh nghĩa tăng 5% thì sự lựa chọn chính sách của ngân hàng trung ương có thểthay đổi Thay vì thực hiện chính sách đã thông báo, ngân hàng trung ương có thể