Theo tài liệu vềquản trị ngân hàng thương mại Commercial Bank Management do Giáo sư Peter S.Rose biên soạn có đưa ra định nghĩa về ngân hàng theo cách tiếp cận này như sau: “Ngân hàng là
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGUỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.VŨ THỊ THÚY NGA
TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2010
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TP.Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 09 năm 2010
Trang 3Hội đồng quản trịNgân hàng Hồng Kông-Thượng HảiKiểm soát nội bộ
Ngân hàng bán lẻ
Ngân hàng thương mạiNgân hàng thương mại cổ phầnQuản lý rủi ro
Quản trị rủi ro tác nghiệpRủi ro tác nghiệp
Ngân hàng Sài Gòn thương tínNgân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt NamVietcombank, VCB
Vietinbank
Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Trang 42005-2009
Biểu đồ
đầu năm 2010
Hình
Trang 5MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG BÁN LẺ
1.1 Tổng quan về hoạt động ngân hàng bán lẻ (NHBL) 3
1.1.1 Các khái niệm về ngân hàng và ngân hàng thương mại 3
1.1.2 Các khái niệm về dịch vụ ngân hàng 4
1.1.3 Các khái niệm về ngân hàng bán lẻ 5
1.1.4 Đặc điểm của hoạt động ngân hàng bán lẻ 6
1.1.5 Vai trò của ngân hàng bán lẻ 6
1.1.5.1 Đối với nền kinh tế 6
1.1.5.2 Đối với xã hội 7
1.1.5.3 Đối với sự phát triển của hệ thống ngân hàng 7
1.1.6 Các sản phẩm dịch vụ trong hoạt động ngân hàng bán lẻ 8
1.1.6.1 Sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ truyền thống 8
1.1.6.2 Sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ hiện đại 10
1.2 Tổng quan về quản trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt động NHBL 12
1.2.1 Các khái niệm về rủi ro 12
1.2.2 Khái niệm về rủi ro tác nghiệp 13
1.2.3 Khái niệm về quản trị rủi ro 14
1.2.4 Khái niệm về quản trị rủi ro tác nghiệp 15
1.2.5 Khái niệm về quản trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt NHBL 15
1.2.6 Mục tiêu của quản trị rủi ro tác nghiệp 15
1.2.7 Các loại rủi ro tác nghiệp trong hoạt động NHBL 16
1.2.8 Nguyên nhân gây rủi ro tác nghiệp trong hoạt động NHBL 17
1.3 Mô hình quản trị rủi ro tác nghiệp tại NHTM 17
1.3.1 Các công cụ sử dụng trong quản trị rủi ro tác nghiệp 17
1.3.2 Quản trị rủi ro tác nghiệp theo các chuẩn mực của Basel II 18
1.3.3 Quy trình quản trị rủi ro tác nghiệp cơ bản 19
1.3.3.1 Xác định rủi ro 20
1.3.3.2 Đo lường rủi ro 21
1.3.3.3 Giám sát rủi ro 21
1.3.3.4 Quản lý và giảm thiểu rủi ro 22
1.4 Bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro tác nghiệp 23
1.4.1 Kinh nghiệm của một số NHTM trên thế giới 23
1.4.2 Bài học kinh nghiệm quản trị rủi ro tác nghiệp cho các NHTMVN 24
Trang 62.1 Giới thiệu về NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) 27
2.1.1 Giới thiệu khái quát về NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam 27
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của VCB từ 2005 – 06/2010 29
2.1.2.1 Về tổng tài sản 30
2.1.2.2 Vốn huy động 31
2.1.2.3 Đánh giá tốc độ tăng trưởng lợi nhuận ròng 32
2.2 Thực trạng hoạt động ngân hàng bán lẻ và các rủi ro tác nghiệp trong hoạt động ngân hàng bán lẻ tại VCB 33
2.2.1 Thực trạng hoạt động ngân hàng bán lẻ tại VCB 33
2.2.1.1 Huy động vốn dân cư 34
2.2.1.2 Dịch vụ thẻ 35
2.2.1.3 Tình hình hoạt động tín dụng bán lẻ 37
2.2.1.4 Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử 39
2.2.1.5 Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ khác 40
2.2.2 Các trường hợp điển hình về rủi ro tác nghiệp trong hoạt động NHBL 41
2.2.2.1 Rủi ro phát sinh từ cán bộ ngân hàng 41
2.2.2.2 Rủi ro phát sinh do các tác động bên ngoài 44
2.2.3 Một số khó khăn và tồn tại trong hoạt động NHBL 46
2.2.3.1 Tồn tại trong triển khai các quy định nội bộ từ HSC đến chi nhánh 46
2.2.3.2 Tồn tại từ hệ thống công nghệ hỗ trợ 47
2.2.4 Nguyên nhân của rủi ro và tồn tại 47
2.3 Thực trạng quản trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt động NHBL tại VCB. 48
2.3.1 Cơ sở pháp lý về quản trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt động NHBL 48
2.3.2 Tình hình quản trị rủi ro rác nghiệp trong hoạt động NHBL tại VCB 48
2.3.2.1 Quy trình quản trị rủi ro tác nghiệp của Vietcombank 48
2.3.2.2 Điều tra rủi ro tác nghiệp tại Vietcombank 51
2.3.2.3 Nhận dạng rủi ro và bài học kinh nghiệm trong hoạt động NHBL 53
2.3.3 Một số tồn tại trong quản trị rủi ro tác nghiệp tại VCB 59
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIETCOMBANK 3.1 Định hướng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ 62
3.1.1 Định hướng phát triển dịch vụ NHBL tại các NHTM Việt Nam 62
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động NHBL tại Vietcombank đến năm 2015 63
3.2 Giải pháp quản trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt động ngân hàng bán lẻ tại Vietcombank 65
3.2.1 Nâng cao năng lực quản trị rủi ro 65
3.2.2 Nâng cao năng lực tài chính 66
Trang 73.2.3 Xây dựng mô hình và quy trình quản trị rủi ro tác nghiệp 66
3.2.4 Đào tạo nguồn nhân lực quản lý rủi ro 69
3.2.5 Hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý 72
3.2.6 Trang bị phần mềm quản trị rủi ro tác nghiệp 73
3.2.7 Xây dựng và hoàn thiện cơ sỡ dữ liệu quản trị rủi ro tác nghiệp 74
3.2.8 Giải pháp quản trị rủi ro tác nghiệp từ các yếu tố bên ngoài 76
3.2.9 Xây dựng cẩm nang quản trị rủi ro 78
3.3 Giải pháp hỗ trợ từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 80
3.4 Giải pháp phối hợp từ phía khách hàng 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8tăng lợi nhuận cho ngân hàng Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Giải pháp quản
trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt động ngân hàng bán lẻ tại
Vietcombank” để nghiên cứu cho luận văn cao học của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Với mong muốn hình thành một sản phẩm khoa học có giá trị cả về lý luận và thựctiễn trong quản trị rủi ro tác nghiệp nói chung và rủi ro tác nghiệp trong hoạt động ngânhàng bán lẻ nói riêng tại Vietcombank, luận văn hướng đến mục tiêu:
- Hệ thống hóa những cơ sở lý luận cơ bản nhất về quản trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt động ngân hàng bán lẻ
- Phân tích thực trạng hoạt động ngân hàng bán lẻ, các rủi ro tác nghiệp của hoạtđộng ngân hàng bán lẻ và quá trình quản trị rủi ro tác nghiệp tại Vietcombank
- Đề xuất những giải pháp cho Vietcombank trong công tác quản trị rủi ro tác nghiệp hoạt động NHBL
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro tác nghiệp trong hoạt động ngân hàng bán lẻ.
Trang 9-Trang
2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt động ngân hàng bán
lẻ và các rủi ro tác nghiệp trong hoạt động ngân hàng bán lẻ tại Vietcombank
- Mốc thời gian nghiên cứu: 2005 – 06/2010
4 Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, thu thậpthông tin từ các nguồn báo chí, thông tin nội bộ ngân hàng, internet… để phục vụ choquá trình nghiên cứu
Ngoài ra, tác giả còn cố gắng vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duyvật lịch sử, khảo sát thực tiễn từ các NHTM khác để đúc kết kinh nghiệm, làm sáng tỏvấn đề, tìm biện pháp phù hợp cho việc hoàn thiện quản trị rủi ro tác nghiệp hoạt độngngân hàng bán lẻ VCB
5 Ý nghĩa của đề tài
Luận văn đã đi vào thực tiễn quản trị rủi ro tác nghiệp hoạt động ngân hàng bán lẻtại Vietcombank, nêu lên những hạn chế còn tồn tại cũng như khẳng định vai trò quantrọng của việc quản trị rủi ro tác nghiệp đối với hệ thống NHTM Việt Nam vàVietcombank Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp thiết thực góp phần nâng cao, hoànthiện quy trình và vận dụng nó vào tình hình thực tế tại ngân hàng
6. Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu trong 03 chương gồm 79 trang với 5 hình vẽ, 5 biểu đồ, 7 bảng số liệu và 4 phụ lục
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt động ngân hàng bán lẻ
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt động ngân hàng bán lẻ tại Vietcombank
Chương 3: Giải pháp quản trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt động ngân hàng bán lẻ tại Vietcombank
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG BÁN LẺ
1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG BÁN LẺ (NHBL)
1.1.1 Các khái niệm về ngân hàng và ngân hàng thương mại (NHTM)
Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nóichung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng Ngân hàng có thể được địnhnghĩa qua các chức năng mà ngân hàng thực hiện trong nền kinh tế Theo tài liệu vềquản trị ngân hàng thương mại (Commercial Bank Management) do Giáo sư Peter S.Rose biên soạn có đưa ra định nghĩa về ngân hàng theo cách tiếp cận này như sau:
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và ngân hàng thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.”
Trên thế giới khái niệm về ngân hàng thương mại được trình bày khác nhau về cáchdiễn đạt nhưng hầu như tất cả đều có điểm giống nhau về bản chất, chức năng của ngânhàng thương mại :
Ở Mỹ : ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Ở Pháp: ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ nhậntiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hay dưới hình thức khác để thựchiện các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính của ngân hàng
Ở Việt Nam: Khái niệm về ngân hàng được hiểu như sau:
Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày
12/12/1997, khái niệm về ngân hàng thương mại được hiểu là “Ngân hàng là loại hình
tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và các mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm: NHTM, NH phát triển, NH Đầu tư, NH Chính sách, NH hợp tác và các loại hình NH khác”.
Trang 11-Trang
4-“Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán.”
Theo Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 10/07/2009 Quyđịnh về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, có hiệu lực từ 15.09.2009 đã
đưa ra định nghĩa về ngân hàng thương mại là: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng
được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”.
Hoạt động kinh doanh của NHTM gắn liền với các hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, của các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng Với chức năngtrung gian tài chính tín dụng, trung gian thanh toán, trung gian trong thực hiện cácchính sách tiền tệ quốc gia và đặc biệt là chức năng tạo bút tệ hay tiền ghi sổ, NHTMđóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội, góp phần giải quyếtvấn đề vốn cho các tổ chức kinh tế
1.1.2 Các khái niệm về dịch vụ ngân hàng
Cho đến nay, chưa có một khái niệm cụ thể về dịch vụ ngân hàng, mỗi quốc gia cócách hiểu khác nhau về dịch vụ ngân hàng
Theo Tổ chức Thương mại thế giới - WTO, dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảohiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ NH và dịch vụ tài chính khác(ngoài dịch vụ bảo hiểm) Như vậy, dịch vụ NH nằm trong nội hàm của dịch vụ tàichính
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO không nêu khái niệm vềdịch vụ mà liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn Mỗi ngành lớn được chia ra thành cácphân ngành nhỏ (55 phân ngành) và mỗi phân ngành liệt kê các hoạt động dịch vụ cụthể chi tiết (155 phân ngành) Theo GATS, các dịch vụ ngân hàng là: nhận tiền gửi, chovay, cho thuê tài chính, chuyển tiền và thanh toán, thẻ, séc, bảo lãnh và cam kết, muabán các công cụ thị trường tài chính, phát hành chứng khoán, môi giới tiền tệ, quản lýtài sản, dịch vụ thanh toán và bù trừ, cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, dịch
vụ tư vấn và trung gian hỗ trợ tài chính
Như vậy, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành trong dịch vụ tài chính nói
chung
Trang 12Ở Việt Nam cũng chưa có một khái niệm cụ thể nào về dịch vụ ngân hàng TheoLuật các tổ chức tín dụng Việt Nam thì dịch vụ ngân hàng cũng không được định nghĩa
và giải thích một cách cụ thể Tại khoản 1 và khoản 7 điều 20 thì hoạt động kinh doanhtiền tệ và dịch vụ ngân hàng bao gồm 3 nội dung: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cungứng dịch vụ thanh toán nhưng không phân biệt rõ lĩnh vực nào là kinh doanh tiền tệ,lĩnh vực nào là dịch vụ ngân hàng
Theo quan điểm của tác giả “Dịch vụ ngân hàng có thể hiểu là một bộ phận của
dịch vụ tài chính, bao gồm toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối của hệ thống ngân hàng đối với khách hàng là các tổ chức kinh tế và cá nhân.”
Dịch vụ ngân hàng là một trong những nhóm dịch vụ có tiềm năng phát triển lớn, cókhả năng tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho ngân hàng
1.1.3 Các khái niệm về ngân hàng bán lẻ.
Trong các dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng, có thể phân theo nhóm dịch
vụ ngân hàng bán buôn và dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Dịch vụ ngân hàng bán buôn (NHBB) là những dịch vụ ngân hàng dành cho
khách hàng là những định chế tài chính hoặc dịch vụ NH được cung cấp với số lượng
hàng bán lẻ là ngân hàng cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đến tay từng cá
nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lưới chi nhánh Hoặc
khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông qua cácphương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông
Theo tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì ngân hàng bán lẻ là nơi mà khách
hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại các chi nhánh, phòng giao dịch của các ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: tiền gửi tiết kiệm và tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ và một số dịch vụ khác đi kèm…
Qua các cách tiếp cận khác nhau trên, tác giả hiểu khái niệm dịch vụ ngân hàng bán
lẻ như sau: “Dịch vụ NHBL là dịch vụ ngân hàng được cung ứng tới từng cá nhân
riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hay
Trang 13-Trang
6-khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua
phương tiện thông tin viễn thông.
Các ngân hàng cung cấp chủ yếu các dịch vụ đó gọi là ngân hàng bán lẻ.
Đứng góc độ hoạt động ngân hàng, ta có thể đưa ra khái niệm về hoạt động
NHBL như sau:
Hoạt động NHBL là hoạt động cung cấp các sản phẩm dịch vụ chủ yếu của ngân
hàng cho các khách hàng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ gia đình và các cá nhân.
Hoạt động ngân hàng không trực tiếp tạo ra sản phẩm cụ thể nhưng với việc đáp ứngcác nhu cầu về tiền tệ, thanh toán cho khách hàng, ngân hàng đã gián tiếp tạo ra cácsản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế
Bảng 1.1: Phân biệt ngân hàng bán buôn với ngân hàng bán lẻ
- Hoạt động ngân hàng bán buôn cho phép
tài trợ các hoạt động kinh tế thuộc hầu hết
các ngành, các lĩnh vực và trên mọi địa bàn
toàn quốc
- Là một trong những kênh hữu hiệu để tiếp
nhận trợ giúp kỹ thuật quốc tế về xây dựng
chính sách, phát triển nghiệp vụ, công nghệ
quản trị ngân hàng trong nền kinh tế thị
trường
- Khả năng sinh lời của loại hình kinh doanh
này là khá cao nhưng do có số lượng và giá
trị lớn nên mức độ rủi ro cao
1.1.4 Đặc điểm của hoạt động ngân hàng bán lẻ
Hoạt động NHBL hay dịch vụ NHBL có những đặc điểm sau:
Trang 14- Đối tượng cung cấp dịch vụ trong hoạt động NHBL của ngân hàng là cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Số lượng giao dịch lớn nhưng giá trị mỗi giao dịch nhỏ
- Các sản phẩm dịch vụ NHBL cung ứng cho các đối tượng khách hàng phải đadạng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu sản xuất kinh doanh của mọi đối tượng, mọi tầng lớp trong xã hội
- Dịch vụ NHBL đòi hỏi phải xây dựng nhiều kênh phân phối và đa dạng để cung ứng được các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng trên phạm vi rộng
- Dịch vụ NHBL có số lượng khách hàng lớn và giá trị nhỏ nên mức độ rủi ro thấp
và đây là lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế
- Dịch vụ NHBL phần lớn dựa vào công nghệ thông tin hiện đại cho nên có tácdụng tăng cường công tác quản trị tập trung, giúp đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền
tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế; đồng thời giúp cải thiện đờisống dân cư, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt, góp phần tiết kiệm, chi phí và thời giancho cả ngân hàng và khách hàng
1.1.5 Vai trò của NHBL
1.1.5.1 Đối với nền kinh tế
- Vai trò của ngân hàng tác động đến đời sống của mọi người dân, dịch vụ tài chínhngân hàng phát triển sẽ tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn đầu tư vào những vùngtrọng điểm, những ngành trọng tâm, ngành mũi nhọn Nhờ trung gian tài chính này,vốn được phân bổ vốn hiệu quả giữa các ngành, các lĩnh vực thông qua quá trình sànglọc vốn tín dụng, vốn trong nền kinh tế được tập trung vào những khu vực có khả năngsinh lời cao, mang lại nhiều lợi ích
- Phát triển các dịch vụ tài chính ngân hàng sẽ giúp các doanh nghiệp giảm chi phísản xuất kinh doanh, đồng thời sự phát triển này sẽ làm tăng tỷ trọng của ngành dịch vụtrong GDP của nền kinh tế, phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong quátrình hội nhập
- Ngân hàng thương mại ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế bằng cách làm thay đổi
tỷ lệ tiết kiệm và thông qua sự tài trợ vốn cho các doanh nghiệp trong việc mở rộng sảnxuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, mà chủ yếu là đầu tư về công nghệ, nâng cao sứccạnh tranh của doanh nghiệp
- Phát triển các dịch vụ tài chính ngân hàng tạo ra sự cạnh tranh trong nền kinh tế,cạnh tranh giữa những chủ thể đi vay và cho vay Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy
Trang 15-Trang
8-hệ thống tài chính - ngân hàng cạnh tranh và mở cửa là những 8-hệ thống hỗ trợ hiệu quảcho phát triển và tăng trưởng kinh tế Canh tranh giúp hệ thống ngân hàng vững mạnh
và hiệu quả hơn
1.1.5.2 Đối với xã hội
- Phát triển dịch vụ tài chính góp phần cung cấp những sản phẩm tiện ích và an toàncho xã hội như các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán tiền điện,tiền nước, điện thoại bằng thẻ thanh toán tại các máy ATM, trả lương cho nhân
viên qua tài khoản tại ngân hàng…những dịch vụ tiện ích này sẽ mang lại một lợinhuận to lớn cho xã hội, nâng cao trình độ nhận thức của người dân, cung cấp nhữngsản phẩm dịch vụ hiện đại phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và hội nhập vớikinh tế thế giới
- Phát triển các dịch vụ tài chính ngân hàng góp phần phát triển sản xuất, nâng caođời sống của người dân, nền kinh tế được hưởng lợi từ sự cải thiện chất lượng dịch vụvới chi phí hợp lý Từ đó góp phần ổn định chính trị, tạo niềm tin cho nhân dân, khẳngđịnh được vai trò của Đảng trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế đất nước
1.1.5.3 Đối với sự phát triển của hệ thống ngân hàng
- Phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng góp phần thúc đẩy sự phát triển củanền kinh tế, khắc phục độc quyền trong cạnh tranh ngành ngân hàng, tạo ra một hệ thống ngân hàng lành mạnh
- Phát triển các dịch vụ tài chính giúp cho sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong hệthống, các ngân hàng sẽ không ngừng nghiên cứu và cung cấp những sản phẩm
dịch vụ tốt nhất, tiện ích nhất cho người tiêu dùng, từ đó thúc đẩy sự phát triển của cả một hệ thống ngân hàng
- Phát triển dịch vụ ngân hàng góp phần liên kết các ngân hàng với nhau, tạo ranhững tập đoàn tài chính có quy mô vốn lớn, vững mạnh, đảm bảo tính an toàn tronghoạt động kinh doanh, giảm thiểu rủi ro khi có khủng hoảng tài chính, xóa bỏ tình trạngcạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng
1.1.6 Các sản phẩm dịch vụ trong hoạt động ngân hàng bán lẻ
Thành công của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực trong việc xác địnhcác dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệuquả và bán chúng tại một mức giá cạnh tranh
Trang 16Cũng như các ngành kinh tế khác, ngành tài chính ngân hàng cũng phải thườngxuyên tạo ra các loại sản phẩm khác biệt với nhiều tiện ích nhằm thỏa mãn nhu cầu củangười tiêu dùng; nhất là trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ thì việc tạo ra nhiều loại sảnphẩm dịch vụ càng phong phú, đa dạng càng dễ dàng giành ưu thế trong bối cảnh cácngân hàng cạnh tranh gay gắt hiện nay.
1.1.6.1 Sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ truyền thống
* Thực hiện trao đổi tiền tệ: là một trong những hoạt động thường xuyên tại các
NHTM đô thị hiện nay Trao đổi tiền tệ chủ yếu là chuyển đổi ngoại tệ sang Việt Namđồng (VNĐ) hoặc sang một ngoại tệ khác (phục vụ cho mục đích thanh toán theo quyđịnh về ngoại hối) Các ngoại tệ thường được trao đổi như: USD, EUR, GBP, AUD,CAD… Sản phẩm dịch vụ này phát triển mạnh ở các NHTM trên địa bàn TP HCM dođây là thành phố lớn có dịch vụ thương mại, du lịch quốc tế phát triển
* Huy động tiền gửi: Lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư là một trong những kênh
cung ứng lớn và quan trọng cho nền kinh tế Các NHTM huy động vốn bằng các hìnhthức đa dạng, linh hoạt như :
- Tiền gửi thanh toán với các tiện ích không phải sử dụng tiền mặt như chuyển tiềnthông qua việc sử dụng séc, thẻ, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi và các dịch vụ ngân hànghiện đại khác
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn với nhiều loại sản phẩm phong phú,mỗi loại hình lại có nhiều kỳ hạn gửi với mức lãi suất phù hợp nhu cầu của kháchhàng: tiền gửi tiết kiệm bằng VNĐ, USD, EUR, vàng…có dự thưởng hoặc không dựthưởng…
* Sản phẩm tín dụng bán lẻ: bao gồm các loại hình như cho vay tiêu dùng, cho vay
hộ gia đình và cho vay các DNVVN, cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá…
Các NHTM cổ phần là những NHTM đầu tiên tại Việt Nam cho ra đời các sảnphẩm cho vay tiêu dùng, đó là các sản phẩm: cho vay mua xe máy trả góp, cho vaymua các sản phẩm kim khí điện máy trả góp, cho vay tín chấp cán bộ công nhân viên…Qua nhiều năm triển khai các sản phẩm cho vay tiêu dùng, các ngân hàng đã có nhiềucải tiến và phát triển thêm nhiều sản phẩm cho vay tiêu dùng phong phú phù hợp vớinhu cầu của các tầng lớp dân cư trong xã hội như:
- Cho vay trả góp mua xe hơi, xe máy
- Cho vay mua nhà, nền nhà
- Cho vay sinh hoạt tiêu dùng trả góp thế chấp tài sản
Trang 17-Trang
10 Cho vay trả góp sửa chữa, xây dựng nhà, hoán đổi nhà
- Cho vay hỗ trợ du học
- Cho vay mua máy tính trả góp, các vật dụng có giá trị khác
* Cung cấp các tài khoản giao dịch: Giao dịch không dùng tiền mặt được thực hiện
chủ yếu qua giao dịch tài khoản tại các ngân hàng Khách hàng thuộc mọi thành phầnkinh tế đều có thể mở tài khoản giao dịch hay còn gọi là tài khoản thanh toán Số dưtiền gửi trên tài khoản thanh toán hàng tháng được hưởng lãi suất không kỳ hạn
Hiện nay, khách hàng còn được sử dụng các dịch vụ thanh toán (điện, nước, điệnthoại…) và kiểm tra số dư qua internet và qua điện thoại như: dịch vụ InternetBanking, Mobile Banking, Phone Banking ở mọi lúc mọi nơi mà không phải mất thờigian đến ngân hàng
* Cung cấp các dịch vụ ủy thác: Nhằm giúp cho khách hàng tiết kiệm được chi phí
quản lý, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm nhân sự, tạo điều kiện cho mọi người làm quenvới các dịch vụ tài chính ngân hàng, tăng tính chuyên nghiệp của các doanh nghiệp, tổchức, NHTM có các dịch vụ ủy thác như:
- Dịch vụ chi hộ tiền lương: ngân hàng sẽ chi trả tiền lương vào tài khoản của mỗicán bộ-công nhân viên của doanh nghiệp, tổ chức theo danh sách được cung cấp hoặcmột số ngân hàng sẽ đến tận trụ sở doanh nghiệp để thực hiện chi trả lương cho cán
bộ công nhân viên nếu doanh nghiệp có yêu cầu
- Dịch vụ thu hộ tiền mặt: dịch vụ này nhằm phục vụ cho các trường học cần thuhọc phí của học sinh, sinh viên, các công ty cần thu tiền bán hàng từ các cửa hàng,đại lý…
* Bảo quản vật có giá: là một trong những sản phẩm ngân hàng truyền thống, hiện
nay tại các NHTM sản phẩm này được cải tiến dưới dạng sản phẩm dịch vụ kiểmđịnh- giữ hộ vàng Sản phẩm dịch vụ này nhằm đáp ứng nhu cầu cần kiểm định và gửi vàng vào ngân hàng giữ hộ trong thời gian ngắn
1.1.6.2 Sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ hiện đại
* Tư vấn tài chính: Ngày nay các ngân hàng cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài
chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến tư vấn vềcác cơ hội thị trường trong nước và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của họ
* Dịch vụ bảo hiểm
Trang 18Để tạo sự thuận lợi cho khách hàng trong việc sử dụng các sản phẩm dịch vụ tàichính ngân hàng, một số ngân hàng đã kết hợp với các công ty bảo hiểm AIA,Prudential để cung cấp các dịch vụ bảo hiểm qua ngân hàng Cụ thể, khi khách hàngtham gia dịch vụ bảo hiểm của các công ty bảo hiểm trên có thể thanh toán tiền bảohiểm qua ngân hàng hoặc khi khách hàng đến ngân hàng giao dịch sẽ được nhân viêncủa các công ty bảo hiểm cũng như nhân viên ngân hàng giới thiệu và tư vấn các loạihình dịch vụ bảo hiểm.
Ngoài ra, các công ty bảo hiểm cũng kết hợp với các NHTM để tạo ra các dịch vụbảo hiểm phù hợp với ngân hàng Chẳng hạn như khi khách hàng mua bảo hiểm nàyđồng thời cũng là khách hàng đang vay tại ngân hàng thì khi khách hàng không thể trảđược nợ vay, công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả hết khoản nợ còn lại
* Các dịch vụ ngân hàng quốc tế
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng quốc tế bao gồm tất cả các dịch vụ do khách hàng yêucầu liên quan đến thương mại quốc tế, đầu tư, du lịch, du học…, chuyển tiền ra nướcngoài bằng điện (Telegraphic), chuyển tiền bằng Bankdraft, nhờ thu kèm chứng từ,dịch vụ kinh doanh ngoại hối (giao ngay, kỳ hạn, quyền chọn)
*Dịch vụ chuyển tiền nhanh (MoneyGram, Western Union)
Đây là loại dịch vụ thông dụng và hiện đại nhằm giúp cho khách hàng có nhu cầunhận tiền từ thân nhân, bạn bè ở nước ngoài một cách nhanh chóng và an toàn Đặcbiệt, khách hàng không cần có tài khoản tại ngân hàng như các dịch vụ chuyển tiềnkhác mà vẫn có thể nhận được các dịch vụ như thông báo bằng điện thoại miễn phí chongười nhận tiền, thậm chí khách hàng có thể yêu cầu nhân viên ngân hàng giao tiền tậnnhà mà không mất phí
* Dịch vụ thẻ và phát hành thẻ
Dịch vụ thẻ phát triển tạo điều kiện cho NHTM mở rộng hoạt động thanh toán vàhuy động vốn Mỗi thẻ ngân hàng khi phát hành đều phải có số dư nhất định và đượcduy trì thường xuyên, bên cạnh đó ngân hàng còn thu được các loại phí khi khách hàngthực hiện thanh toán Ngoài ra, đối với thẻ tín dụng khách hàng còn phải trả lãi vay khithấu chi, đây là nguồn thu tương đối khá cho các NHTM khi mà ngày càng có nhiềukhách hàng vay tiền qua thẻ tín dụng
*Dịch vụ ngân hàng điện tử
Với nền tảng công nghệ hiện đại, nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử ra đời như: Phone banking, Internet Banking, Mobile banking, Call centre…trong đó, hoạt
Trang 19-Trang
12-động ngân hàng qua điện thoại di 12-động (mobile banking) được các NHTM trên thànhphố phát triển với nhiều tiện ích: cung cấp thông tin về tài khoản qua tin nhắn, tỷ giá,lãi suất, giao dịch chứng khoán…
* Bảo lãnh ngân hàng
Là nghiệp vụ tín dụng không xuất vốn, ngân hàng cấp tín dụng bằng chữ ký đứng
ra bảo lãnh cho khách hàng thực hiện các hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại, tàichính một cách thuận lợi Khi người được bảo lãnh vì lý do nào đó đã không thực hiệnhoặc vi phạm nghĩa vụ của họ thì ngân hàng bảo lãnh phải đứng ra trả thay cho ngườiđược bảo lãnh Hiện nay ngân hàng cung cấp các dịch vụ bảo lãnh như: bảo lãnh vay,bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thứcbảo lãnh ngân hàng khác cho các công ty, cá nhân theo quy định của NHNN
* Quyền chọn mua, bán ngoại tệ
Nhằm mục đích giúp cho khách hàng phòng ngừa rủi ro biến động tỷ giá ngoại tệ,đặc biệt đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu; ngân hàng cung cấp loại dịch vụmới là quyền chọn mua, bán ngoại tệ (Option ngoại tệ) cho các khách hàng là cá nhân
và tổ chức
Đồng tiền giao dịch trong Option ngoại tệ chủ yếu là các ngoại tệ mạnh như: USD,EUR, CHF, GBP…đặc biệt, có thể sử dụng VNĐ là đồng tiền thanh toán trong hợpđồng Option ngoại tệ Quy mô giao dịch của một hợp đồng Option tùy theo thỏa thuận,thời gian giao dịch của mỗi hợp đồng quyền chọn ngoại tệ tối thiểu 3 ngày, tối đa 365ngày
Không phải mọi ngân hàng đều cung cấp nhiều dịch vụ NHBL như danh mục dịch
vụ đã nêu trên, danh mục dịch vụ NHBL đang tăng lên nhanh chóng Nhiều loại hìnhtín dụng và tài khoản tiền gửi mới đang được phát triển, các loại dịch vụ mới như giaodịch qua Internet và thẻ thông minh (Smart) đang được mở rộng Một NHBL có thể cóhàng trăm đến hàng ngàn các loại sản phẩm dịch vụ để phục vụ rất nhiều đối tượngtrong xã hội Tuy nhiên, các ngân hàng càng phát triển nhiều sản phẩm, càng đạt nhiềulợi nhuận thì mức độ rủi ro phát sinh từ hoạt động kinh doanh của NHTM càng nhiều
vì mức lợi nhuận luôn tỉ lệ thuận với độ rủi ro (“high risk, high return”) Vấn đề là làmthế nào để các NHTM nhận diện được rủi ro, chấp nhận nó và tìm cách kiểm soát nó.Vậy rủi ro là gì? Tại sao phải quản trị rủi ro và quản trị rủi ro như thế nào để đạt hiệuquả cao?
Trang 201.2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG NHBL
1.2.1 Các khái niệm về rủi ro:
Theo định nghĩa truyển thống, “Rủi ro là những sự kiện xảy ra có thể làm cho mất
mát tài sản hay làm phát sinh một số khoản nợ.”
Trong kinh doanh ngân hàng “Rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy
ra sẽ dẫn đến những tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so
dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hòan thành một nghiệp vụ tài chính nhất định”
* Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại (NHTM)
Rủi ro rất đa dạng và có thể được phân tích theo nhiều khía cạnh khác nhau Trong phạm vi hoạt động của các NHTM, có một số rủi ro cơ bản sau:
Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàngđối với khách hàng, rủi ro phát sinh khi khách hàng không trả được vốn và lãi cho ngânhàng hoặc trả không đầy đủ các khoản vốn và lãi cho ngân hàng, gây tổn thất cho ngânhàng
Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là tình trạng ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu sử dụngvốn khả dụng (nhu cầu thanh khoản) Tình trạng này nhẹ thì gây thua lỗ, hoạt độngkinh doanh bị đình trệ, nặng thì làm mất khả năng thanh toán dẫn đến ngân hàng phásản
Rủi ro pháp lý
Trang 21-Trang
14-Rủi ro pháp lý là rủi ro liên quan đến những sự cố sai sót trong quá trình hoạt độngkinh doanh làm thiệt hại cho khách hàng và đối tác dẫn đến việc ngân hàng bị khởikiện
Rủi ro tác nghiệp
Rủi ro tác nghiệp là những tổn thất phát sinh do cơ chế vận hành của ngân hàngkhông thích hợp, không tuân thủ đúng các quy trình, quy định nội bộ, nhầm lẫn của conngười, các hành động ngoại vi như lừa đảo, tin tặc, v.v
1.2.2 Khái niệm về rủi ro tác nghiệp
Trong các loại rủi ro trên, loại rủi ro ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động kinhdoanh của NHTM là rủi ro tác nghiệp
Có quan niệm cho rằng rủi ro tác nghiệp là rủi ro hoạt động, nhưng cũng có quanniệm cho rằng rủi ro hoạt động bao trùm tòan bộ các hoạt động của ngân hàng, vàphạm vi rủi ro hoạt động rộng hơn rủi ro tác nghiệp
Rủi ro tác nghiệp (RRTN) là một thuật ngữ đề cập đến rất nhiều loại rủi ro không
liên quan đến thị trường hoặc tín dụng Trong thực tế không có một định nghĩa thốngnhất hay có sự xác định trong một ngành nghề nào chứa đựng được đầy đủ các cấuphần bao trùm toàn bộ RRTN Vì vậy, việc thống nhất một định nghĩa được chấp nhận
về RRTN là rất cần thiết trong ngành Ngân hàng để giúp các định chế tài chính ướctính rủi ro nội bộ và có những biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro một cách hiệuquả
Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng: “rủi ro tác nghiệp là rủi ro gây ra tổn
thất do các nguyên nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt các quy trình, hệ thống; các sự kiện khách quan bên ngoài RRTN bao gồm cả rủi ro pháp
lý nhưng loại trừ về rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín”.
Có thể thấy định nghĩa về rủi ro tác nghiệp mà Uỷ ban Basel đưa ra là tương đối baoquát, mang rất nhiều nội hàm và bao phủ phạm vi rất rộng Chính vì lí do này, mỗingân hàng tuỳ thuộc vào mục tiêu quản lý của mình có thể xây dựng định nghĩa riêng
về rủi ro tác nghiệp trong ngân hàng mình Tuy nhiên Uỷ ban Basel khuyến
Trang 22nghị chung đối với ngân hàng thương mại là dù định nghĩa về rủi ro của mình là gì,điều quan trọng là ngân hàng phải hiểu rõ và nắm vững bản chất của rủi ro tác nghiệp,
vì chỉ có thế ngân hàng mới tự xây dựng cho mình hệ thống kiểm soát rủi ro và phânloại rủi ro có hiệu quả
Trong giới hạn đề tài nghiên cứu và khả năng nghiên cứu, tác giả hiểu rủi ro tác
nghiệp theo khái niệm sau: “Rủi ro tác nghiệp là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián
tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng”.
1.2.3 Khái niệm về quản trị rủi ro
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản trị rủi ro nhưng ta có thể hiểu quản trị rủi ro
là việc sử dụng hệ thống các biện pháp xác định và đo lường rủi ro, lựa chọn và chấp nhận rủi ro, quản lý và kiểm soát rủi ro để thực hiện các quyết định kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu về hiệu quả và an toàn.
Quản trị rủi ro cho phép hoạt động của NHTM hoàn toàn chủ động và mang tínhtích cực dựa trên nguyên tắc đánh đổi giữa rủi ro và thu nhập, ngân hàng sẽ lựa chọnmột cách khoa học các hoạt động kinh doanh với khả năng xảy ra rủi ro ở mức độ vàphạm vi nhất định kèm theo những biện pháp quản lý và kiểm soát mức tổn thất khi rủi
ro xảy ra nhằm đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng Quản trị rủi ro tốt chính là mộtnguồn lợi thế cạnh tranh và là một công cụ tạo ra giá trị, góp phần tạo ra chiến lượckinh doanh hiệu quả hơn
1.2.4 Khái niệm về quản trị rủi ro tác nghiệp
Rủi ro tác nghiệp theo định nghĩa của Basel được xác định dựa trên nguyên nhân
gây rủi ro, như vậy, quản trị rủi ro tác nghiệp cần phải quản trị các nguyên nhân gây rủi
ro tác nghiệp trên các mặt hoạt động của ngân hàng từ nhân sự đến các quy định, quytrình, quy chế, công nghệ và những sự việc có thể xảy mà ngân hàng có thể dự báo…
Quản trị rủi ro tác nghiệp là quá trình ngân hàng tiến hành các bước xác định, đo lường, đánh giá rủi ro tác nghiệp để đưa ra các giải pháp cảnh báo và giảm thiểu rủi
ro, giám sát và kiểm tra quá trình thực hiện các giải pháp này.
Quản trị rủi ro tác nghiệp hiệu quả không có nghĩa là rủi ro không xảy ra mà là rủi
ro có thể xảy ra nhưng xảy ra trong mức độ dự đoán trước và NHTM có thể kiểm soátđược
Trang 23-Trang
16-Quản trị rủi ro tác nghiệp trong những năm gần đây đã trở thành một hoạt động quantrọng đối với các NHTM Mức độ hiện đại hóa đòi hỏi các NHTM phải dựa vào côngnghệ tự động ngày càng phức tạp; phát triển đa dạng hơn các sản phẩm; xu hướng toàncầu hóa, cạnh tranh, mở rộng quy mô, tham gia vào hoạt động mua lại, sáp nhập, hợpnhất
1.2.5 Khái niệm về quản trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt NHBL
Từ nghiên cứu các khái niệm về rủi ro tác nghiệp, quản trị rủi ro tác nghiệp, tác giảđưa ra khái niệm về quản trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt động NHBL như sau:
Quản trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt động NHBL là quá trình ngân hàng tiến hành các hoạt động tác động đến rủi ro tác nghiệp, bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức, xây dựng hệ thống các chính sách, phương pháp quản lý rủi ro để thực hiện quá trình quản lý rủi ro; đó là xác định, đo lường, đánh giá, quản lý, giám sát và kiểm soát rủi
ro tác nghiệp nhằm bảo đảm hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro xảy ra trong quá trình cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho các khách hàng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ gia đình và các cá nhân.
1.2.6 Mục tiêu của quản trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt động NHBL.
Rủi ro tác nghiệp nói chung và rủi ro tác nghiệp trong hoạt động NHBL có thểmang lại những tổn thất rất lớn cho NHTM như: các trách nhiệm pháp lý gây ra choNHTM, tài sản hoặc uy tín của NHTM bị tổn thất hay mất mát, giảm vốn kinh doanh
hay mất vốn, giảm lợi nhuận …Vì vậy, mục tiêu của quản trị rủi ro tác nghiệp nói
chung và quản trị rui ro tác nghiệp trong hoạt động NHBL là:
- Việc quản trị rủi ro tác nghiệp giúp cho ngân hàng ngăn ngừa sự gian lận, duy trì tính chính trực của kiểm soát nội bộ và giảm sai sót trong quá trình giao dịch
- Quản trị rủi ro tác nghiệp nhằm hạn chế và giảm thiểu các chi phí tổn thất có thểxảy ra từ các hoạt động của ngân hàng, bảo vệ uy tín cũng như giúp ngân hàng đạt được những mục tiêu hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả
- Quản trị tốt rủi ro nói chung và rủi ro tác nghiệp nói riêng sẽ giúp giảm nguồn vốn dành để dự phòng rủi ro, tăng thêm nguồn vốn đưa vào hoạt động kinh doanh
1.2.7 Các loại rủi ro tác nghiệp trong hoạt động NHBL
* Rủi ro từ nội bộ ngân hàng
- Rủi ro do cán bộ nhân viên ngân hàng gây nên: Cán bộ ngân hàng thực hiện các
nghiệp vụ, nhiệm vụ không được ủy quyền hoặc phê duyệt vượt quá thẩm quyền chophép; không tuân thủ các quy định, quy trình nghiệp vụ của ngân hàng; có hành vi lừa
Trang 24đảo hoặc hành vi phạm tội, cấu kết với đối tượng bên ngoài gây thiệt hại cho ngân hàng
- Rủi ro do các quy định, quy trình nghiệp vụ: Quy trình nghiệp vụ có nhiều điểm bất
cập, chưa hoàn chỉnh tạo kẻ hỡ cho kẻ xấu lợi dụng gây thiệt hại cho ngân hàng; hayquy trình nghiệp vụ chưa phù hợp gây khó khăn cho cán bộ tác nghiệp trong ngânhàng
- Rủi ro từ hệ thống hỗ trợ: Rủi ro từ công nghệ thông tin (dữ liệu không đầy đủ
hay hệ thống bảo mật thông tin không an toàn), thiết kế của hệ thống không phù hợplàm gián đoạn hệ thống, phần mềm chương trình hỗ trợ cài đặt trong hệ thống lỗi thời,hỏng hóc, không hoạt động ảnh hưởng đến các hệ thống hỗ trợ khác
* Rủi ro do tác động bên ngoài: rủi ro do hành vi lừa đảo, trộm cắp…của các đối
tượng bên ngoài ngân hàng; do các sự kiện tự nhiên (động đất, lũ lụt…) gây thiệt hạicho hoạt động kinh doanh …
Rủi ro tác nghiệp tồn tại trong tất cả các dịch vụ và hoạt động kinh doanh củangân hàng được thể hiện thông qua việc gian lận nội bộ, gian lận từ bên ngoài, lỗi hệthống…mang lại những tổn thất rất lớn cho NHTM như các trách nhiệm pháp lý gây racho NHTM, tài sản hay uy tín của ngân hàng bị tổn thất hay mất mát, giảm vốn kinhdoanh hay mất vốn, giảm lợi nhuận…
Vì vậy, từ các nguyên nhân và ảnh hưởng của rủi ro tác nghiệp, các ngân hàng phảilập kế hoạch ngăn ngừa, phòng chống và giảm thiểu rủi ro tác nghiệp Các sự kiện rủi
ro hoạt động cần được phân tích kỹ lưỡng nguyên nhân và ảnh hưởng, cũng như cáctổn thất, đưa vào cơ sở dữ liệu của NHTM làm cơ sở cho việc quản trị rủi ro tác nghiệptrong tương lai
1.2.8 Nguyên nhân gây rủi ro tác nghiệp trong hoạt động NHBL
Những nguyên nhân chính có thể gây ra rủi ro tác nghiệp trong hoạt động NHBLnhư:
- Con người: Rủi ro tác nghiệp tăng lên cùng với sự tham gia của con người vào hoạt
động khởi tạo, phê duyệt, báo cáo hoặc điều chỉnh một giao dịch Các biểu hiện cụ thểcủa rủi ro tác nghiệp bao gồm hành vi gian lận, lỗi, sự bỏ sót và lạm dụng của nhânviên, nhân viên gian lận, cố ý làm sai, NHTM mất hoặc thiếu nhân lực chủ chốt Ngânhàng càng có nhiều nhân viên, nhiều địa điểm giao dịch và khách hàng thì rủi ro hoạtđộng càng cao
Trang 25-Trang
18 Quy trình: Rủi ro tác nghiệp tăng theo mức độ phức tạp của giao dịch Các quy
trình bao gồm công tác quản trị doanh nghiệp và thẩm quyền từ cấp hội đồng quản trịtới ban điều hành, lãnh đạo các phòng nghiệp vụ và nhân viên Mọi chức năng hay bộphận trong một tổ chức tín dụng (TCTD) - từ việc lập kế hoạch, nhận tiền gửi, huyđộng nguồn lực thông qua tín dụng và các hợp đồng, thỏa thuận; ra quyết định đầu tư,
xử lý giao dịch…đều chịu rủi ro
- Hệ thống: đầu tư công nghệ không phù hợp, lỗi tích hợp từ vận hành hệ thống, lỗ
hỏng an ninh hệ thống
Đứng góc độ rủi ro tác nghiệp là rủi ro hoạt động thì rủi ro này có thể gây nên từ các
yếu tố bên ngoài như: Các vấn đề về cơ sở hạ tầng (bao gồm điện, nước, điện thoại, hệ
thống truyền dữ liệu, giao thông, vận chuyển…), đình công, các thay đổi về pháp lý,chính trị và ngay cả thời tiết khắc nghiệt (thiên tai, thảm họa…) có thể tạo ra hoặc làmtăng thêm các rủi ro cho ngân hàng
1.3 MÔ HÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TẠI NHTM
1.3.1 Các công cụ sử dụng trong Quản trị rủi ro tác nghiệp
Tự đánh giá kiểm soát rủi ro (RCSA –Risk Control Self Assessment) là việc
phát hiện, ưu tiên và đánh giá RRTN
Báo cáo chỉ số rủi ro chính KRI: là những khả năng xảy ra rủi ro, gây ảnh
hưởng đến việc hoàn thành mục tiêu kinh doanh của Ngân hàng Các chỉ số rủi ro có thể là chỉ số hoạt động hoặc chỉ số kiểm soát
Báo cáo sự cố bất ngờ: Nhằm mục đích thông báo kịp thời cho Ban Điều hành
và bộ phận quản lý, để có biện pháp can thiệp , xử lý nếu cần thiết
Phân tích kịch bản: Phác thảo, mô tả hoặc mô hình hóa một chuỗi sự kiện
nghiêm trọng không lường trước
Rà soát và phê duyệt sản phẩm mới: là quá trình phân tích, nhận dạng và
đánh giá các rủi ro có thể phát sinh khi NH đưa vào áp dụng một sản phẩm mới
1.3.2 Quản trị rủi ro tác nghiệp theo các chuẩn mực của Basel II
Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng cũng đã tổng kết 4 vấn đề chính bao hàm 10nguyên tắc vàng trong quản trị RRTN và khuyến nghị các ngân hàng cần thực hiện nhưsau:
Vấn đề thứ nhất: Tạo ra môi trường quản trị rủi ro phù hợp, gồm 3 nguyên tắc
Trang 26- Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị nên được biết rõ các khía cạnh chính của ngânhàng RRTN là loại rủi ro cần được quản lý, đánh giá xem xét định kỳ dựa trên khungquản lý RRTN Khung này cần phải cung cấp một định nghĩa tổng thể cho toàn ngânhàng về RRTN, cũng như các nguyên tắc, cách xác định, đánh giá, giám sát, kiểm soát
và giảm thiểu rủi ro
- Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị phải bảo đảm rằng khung quản trị RRTN của ngânhàng là tùy thuộc vào hiệu quả và toàn diện của kiểm toán nội bộ bởi nhân viên thànhthạo, được đào tạo và hoạt động độc lập Kiểm toán nội bộ không nên trực tiếp chịutrách nhiệm về quản lý RRTN
- Nguyên tắc 3: Quản lý cấp cao phải có trách nhiệm triển khai thực hiện các khungquản lý RRTN được phê duyệt của Hội đồng quản trị Khung phải được triển khai thựchiện nhất quán trong toàn bộ hệ thống ngân hàng và tất cả các nhân viên nên hiểu rõtrách nhiệm của mình với việc quản lý RRTN Lãnh đạo cấp cao cũng nên chịu tráchnhiệm về việc phát triển các chính sách, quy trình và thủ tục để quản lý RRTN trong tất
cả các sản phẩm, các hoạt động, quy trình và hệ thống ngân hàng
Vấn đề thứ hai: Quản trị rủi ro: xác định, đánh giá, giám sát, kiểm soát, gồm 4 nguyên tắc:
- Nguyên tắc 4: Các ngân hàng cần xác định và đánh giá RRTN trong tất cả các rủi rohiện có trong tất cả sản phẩm, hoạt động, quy trình và hệ thống của ngân hàng Cầnphải tuân thủ đầy đủ các thủ tục thẩm định trước khi giới thiệu sản phẩm mới, thựchiện các hoạt động, quy trình và hệ thống
- Nguyên tắc 5: Các ngân hàng nên thực hiện một quy trình để thường xuyên giámsát mức độ ảnh hưởng và tổn thất do RRTN gây ra Cần có báo cáo thường xuyên cholãnh đạo cấp cao và Hội đồng quản trị để hỗ trợ chủ động quản lý RRTN
- Nguyên tắc 6: Các ngân hàng nên có chính sách, quy trình và thủ tục để kiểm soát
và đưa ra chương trình giảm thiểu rủi ro Các ngân hàng nên xem xét lại theo định kỳcác ngưỡng rủi ro và chiến lược kiểm soát và nên điều chỉnh hồ sơ RRTN cho phù hợpbằng cách sử dụng các chiến lược thích hợp với rủi ro tổng thể và rủi ro đặc trưng
- Nguyên tắc 7: Ngân hàng cần phải có kế hoạch duy trì kinh doanh đảm bảo khả năng hoạt động liên tục, hạn chế tổn thất trong trường hợp rủi ro xảy ra bất ngờ
Vấn đề thứ ba: Vai trò của cơ quan giám sát, được thực hiện thông qua hai
nguyên tắc:
Trang 27-Trang
20 Nguyên tắc 8: Cơ quan giám sát ngân hàng nên yêu cầu tất cả các ngân hàng phải
có một khung quản trị RRTN hiệu quả để xác định, đánh giá, giám sát và kiểmsoát/giảm thiểu RRTN như là một phần của phương pháp tiếp cận tổng thể để quản lýrủi ro
- Nguyên tắc 9: Cơ giám giám sát phải chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp thường
xuyên, độc lập đánh giá chính sách, thủ tục và thực tiễn liên quan đến những RRTNcủa ngân hàng Người giám sát phải đảm bảo rằng có những cơ chế thích hợp cho phép
họ biết được sự phát triển của ngân hàng
Vấn đề thứ tư: Vai trò của việc công bố thông tin, gồm một nguyên tắc:
- Nguyên tắc 10: Các ngân hàng cần phải thực hiện công bố đầy đủ và kịp thờithông tin để cho phép những người tham gia thị trường đánh giá cách tiếp cận của họ
để quản lý RRTN
Nếu thực hiện đúng và đủ các nguyên tắc trên, phù hợp với điều kiện thực tế củangân hàng, công tác quản trị RRTN của ngân hàng sẽ đi theo chuẩn mực và thực hiệnđược mục tiêu mà ngân hàng dự kiến
1.3.3 Quy trình quản trị rủi ro tác nghiệp cơ bản
Quản trị rủi ro tác nghiệp là một vấn đề rất mới trong hệ thống quản trị rủi ro củangân hàng nên các cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro tác nghiệp và quản trị rủi ro tácnghiệp trong hoạt động NHBL cũng dựa trên nền tảng Quản trị rủi ro và các quy địnhnhư Hiệp ước Basel II và những áp dụng tiên tiến của các NHTM trên thế giới
Phân tích RRTN là một nguyên tắc cơ bản giúp ngân hàng có thể vượt qua đượcnhững rủi ro đang gặp phải cũng như nhận diện các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra Việcphân tích tốt các loại RRTN sẽ giúp ngân hàng có những hành động cụ thể, cần thiết đểgiảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi đến kết quả kinh doanh Điều đó có ý nghĩa tíchcực để quyết định những chiến lược mà ngân hàng đang sử dụng để kiểm soát rủi ro cócân đối giữa chi phí và hiệu quả mang lại hay không
Để phân tích rủi ro, cần tiến hành một vòng liên hoàn theo 4 bước cơ bản sau:
Trang 28quan trọng rất dễ bị bỏ sót Có nhiều cách khác nhau để tiếp cận rủi ro chẳng hạn như:
-Xem qua danh sách mô tả, nhận định xem điều gì có thể xảy ra
-Suy nghĩ thấu đáo về hệ thống, tô chức, phân tích các rủi ro đối với từng bộ phận
-Nhận định những điểm yếu của tổ chức nếu có thể
-Phỏng vấn nhiều ngưòi để có thể lấy những ý kiến khác nhau
Xác định rủi ro tác nghiệp bao gồm:
Tự đánh giá kiểm soát rủi ro (RCSA):
Một chương trình RCSA thông minh sẽ giúp cho Ngân hàng có thể nắm bắt đượccác rủi ro, kiểm soát, đánh giá các rủi ro thông qua các đơn vị đo lường được Basel tínnhiệm, các đo lường nội bộ mà các Ngân hàng mong đợi và sử dụng chúng để quản lýRRTN tổng thể của Ngân hàng Theo đó, chương trình RCSA có thể bao gồm quá trìnhnhận dạng và đánh giá rủi ro và các biện pháp kiểm soát; thử nghiệm các biện phápkiểm soát và kiểm toán độc lập; thu thập dữ liệu tổn thất nội bộ
Cơ sở dữ liệu RRTN đầy đủ và hoàn thiện là yếu tố rất quan trọng làm nền tảng choquản trị RRTN Nhận thức được điều đó, nhiều ngân hàng đã bắt đầu triển khai việc thuthập dữ liệu RRTN nội bộ, không chỉ thu thập các RRTN mà còn tất cả các lỗi, sai sótRRTN Một số Ngân hàng nước ngoài không dùng cụm từ “ lỗi, sai sót” mà xem chúngdưới dạng các tình huống gần mất (near miss) trong RRTN
Một quy trình xử lý dữ liệu chuẩn hóa là rất cần thiết để ngân hàng có thể có đượcnhững dữ liệu đảm bảo độ chính xác, tin cậy, cho phép đưa ra những đánh giá chínhxác về mức độ rủi ro của ngân hàng mình
Ghi nhận của Kiểm tra, Kiểm soát nội bộ
Ngân hàng theo dõi các ghi nhận của Kiểm tra, Kiểm soát (KTKS), Kiểm toán nội
bộ và giám sát việc thực hiện các yêu cầu, kiến nghị đối với Chi nhánh (CN) màKTKS, Kiểm toán nội bộ, kiểm toán bên ngoài đưa ra.Việc theo dõi, giám sát này nhằmđảm bảo Chi nhánh nghiêm túc tuân thủ, điều chỉnh kịp thời hoạt động của CN theoyêu cầu đã đưa ra.Bên cạnh đó, cũng đối chiếu các sự việc mà kiểm tra, kiểm toán pháthiện được trong quá trình kiểm tra Chi nhánh, với các vụ việc mà CN báo cáo lên.Việcđối chiếu này nhằm đảm bảo tính tự giác, đầy đủ và chính xác trong báo cáo RRTN,cũng như dữ liệu nội bộ về RRTN
1.3.3.2 Đo lường rủi ro
Trang 29-Trang
22-Đo lường rủi ro nhằm đảm bảo cho việc đánh giá của ngân hàng về khả năng xảy
ra và chi phí phải bỏ ra để thiết lập mọi thứ khi rủi ro xảy ra Có thể ghi nhận rủi rothông qua các thẻ điểm, bảng báo cáo sự cố
Đối với quá trình QLRRTN thì quan trọng là phải định lượng được rủi ro ở mức
độ bao nhiêu để tính ra mức vốn tối thiểu mà Ngân hàng cần để trang trải cho rủi ro đó
Do vậy, sẽ không thể quản lý và kiểm soát được rủi ro một cách hiệu quả nếu không đolường được mức độ rủi ro
RRTN được đặc trưng bởi tần suất và mức độ ảnh hưởng Do đó, việc đo lườngRRTN cần hướng tới xác định được tần suất và mức độ ảnh hưởng của từng loại rủi roRRTN trong Ngân hàng, từ đó bản đồ hóa các RRTN Dựa trên bản đồ rủi ro, Ngânhàng có thể phân nhóm và quản lý tập trung các loại RRTN có cùng mức độ ảnh hưởng
và tần suất, đề ra các biện pháp xử lý tương ứng với tần suất và mức độ ảnh hưởng củanhóm RRTN đó
1.3.3.3 Giám sát rủi ro
Giám sát rủi ro cần thực hiện một cách nghiêm túc công tác phân tích nhằm tạothuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát cũng như quá trình thử nghiệm sự hữu hiệu của hệthống và kế hoạch
Để thực hiện giám sát RRTN, Ngân hàng phải có hệ thống báo cáo RRTN hiệu quả.Báo cáo RRTN phản ánh việc thu thập, phân tích, đánh giá vá phân phối thông tin rủi
ro cho các bộ phận tương ứng, xuyên suốt toàn bộ ngân hàng Các nội dung báo cáobao gồm khuynh hướng tổn thất, xếp hạng từ việc đánh giá rủi ro, xếp hạng theo cácchỉ số rủi ro chính, vốn kinh tế hay vốn điều lệ; thông qua các thông tin về nguy cơ tổnthất, đánh giá rủi ro, phân tích mô phỏng rủi ro và các chỉ số rủi ro chính Báo cáo cóthể thực hiện định kỳ hoặc báo cáo sự cố bất ngờ
1.3.3.4 Quản lý và giảm thiểu rủi ro
Quản lý rủi ro cần chọn ra những phương pháp QTRRTN có hiệu quả về mặt chiphí; sử dụng hiệu quả các công cụ hiện có, cải tiến những phương pháp hiện hành,những thay đổi về mặt trách nhiệm, những đổi mới trong kiểm soát nội bộ; lập kếhoạch đối phó với những rủi ro bất ngờ; đầu tư vào các nguồn lực mới
Từ cơ sở dữ liệu RRTN, các ngân hàng xây dựng Đường phân phối tổn thất, trên cơ
sở đó xác định các biện pháp quản lý và giảm thiểu rủi ro
Quản lý và giảm thiểu rủi ro gồm:
Các chiến lược kiểm soát rủi ro
Trang 30Việc giảm thiểu rủi ro có thể đạt được thông qua các kỹ thuật phòng, tránh, chuyển, thay thế Có thể khái quát các kỹ thuật này thành 4 nhóm chiến lược:
Các chiến lược giảm ảnh hưởng hoặc giảm khả năng xảy ra (ví dụ cải thiện hiệu quả KSNB, đào tạo nhân viên)
Chiến lược phòng ngừa rủi ro- Phát triển các thủ tục và đào tạo để đảm bảo quy trình được thực thi chính xác
Chiến lược chuyển giao rủi ro (thông qua các hợp đồng bảo hiểm)
Chiến lược tránh rủi ro (ví dụ ngừng hoạt động, bán các hoạt động kinh doanh)
Kế hoạch kinh doanh liên tục (Kế hoạch dự phòng kinh doanh)
Ngân hàng cần chuẩn bị cho mình các phương án dự phòng để có thể phản ứng kịpthời khi có các sự cố hay thảm họa bất ngờ xảy ra Các NHTM lớn trên thế giới thườngxây dựng hẳn cho mình một Bộ phận chuyên trách về lập kế hoạch và thực hiện quản líkinh doanh liên tục, quản lý khủng hoảng Các thủ tục phản ứng khẩn cấp ngay khi có
sự cố xảy ra, cũng như quy trình xử lý tiếp theo đều được lên kế hoạch từ trước Cácyêu cầu về tài chính, về nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, dữ liệu sao lưu… thậm chí cảphương án kinh doanh thay thế cũng đều được hoạch định sẵn sàng trên phạm vi toànngân hàng
Hoạt động QTRRTN được tiến hành theo quy trình như sau :
Xác định rủi ro
-Tự đánh giá rủi ro & kiểm soát -Ghi nhận kiểm toán nội bộ/ độc lập -Quy trình rà soát sản phẩm mới
Quản lý rủi ro
- Thực hiện kế hoạch giảm thiểu
tự đánh giá rủi ro và kiểm soát
- Theo dõi các ghi nhận kiểm toán
- Phản ứng các dấu hiệu cảnh báo
trên báo cáo chỉ số rủi ro chính
Trang 31Hình 1.1: Quy trình quản trị rủi ro tác nghiệp cơ bản
Trang 321.4 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP
1.4.1 Kinh nghiệm của một số NHTM trên thế giới
Rất nhiều ngân hàng trên thế giới đã áp dụng các biện pháp quản trị rủi ro tác nghiệpngay sau khi Basel II có hiệu lực như:
- Hơn 50% ngân hàng ở Tây Ban Nha đã thực hiện đổi mới hoạt động và tổ chứcnhằm mục tiêu quản trị rủi ro tác nghiệp như: thành lập một bộ phận riêng biệt chuyên
về rủi ro tác nghiệp, đổi mới hệ thống báo cáo và áp dụng công nghệ hiện đại
- Một số ngân hàng sử dụng tối đa nguồn lực từ bên ngoài để quản trị rủi ro tácnghiệp như: ING Group thuê IBM để quản trị rủi ro tác nghiệp Citibank sử dụng phầnmềm CLS (continuous linked settlement) thực hiện quản trị rủi ro tác nghiệp theo cáctiêu chuẩn và chính sách rủi ro và kiểm soát trên cơ sở tự đánh giá rủi ro; hoạt độngcủa các phòng ban, đơn vị kinh doanh được xác định, đánh giá thường xuyên; từ đó cácquyết định điều chỉnh và sửa đổi hoạt động để giảm thiểu rủi ro tác nghiệp được đưa ra.Các hoạt động này được tài liệu hóa và công bố trong ngân hàng Các chỉ số đo lườngrủi ro chính được xác định kỹ lưỡng và cụ thể - và đấy là điều kiện để Citibank thựchiện quản trị rủi ro tác nghiệp
- Khung quản trị rủi ro tác nghiệp cũng được vận dụng một cách linh hoạt cho phùhợp với điều kiện của từng quốc gia, từng ngân hàng Ngân hàng DBS (Singapore)
đã cụ thể hóa khung quản trị trên như sau: Các rủi ro tác nghiệp được phân tích trên haigiác độ là tần suất xuất hiện và mức độ tác động Từ đó, DBS xác định cách thức tổchức và xây dựng các chương trình giảm thiểu các mức rủi ro tác nghiệp như: kiểmsoát nội bộ, bảo hiểm quốc tế Tại DBS, các công cụ và kĩ thuật quản trị rủi ro tácnghiệp được sử dụng như kiểm soát tự đánh giá, quản lý sự kiện, phân tích rủi ro vàbáo cáo
Trang 33-Trang
25-Mất mát không mong đợi Mất mát mong đôi
Tần suất xh cao Tác động thấp
Hình 1.2: Khung quản trị rủi ro hoạt động của ngân hàng DBS
Xây dựng khung quản trị rủi ro tác nghiệp phù hợp
Đối với NHTM, tất cả các cấp từ hội đồng quản trị, ban tổng giám đốc, và tất cảcác nhân viên đều phải nhận thức được tầm quan trọng của rủi ro tác nghiệp Hội đồngquản trị phải thuê tư vấn xây dựng khung quản trị rủi ro tác nghiệp phù hợp cho ngânhàng của mình và môi trường kinh doanh Trong đó, hai vấn đề chủ chốt cần
Trang 34được đầu tư là: Xây dựng và hoàn thiện chiến lược cho quản trị rủi ro tác nghiệp, hoànthiện cấu trúc quản trị rủi ro tác nghiệp, đặc biệt là cấu trúc tổ chức Chiến lược quảntrị rủi ro tác nghiệp thường bao gồm các vấn đề sau đây:
+ Xác định RRHĐ và nhận biết các nguyên nhân gây rủi ro tác nghiệp
+ Mô tả hồ sơ rủi ro (ví dụ: các rủi ro chính của các quy trình quản lý phụ thuộc vàoquy mô, sự phức tạp của hoạt động kinh doanh)
+ Mô tả về các trách nhiệm quản lý rủi ro hoạt động vào tổng thể quản lý rủi ro nói chung của ngân hàng
Về vấn đề cấu trúc quản trị rủi ro tác nghiệp, NHTM cần thành lập, hoàn thiện ủyban quản lý rủi ro riêng biệt, trong đó rủi ro tác nghiệp là một bộ phận Bộ máy giámsát rủi ro của ngân hàng cần hoạt động độc lập, không tham gia vào quá trình tạo rủi ro,
có chức năng quản lý, giám sát rủi ro
Xây dựng ý thức về quản trị rủi ro tác nghiệp
Lựa chọn các lĩnh vực ưu tiên để thiết lập các chốt kiểm soát về rủi ro tác nghiệp.Tất cả các nhân viên trong ngân hàng cần được đào tạo để hiểu biết và tham gia tự xácđịnh rủi ro tác nghiệp, xác định nguyên nhân, đánh giá trong tất cả các rủi ro hiện cótrong tất cả sản phẩm, hoạt động, quy trình và hệ thống của ngân hàng
Đối với mỗi quá trình hoạt động, phân tích độ lớn tác động của rủi ro (xét về mặt sốtiền bị mất, tổn thất khác gây ra cho ngân hàng…) và khả năng (xét về mặt số lượng sựcố) cho mỗi lần trong 4 nguyên nhân xảy ra rủi ro hoạt động, từ đó thu thập cơ sở dữliệu tổn thất
Xây dựng ngân hàng dữ liệu về rủi ro tác nghiệp
Các NHTM nên nhanh chóng xây dựng các quy trình hướng dẫn để thu thập thêmcác thông tin tổn thất và sử dụng công nghệ hiện đại trong phân tích, xử lý rủi ro tácnghiệp Nếu có điều kiện, tối ưu hóa công nghệ hiện đại để phân tích, đánh giá và xử lýrủi ro tác nghiệp
Tăng cường đối thoại, giao lưu, hợp tác quốc tế chia sẻ thông tin tổn thất
Các NHTM nên tham gia các tổ chức bên ngoài, tăng cường đối thoại với ngânhàng bạn, ngân hàng Nhà nước để chia sẻ thông tin tổn thất Ngân hàng Nhà nước,Hiệp hội Ngân hàng và các NHTM nhanh chóng hiện thực hóa các khuyến nghị đã đưa
ra trong Hội thảo của Ngân hàng Nhà nước tháng 1/2009 về rủi ro tác nghiệp về việcthành lập ngân hàng dữ liệu chung của rủi ro tác nghiệp, tránh tình trạng giấu thông tin
về rủi ro tác nghiệp như hiện nay tại các NHTM
Trang 35-Trang
27- Hạn chế tối đa nguyên nhân gây ra RRTN từ các yếu tố bên trong NHTM như
con người, quy trình, hệ thống Các chính sách quản trị nhân lực cần hướng tới mục
tiêu xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cao, đạo đức nghề nghiệp tốt; các quytrình nghiệp vụ cần được rà soát thường xuyên, hoàn thiện hóa, tránh quá cứng nhắc và
có lỗ hỏng
Xây dựng các phương án, đưa ra tình huống để sẵn sàng đối phó cũng như
khắc phục kịp thời hậu quả do các lỗi truyền thông, thiên tai, hoả hoạn gây ra rủi ro tácnghiệp Giải pháp cơ bản cho việc đưa ra quyết định lựa chọn thay thế là: công nhận rủi
ro hiện hữu, chuyển đổi rủi ro cho bên thứ ba (ví dụ thông qua bảo hiểm); tránh rủi robằng cách ngừng các hoạt động kinh doanh; giảm thiểu rủi ro hoạt động bằng đo lườngcác rủi ro khác (chẳng hạn như mở rộng của hệ thống kiểm soát, giới thiệu về côngnghệ thông tin cho hệ thống tự động nhận dạng sai sót) Những biện pháp này được bổsung liên tục nhằm hạn chế tổn thất và tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiếp tục kinhdoanh trong trường hợp không ngăn chặn được rủi ro
Chương 1 đã nghiên cứu những cơ sở lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tác nghiệptrong hoạt động ngân hàng bán lẻ như: Khái niệm, vai trò, đặc điểm của hoạt độngngân hàng bán lẻ, các khái niệm về rủi ro, rủi ro tác nghiệp và quản trị rủi ro tác nghiệptrong hoạt động ngân hàng bán lẻ Trong chương này, tác giả cũng nêu được mục tiêucủa quản trị rủi ro và mô hình quản trị rủi ro theo các chuẩn mực quốc tế của Basel II.Đây chính là nền tảng cho luận văn đi vào phân tích thực trạng quản trị rủi ro tácnghiệp tại Vietcombank trong chương sau Đồng thời, chương này đã đưa ra một sốkinh nghiệm của các nước trên thế giới về quản trị rủi ro tác nghiệp để các NHTM ViệtNam có thể học hỏi, rút kinh nghiệm trong công tác quản trị rủi ro tác nghiệp hoạt độngNHBL trong thời gian tới
Trang 36CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT
ĐỘNG NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIETCOMBANK
2.1 GIỚI THIỆU VỀ NHTMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM (VIETCOMBANK) 2.1.1 Giới thiệu khái quát về NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam
NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam chính thức hoạt động theo mô hình ngân hàng
cổ phần từ ngày 2 tháng 6 năm 2008 (theo giấy phép thành lập và hoạt động NHTMCPngày 23/05/2008 của NHNN Việt Nam và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở
Kế hoạch và Đầu tư TP.Hà Nội cấp lần đầu ngày 2/6/2008) sau khi thực hiện thànhcông kế hoạch cổ phần hoá thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúngngày 26/12/2007
Tiền thân là Cục Quản lý Ngoại hối và là một trong những NHTM nhà nước lớnđược thực hiện các hoạt động đối ngoại đầu tiên và lâu đời nhất của Việt Nam (từ ngàythành lập – 01.04.1963), trải qua hơn 47 năm xây dựng và phát triển, Vietcombankluôn giữ vững vị thế là nhà cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnhvực thương mại quốc tế; trong các hoạt động truyền thống như kinh doanh vốn, huyđộng vốn, tín dụng, tài trợ dự án…cũng như mảng dịch vụ ngân hàng hiện đại như:kinh doanh ngoại tệ và các công cụ phái sinh, dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử…Vietcombank đang chiếm lĩnh thị phần đáng kể tại Việt Nam trong nhiều lĩnh vực kinhdoanh khác nhau như: cho vay (10%), tiền gửi (12%), thanh toán quốc tế (23%), thanhtoán thẻ (55%)…Với thế mạnh về công nghệ Vietcombank là ngân hàng tiên phongtrong việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng vàkhông ngừng đưa ra các sản phẩm dịch vụ điện tử nhằm “đưa ngân hàng tới gần kháchhàng” như dịch vụ Internet banking,VCB-Money (Home banking), SMS banking,Phone banking…
Từ một ngân hàng chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, Vietcombank ngày nay
đã phát triển rộng khắp toàn quốc với mạng lưới bao gồm 1 Hội sở chính tại Hà Nội, 1
Sở giao dịch, hơn 300 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc, 3 công ty con tạiViệt Nam, 1 công ty con tại Hồng Kông, 4 công ty liên doanh, 3 công ty liên kết và 1văn phòng đại diện tại Singapore Bên cạnh đó VCB còn phát triển một hệ thống ngânhàng tự động với 11.183 máy ATM và điểm chấp nhận thanh toán thẻ
Trang 37Bằng những định hướng đúng đắn và những nỗ lực phấn đấu không ngừng,Vietcombank đã giữ vững vị trí là một trong những NHTM lớn của Việt Nam, sẵn sàngcho cuộc hành trình nhìn ra biển lớn với hàng loạt các giải thưởng đạt được trong nướccũng như quốc tế.
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của VCB từ năm 2005 - 06/2010 Trong
những năm gần đây, tình hình thị trường trong và ngoài nước có nhiều diễn
biến phức tạp, mặc dù năm 2009 và 2010 có chuyển biến tích cực hơn so với năm 2008nhưng vẫn còn không ít khó khăn Trước những biến động đó, hoạt động kinh doanhcủa Vietcombank trong suốt thời gian qua cũng không tránh khỏi bị ảnh hưởng Tuynhiên, với sự nỗ lực của toàn hệ thống, Vietcombank đã đạt được những kết quả khảquan, thể hiện ở một số chỉ tiêu tăng trưởng sau:
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu hoạt động của Vietcombank từ 2005 đến 06/2010
(Nguồn: Báo cáo thường niên các năm của NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam
và báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2010 của VCB)
Trang 382.1.2.1 Về tổng tài sản
Năm 2005, tổng tài sản của Vietcombank là 136.456 tỷ đồng thì đến cuối năm 2009tổng tài sản đã tăng lên hơn 87% là 255.496 tỷ đồng, tuy nhiên 6 tháng đầu năm 2010tổng tài sản của VCB tụt xuống vị trí thứ tư trong nhóm các ngân hàng đứng đầu dotổng tài sản tăng trưởng âm - đạt 249.029 tỷ đồng Với mức tài sản hiện có, cho thấyVCB là một trong những ngân hàng có quy mô lớn cũng như tiềm lực tài chính mạnhtrong hệ thống các NHTM Việt Nam hiện nay Điều này có thể minh chứng qua bảng2.2
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ tổng tài sản của Vietcombank 2005 -06/2010
(Nguồn: Báo cáo thường niên của các ngân hàng từ năm 2005-2010
và báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2010 của VCB)
Trang 39-Trang
31-2.1.2.2 Vốn huy động
Tổng vốn huy động của Vietcombank đã tăng lên từ 108.313 tỷ đồng trong năm
2005 đến 169.457 tỷ đồng vào năm 2009 Điều này khẳng định sự lớn mạnh khôngngừng của Vietcombank trong 5 năm qua dù phải đối mặt với nhiều biến động của thịtrường vốn và sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM
Cùng với chính sách lãi suất linh hoạt, sự đa dạng về các sản phẩm huy động vốn, VCBvẫn duy trì được trạng thái thanh khoản ổn định, đồng thời còn hỗ trợ vốn tích cực vàkịp thời cho các ngân hàng khác, giúp bình ổn hệ thống ngân hàng và đảm bảo gia tănglợi nhuận kinh doanh vốn cho VCB
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ tăng trưởng vốn huy động
Trang 40khác có tốc độ tăng mạnh có thể đe dọa vị trí hiện nay của VCB, cho thấy đang có sựcạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng Nguyên nhân là do vai trò độc quyền củaVietcombank đã giảm và niềm tin về sự an toàn tiền gửi tại các NHTMCP đã tăng lên;sản phẩm huy động chưa có sự khác biệt với các ngân hàng khác…
2.1.2.3 Đánh giá tốc độ tăng trưởng lợi nhuận ròng
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ lợi nhuận ròng của VCB từ năm 2005- 06.2010
Nhìn vào biểu đồ, ta thấy rõ sự phát triển vượt bậc của Vietcombank, lợi nhuận ròng
từ 1.293 tỷ đồng vào năm 2005 đã tăng tới 205% (tương ứng tăng 2.652 tỷ đồng), đạt3.945 tỷ vào năm cuối 2009 Tuy lợi nhuận của Vietcombank vào năm 2007 có giảm sovới năm 2006 một phần lý do là vào năm 2007 Vietcombank chính thức IPO lần đầu racông chúng, nhưng lợi nhuận ròng vào các năm tiếp theo của Vietcombank là 2.728 tỷđồng vào năm 2008, 3.945 tỷ đồng vào năm 2009 và dự đoán 4.209 tỷ đồng vào năm
2010 Nỗ lực này không chỉ do tập thể cán bộ công nhân viên mà còn phải kể đến cácđối tác và khách hàng trung thành với Vietcombank trong suốt chặng đường vừa qua
Trong quá trình hình thành và phát triển, Vietcombank không ngừng cải tiến các sảnphẩm mới nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất Trong tương lai không
xa, khách hàng có thể sử dụng các sản phẩm ngân hàng tiên tiến nhất như hệ thốngthanh toán điện tử 24/24, dịch vụ ngân hàng Internet, dịch vụ ngân hàng tại nhà, ngânhàng điện thoại,…
Với bối cảnh lợi nhuận và khó khăn đan xen, Vietcombank luôn nỗ lực hoàn thànhthắng lợi hầu hết các chỉ tiêu kinh doanh, giữ được nhịp độ tăng trưởng ổn định và duytrì vị trí ngân hàng thương mại Nhà nước hoạt động hiệu quả nhất; luôn hướng