Nguyên nhân là do cơ chế KSQL đối với BTVHU chưa được thực hiện tốt, sự kiểm soát của các chủ thể và sự giám sát, phản biện, góp ý xây dựng Đảng, xâydựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc
Trang 1HÀ NỘI - 2020
Trang 2Mã số: 9 31 02 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS Lâm Quốc Tuấn
HÀ NỘI - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng và được trích dẫn đúng quy định.
TÁC GIẢ
Cù Huy Khang
Trang 4MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
6
ĐẾN CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC
1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan
đến đề tài luận án và những vấn đề luận án sẽ tập trung nghiên cứu 31
Chương 2: CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỐI VỚI BAN THƯỜNG VỤ
HUYỆN ỦY VÙNG ĐÔNG NAM BỘ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
34
THỰC TIỄN
2.1 Khái quát các huyện, đảng bộ huyện, huyện ủy và ban thường vụ
2.2 Cơ chế kiểm soát quyền lực đối với ban thường vụ huyện ủy vùng
Đông Nam bộ - khái niệm, nội dung và vai trò 44
Chương 3: CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỐI VỚI BAN THƯỜNG VỤ
HUYỆN ỦY VÙNG ĐÔNG NAM BỘ - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN
71
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.1 Thực trạng cơ chế kiểm soát quyền lực đối với ban thường vụ huyện
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ
THỰC HIỆN TỐT CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỐI VỚI BAN
THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY VÙNG ĐÔNG NAM BỘ HIỆN NAY 1174.1 Dự báo những nhân tố tác động và phương hướng thực hiện cơ chế
kiểm soát quyền lực đối với ban thường vụ huyện ủy vùng Đông Nam bộ
4.2 Những giải pháp để thực hiện tốt cơ chế kiểm soát quyền lực đối với
ban thường vụ huyện ủy vùng Đông Nam bộ hiện nay 125
Trang 5HĐND : Hội đồng nhân dân
KSQL : Kiểm soát quyền lực
KT, GS : Kiểm tra, giám sát
MTTQ : Mặt trận Tổ quốc
NNPQ : Nhà nước pháp quyền
UBKT : Ủy ban kiểm tra
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử xã hội loài người là lịch sử của đấu tranh giai cấp Bản chất củađấu tranh giai cấp là vấn đề giành, giữ quyền lực Quyền lực luôn có hai mặt.Quyền lực được sử dụng với mục đích tốt, vì lợi ích cộng đồng, vì lợi ích của đại
đa số Quyền lực cũng có thể được sử dụng nhằm mưu lợi cho một số cá nhânlàm tổn hại tới lợi ích chung của cộng đồng Nhưng kể cả quyền lực được sửdụng vì mục đích tốt đẹp thì kết quả vẫn còn phụ thuộc vào cách thức sử dụngquyền lực là đúng hay sai Do đó, cơ chế kiểm soát quyền lực (KSQL) là tất yếukhách quan nhằm hạn chế, ngăn ngừa việc sử dụng quyền lực không đúng,không đầy đủ
“Đảng ta là một đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm
nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư Phải giữ
gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thậttrung thành của nhân dân” [64, tr.611 - 612] Trải qua hơn 90 năm xây dựng vàtrưởng thành, Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam đã, đang xứng đáng là người lãnhđạo nhân dân đấu tranh giành, giữ nền độc lập dân tộc; từng bước quá độ lên chủnghĩa xã hội (CNXH) Tuy nhiên, ngày nay khi thế giới phẳng, đất nước hội nhậpngày càng sâu vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội toàn cầu thì tráchnhiệm của Đảng ngày càng nặng nề Điều đó yêu cầu Đảng ta càng phải quyết liệthơn trong công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo vàsức chiến đấu của Đảng Vì vậy KSQL trong Đảng là tất yếu Điều 4, Hiến phápnăm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam quy định: “ĐảngCộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giámsát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.Các tổ chức của Đảng và đảng viên ĐCS Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiếnpháp và pháp luật” Trong những năm qua, cách thức tổ chức, hoạt động và thực thiquyền lực của các tổ chức đảng và đảng viên
Trang 7cơ bản thực hiện tốt Điều lệ Đảng, các quy định của Đảng, Hiến pháp và phápluật Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng đảm bảo đáp ứng nhiệm
vụ của từng giai đoạn cách mạng Nhưng bên cạnh đó còn có một số vấn đề đặt
ra trong việc thực thi và sử dụng quyền lực chưa đúng, chưa đầy đủ ở một số tổchức đảng, một số đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý các cấp Điều này đãđược Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI của Đảng chỉ rõ:
Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiềunơi rơi vào hình thức, do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mốiquan hệ giữa tập thể và cá nhân, khi sai sót, khuyết điểm không ai chịutrách nhiệm Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõtrách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu cónhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, tạo kẽ hở cho cách làm việctắc trách, trì trệ, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầulợi ích cá nhân [20];
“Việc phân định thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ công tác củangười đứng đầu với tập thể cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa rõ ràng; Tổchức bộ máy còn cồng kềnh, chồng chéo, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả Cơchế kiểm soát quyền lực chậm được hoàn thiện, còn nhiều sơ hở” [21] Nhữnghạn chế, yếu kém nêu trên nếu không được ngăn ngừa sẽ là thách thức đối vớivai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ
Ban thường vụ huyện ủy (BTVHU) là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ họpcủa Ban Chấp hành (BCH) đảng bộ huyện; có chức năng lãnh đạo, chỉ đạo, kiểmtra, giám sát (KT, GS) việc thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ; nghị quyết, chỉthị, quy định, quyết định, kết luận của cấp ủy cấp minh và cấp trên; quyết địnhchủ trương về công tác tổ chức, cán bộ theo thẩm quyền; quyết định triệu tập vàchuẩn bị nội dung các kỳ họp của cấp ủy; đề xuất, kiến nghị với cấp ủy cấp mình
và cấp tỉnh những vấn đề có liên quan đến sự lãnh đạo, chỉ đạo Vì vậy, vai tròcủa BTVHU là vô cùng quan trọng, quyết định tới sự thành công công tác xâydựng Đảng và sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện
Trang 8Đông Nam bộ (ĐNB) là khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam cũng như cảnước Trong thời gian qua, việc thực thi quyền hạn và trách nhiệm của BTVHUvùng ĐNB cơ bản đảm bảo đúng trách nhiệm và quyền hạn được giao, thúc đẩy quátrình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng, đảm bảo các nguyêntắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần chonhân dân Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng sử dụng quyền lực không đúng, không đầy
đủ dẫn đến mất đoàn kết trong nội bộ tổ chức đảng, giảm sút niềm tin của quầnchúng nhân dân vào sự lãnh đạo của tổ chức đảng, quản lý của chính quyền địaphương Nguyên nhân là do cơ chế KSQL đối với BTVHU chưa được thực hiện tốt,
sự kiểm soát của các chủ thể và sự giám sát, phản biện, góp ý xây dựng Đảng, xâydựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thể chính trị - xã hội,của nhân dân chưa chặt chẽ; chưa có sự phân định rõ vai trò, trách nhiệm của cácchủ thể trong cơ chế KSQL đối với BTVHU hiện nay
Để góp phần giải quyết vấn đề cấp thiết về lý luận và thực tiễn nêu trên,
nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Cơ chế kiểm soát quyền lực đối với ban thường vụ huyện ủy vùng Đông Nam Bộ giai đoạn hiện nay” để thực hiện đề tài luận án tiến
sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2 1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế KSQL đối vớiBTVHU vùng ĐNB; đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân, luận án đề xuấtnhững giải pháp nhằm thực hiện tốt cơ chế KSQL đối với BTVHU vùng ĐNBgiai đoạn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế KSQL đối với BTVHU vùng ĐNB trong giai đoạn hiện nay
- Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng cơ chế KSQL đối với
BTVHU vùng ĐNB từ năm 2010 đến nay
Trang 9- Đề xuất phương hướng và những giải pháp thực hiện tốt cơ chế KSQL đối với BTVHU vùng ĐNB giai đoạn hiện nay.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu cơ chế KSQL đối với BTVHU vùng ĐNB giai đoạn hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: cơ chế KSQL là một phạm trù rộng, có nhiều góc độ nghiên
cứu khác nhau, chứa đựng những vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn.Luận án chỉ tập trung nghiên cứu cơ chế KSQL đối với BTVHU vùng ĐNB vàđưa ra những phương hướng, giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt cơ chế KSQLđối với BTVHU giai đoạn hiện nay
Về thời gian: thời gian nghiên cứu, khảo sát từ năm 2010 đến nay Các
giải pháp luận án đề xuất có giá trị đến năm 2030
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Từ kết quả điều tra, khảo sát của tác giả đối với các huyện vùng ĐNB
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp chuyên ngành và liên ngành, cụ thể:kết hợp lôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, tổng kết thựctiễn, điều tra xã hội học
Trang 10-5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn cơ chế KSQL đối với BTVHU vùng ĐNB giai đoạn hiện nay
- Đưa ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt cơ chế KSQL đối với BTVHU vùng ĐNB trong thực tiễn:
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể về cơ chế KSQL
đối với BTVHU vùng ĐNB
Hai là, phát huy vai trò tự kiểm soát của BTVHU.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế KSQL đối với BTVHU
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được cấp ủy các cấp ở vùng ĐNB vận dụng vào công tác xây dựng Đảng
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu ở
hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các trường chính trị tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục cáccông trình tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án và phục lục, luận ángồm 4 chương, 9 tiết
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về quyền lực, sự phân chia và kiểm soát quyền lực
Sujian Guo, Chinese Politics and Government: Power, Ideology and Organization (Chính trị của Trung Quốc và Chính phủ: Quyền lực, tư tưởng và
tổ chức) [134] Trong hai thập kỷ qua, Trung Quốc đã thực hiện chính sách cải
cách, mở cửa, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và chính sách đối ngoại ngày càngquyết đoán đã có tác động chưa từng có ở khu vực và toàn cầu Cuốn sách luậnbàn những vấn đề cơ bản về chính phủ và chính trị ở Trung Quốc cũng như khảnăng để khám phá những mô hình chung, tác động, và bản chất của sự liên tục vànhững thay đổi trong chính trị Trung Quốc Qua đó có thể hiểu, phân tích vàđánh giá các vấn đề lớn trong chính trị Trung Quốc, bao gồm: các phương pháp
cơ bản và những tranh luận về lý thuyết trong nghiên cứu của chính trị TrungQuốc; cấu trúc, quy trình, chức năng và đặc điểm của hệ thống chính trị củaTrung Quốc, chẳng hạn như tư tưởng, chính trị, pháp luật, xã hội, kinh tế vàchính sách đối ngoại; các tác động của sức mạnh tư tưởng và tổ chức trên cáclĩnh vực khác nhau của xã hội Trung Quốc Cơ cấu, quy trình và các yếu tố trongquá trình đề ra chính sách đối ngoại của Trung Quốc Cho dù Trung Quốc là một
“đối tác chiến lược” hoặc “mối đe dọa tiềm năng” của Hoa Kỳ
Tác giả William Storey, US Government and Politics (Chính phủ Hoa Kỳ
và Chính trị) [119] Cuốn sách phân tích liệu Chính phủ Mỹ có giữ lời hứa của
mình trong việc cung cấp tự do và bình đẳng về cơ hội cho tất cả Bắt đầu vớiHội nghị Lập hiến nơi ý tưởng về khuôn khổ của Chính phủ sơ khai được hìnhthành; xem xét các cơ chế được tạo ra nhằm ngăn chặn việc lạm dụng quyền lựctrước khi phân tích những phương thức mà các chi nhánh bầu cử của Chính phủthực thi quyền lực ở nước Mỹ hiện đại
Trang 12Vương Hiểu Thăng, Quyền lực chính trị và sự trao đổi quyền lực: Suy nghĩ của Jürgen Habermas về kết cấu quyền lực trong nhà nước dân chủ [131].
Jürgen Habermas cho rằng, vấn đề của nhà nước pháp trị chủ nghĩa tư bản hiệnđại là quyền lực chính trị trở thành một hệ thống xã hội độc lập, tự sắp xếp, tựphục vụ, khiến cho tính hợp lý, hợp pháp của nhà nước pháp trị bị chia tách Đểthay đổi tình trạng này thì cần phải làm cho quyền lực chính trị có được chế ướctrao đổi quyền lực Loại quyền lực chính trị này có thể được tạo ra từ sự chuyểnhóa của việc trao đổi quyền lực, đồng thời cũng nhận được sự chế ước của traođổi quyền lực Sự trao đổi quyền lực này không chỉ bao gồm trao đổi quyền lựccủa chế độ hóa mà còn bao hàm trao đổi công cộng trong cuộc sống Trong xãhội hiện đại, loại trao đổi này sẽ thay đổi kết cấu của quyền lực chính trị: thu hẹpquyền lực chính trị và mở rộng sự trao đổi quyền lực
Trịnh Kiện, Phân tích sự đổi mới hệ thống chính trị dưới góc nhìn quyền lực chính trị, [125] Theo tác giả, trung tâm của hệ thống chính trị đó là vấn đề
quyền lực, trên thực tế cải cách hệ thống chính trị là sự điều chỉnh của sự phân
bố quyền lực chính trị Một mặt, trong nội bộ hệ thống chính trị thực hiện sựphân công hợp tác hợp lý và chế ước có hiệu quả giữa các quyền lực chính trị.Một mặt khác, ở ngoài hệ thống chính trị thực hiện sự hợp tác và tương tác giữaquyền lực chính trị với cơ chế thị trường và xã hội công dân Diễn biến logic củaquá trình phân chia quyền lực là cơ sở để cải cách, đổi mới hệ thống chính trị,đồng thời đề ra những phương hướng chỉ đạo Để đổi mới hệ thống chính trịthông thường có một số hình thức phân bổ quyền lực sau đây: đó là tập quyền,thụ quyền, phân quyền và trao trả quyền lực Đây là bài viết có hàm lượng khoahọc khá công phu của tác giả đánh giá, phân tích về vấn đề đổi mới hệ thốngchính trị dưới góc nhìn của quyền lực
Lý Phi Diệu, Trương Đông, Lưu Minh Hưng, Kết cấu quyền lực chính trị với
sự tăng trưởng kinh tế địa phương: ảnh hương lâu dài của thời kỳ chiến tranh cách mạng Trung Quốc [120] Nội dung bài viết phân tích tình trạng phân bố
Trang 13quyền lực chính trị trong thực tế của các địa phương trong thời kỳ chiến tranhcách mạng Trung Quốc, đồng thời chỉ rõ những đặc trưng kết cấu thời kỳ này đã
có những ảnh hưởng lâu dài đối với sự tăng trưởng kinh tế sau này của TrungQuốc Bài viết đã tiến hành khảo sát 29 thành phố trong những năm 1952-2008
và thu được kết quả thể hiện rõ là mối quan hệ giữa quyền lực chính trị thực tế ởcác địa phương và thể chế danh nghĩa trung ương có ích cho việc giải thích thayđổi động thái giữa các địa phương có sự phát triển chênh lệch nhau Quyền lựcchính trị thực tế của các địa phương có xu hướng nghiêng về cán bộ cơ sở vàquần chúng địa phương thì có tốc độ phát triển kinh tế trong những năm 50, 60của thế kỷ 20 thể hiện rõ sự thấp hơn với những địa phương khác, những từnhững năm 70 trở đi, cùng với quyền lực thực tế của trung ương bị suy yếu thì
nó cũng bắt đầu phát triển nhanh hơn những khu vực khác
David J Samuels, Matthew S Shugart, Presidents, Parties, and Prime Ministers: How the Separation of Powers Affects Party Organization and Behavior, (Tổng thống, các đảng phái và Thủ tướng: Sự phân chia quyền lực có ảnh hưởng như thế nào đến hành vi và tổ chức đảng) [114] David J Samuels và
Matthew S Shugart đã cung cấp khung lý thuyết được sử dụng để phân tích sựbiến đổi trong mối quan hệ giữa tổng thống, các đảng phái và thủ tướng thôngqua các nền dân chủ trên thế giới Đồng thời làm sáng tỏ những phương thứcquan trọng trong đó sự phân chia quyền lực làm thay đổi tổ chức và hành vi - kéotheo sự thay đổi về bản chất của đại diện dân chủ và trách nhiệm giải trình Đây
là một công trình nghiên cứu cung cấp những gợi ý quan trọng trong quá trìnhnghiên cứu cơ chế kiểm soát quyền lực ở Việt Nam hiện nay
Gisela Sin, Separation of Powers and Legislative Organization: The President, the Senate, and PoliticalParties in the Making of House Rules (Sự phân chia quyền lực và tổ chức lập pháp Tổng thống, Thượng viện, các đảng chính trị trong việc hình thành các quy tắc) [115] Tác phẩm xem xét các yêu
cầu hiến pháp ảnh hưởng như thế nào đến quá trình soạn thảo luật, cũng như sựảnh hưởng của các phe phái trong đảng đến sự phân chia quyền lực Thông qua
Trang 14việc xem xét những quy tắc chính thay đổi từ năm 1879-2013, tác giả phân tíchnhững quyền ưu tiên của các chủ thể hiến pháp bên ngoài tổ chức thay đổi nhưthế nào, cũng như sự sắp xếp chính trị của họ trong mối quan hệ giữa các đảngphái và dự đoán thời gian thay đổi quy tắc và các loại nguyên tắc áp dụng.
Huy Minh Tuyền, So sánh và phân tích hai hình thái giám sát chính trị
[133] Trong hoạt động chính trị của nhân loại tồn tại hai hình thái giám sátchính trị khác nhau Hình thái giám sát chính trị thứ nhất là phân quyền và cânbằng quyền lực chính trị theo chiều ngang Hình thái giám sát chính trị thứ hai làphân quyền và cân bằng quyền lực chính trị theo chiều dọc Hình thái là khácnhau, nhưng mục đính giám sát chính trị như nhau, chúng lại có cơ chế giám sátchính trị không giống nhau, hai hình thái có ưu điểm và nhược điểm riêng Quanghiên cứu của tác giả đã cho chúng ta cái nhìn thấu đáo về các phương thứcKSQL hiện nay ở Việt Nam
Trình Kim Phúc, Sự thay đổi kết cấu của quyền lực truyền thông và quyền lực chính trị ở Trung Quốc đương đại - Từ góc độ phân tích về xã hội học chính trị [129] ĐCS Trung Quốc lần đầu tiên nêu ra chức năng mới “giám sát dư luận”
của truyền thông phá vỡ mô hình kết cấu phụ thuộc đơn nhất giữa quyền lựctruyền thông và quyền lực đảng (chính trị) trong khái niệm “thuyết tiếng nói” Sựphá vỡ này đã xây dựng tính hợp pháp ban đầu về quyền lực truyền thông giámsát quyền lực đảng (chính trị) ở Trung Quốc đương đại Nhưng sau khi bị phá vỡ,giữa quyền lực truyền thông và quyền lực chính trị vẫn chưa xây dựng được mốiquan hệ mang tính kết cấu một cách rõ nét, mới mẻ, vì thế dẫn đến phát sinh mâuthuẫn và xung đột giữa hai bên quyền lực trong thực tiễn giám sát dư luận củabáo chí truyền thông Sự nổi lên của hàng loạt bài báo bóc mẻ nạn tham nhũngcũng đang phản ánh sự bất ổn định trong quan hệ kết cấu giữa quyền lực truyềnthông và quyền lực chính trị
La Đại Mông, Bàn về tính hợp pháp của quyền lực chính trị [128] Tính
hợp pháp của quyền lực chính trị trong nền chính trị dân chủ hiện đại được xâydựng trên cơ sở tự thừa nhận và phục tùng giữa khách thể quyền lực chính trị và
Trang 15chủ thể quyền lực chính trị, điều này có lợi cho sự ổn định và phát triển các mốiquan hệ quyền lực chính trị, thực hiện một cách hiệu quả sự kêu gọi toàn xã hội,nhằm đạt được hiệu quả tối đa về quyền lực chính trị, từ đó đảm bảo ổn định trật
tự xã hội Hiện nay, do niềm tin chính trị, tinh thần công bằng, chính nghĩa trongquần chúng nhân dân bị giảm sút, hiện tượng tham nhũng chính trị ngày càng giatăng, tiến trình chính trị dân chủ gặp nhiều khó khăn, dẫn đến tính hợp pháp củaquyền lực chính trị gặp phải không ít thách thức Vì vậy, để gây dựng lại tínhhợp pháp của quyền lực chính trị, cần phải tăng cường tuyên truyền giáo dụchình thái ý thức, xây dựng quyền lực từ niềm tin, chú trọng phát triển cân đốikinh tế khu vực, thực hiện chính nghĩa công bằng, ngăn chặn tham nhũng chínhtrị, đưa quyền lực chung trở thành duy trì lợi ích chung, tăng cường xây dựngdân chủ, thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa ở Trung Quốc
Hứa Trung Minh, Mâu thuẫn giữa quyền lực chính trị và quyền lợi của nhân dân [127] Quyền lực chính trị và quyền lợi của nhân dân là nội dung quan
trọng của việc giải phóng tư tưởng Quyền lực chính trị và quyền lợi của nhândân đều có lịch sử hình thành lâu đời Một mặt, quyền lợi của nhân dân là nguồngốc tính hợp pháp của quyền lực chính trị, quyền lực chính trị lại là sự đảm bảocủa quyền lợi nhân dân Mặt khác, trong quá trình vận động, cả hai thường nảysinh mâu thuẫn “Tính cứng” của quyền lực chính trị thường xuyên xâm lấn “tínhmềm” của quyền lợi nhân dân Kìm hãm sự bành trướng của quyền lực chính trị,bảo vệ quyền lợi của nhân dân là sự đảm bảo mạnh mẽ nhằm thúc đẩy tiến trìnhhiện đại hóa ở Trung Quốc là vấn đề tác giả chỉ ra cần phải giải quyết kịp thời
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lực của đảng chính trị
Trần Tiểu Quỳnh, Cơ chế giám sát quyền lực trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng [130] Trong cuộc chiến chống tham nhũng, ĐCS Trung Quốc luôn
đề cao việc xây dựng cơ chế giám sát quyền lực Trong cơ chế giám sát quyềnlực, ĐCS Trung Quốc đã xây dựng hàng loạt các cơ chế nghiêm ngặt như: chế độ
KT, GS; chế độ đãi ngộ giám sát; chế độ làm việc công khai; chế độ giám sát
Trang 16của dư luận… Đây đều là những cơ chế đã phát huy tác dụng quan trọng trongcuộc đấu tranh chống tham nhũng, tuy nhiên việc xây dựng hệ thống cơ chế giámsát quyền lực vẫn còn thiếu tính hệ thống và một tầm nhìn xa Bài viết cũng nêulên những bài học kinh nghiệm trong việc giám sát quyền lực: xây dựng chínhquyền trong sạch; đề cao giám sát dân chủ và sự giám sát của dư luận; trong đócần đặc biệt coi trọng sự giám sát của quần chúng nhân dân là một bộ phận cấuthành quan trọng của giám sát dân chủ.
Vương Khải Vỹ, Một số vấn đề tồn tại và đối sách cho cơ chế giám sát
quyền lực ở Trung Quốc hiện nay [137] Từ khi cải cách đến nay, cơ chế giám sát
quyền lực của ĐCS Trung Quốc đã phát huy tác dụng to lớn và đạt được nhữngthành tựu đáng kể trong công cuộc chống tham nhũng và làm trong sạch, vữngmạnh Đảng Tuy nhiên cơ chế giám sát hiện nay vẫn luôn là một vấn đề khá yếukém trong thể chế chính trị, vì vậy cần không ngừng đổi mới và hoàn thiện cơ chếgiám sát quyền lực để có thể phòng và chống tận gốc tham nhũng, tiêu cực Bài viếtnêu lên một số vấn đề tồn tại trong cơ chế giám sát quyền lực của ĐCS Trung Quốcbao gồm: (1) chưa có vị trí và tính độc lập tương xứng; (2) tác dụng của việc giámsát dân chủ chưa được phát huy; (3) phương thức vận hành còn đơn giản, công nănggiám sát vẫn chưa được hoàn thiện; (4) trong các hoạt động giám sát còn tồn tại hiệntượng “chân không” Để khắc phục những tồn tại trên theo tác giả cần: (1) thay đổiquan niệm về giám sát quyền lực truyền thống; (2) xây dựng cơ chế tổng hợp vàhoàn chỉnh hệ thống giám sát quyền lực; (3) tăng cường công tác lập pháp; (4) xâydựng cơ chế giám sát quyền lực bên ngoài đa dạng, có hiệu quả
Trương Kim Văn, Bàn về sự cấu thành cơ chế giám sát quyền lực [136].
Theo tác giả, chống tham nhũng hiện nay đang là vấn đề chính trị hết sức quantrọng mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt Trung Quốc là mộtnước lớn đang phát triển và đang trong thời kỳ chuyển đổi xã hội, hiện tượngtham nhũng ngày càng gia tăng với nhiều mức độ nghiêm trọng và tinh vi hơn
Vì vậy nếu không kiên quyết chống tham nhũng thì mối quan hệ máu thịt giữaĐảng và nhân dân sẽ bị tổn hại nghiêm trọng; vai trò, vị trí lãnh đạo của Đảng
Trang 17cũng bị nguy hại và có thể dẫn đến sụp đổ Do đó xây dựng cơ chế giám sátquyền lực có hiệu quả là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng Bài viết phân tíchcác chủ thể cấu thành cơ chế quyền lực, bao gồm (1) sự giám sát của cơ quanquyền lực nhà nước; (2) sự giám sát của cơ quan hành chính; (3) sự giám sát luậtpháp chuyên môn của cơ quan kiểm soát và hội đồng KT, GS vi phạm kỷ luậttrong Đảng; (4) sự giám sát của quần chúng nhân dân; (5) sự giám sát của dưluận, cơ quan truyền thông Nội dung cụ thể của cơ quan giám sát quyền lực gồm(1) sự bố trí, phân bổ quyền lực khoa học, hợp lý; (2) chủ thể quyền lực giám sáttheo pháp luật (3) vận hành giám sát, khống chế quyền lực theo pháp luật (4) bãinhiệm sử dụng quyền lực theo pháp luật.
Cao Bái Huyên, Vương Tiểu Ngọc, Tham nhũng trong quyền lực chính trị
và việc hoàn thiện cơ chế giám sát ở Trung Quốc [124] Từ góc độ kinh tế học,
cho rằng quyền lực gây ra tham nhũng là không thể tránh khỏi Việc ban hành cơchế giám sát một cách hiệu quả đối với quá trình thực thi quyền lực là cực kỳquan trọng Đồng thời bài viết kết hợp nêu hiện trạng tham nhũng hiện nay ởTrung Quốc và đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện cơ chế giám sát quyềnlực một cách hiệu quả, khoa học, để việc thực thi quyền lực có sự ràng buộc hợp
lý, được vận hành trên quỹ đạo quy phạm, đảm bảo quyền lực cung cấp các dịch
vụ liêm khiết và hiệu quả cho xã hội và sự phát triển kinh tế
Vương Hạo, Một số suy nghĩ về việc hoàn thiện cơ chế giám sát quyền lực Trung Quốc hiện nay [123] Bài viết phân tích tính tất yếu của việc giám sát
quyền lực bao gồm: (1) sự thiếu hụt, không hoàn thiện của nhân tính; (2) nhằmthực hiện yêu cầu đảm bảo quyền lợi của nhân dân; (3) yêu cầu khách quan củaviệc phát triển kinh tế thị trường Từ đó tác giả nêu lên một số vấn đề còn tồn tạitrong việc giám sát quyền lực ở Trung Quốc: (1) giám sát trong nội bộ Đảngchưa cao; (2) tác dụng giám sát của Nhân Đại chưa được thể hiện đầy đủ Vì vậycần phải thực hiện một số điểm sau để hoàn thiện cơ chế giám sát quyền lực: (1)kiện toàn việc chế ước lẫn nhau giữa quyền quyết sách, quyền hành chính vàquyền giám sát, đồng thời điều tiết kết cấu quyền lực và cơ chế vận hành; (2) yêu
Trang 18cầu chủ thể giám sát chế ước cần có năng lực giám sát và động lực giám sát đểhoàn thiện cơ chế giám sát trong Đảng; tăng cường thẩm tra, giám sát, hoàn thiện
cơ chế trách nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo…
Dương Nhân Trung, Lĩnh vực công và việc xây dựng cơ chế giám sát dân chủ ở Trung Quốc đương đại [132] Mặc dù lĩnh vực công là một lối nói lý
thuyết của xã hội phương Tây, nhưng nó trở nên phổ biến trong việc nghiên cứucác vấn đề Trung Quốc đương đại Xét về tác dụng đối với xã hội xã hội chủnghĩa (XHCN) hài hòa, lĩnh vực công là một lực lượng xã hội quan trọng và cơchế hiệu quả nhằm giám sát quyền lực công của nhà nước Nó giám sát quyềnlực chính trị nhà nước thông qua việc chuyển đổi “quyền lực giao tiếp” đượchình thành từ “dân chủ lời nói” thành quyền lực hành chính, từ đó thúc đẩy sựphát triển dân chủ chính trị ở Trung Quốc
Ti Điềm, Nghiên cứu cơ chế giám sát quyền lực trong bối cảnh văn minh chính trị [122] Không có giám sát quyền lực thì không có văn minh chính trị.
Việc tăng cường nghiên cứu cơ chế giám sát quyền lực trong bối cảnh văn minhchính trị là một tiêu chí quan trọng lý tính hóa nhận thức về quyền lực chính trị.Giám sát quyền lực hợp lý là sự đảm bảo quan trọng trong việc vận hành hiệuquả quyền lực công, văn minh chính trị và chuyển đổi mô hình xã hội đề ra yêucầu cao cho việc vận hành quyền lực Trong cơ chế giám sát quyền lực hiện hành
ở Trung Quốc còn tồn tại nhiều vấn đề như: sắp xếp quyền lực không hợp lý,ranh giới giữa quyền lợi và trách nhiệm không rõ ràng, nhiều chủ thể giám sátnhưng quyền uy không mạnh, quy trình không được quy phạm.v.v Cần phải sắpxếp quyền lực một cách tối ưu, công khai vận hành quyền lực, xây dựng quytrình vận hành quyền lực quy phạm, kiện toàn hệ thống giám sát dân chủ, kiên trì
“Dĩ pháp trị quyền”, tăng cường cơ chế ràng buộc đạo đức để xây dựng cơ chếgiám sát quyền lực, thúc đẩy sự phát triển văn minh chính trị ở Trung Quốc
You Xin Hua, Thử bàn về việc hoàn thiện cơ chế giám sát quyền lực trong Đảng [138] Tăng cường sự giám sát quyền lực trong Đảng là một trong những bài học kinh nghiệm quan trọng trong việc xây dựng ĐCS Trung Quốc.
Từ khi
Trang 19tiến hành công cuộc cải cách đến nay, ĐCS Trung Quốc đã đạt được nhữngthành tựu quan trọng trong việc giám sát quyền lực trong Đảng, tuy nhiên vẫntồn tại không ít hiện tượng tham ô, tham nhũng, đòi hỏi ĐCS Trung Quốc cầntăng cường hơn nữa giám sát quyền lực trong Đảng và hoàn thiện cơ chế giámsát quyền lực trong Đảng để đảm bảo tính trong sạch và tiên tiến của Đảng Bàiviết nêu lên những nguyên tắc hoàn thiện cơ chế giám sát quyền lực trong Đảng(1) tính khoa học, (2) tính hiệu quả, (3) nguyên tắc “lấy quyền trị quyền” Phântích mối quan hệ cần phải xử lý trong việc hoàn thiện cơ chế giám sát quyền lựctrong Đảng bao gồm mối quan hệ giữa chủ thể giám sát và khách thể giám sát;mối quan hệ giữa các chủ thể giám sát Ngoài ra, bài viết cũng nêu lên muốnhoàn thiện cơ chế giám sát quyền lực thì cần thiết phải tăng cường đào tạo, bồidưỡng ý thức giám sát của đảng viên.
Liang Gang, Bàn về lý luận và thực tiễn tư tưởng giám sát quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc từ đại hội 18 đến nay [126] Từ đại hội 18 đến nay,
ĐCS Trung Quốc luôn tìm tòi, nghiên cứu sâu rộng vấn đề làm thế nào để quản
lý quyền lực, sử dụng quyền lực trong điều kiện mới Bất luận là những sáng tạo,phát triển trong lý luận hay sự tìm tòi, kiểm nghiệm trong thực tiễn thì bản chấtcủa việc nghiên cứu này đều để phục vụ cho việc định hình những tư tưởng giámsát quyền lực của ĐCS Trung Quốc trong bối cảnh thời đại mới Bài viết tậptrung nghiên cứu những tư tưởng về giám sát quyền lực của ĐCS Trung Quốc từĐại hội 18 đến nay cũng như phân tích ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nó, từ đótổng hợp, quy nạp những nội dung chủ yếu trong tư tưởng giám sát quyền lựchiện nay của ĐCS Trung Quốc; tổng kết những giá trị lý luận và thực tiễn để từ
đó đề xuất những nguyên tắc trong việc KT, GS quyền lực
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lực
Trần Ngọc Đường & cộng sự (2010), Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam [28].
Trên cơ sở làm rõ lý luận về phân công, phối hợp và KSQL nhà nước trong lịch
Trang 20sử nhân loại, nhất là trong nhà nước tư sản; xây dựng lý luận về phân công, phốihợp và KSQL trong xây dựng nhà nước pháp quyền (NNPQ) XHCN Việt Nam:Tính tất yếu khách quan, bản chất, đặc điểm của phân công, phối hợp và KSQL
ở nước ta, nghiên cứu đã làm rõ thực trạng phân công, phối hợp và KSQL nhànước trong các thời kỳ: thời kỳ Hiến pháp năm 1946; thời kỳ Hiến pháp năm1959; thời kỳ Hiến pháp năm 1980; thời kỳ Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi một sốđiều năm 2001) đến nay Trên cơ sở đó, chỉ ra những mặt được, chưa được,những nguyên nhân của những hạn chế yếu kém trong phân công, phối hợp vàKSQL ở nước ta Từ đó, xây dựng hệ thống các quan điểm, nhận thức lý luận vềviệc tiếp tục đẩy mạnh việc phân công, phối hợp KSQL nhà nước giữa Đảng cầmquyền và nhà nước, giữa nhân dân và nhà nước và giữa các bộ phận cấu thànhbên trong của quyền lực nhà nước trong xây dựng NNPQXHCN Việt Nam; đềxuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện việc việc phân công, phối hợp và KSQLnhà nước giữa Đảng cầm quyền và nhà nước, giữa nhân dân và nhà nước và giữacác bộ phận cấu thành bên trong của quyền lực nhà nước trong xây dựng NNPQXHCN Việt Nam Đặc biệt, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp, chắt lọc đưa ra cáckiến nghị liên quan trực tiếp đến phân công, phối hợp và KSQL nhà nước trongmối quan hệ với các chủ thể cấu thành hệ thống chính trị nước ta trong xây dựngNNPQ XHCN Việt Nam, phục vụ cho việc bổ sung và phát triển Cương lĩnhnăm 1991 và soạn thảo các Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng
Võ Thành Khối, Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế [55] Kết quả nghiên cứu của đề tài đã bổ sung lý
luận về NNPQ XHCN Việt Nam do ĐCS Việt Nam lãnh đạo trên cơ sở phân tíchkinh nghiệm từ một số quốc gia có nền kinh tế phát triển; xác định những yêucầu, nội dung, nguyên tắc và đặc trưng của NNPQ XHCN Việt Nam do ĐCSlãnh đạo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; mốiliên hệ giữa Nhà nước, thị trường và doanh nghiệp; đánh giá thực trạng xây dựngNNPQ XHCN Việt Nam qua gần 30 năm đổi mới, đặc biệt là giai đoạn từ năm
Trang 212001 - sửa đổi Hiến pháp năm 1992 - đến nay (việc ghi nhận, bảo đảm quyền conngười; về chế độ bầu cử, tính chính đáng của cách thức tổ chức quyền lực trongđiều kiện một Đảng duy nhất lãnh đạo, mối liên hệ giữa các quyền năng lậppháp, hành pháp, tư pháp, giữa trung ương với địa phương để góp phần hoàn
thiện hơn chế độ bầu cử và đề xuất mô hình tổ chức quyền lực phù hợp; dự báo
những nguy cơ tiềm ẩn của các yếu tố kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế cóthể tác động đến quá trình xây dựng NNPQ XHCN giai đoạn 2011-2020, tầmnhìn đến 2030; Đề xuất các quan điểm và giải pháp về xây dựng NNPQ XHCNViệt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế theo lộtrình cụ thể cho giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030
Đào Trí Úc với cuốn sách Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [107].
Cuốn sách là công trình nghiên cứu công phu, luận giải và làm rõ vai trò củanhân dân trong việc giám sát các hoạt động của Đảng và bộ máy Nhà nước cùngcác thiết chế tổ chức trong hệ thống chính trị Từ vấn đề lý luận, tác giả đã chỉ rathực trạng về việc giám sát của nhân dân và việc giám sát các hoạt động của cácthiết chế trong hệ thống chính trị ở Việt Nam trong thời gian qua Từ nhữngnghiên cứu của mình, tác giả đã đề xuất những quan điểm, yêu cầu, mục tiêu,nguyên tắc bảo đảm sự giám sát của nhân dân Trong đó, xác định các cơ chếhoạt động, các căn cứ pháp lý để nhân dân thực hiện hiệu quả việc giám sát đốivới hoạt động của Đảng và Nhà nước trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCNcủa nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Lê Minh Quân, Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân [74] Trong công trình nghiên cứu của
mình, tác giả đã luận giải vấn đề cơ chế tổ chức và vận hành của thể chế ở nước
ta là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ Đây được xem là
cơ chế để đảm bảo quyền lực luôn thuộc về Nhân dân Tuy nhiên theo tác giả, đểđảm bảo cơ chế này cần phải KSQL thông qua những kênh khác nhau, đó là,phải thực hiện tự kiểm soát, kiểm soát từ bên trong và kiểm soát từ bên ngoài,
Trang 22trong đó, kiểm soát từ bên ngoài là kiểm soát thông qua chuẩn mực đạo đức, dưluận xã hội và sử dụng công cụ truyền thông đại chúng Nếu thực hiện đồng bộcác giải pháp này thì mới có thể bảo đảm nhân dân là người chủ quyền lực, nhândân mới có động lực, ý thức góp phần xây dựng đất nước.
Lê Hữu Nghĩa, Bùi Đình Bôn, Thẩm quyền và trách nhiệm của đảng cầm quyền và nhà nước trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân [66] Cuốn sách
góp phần tìm hiểu, nhận thức một cách sâu sắc về vấn đề thẩm quyền và tráchnhiệm của Đảng cầm quyền và nhà nước trong thực hiện quyền lực của nhândân Cuốn sách đề cập đến bốn nội dung chính sau: cơ sở lý luận và thực tiễn đểxác định thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng cầm quyền và Nhà nước trongviệc thực hiện quyền lực của nhân dân; thẩm quyền và trách nhiệm của Đảngcầm quyền và Nhà nước ta trong hơn 20 năm đổi mới - thực trạng, nguyên nhân
và vấn đề đặt ra; xác định tính chất, phạm vi thẩm quyền và trách nhiệm củaĐảng, Nhà nước trong một số lĩnh vực trọng yếu; quan điểm và giải pháp đểnâng cao hiệu quả thẩm quyền, tăng cường trách nhiệm của Đảng và Nhà nướctrong việc thực hiện quyền lực của nhân dân; quyền lực nhà nước là dạng quyềnlực xã hội đặc biệt, có tính bắt buộc thực hiện đối với mọi chủ thể trong xã hội.Trên thực tế, để KSQL nhà nước có hiệu lực và hiệu quả đòi hỏi phải nghiên cứu
và nắm rõ những vấn đề cơ bản nhất về quyền lực (làm sáng tỏ quyền lực củaĐảng, quyền lực của nhà nước, quyền lực của nhân dân)
Mai Trung Hậu, Ngô Hoan, “Vết xe đổ” và bài học kinh nghiệm [37] là
công trình nghiên cứu chuyên sâu về thực tiễn vấn đề sử dụng quyền lực và thựchiện quyền lực của ĐCS Liên Xô trong quá trình lãnh đạo đất nước xây dựngXHCN Qua công trình nghiên cứu của mình tác giả đã tập trung hai nội dungchính: nội dung thứ nhất tác giả đã trình bày nguyên nhân sâu xa và nguyên nhântrực tiếp dẫn tới sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô; Nội dung thứ hai tác giả trìnhbày những bài học kinh nghiệm về xây dựng Đảng; bài học về lấy dân làm gốc;bài học về vận dụng quy luật khách quan và phát huy vai trò của nhân tố chủquan; bài học về xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị của dân, do dân vì
Trang 23dân… Qua phân tích nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô tác giả đã chothấy các khía cạnh của việc sử dụng quyền lực và cách thức KSQL kém hiệuquả, không hợp lý là một trong những nguyên nhân dẫn đến “trận động đất chínhtrị” ở Liên Xô.
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lực trong Đảng Cộng sản Việt Nam
Lê Hồng Liêm, Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với phòng chống tham nhũng ở nước ta hiện nay [58] Công trình đã trình bày cơ sở lý luận về
phòng chống tham nhũng và công tác KT, GS, thực trạng công tác KT, GS củaĐảng đối với việc phòng chống tham nhũng thời gian qua và những giải pháp cơbản tăng cường công tác KT, GS nhằm phòng chống tham nhũng có hiệu quảđến năm 2020 Theo tác giả, bản chất của tham nhũng gắn liền với quyền lựcchính trị, là sự tha hóa quyền lực để thực hiện lợi ích cá nhân hoặc của một nhómngười làm phương hại đến lợi ích của cá nhân khác, của tập thể và xã hội Quyềnlực chính trị bao giờ cũng được thực thi thông qua những con người cụ thể, cóthể dẫn đến tham nhũng ảnh hưởng đến lợi ích của cá nhân, tập thể và xã hội.Theo tác giả, ở bất kỳ chế độ nào cũng phải phòng chống tham nhũng Để phòngchống tham nhũng cần làm tốt công tác KT, GS Đó chính là sự KSQL chính trịcủa Đảng trong nội bộ Các tác giả cũng phân tích kinh nghiệm và giải phápphòng chúng tham nhũng ở một số nước trên thế giới như Trung Quốc TrungQuốc phòng chống tham nhũng bằng việc tăng cường giám sát của tổ chức đảng
và quần chúng nhân dân đối với cán bộ lãnh đạo Ô-xtrây-li-a phòng chống thamnhũng bằng việc lập ra các cơ quan giám sát quyền lực như ủy ban liên chínhcảnh sát, ủy ban phòng chống tham nhũng độc lập, coi trọng công luận, dư luận,báo chí trong phòng chống tham nhũng
Nguyễn Phú Trọng, Xây dựng chỉnh đốn Đảng một số vấn đề lý luận và thực tiễn [97] Tác giả đã trình bày những vấn đề chung về Đảng và xây dựng
Đảng, một số nội dung xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.Tác giả chỉ ra rằng để thực hiện dân chủ trong Đảng cần có cơ chế giám sát,
Trang 24kiểm tra, đấu tranh của các cơ quan có thẩm quyền, kết hợp với sự giám sátthường xuyên của quần chúng, có sự đấu tranh mạnh mẽ của công luận Đó cũngchính là phương thức cầm quyền của Đảng, đồng thời cũng là biện pháp đểKSQL chính trị của Đảng.
Mai Thế Dương, Tăng cường công tác giám sát của Đảng [14] Công
trình của tập thể tác giả đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tác giám sáttrong Đảng Đánh giá thực trạng công tác giám sát trong Đảng và đề xuất nhữnggiải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả và chất lượng công tác giám sát củaĐảng trong giai đoạn hiện nay Tác giả phân tích vị trí, vai trò của giám sát, chỉ
rõ giám sát là một chức năng lãnh đạo của Đảng, có vai trò quan trọng góp phầngiám sát các cấp ủy đảng, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là đảng viên có chức, cóquyền, đó cũng là biện pháp để KSQL trong nội bộ Đảng
Hồ Chí Minh, Về phương thức lãnh đạo của Đảng [60], là công trình tập
hợp những câu nói, bài viết của Hồ Chí Minh về phương thức lãnh đạo củaĐảng Qua những câu nói, bài viết của Hồ Chí Minh trong từng giai đoạn cáchmạng, từng thời kỳ và các trường hợp cụ thể đã định hình những nội dung quantrọng về phương thức lãnh đạo của Đảng, cách thức tổ chức quyền lực và KSQLcủa Đảng
Nguyễn Văn Huyên, Đảng Cộng sản cầm quyền nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng [42], là công trình nghiên cứu trực tiếp về ĐCS cầm quyền.
Ở phần đầu của cuốn sách tác giả đã đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất về
lý luận về quyền lực của đảng chính trị, ĐCS cầm quyền, tính chính đáng của sựcầm quyền duy nhất của ĐCS Đây là cơ sở lý luận phản ảnh quy luật vận động
và phát triển tất yếu của chính đảng của giai cấp công nhân Trên cơ sở phân tíchtính tất yếu khách quan của ĐCS cầm quyền tác gải đi đến phân tích, đánh giáphương thức cầm quyền của một số đảng chính trị ở phương Tây, nguyên nhânthất bại của ĐCS Liên Xô và kinh nghiệm cầm quyền của ĐCS Trung Quốc
Lê Hồng Liêm, Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với phòng chống tham nhũng ở nước ta hiện nay [58], đã chỉ rõ bản chất của tham nhũng gắn liền
Trang 25với quyền lực chính trị, là sự tha hóa quyền lực để thực hiện lợi ích cá nhân hoặccủa một nhóm người làm phương hại đến lợi ích của cá nhân khác, của tập thể và
xã hội Quyền lực chính trị bao giờ cũng được thực thi thông qua những conngười cụ thể, có thể dẫn đến tham nhũng ảnh hưởng dến lợi ích của cá nhân, tậpthể và xã hội do đó để phòng chống tham nhũng cần làm tốt công tác KT, GS
Đó chính là sự KSQL chính trị của Đảng trong nội bộ
Cao Văn Thống và các cộng tác viên, Công tác giám sát góp phần ngăn ngừa nguy cơ của đảng cầm quyền [92], tập hợp những bài viết của các nhà lãnh
đạo của ĐCS Việt Nam, các nhà nghiên cứu về công tác giám sát của Đảng mộttrong những nội dung của việc KSQL trong nội bộ Đảng Qua các bài viết cáctác giả đã chỉ ra những khía cạnh phong phú từ lý luận đến thực trạng và giảipháp nâng cao hiệu quả giám sát của Đảng Các quan điểm nêu trên là cơ sởquan trọng cho việc thế kế cách thức KSQL hiệu quả hơn
Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, các quy chế giám sát, chất vấn trong Đảng và các văn bản hướng dẫn thực hiện [76], nội dung của cuốn sách lại
tập hợp những văn bản quy định về KT, GS, xử lý kỷ luật đảng cũng như pháthuy dân chủ, nâng cao trách nhiệm và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảngviên trong công tác xây dựng đảng Việc xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, thựchiện quy chế giám sát, chất vấn trong Đảng là một trong những phương thứcquan trọng để KSQL của các tổ chức Đảng, các đảng viên trong Đảng trong quátrình thực thi quyền lực của Đảng
Cao Văn Thống - TS Đỗ xuân Tuất - TS Trần Duy Hưng (2015), Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng qua các nhiệm kỳ Đại hội [93], cuốn sách
tập hợp thực trạng công tác KT, GS, kỷ luật Đảng qua các nhiệm kỳ Đại hội.Cuốn sách đã phân tích những kết quả đã đạt được, những hạn chế, khuyết điểmtrong công tác KT, GS và kỷ luật của Đảng qua nhiều nhiệm kỳ Từ đó, các tácgiả đã chỉ ra nguyên nhân, những bài học kinh nghiệm cũng như đề xuất phươnghướng và các giải pháp để thực hiện tốt công tác KT, GS và kỷ luật của Đảngtrong thời gian tới Những thông tin của cuốn sách cung cấp những tư
Trang 26liệu quan trọng của một trong những hoạt động quan trọng của hoạt động KSQLtrong Đảng.
Cao Văn Thống - Đỗ Xuân Tuất - Dương Trung Ý, Giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại kỷ luật trong Đảng [94], đã trình bày những vấn
đề lý luận quan trọng về công tác giải quyết khiếu nại trong Đảng, một trongnhững hình thức để KSQL của các tổ chức đảng đối với đảng viên Qua côngtrình nghiên cứu của mình các tác giả đã phân tích những nội dung quan trọng vềnội dung, hình thức, tiêu chí đánh giá chất lượng thi hành kỷ luật, khiếu nại, cácnhân tố ảnh hưởng đến giải quyết khiếu nại… Theo các tác giả khiếu nại là mộttrong những quyền mà khi thực hiện nó được đầy đủ sẽ góp phần làm cho tínhdân chủ trong Đảng được tốt hơn
Nguyễn Phú Trọng, Xây dựng chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt để phát triển đất nước [98], cuốn sách được viết sau Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp
hành Trung ương khoá XII về tăng cường công tác xây dựng, chính đốn Đảng;ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, những biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ Qua công trình này tác giả đã trìnhbày những nguyên lý, những cơ sở khách quan, chủ quan và cơ sở thực tiễn của
sự cần thiết phải xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới Bằng lý luậncủa mình tác giả đã khẳng định tính tất yếu trường tồn của Đảng và vai trò lãnhđạo của Đảng đối với quá trình xây dựng đất nước, sự lãnh đạo của Đảng là nhân
tố làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam trên chặng đường tương lai Tuynhiên, để có thể thành công trong sự nghiệp lãnh đạo đất nước Đảng cần khôngngừng đổi mới, tự chỉnh đốn trước sự vận động và phát triển của thời đại
Vũ Văn Phúc, Thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong hệ thống chính trị hiện nay [70] Đây là công trình tập hợp bài
viết của nhiều tác giả đề cập đến người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, ngườiđứng đầu cấp ủy, chính quyền trong hệ thống chính trị và vấn đề nâng cao vị thếcủa người đứng đầu với cấp ủy, chính quyền Trên cơ sở thực hiện nghị quyếttrung ương 4 khóa XI, một số tác giả đã đưa ra những giải pháp để kiểm soát
Trang 27người đứng đầu, tránh tình trạng lạm dụng quyền lực, dẫn đến thoái hóa, biếnchất Xác định chủ thể kiểm tra, kiểm soát, giám sát người đứng đầu, đó là cấptrên quản lý trực tiếp, là tổ chức đảng, đảng viên, cơ quan, đơn vị của ngườiđứng đầu Tác giả cũng chỉ ra rằng để kiểm soát người đứng đầu kịp thời, chuẩnxác đòi hỏi phải có quy chế về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu.Một số bài viết đề cập đến mối quan hệ giữa người đứng đầu cấp ủy với ngườiđứng đầu chính quyền và trách nhiệm của họ, qua đó làm rõ trách nhiệm, thẩmquyền của từng chức danh, là cơ sở để phát huy vai trò của từng vị trí, cũng làcăn cứ để KSQL của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền.
Những quy định mới về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền (2019) [68] Nội dung: Vấn nạn chạy chức, chạy
quyền trong công tác cán bộ đang để lại những hệ lụy vô cùng nguy hiểm đối vớinăng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, gây bức xúc trong dư luận xã hội,làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự trong sạch, vững mạnh của Đảng hiệnnay Dưới vỏ bọc “đúng quy trình”, “đúng quy định” đang làm cho vấn đềKSQL, chống chạy chức, chạy quyền trong công tác cán bộ ngày càng trở nênkhó khăn, phức tạp Để phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu lực, hiệu quả tình trạngchạy chức, chạy quyền và KSQL trong công tác cán bộ, ngày 23-9-2019 BộChính trị đã ban hành Quy định số 205-QĐ/TW về việc KSQL trong công táccán bộ và chống chạy chức, chạy quyền nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện,
xử lý các hành vi vi phạm quy định của Đảng, Nhà nước, nhất là các hành vi lợidụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc thực hiện không đầy đủchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác cán bộ Cuốn sách đã phân tích,làm rõ các quy định về KSQL trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạyquyền; công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và đại hội XIII củaĐảng; tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ cấp cao, cán bộ lãnh đạo,quản lý các cấp; quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viênchức; công tác KT, GS và xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng vi phạm;quy trình thực hiện việc KT, GS, giải quyết khiếu nại và thi hành kỷ luật Đảng;
Trang 28quy định về tiếp nhận, xử lý đơn, thư, tiếp đảng viên và công dân; các biện phápphòng ngừa, phát hiện tham nhũng và xử lý các hành vi tham nhũng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc 5 năm quản trị Đảng nghiêm minh toàn diện, thành tựu và kinh nghiệm trong công tác tổ chức và xây dựng Đảng từ sau Đại hội XVII (2019) [16] Cuốn sách do Viện nghiên cứu Xây dựng Đảng - Ban Tổ
chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức biên soạn, Nguyễn MinhTuấn - Lê Văn Toan tổ chức dịch, hiệu đính Cuốn sách gồm 12 chương đã tậptrung phân tích công tác xây dựng ĐCS Trung Quốc nghiêm minh toàn diện.Công trình khẳng định ý nghĩa quan trọng của công tác quản trị Đảng; khẳngđịnh những kết quả nổi bật của công tác quản trị Đảng nghiêm minh toàn diệntrên cơ sở vai trò hạt nhân của Tổng Bí thư Tập Cận Bình, bảo vệ uy quyền và sựlãnh đạo tập trung thống nhất của Trung ương Đảng; lựa chọn, đề bạt cán bộ tốt,xây dựng được đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp hóa có phẩm chất tốt; công tácchống tham nhũng đã hình thành cục diện và luôn củng cố phát triển; trình độquản trị Đảng theo chế độ, theo pháp quy đã được nâng cao Để đạt được nhữngthành tựu đó chính là sự kế thừa, phát huy và đổi mới sự phát triển những truyềnthống tốt đẹp trong quản Đảng, trị Đảng Trên cơ sở tổng kết ý nghĩa và nhữngkết quả nổi bật trong công tác quản trị Đảng, ĐCS Trung Quốc đã rút ra nhữngkinh nghiệm đó là: phải kiên trì thống nhất giữa xây dựng Đảng bằng tư tưởng vàquản trị Đảng bằng chế độ; phải kiên trì sự thống nhất giữa chỉ đạo sứ mệnh vàđịnh hướng vấn đề; phải kiêm trì sự thống nhất giữa nắm được “thiểu số thenchốt” và quản được “tuyệt đại đa số”; phải kiên trì sự thống nhất giữa sử dụngquyền lực và đảm đương trách nhiệm; phải kiên trì sự thống nhất giữa quản lýnghiêm khắc với quan tâm tin tưởng; phải kiên trì sự thống nhất giữa giám sáttrong Đảng và giám sát của quần chúng
Các công trình là các bài tạp chí khoa học khá đa dạng và phong phú như: Bùi
Văn Tiếng, Bí thư - chủ tịch là một người và vấn đề kiểm soát quyền lực, Tạp chí Xây dựng Đảng [82] Nội dung bài viết tập trung luận bàn về vấn đề KSQL nhà
nước khi bí thư và chủ tịch hoạt động theo phương thức kiêm nhiệm
Trang 29Bí thư - chủ tịch cùng là một người sẽ đòi hỏi phải có cơ chế KSQL hữu hiệu,tránh tình trạng lộng quyền KSQL là nhằm ngăn chặn, hạn chế nguy cơ xảy ratình trạng chuyên quyền, lộng quyền, lạm quyền Nguy cơ này càng trầm trọnghơn khi không có một cơ quan quyền lực có chức năng quyết định và quan trọnghơn là có chức năng giám sát mọi hoạt động của Ủy ban nhân dân (UBND) cùngcấp như Hội đồng nhân dân (HĐND) Chính vì vậy trong bài viết tác giả đã tậptrung nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp để có thể hạn chế được nguy cơ độcđoán, lạm quyền.
Phạm Văn Định, Về quy định thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu trong công tác cán bộ [25] Nội dung bài viết tác giả tập trung làm rõ một số
biện pháp đẩy nhanh quá trình xây dựng quy định thẩm quyền, trách nhiệmngười đứng đầu trong công tác cán bộ bao gồm: Cụ thể hóa nguyên tắc tập trungdân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong một số văn bản về công táccán bộ liên quan đến trách nhiệm người đứng đầu; xác định rõ một số nội dungtrong quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu trong công táccán bộ
Vũ Văn Hải, Kiểm soát quyền lực của cán bộ, đảng viên để xây dựng Đảng,
xây dựng chính quyền [36] Đảng ta là Đảng cầm quyền, cán bộ, đảng viên được
giao quyền để phục vụ nhân dân Nhưng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN và hội nhập quốc tế, xuất hiện nhiều nguyên nhân chủ quan vàkhách quan làm cho quyền lực của cán bộ, đảng viên rất dễ bị tha hóa, trong đó mộtphần không nhỏ là do thiếu kiểm soát Việc KSQL cũng giống như bộ não kiểm soáthành vi, đòi hỏi phải thường xuyên, toàn diện và chặt chẽ, thiếu KSQL thì rất dễsinh ra những tên “cường hào” mới, hách dịch, cửa quyền, quan liêu, kiêu binh, lạmquyền, lộng quyền, tham nhũng, tiêu cực, “quan quyền” lên ngôi, dân quyền thoái
vị, “tà quyền” lấn át chính quyền làm cho dân trở thành nạn nhân của quyền lực,
là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ Muốn quyền lực không bị tha hóa, làmcho nó duy nhất chỉ vì lợi ích của dân, vì sự phát triển của đất nước và sự bền vữngcủa chế độ thì phải có
Trang 30những cơ chế vừa chặt chẽ, vừa chắc chắn để KT, GS, kiểm soát việc thực thi
quyền lực của người có chức, có quyền, có thể xét đến những cơ chế sau: một là,
là bản thân cán bộ, đảng viên phải tự giác kiểm soát chính mình; cầu thị lắng
nghe, chân thành tiếp thu, nghiêm túc sửa chữa, khắc phục sai lầm, khuyết điểm;nói đi đôi với làm, có lòng tự trọng và đề cao lương tâm và trách nhiệm trước
Đảng, trước dân; hai là, cần đổi mới công tác tự phê bình và phê bình; ba là, có
cơ chế công khai trong công việc (trừ bí mật theo quy định), có công khai thì mới
kiểm soát được; bốn là, đổi mới công tác cán bộ ở tất cả các khâu: tuyển dụng,
bổ nhiệm, bầu cử phải qua thi cử, tranh cử trong phạm vi phù hợp với chức vụ;
đổi mới cơ chế tuyển chọn, trọng dụng hiền tài để họ hết lòng cống hiến; năm là,
hoàn thiện hệ thống quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước bảo đảm thống
nhất chặt chẽ, đặc biệt là những quy định trong công tác cán bộ; sáu là, tiếp tục cải cách hành chính, cải cách tư pháp; bảy là, công tác KT, GS, thanh tra, kiểm
toán và cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng phải có hiệu quả thật sự;
tám là, cần có quy định cụ thể về nội dung, chủ thể, hình thức, quyền, nghĩa vụ phản biện xã hội; chín là, phải làm cho dân giỏi KSQL; dân có thể chọn người
hiền để giao quyền và ngược lại nếu “Chính phủ làm hại dân, thì dân có quyềnđuổi Chính phủ”
Nguyễn Đình Bắc, Về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ giai đoạn mới [11] Trong những năm qua vấn đề KSQL trong công tác cán bộ được
Đảng ta đưa ra, bàn bạc, ra quyết sách khá nhiều Kế thừa, phát huy các kết quảđạt được, tại Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trungương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấpchiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, vấn đềKSQL trong công tác cán bộ đã được trình bày kỹ lưỡng, được thể hiện xuyênsuốt, đầy đủ và toàn diện ở tất cả các nội dung của Nghị quyết; được xác định làmột trong hai trọng tâm, một trong năm đột phá và là một nhiệm vụ, giải phápchủ yếu của công tác cán bộ Khi quyền lực không được kiểm soát chặt chẽ tấtyếu sẽ dẫn đến sự lạm dụng quyền lực trong công tác cán bộ Trong bối cảnh
Trang 31hiện nay, trong khi những thói hư, tật xấu, tàn dư xã hội cũ trong mỗi cán bộ,đảng viên chưa được đào thải triệt để; những hiện tượng lạm dụng quyền lựctrong công tác cán bộ chưa được khắc phục kịp thời, thì “bốn nguy cơ” mà Đảng
ta đã chỉ ra vẫn còn hiện hữu, có mặt gay gắt hơn Để KSQL trong công tác cán
bộ hiện nay cần: một là, “xây dựng, hoàn thiện thể chế để KSQL trong công tác
cán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ
chế; quyền hạn phải được ràng buộc bằng trách nhiệm”; hai là, “thực hiện công
khai, minh bạch tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ nhân sự” trong bổ nhiệm,
đề bạt cán bộ; ba là, “xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi
phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng quyền lực để thực hiệnnhững hành vi sai trái trong công tác cán bộ”
Nguyễn Trọng Phúc, Quyền lực và kiểm soát quyền lực ở nước ta [72].
Theo tác giả, tha hóa quyền lực là sự làm biến chất thành xấu đi hoặc thành cáiđối nghịch; là việc thực hiện không đúng, không đầy đủ, không hết hoặc vượtquá quyền lực được trao Bản chất của sự tha hóa quyền lực là do lợi ích cá nhân,lợi ích gia đình, lợi ích nhóm Để KSQL có hiệu quả thì mỗi cán bộ, đảng viên,đặc biệt là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền phải tu dưỡng, rèn luyện phấnđấu để trở thành những con người có “tâm”, có “tầm”, vượt lên chính mình, vượtlên ma lực cám dỗ của quyền lực và đồng tiền
Nguyễn Văn Giang - Nguyễn Ngọc Ánh: Về giám sát và kiểm soát quyền lực khi thực hiện mô hình “song trùng lãnh đạo” [31] Ở nước ta hiện nay, giám
sát và KSQL, trong đó có KSQL khi thực hiện mô hình “song trùng lãnh đạo”ngày càng trở thành vấn đề được quan tâm trong đời sống chính trị Nghiên cứu,tìm tòi những căn cứ khoa học làm cơ sở cho việc giám sát, KSQL khi thực hiện
mô hình này là rất cần thiết Mô hình người đứng đầu tổ chức đảng cầm quyềnđồng thời là người đứng đầu tổ chức nhà nước được áp dụng trong nhiều thể chếchính trị trên thế giới và được biến cải với những hình thức cụ thể, phong phú, tỏ
ra có hiệu quả Ở nước ta, việc bố trí người đứng đầu tổ chức đảng đồng thời làngười đứng đầu cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đã được áp dụng Mô hình “song
Trang 32trùng lãnh đạo” ở các địa phương gần đây ngày càng được quan tâm Ưu điểmcủa mô hình này là góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy, cácnhiệm vụ chính trị được thực hiện đồng bộ, linh hoạt, kịp thời hơn; tạo sự thốngnhất giữa chủ trương, nghị quyết của cấp ủy với chương trình hành động và việctriển khai tổ chức thực hiện của UBND Tuy nhiên, mô hình này đòi hỏi phải có
sự KSQL chặt chẽ Bởi khi đó, quyền lực của họ là rất lớn, không có cơ quan, cánhân nào có vị thế “đối trọng”, ngang vai để phản biện, kiểm soát được Vớinhững ưu điểm và hạn chế đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp về giám sát,
KSQL khi thực hiện mô hình “song trùng lãnh đạo” như sau: thứ nhất, hoàn
thiện hệ thống pháp luật, quy chế công tác; cụ thể hóa, pháp chế hóa quyền hạn,
trách nhiệm theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; thứ hai, xây
dựng chế độ công khai, minh bạch; thực hiện chế độ chất vấn đối với người đứngđầu tổ chức đảng, chính quyền; hoàn thiện và phát huy vai trò phản biện xã hội,
giám sát của các tổ chức đại diện cho các tầng lớp nhân dân; thứ ba, không
ngừng giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao ý thức, trách nhiệm, trình độ, năng lực thực
thi công vụ của cán bộ; thứ tư, tổ chức hiệu quả việc đấu tranh phòng, chống
tham nhũng; xử lý nghiêm minh, kịp thời các trường hợp lạm dụng quyền lực
Nguyễn Minh Tuấn, Cơ chế kiểm soát quyền lực giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt Nam [99] KSQL là hệ thống những hoạt động xem xét, theo dõi, đánh giá,
mà thông qua đó có thể ngăn ngừa, loại bỏ những nguy cơ, những việc làm saitrái của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tổ chức và thực hiện quyềnđược giao Cơ chế KSQL là nội dung, phương thức, quy định, quy trình và cácthiết chế có liên quan đến việc kiểm soát từng chủ thể quyền lực, gắn kết chặtchẽ với nhau hợp thành một chỉnh thể, thông qua đó việc thực hiện chức năng,nhiệm vụ của từng chủ thể quyền lực được thực hiện đúng đắn Ở nước ta, vớithể chế chính trị nhất nguyên, hệ thống chính trị bao gồm các thể chế Đảng, Nhànước, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội thì quyền lực chính trị được thểhiện ở từng chủ thể của hệ thống chính trị nhưng tập trung và chủ yếu nhất vào
Trang 33Nhà nước Do đó, không chỉ Nhà nước mà mọi tổ chức trong hệ thống chính trịđều có quyền lực chính trị, từ đó không chỉ cần đến cơ chế KSQL chính trị trongnội bộ của từng tổ chức thành viên, mà còn cần đến cơ chế KSQL giữa các thànhviên với nhau Đây chính là nội dung quan trọng của KSQL trong hệ thống chínhtrị, nhưng vẫn là khâu yếu kém kéo dài và khá nhạy cảm Hơn nữa, việc xác lập
và thực thi cơ chế KSQL giữa các thành viên trong hệ thống chính trị phải đượctiếp tục cụ thể hóa Hiến pháp bằng hệ thống các quy định pháp luật Tuy nhiên,vấn đề này cũng chưa được quan tâm thật sự xứng tầm cụ thể: việc KSQL đốivới Nhà nước; việc KSQL đối với các tổ chức đảng; việc KSQL đối với MTTQ
và các đoàn thể chính trị - xã hội Vì vậy, cần phải đổi mới căn bản công tácnghiên cứu các hoạt động nhằm KSQL giữa các chủ thể của hệ thống chính trịtrong các điều kiện xây dựng NNPQXHCN ở nước ta Đó là việc thể chế hóa và
cụ thể hóa cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ
Nguyễn Minh Tuấn, Kiểm soát quyền lực chính trị ở một số quốc gia theo hình thức quân chủ lập hiến [100] KSQL chính trị là vấn đề có ý nghĩa lý luận,
thực tiễn và thời sự hiện nay Trong lịch sử tư tưởng, quyền lực là khái niệm xuấthiện rất sớm, đa dạng và phổ biến từ thời cổ đại cho đến ngày nay Hiện nay, đểKSQL chính trị, ngoài sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định nói chung,các quy định của pháp luật liên quan đến KSQL nhà nước nói riêng, cần có cơchế thực hiện và áp dụng pháp luật một cách chặt chẽ, hiệu quả Bên cạnh đó, lànhững vấn đề có tác động mạnh mẽ đến KSQL chính trị như điều kiện kinh tếchính trị trong nước, chế độ đảng phái của quốc gia, nguyên tắc tổ chức quyềnlực nhà nước, điều kiện xã hội và môi trường dân chủ trong nước, ý thức phápluật, văn hóa pháp lý trong xã hội KSQL nhà nước có rất nhiều hình thức thựchiện Căn cứ vào biểu hiện có thể phân chia thành kiểm soát bên trong và kiểmsoát bên ngoài Thông qua việc phân tích các mô hình KSQL chính trị ở một sốquốc gia theo hình thức quân chủ lập hiến như: Vương quốc Anh, Nhật Bản,Thụy Điển, Hà Lan, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Bỉ, Thái Lan, Campuchia… Tác
giả rút ra một số bài học: thứ nhất, nhà vua trong nhà nước quân chủ lập
Trang 34hiến mặc dù “không cai trị”, nhưng là một thiết chế KSQL chính trị quan trọng;
thứ hai, đặc trưng của KSQL chính trị ở các nước quân chủ lập hiến là chính phủ phải chịu trách nhiệm trước hạ viện; thứ ba, các nước quân chủ lập hiến đã dùng chính quyền lực để KSQL; thứ tư, các nước quân chủ lập hiến luôn khuyến khích
sự cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch giữa các thiết chế quyền lực và
các thiết chế xã hội theo quy định của pháp luật; thứ năm, việc KSQL ở các nước
quân chủ lập hiến thường chú trọng đến việc tiếp cận thông tin của người dân và
hỗ trợ người dân trong việc tiếp cận công lý; thứ sáu, về cơ bản, các nước quân
chủ lập hiến không dùng mệnh lệnh hành chính áp đặt từ trên xuống, mà áp dụng
tư duy khoan dung chính trị, khuyến khích sự tham gia xây dựng đất nước của
người dân; thứ bảy, các nước quân chủ lập hiến khi đưa ra các chính sách vừa
phải bảo đảm dân chủ, bảo vệ quyền con người, nhưng cũng vừa phải bảo đảmchủ quyền và sự an toàn cho quốc gia, Từ việc nghiên cứu các mô hình KSQL ởmột số quốc gia nói trên, liên hệ với thực tiễn Việt Nam, tác giả cho rằng, cần tậptrung vào các giải pháp chiến lược dưới đây để hoàn thiện cơ chế KSQL ở Việt
Nam: một là, cần hoàn thiện cơ chế pháp lý, đặt KSQL ở Việt Nam gắn liền với
mục tiêu phát huy dân chủ, xây dựng NNPQXHCN của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân, xã hội hóa một số hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ công, mở rộng
chế độ tự quản địa phương; hai là, cần phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức
chính trị - xã hội trong việc giám sát thực hiện quyền lực, luật hóa cơ chế vận
động chính sách công; ba là, cần bảo đảm sự độc lập của tòa án, nâng cao giá trị của án lệ và trao thẩm quyền giải thích pháp luật cho Tòa án; bốn là, đổi mới,
kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức, cụ thể hóa có chế phòng ngừa, phát hiện, xử lý và thu hồi tài sản tham
nhũng; năm là, cần cải cách cơ chế bầu cử và xây dựng Luật về bãi nhiệm đại
biểu Quốc hội, có cơ chế duy trì thường xuyên mối quan hệ giữa người đại diện
và người được đại diện
Nguyễn Văn Giang, Để giám sát, kiểm soát quyền lực khi thực hiện mô hình “bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp” [33] Bí
Trang 35thư cấp ủy là người đứng đầu một cấp ủy, tức là đứng đầu một cơ quan lãnh đạo củaĐảng, do đó có quyền lực không chỉ trong nội bộ Đảng mà còn có quyền lực trong
cả hệ thống chính trị do vai trò của Đảng cầm quyền tạo ra Từ nhận thức chung vềquyền lực cho thấy: quyền lực của bí thư cấp ủy là khả năng định đoạt, điều khiểncon người và tổ chức của bí thư trên cơ sở vị trí, vai trò, quyền hạn, phẩm chất, nănglực, phong cách, uy tín của mình Về cơ bản, quyền lực của bí thư có 2 loại cơ bản
là quyền lực chính thức do tổ chức đảng và đảng viên giao cho, ủy quyền cho vàloại thứ hai là quyền lực “mềm” do phẩm chất, năng lực, phong cách, kiên thức hay
kỹ năng lãnh đạo của bí thư mang lại Khi thực hiện mô hình “Bí thư cấp ủy đồngthời là chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp” thì người đứng đầu cấp ủy đồng thờiđứng đầu chính quyền cùng cấp thì quyền lực là rất lớn, nếu quyền lực không đượcgiám sát, kiểm soát hiệu lực, hiệu quả thì rất dễ xảy ra tình trạng lạm quyền Dovậy, trong công trình, tác giả đã đề xuất những quy định, hướng dẫn cần thiết đểgiám sát, KSQL khi thực hiện mô hình “Bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban
nhân dân cùng cấp” như sau: trong tổ chức đảng, quy định cụ thể việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nhất là chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
trong hoạt động lãnh đạo của cấp ủy; quy định cụ thể việc thực hiện chế độ tự phêbình và phê bình thường xuyên trong sinh hoạt cấp ủy; quy định cụ thể việc thựchiện chế độ báo cáo, chất vấn và giải trình đối với bí thư trong hội nghị cấp ủy định
kỳ và đột xuất; quy định cụ thể việc thực hiện chế độ KT, GS của cấp ủy đối với bíthư đồng thời là chủ tịch UBND trong thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm và cũng làthiết chế KSQL hiệu quả; quy định cụ thể việc thực hiện chế độ cấp ủy lấy phiếu tínnhiệm hàng năm với bí thư cấp ủy và có chế độ bãi miễn chức danh bí thư nếu kếtquả tín nhiệm 2 năm liên tiếp quá thấp (dưới 50%); quy định cụ thể việc thực hiệnchế độ báo cáo định kỳ và đột xuất của bí thư trong hội nghị ban thường vụ (BTV);quy định cụ thể việc thực hiện chế độ KT, GS của BTV đối với bí thư đồng thời làchủ tịch UBND trong thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm; quy định đổi mới mạnh
mẽ công tác cán bộ của Đảng theo hướng công khai, minh bạch, bình đẳng, đẩymạnh phân cấp và xác định trách nhiệm cá nhân; quy định tăng tính độc lập và thẩm
Trang 36quyền cho ủy ban kiểm tra (UBKT) của Đảng Trong tổ chức nhà nước, quy định
tăng tính độc lập và thẩm quyền cho HĐND để cơ quan quyền lực này đủ khảnăng giám sát hoạt động của chủ tịch UBDN cùng cấp; quy định tăng tính độclập và thẩm quyền cho tòa án; quy định tăng phạm vi, hiệu lực giám sát của cửtri đối với chủ tịch UBND
Nguyễn Minh Tuấn, Kiểm soát quyền lực trong thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” [101] Theo tác giả, bất cứ thể
chế chính trị nào trên thế giới hiện nay đều xác định trung tâm quyền lực chínhtrị của hệ thống chính trị là nhà nước Nhưng cho dù là thể chế chính trị nào cũngđều chú trọng đặc biệt đến xây dựng và hoàn thiện cơ chế nhằm KSQL đối vớitừng chủ thể trong hệ thống chính trị và đối với toàn bộ hệ thống chính trị Đốivới nước ta, với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”,vấn đề KSQL hiện nay đã có những quy định, quy phạm để thực hiện Tuy nhiêntrong quá trình thực hiện vẫn còn những vấn đề mới, phức tạp cần tiếp tục làmsáng tỏ cả về lý luận và thực tiễn Để thực hiện tốt cơ chế KSQL, theo tác giả cầnKSQL trong từng tổ chức của hệ thống chính trị và KSQL giữa các chủ thể của
hệ thống chính trị Đối với KSQL trong từng tổ chức của hệ thống chính trị cần
thực hiện: một là, KSQL trong Đảng; hai là, KSQL trong Nhà nước; ba là, KSQL trong MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội Đối với KSQL giữa các chủ thể: một là, KSQL của Đảng đối với Nhà nước, MTTQ Việt Nam
và các đoàn thể chính trị - xã hội; hai là, KSQL của Nhà nước đối với Đảng, MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; ba là, KSQL của MTTQ
Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội đối với Đảng, Nhà nước
1.3 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN SẼ TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU
1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã luận giải nhân dân là chủ thể của
quyền lực Quyền lực xuất hiện khi xã hội loài người có sự phân chia giai cấp,
Trang 37quyền lực trong xã hội được giao cho giai cấp thống trị để quản lý, điều hành xãhội Trên thế giới, đối với các nước có nhiều đảng chính trị đối lập thì việc giành,giữ quyền lực là mục tiêu tồn tại của các đảng phái chính trị Trong xã hộiXHCN hay như ở nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH thì tất cả quyềnlực thuộc về Nhân dân, Nhân dân là chủ thể của quyền lực Tuy nhiên, các côngtrình nghiên cứu đều thống nhất rằng, đi cùng với việc giao quyền lực thì phải có
sự KSQL để quyền lực không bị lạm dụng vào mục đích cá nhân hay của mộtnhóm người trong xã hội dẫn đến quyền lực bị sử dụng sai mục đích
Thứ hai, một số công trình đã đề cập nội dung, phương thức KSQL như:
KSQL lập pháp, KSQL hành pháp, KSQL tư pháp; phân chia và KSQL theo tamquyền phân lập; KSQL thông qua sự liên minh chính trị giữa các đảng đối lập;kết hợp KSQL từ bên trong và bên ngoài; KSQL dựa vào hệ thống pháp luật kếthợp với sự giám sát của nhân dân KSQL theo phương thức nào là tùy thuộc vàthể chế chính trị cũng như đặc điểm văn hóa chính trị của mỗi quốc gia trên thếgiới Không có một phương thức nào có thể áp dụng chung cho tất cả các quốcgia mà đạt được hiệu quả Mặc dù hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu, nhà chính trị,các đảng phái đã nghiên cứu khá chuyên sâu đối với vấn đề KSQL nhưng chưamột thể chế chính trị nào, chưa có quốc gia nào có thể KSQL một cách tuyệt đốihiệu quả Bởi suy cho cùng, các tổ chức hoặc các cá nhân nắm giữ quyền lựcluôn tìm cách sử dụng quyền lực hướng vào lợi ích cá nhân, lợi ích của mộtnhóm hay lợi ích của giai cấp mình
Thứ ba, một số công trình đã phân tích, luận giải khá rõ về các khái niệm
cơ chế, cơ chế KSQL; phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp KSQL Trong
đó đề cập đến vai trò của tổ chức đảng, của người đứng đầu, các quy định củaĐảng, pháp luật của Nhà nước; vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, củaNhân dân trong cơ chế KSQL đối với ĐCS Việt Nam Qua đó tác giả có thểtham khảo, nghiên cứu sâu hơn về các vấn đề liên quan đến quyền lực, KSQL,
cơ chế KSQL Tuy nhiên, cho đến hiện nay chưa có công trình khao học nàoluận giải, phân tích, đánh giá thực trạng, đưa ra các giải pháp toàn diện về cơ chế
Trang 38KSQL đối với đối tượng là một tổ chức đảng cụ thể của ĐCS Việt Nam nóichung và đối với BTVHU vùng ĐNB nói riêng Đây chính là khoảng trống tronggiác độ nghiên cứu về cơ chế KSQL để tác giả có cơ sở để nghiên cứu đề tài luận
án Đồng thời, qua những công trình nghiên cứu mà tác giả đã khảo cứu, tổngquan sẽ giúp cho tác giả có thêm những luận cứ cơ bản, luận cứ mới để có thể
phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài luận án cơ chế kiểm soát quyền lực đối với ban thường vụ huyện ủy vùng Đông Nam bộ giai đoạn hiện nay.
1.3.2 Những vấn đề luận án sẽ tập trung nghiên cứu
- Một là, luận án tập trung làm rõ cơ sở lý luận về cơ chế KSQL đối với
BTVHU vùng ĐNB giai đoạn hiện nay Trong đó làm rõ một số vấn đề như: đặcđiểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh của ác huyện vùngĐNB; làm rõ chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm của các huyện ủy vùng ĐNB; xâydựng các khái niệm về cơ chế KSQL, cơ chế KSQL đối với BTVHU vùng ĐNBgiai đoạn hiện nay
- Hai là, luận án khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế KSQL
đối với BTVHU vùng ĐNB giai đoạn từ năm 2010 đến nay Từ đó, luận án chỉ ranguyên nhân của những kết quả, nguyên nhân của hạn chế và những vấn đề đặt
ra của cơ chế KSQL đối với BTVHU vùng ĐNB giai đoạn hiện nay
- Ba là, trên cơ sở dự báo những thuận lợi, khó khăn tác động đến cơ chế
KSQL đối với BTVHU vùng ĐNB hiện nay, luận án sẽ đề ra phương hướng và
đề xuất các giải pháp để thực hiện tốt cơ chế KSQL đối với BTVHU vùng ĐNBđến năm 2030
Trang 39Chương 2
CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỐI VỚI BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY VÙNG ĐÔNG NAM BỘ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN 2.1 KHÁI QUÁT CÁC HUYỆN, ĐẢNG BỘ HUYỆN, HUYỆN ỦY VÀ BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
2.1.1 Khái quát các huyện vùng Đông Nam bộ
Đông Nam bộ gồm 05 tỉnh và 01 thành phố trực thuộc Trung ương Trong
đó có 07 thành phố trực thuộc tỉnh, 09 thị xã, 19 quận và 37 huyện Thành phố
Hồ Chí Minh có 4 huyện là Cần Giờ, Nhà Bè, Bình Chánh và Củ Chi BìnhDương có 4 huyện là: Bắc Tân Uyên, Bàu Bàng, Phú Giáo và Dầu Tiếng ĐồngNai có 09 huyện là: Trảng Bom, Tân Phú, Long Thành, Thống Nhất, Định Quán,Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu Bà Rịa - Vũng Tàu có 05 huyện:Đất Đỏ, Long Điền, Long Đất, Xuyên Mộc, Châu Đức Tây Ninh có 06 huyện làBến Cầu, Châu Thành, Dương Minh Châu, Gò Dầu, Tân Biên, Tân Châu BìnhPhước có 08 huyện là Bù Đăng, Bù Đốp, Bù Gia Mập, Chơn Thành, Đồng Phú,Hớn Quản, Lộc Ninh, Phú Riềng Diện tích của các huyện vùng ĐNB là20.574,62 km2, dân số là 4.464.878 người [Phụ lục 2]
Về điều kiện tự nhiên:
Đông Nam bộ gồm 01 thành phố trực thuộc trung ương là Thành phố HồChí Minh và 05 tỉnh: Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương và Bà Rịa -Vũng Tàu Diện tích của vùng là 23.552,6 km2, dân số 17.828.907 người (chiếm7,3% diện tích và 18,53% dân số cả nước)
Các huyện vùng ĐNB có địa hình chủ yếu là đồng bằng và bình nguyênrộng có độ cao trung bình Đây là khu vực thuận lợi cho phát triển nông nghiệp,công nghiệp, thương mại - dịch vụ và du lịch Là khu vực nằm trong đới cận xíchđạo, khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình trong năm khoảng từ 250 đến 350 và ítdao động như các khu vực khác Các huyện nói riêng và ĐNB nói chung đượcchia thành hai mùa: mùa khô và mùa mưa
Trang 40Về kinh tế, văn hóa - xã hội:
Về kinh tế:
Các huyện vùng ĐNB chủ yếu phụ thuộc vào ngành sản xuất nông nghiệp,lâm nghiệp Riêng các huyện thuộc thành phố Hồ Chí Minh, các huyện LongThành, Trảng Bom (Đồng Nai), Bắc Tân Uyên (Bình Dương) ngoài phát triểnnông nghiệp còn có các khu công nghiệp và du lịch dịch vụ Các huyện ĐNB nóiriêng, vùng ĐNB nói chung là khu vực thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) lớn nhất so với các khu vực khác trong cả nước [Phụ lục 4]
Tứ giác kinh tế là Thành phố Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai - BàRịa - Vũng Tàu có tốc độ phát triển khá cao và ổn định Hệ thống kết cấu hạ tầngcủa vùng đồng bộ trên cơ sở liên kết giữa các cảng biển (Tân Cảng, Cảng CáiMép - Thị Vải), sân bay (sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Long Thành cũng đangtrong quá trình xây dựng) và hệ thống giao thông đường bộ trong khu vực đã làmcho ĐNB và các huyện ĐNB trở thành một chuỗi liên kết tương đối hoàn thiệntrong quá trình phát triển kinh tế Vì vậy các huyện ĐNB trở thành cửa ngõ kinh
tế và cầu nối của kinh tế vùng với các khu vực khác và của cả nước với các quốcgia trên thế giới Tuy nhiên, sự phát triển của các huyện trong vùng vẫn cònnhững hạn chế ở sự bền vững bởi chuỗi liên kết giữa các huyện với các thị xã,thành phố, quận chưa hài hòa; đồng thời tốc độ đô thị hóa đang ảnh hưởng khálớn tới môi trường, dân cư và tài nguyên trong khu vực
Về văn hóa -xã hội:
Các huyện ĐNB là địa bàn của cư dân thuộc Văn hóa Đồng Nai Đó làmột nền văn hóa cổ, đã có mặt ở ĐNB từ 4.000 năm đến 2.500 năm trước vàđược xác định như là bước mở đầu cho truyền thống văn hóa bản địa ở Nam Bộ
Dù lịch sử định cư, cư trú của các tộc người ở ĐNB có khác nhau nhưng nguồngốc xã hội của họ vẫn mang những điểm tương đồng, đó là chuộng tiết nghĩa, cởi
mở, không ưa sự ràng buộc, chuộng sự bình đẳng; trong mưu sinh thì có tinhthần mạo hiểm, bươn chải, sáng tạo, nhanh nhạy với cái mới; trong ứng xử thìbộc trực, hào hiệp,… Đó là sự ảnh hưởng qua sự thích nghi của người dân với