1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Di sản văn hoá vật thể ở thủ đô viêng chăn, nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào hiện nay

190 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 13,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, với tư cách là một người hoạt động tronglĩnh vực văn hóa, có sự quan tâm đặc biệt và nghiên cứu về vấn đề di sản, NCS đã lựa chọn đề tài " Di sản văn hoá vật thể ở thủ đô Viêng C

Trang 1

SOMKIETHTISACK KINGSADA

DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ

DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY

LUÂṆ ÁN TIÊ ́

N SĨ

NGÀNH: VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

SOMKIETHTISACK KINGSADA

DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ

DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY

LUÂṆ ÁN TIẾ

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự dâñ dắt của thầy hướng dâñ và góp ýcủa hôị đồng khoa học Các số liêu,̣ tài liêu,̣ kết quả nghiên cứu nêu trong luâṇ án là trung thưc,̣ có nguồn

trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả

Somkiethtisack KINGSADA

Trang 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ

Chương 2 : KHÁI QUÁT HIỆN TRẠNG DI SẢN VĂN HÓA VÂṬ

THỂ

2.1 Tổng quan về di sản văn hóa vật thể ở thủ đô Viêng Chăn 43

2.4 Di tích lịch sử thời kỳ Pháp thuộc (1893-1954) 66 2.5 Di tích lịch sử thời kỳ hiện đại (từ năm 1954 đến nay) 69

̉̉

Chương 3: ĐĂC̣ ĐIÊM VÀ GIÁ TRỊ CỦA DI SẢN VĂN HÓA

VẬT THỂ

3.1 Đặc điểm của di sản văn hóa vật thể 76 3.2 Giá trị của di sản văn hóa vật thể 84

Chương 4: BÀN LUẬN VỀ DI SẢN VĂN HÓA VÂṬ THỂ

4.1 Các yếu tố tác động đến di sản văn hóa vật thể ở thủ đô Viêng Chăn

4.2 Những vấn đề đặt ra đối với bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa

4.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa

CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

Trang 5

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam ÁBTTVH&DL : Bô ̣Thông tin,Văn hoa va Du licḥ

́\ ́]

CHDCND : Công ̣ hoa Dân chu Nhân dân

CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

DSVH : Di san văn hoa

DSVHVT : Di sản văn hóa vật thể

DTLS-VH : Di tich licḥ sư-văn hoa

EFEO : Viện Viễn Đông Bác cổ

Nxb : Nha xuất ban

UBND : Ủy ban nhân dân

UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa

Liên Hiệp Quốc

Trang 6

Bảng 3.1: Số lượng chùa ở các quận, huyện tại thủ đô Viêng Chăn 77Bảng 3.2: Địa điểm khách du lịch quan tâm tại thủ đô Viêng Chăn 104Bảng 3.3: Thống kê khách thăm quan ở thủ đô Viêng Chăn 105

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Lịch sử đã để lại cho dân tộc Lào nhiều di sản văn hóa (DSVH)quý giá, đó là nguồn tư liệu minh chứng sống động cho quá trình lao độngsáng tạo, chinh phục tự nhiên và chống giặc ngoại xâm trong suốt chiều dàidựng nước và giữ nước Vì vậy, di sản văn hoá là tài sản vô giá của dân tộc,trở thành bộ phận quan trọng hợp thành nền văn hoá Lào ngày nay

Hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa (DTLS-VH), danh lam thắngcảnh ở Lào vô cùng phong phú, với hàng ngàn chùa, tháp, tượng, di vật, cảnhquan thiên nhiên ở khắp nơi trên đất nước Nhiều di tích, cảnh quan đượcnhắc đến như một niềm tự hào dân tộc, đó là tháp Thạt Luổng (thủ đô ViêngChăn), chùa Phu Chăm Pạ Sắc (Di sản thế giới năm 2002 tỉnh Chăm Pạ Sắc),thành phố (TP) cố đô Luổng Pha ̣Bàng (Di sản văn hóa thế giới năm 1995),chùa Xiêng Thoỏng (tỉnh Luổng Phạ Bàng), chùa Xỉ Mường (thủ đô ViêngChăn), Hỏ Phạ Kẹo (thủ đô Viêng Chăn), tháp Thạt In Hăng (tỉnh Xạ Vặn NạKệt), chùa Xi Xạ Kệt (thủ đô Viêng Chăn), tháp Phạ Thạt Xi Khốt Tạ Boỏng(tỉnh Khăm Muộn), Cánh đồng Chum (Di sản thế giới năm 2019 tỉnh XiêngKhoảng), Thành cổ Viêng Chăn (thủ đô Viêng Chăn), Khu lịch sử cách mạngHang Viêng Xay (tỉnh Hủa Phăn) Mỗi di tích là một viên ngọc quý được kếttinh từ khối óc bàn tay tài hoa của cha ông và sự ưu ái mà thiên nhiên bantặng, hình thành nên những giá trị văn hóa thấm sâu vào tâm hồn, máu thịtbao thế hệ, tạo nên bản sắc văn hoá riêng của dân tộc Lào Tuy nhiên, trướctác động của thời gian, thiên tai, chiến tranh, các di sản văn hoá đang đứngtrước nguy cơ bị huỷ hoại, không ít những DTLS-VH đã trở thành phế tíchhay bị xâm chiếm và xuống cấp nghiêm trọng

1.2 Viêng Chăn là thủ đô của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, làđịa danh có rất nhiều di tích lịch sử với hàng trăm ngôi chùa lớn nhỏ Nền văn

Trang 8

hóa lâu đời của dân tộc Lào được xác định thông qua những di chỉ còn sót lạiđược tìm thấy ở nhiều điểm khảo cổ học trên khắp đất nước, đặc biệt là ở thủ

đô Viêng Chăn Những hiện vật được tìm thấy đó đã nói lên phần nào về quátrình lịch sử từ xa xưa của dân tộc Viêng Chăn được biết đến là thành phốbên bờ sông Mê Kông và sông Nạm Ngừm, nơi có nhiều dấu ấn lịch sử, địadanh được thiên nhiên ưu đãi, tạo hoá ban tặng cho những danh thắng, cảnhquan nổi tiếng như khu danh lam thắng cảnh Thạ Ngon (huyện Xay Tha Ny),khu núi Phu Kao Khuay (huyện Pác Ngừm),

1.3 Trong thời kỳ đổi mới, Viêng Chăn được xác định là đô thị lớn nhất

cả nước, là trung tâm công nghiệp, là một trong những thành phố cấu thành nênvành đai kinh tế quan trọng, là địa phương đi đầu trong công cuộc đổi mới đấtnước và phát triển đô thị hóa với tốc độ nhanh chóng Trước bối cảnh đó, di sảnvăn hóa vâṭthể (DSVHVT) của Viêng Chăn có một vai trò và ý nghĩa hết sứcquan trọng, không chỉ là bảo lưu các giá trị truyền thống mà còn là cơ sở để tiếpthu tinh hoa văn hóa nhân loại DSVHVT (DSVHVT) ở thủ đô Viêng Chăn từlâu đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước

và đã có những thành tựu đóng góp vào giới thiệu, quảng bá văn hóa Lào

Tuy nhiên cho tới nay, chưa có công trình nghiên cứu một cách hệthống và chuyên biệt về DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn dưới góc nhìn củachuyên ngành Văn hóa học Vì vậy, với tư cách là một người hoạt động tronglĩnh vực văn hóa, có sự quan tâm đặc biệt và nghiên cứu về vấn đề di sản,

NCS đã lựa chọn đề tài " Di sản văn hoá vật thể ở thủ đô Viêng Chăn, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào hiện nay" làm luận án Tiến sĩ, chuyên

ngành Văn hóa học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

2 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về DSVHVT ởthủ đô Viêng Chăn hiện nay, góp phần vào việc bảo tồn, phát huy các giá trịcủa hệ thống di sản này trong phát triển của thủ đô

Trang 9

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan và chỉ rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn mà luận án tiếp tục nghiên cứu

+ Khảo sát, đánh giá thực trạng giá trị DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn.+ Tìm hiểu các yếu tố tác động, các vấn đề đặt ra và khuyến nghị cácgiải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của DSVHVT tại thủ đô Viêng Chăntrong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu hệ thống DSVHVT tiêu biểu có tính đạidiện ở thủ đô Viêng Chăn đã được đề cập trong Luật di sản Quốc gia năm

2005, sửa đổi năm 2013 của nước CHDCND Lào

3.2 Phạm vi nghiên cứu

của DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn.

- Về không gian: Luận án khảo sát di tích tiêu biểu tại thủ đô Viêng Chăn.

Các phương pháp nghiên cứu được chọn để sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu của luận án gồm:

DSVHVT tại thủ đô Viêng Chăn, các hoạt động văn hóa xã hội để thu thập những

dữ liệu, thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu bằng nhiều các phương thứcquan sát, chụp ảnh, ghi chép, tra cứu tài liệu

phỏng vấn những người đã và đang sinh sống trong khu vực tồn tại của di sản

về DSVH Từ kết quả phỏng vấn sâu sẽ hình thành cơ sở cho các nhận định

Trang 10

về thực trạng của di sản trên nhiều phương diện liên quan như: cách thức sử dụng, các hoạt động, sinh hoạt văn hóa, lĩnh vực quản lý và bảo tồn….

DSVHVT, các loại hình DSVHVT hiện có tại thủ đô Viêng Chăn

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các tài liệu, thông tin và dữ

liệu có liên quan tới nội dung nghiên cứu của luận án và lấy đó làm cơ sở phân loại

DSVHVT, xây dựng tiêu chí đánh giá, xác định đặc điểm và giá trị DSVHVT.

trong những quan hệ, hệ thống nhất định để chỉ ra những điểm giống và khác nhaucủa đối tượng nghiên cứu

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

5.1 Ý nghĩa khoa học

- Luận án khẳng định những giá trị DSVHVT tại thủ đô Viêng Chăntrên cơ sở đánh giá giá trị tiềm năng DSVH thích ứng Từ nội dung nghiên cứu vềbảo tồn và phát huy giá trị di sản, luận án không chỉ dừng ở

DSVHVT tiêu biểu trong lịch sử, mà còn mở rộng nghiên cứu một cách hệ thống về toàn bộ DSVHVT trong thủ đô Viêng Chăn

- Luận án hệ thống hóa các tiêu chí đánh giá tiềm năng DSVHVTtrong cấu trúc tổng thể các DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn

- Từ kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất các nhóm giải pháp về bảo tồn

và phát huy giá trị DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn theo hướng phát triển hiện naycũng như thích ứng với quá trình hiện đại hóa trong chiến lược phát triển của thủ

đô Viêng Chăn, nước CHDCND Lào

Trang 11

- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp căn cứ giúp chocác nhà quản lý, các chuyên gia có phương hướng hoạch định được chiến lược tổchức bảo tồn và phát huy giá trị DSVHVT tại các thành phố của Lào theo các yếu

tố và điều kiện tương đồng

- Luận án góp phần bổ sung cơ sở pháp lý về bảo tồn và phát huy giá trịDSVHVT để nâng cao hiệu quả cho công tác quản lý di sản tại thủ đô Viêng Chăntheo định hướng phát triển hiện nay

6 Đóng góp mới của luận án

6.1 Đóng góp mới về phương diện khoa học

- Luận án xây dựng cách tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu mới(xây dựng hệ thống lý luận và xác định giá trị DSVH) trong nghiên cứu về bảo tồn

và phát huy giá trị DSVHVT theo hướng phát triển hiện nay

- Luận án xây dựng các tiêu chí để xác định các giá trị tiềm năng của DSVHVT trong phát triển thủ đô Viêng Chăn hiện nay

6.2 Đóng góp mới về phương diện thực tiễn

- Luận án khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa truyền thống và hiện đạitrong bản sắc văn hóa dân tộc Lào qua các đặc trưng cũng như các giá trị văn hóacủa DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn

- Luận án tổng hợp số liệu và thông tin quan trọng về DSVHVT để xác lập quỹ DSVHVT tại thủ đô Viêng Chăn

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dungluận án được triển khai trong bốn chương :

Chương 1: Tổng quan tinh] hi]nh nghiên cứu vàcơ sở lýluận về di sản văn hóa vâṭthể

Chương 2: Khái quát hiện trạng di sản văn hóa vâṭthểởthủđô Viêng ChănChương 3: Đăc ̣ điểm vàgiátri c ̣ủa di sản văn hóa vâṭthểởthủđô Viêng ChănChương 4: Bàn luận về di sản văn hóa vâṭthểởthủđô Viêng Chăn hiêṇ nay

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUÂṆ

VỀ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ

̉̉

1.1 TÔNG QUAN TINH HINH NGHIÊN CƯU

Khi nhận diện về thực trạng nghiên cứu về DSVHVT ở Lào nói chung,thủ đô Viêng Chăn nói riêng hiện nay, có thể thấy một thực tế là các nguồn tàiliệu mang tính toàn diện hệ thống về DSVHVT, về bảo tồn và phát huy giá trịcác di tích lịch sử - văn hoá vâṭthểkhông có nhiều Nghiên cứu về DSVHVT

ở thủ đô Viêng Chăn nói riêng, ở Lào nói chung, vẫn đang là một vấn đề nangiải, khó khăn Trong số ít ỏi các tài liệu liên quan tìm thấy được, có thể tổng hợpkhái quát về tình hình nghiên cứu DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn ở những phươngdiện sau:

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về di sản văn hóa vật thể ở Lào

Năm 1940, Paul Levy đã so sánh những tượng Phật được tìm thấy ởchùa Săng Kra Lộc và chùa Thạt Luổng Pha ̣Bàng mang một số đặc trưng củatượng Phật tìm thấy ởLôḅ Bu Ly vàPi Mai (Thái Lan) Qua đó, Paul Levy đã

so sánh giữa tượng Phật của Lào và Thái Lan về hình dáng , phong cách nghệthuật hoạc tiết trang trí gần nhau

Vào những năm 50 của thế kỷ XX, xuất hiện công trình nghiên cứu về

nghệ thuật Lào: “Introduction à l'Art Laotien” (Giới thiệu về nghệ thuật Lào),

Paris (1954) của Gendron và Parmentier Hai học giả này đã đi đến một côngtrình nghiên cứu rất công phu về nghệ thuật Lào Trong công trình nghiêncứu, Gendron và Parmentier đã tiến hành khảo sát toàn bộ các lĩnh vực củakiến trúc tôn giáo và nghệ thuật tạo hình Lào như các chùa tháp, tượng Phật

và điêu khắc trang trí kiến trúc Về trang trí, công trình nói trên đã phân tíchchủ yếu các mô típ trang trí của nghệ thuật Lào như: ở đầu hồi, cánh cửa

Trang 13

Trong các mô típ trang trí, hoa lá là những yếu tố quan trọng nhất làm nổi bậtgiá trị thẩm mỹ.

Năm 1952, trên cơ sở những công trình khảo cổ học, Henry Devdier và

G Condominas đã khẳng định đạo Phật ở Lào xuất hiện từ thế kỷ XII CònGeorge Coedes cho rằng Phật giáo đã có mặt ở Lào từ đầu thế kỷ XIII do

người Mon-Khơme mang từ miền La ̣Vô (hạ lưu sông Mê Kông) đến với tộc

người Lạ va ở vùng thượng lưu sông Mê Kông

Năm 1981, Nguyễn Văn Vinh có bài viết “Ngôi chùa với người Lào”[55] Tác giả đã đề cập những điểm chủ yếu nhất của ngôi chùa Lào, đặc biệt

là vị trí quan trọng của chùa tháp trong đời sống hàng ngày của nhân dân các bộtộc Lào Ngô Huy Quỳnh viết bài “Kiến trúc Lào”đi từ nhận diện kiến trúc dângian, kiến trúc tôn giáo đến khái quát về kiến trúc Lào Cũng năm đó,

Trần Thị Lý có hai bài viết “Tượng Phật Lào” và “Điêu khắc tượng tròn ĐôngNam Á” đăng trên Tạp chí Nghệ thuật Đông Nam Á, trình bày những nétchung nhất về tượng Phật Lào trong lịch sử

Năm 1985, Ngô Văn Doanh [19] đã có những nghiên cứu về nghệ thuậtLào bao gồm kiến trúc, điêu khắc và ca múa nhạc kịch Ngoài bài viết riêng

về kiến trúc và điêu khắc Lào, Ngô Văn Doanh còn trình bày về các nghệthuật trong khu vực trong số bài viết về nghệ thuật Đông Nam Á Theo đó,Ngô Văn Doanh trong cuốn “Nghệ thuật Đông Nam Á”, đã mô tả rất rõ ràng

về các ngả đường Phật giáo vào Lào vào thế kỷ XIV, đạo Phật đã được vuaPhạ Ngừm đưa lên địa vị quốc giáo và phát huy ảnh hưởng to lớn tới mọi lĩnhvực của đời sống chính trị, văn hoá và xã hội Lào Điều này lý giải vì sao hệthống chùa phát triển mạnh trong giai đoạn này với những đặc trưng về kiếntrúc nghệ thuật

Năm 1995, sách “Lịch sử nghệ thuật và kiến trúc Lào” [77] củaBounheng Buasisengpaseuth, giới thiệu những di tích Phật giáo chủ yếu là cácngôi chùa được xây dựng từ thế kỷ XIV đến nay, trong đó có các công trình

Trang 14

tôn giáo ở thủ đô Viêng Chăn Đồng thời, Bounheng Buasisengpaseuth còngiới thiệu một số di tích khảo cổ đã phát hiện và khẳng định được niên đại của

di tích cùng các hiện vật cổ đó Có thể nói, công trình của BounhengBuasisengpaseuth là rất có giá trị khi nghiên cứu về nghệ thuật kiến trúc vàđiêu khắc trong kho tàng DSVHVT Lào

Trong những bài viết in tại kỷyếu Hội thảo bảo tồn di sản cùng với kỹ

thuật và lịch sử Lào”, do Bộ Thông tin và Văn hóa phối hợp với Viện nghiên

cứu Viễn Đông của Pháp (EFEO) tổ chức tháng 2 năm 1996 tại thủ đô Viêng

Chăn, “ [64], có công trình của Francis Bizot (EFEO) nhan đề “Bảo vê ̣di

sản” Công trình này nghiên cứu bảo tồn di sản quốc gia với những tác động

từ khách du lịch Các DSVH đã tham gia vào quá trình phát triển nhưng cũng

có nhiều vấn đề mới nảy sinh như: doanh nhân nước ngoài quá chú trọng đếnlợi ích cá nhân, không quan tâm tới lợi ích chung; DSVH dễ bị xâm hại…Ngoài những vấn đề về bảo tồn di sản, Francis Bizot nhấn mạnh vai trò quantrọng của việc bảo tồn di sản Để các di sản thực sự phát huy vai trò quantrọng đó, là ngoài vai trò định hướng của Nhà nước cần phải có sự nhận thức,suy nghĩ và chung tay hành động của cả cộng đồng Cũng trong tài liệu này,Pierre Pichard là kiến trúc sư của (EFEO) từ Ấn Độ viết bài “Trùng tu” Bàiviết cho chúng ta nhiều kinh nghiềm về việc bảo vệ kiến trúc cổ được làm từchất liệu đá, đất nung, gỗ của Châu Á Trong đó, tác giả cũng trình bày rất kỹ

về DSVH của từng nước ở châu Á trong tâm thức của con người qua cáchnhìn mô phỏng Đặc biệt, bài viết nhấn mạnh đến các công nghệ xử lý vật liệu

và cách thức sử dụng các công cụ để xây dựng nên các di sản Đây là nhữngyếu tố quan trọng của DSVH cần phải bảo tồn, giữ gìn Trong đó BounthiengSilipraphan nêu lên “Ý kiến chung về nghê ̣thuâṭcủa Lào vàtrang trí điểm đặc

biệt” in trong kỷyếu Hội thảo "Bảo tồn di sản cùng với kỹ thuật và lịch sử Lào" [64] Bounthieng Silipraphan đa ̃trinh] bày những ýkiến chung vềnghệ thuật

trang trí Lào vànhững đặc trưng của các bộ môn nghệ thuật này Trong

Trang 15

đó, Bounthieng Silipraphan chỉ ra một số nguyên nhân làm mất mát vàbiến

dạng các di ti\ch Ngoài ra, Bounthieng Silipraphan còn giới thiệu về đặc trưng

và phong cách nghệ thuật các miền của Lào như: phong cách của nghệ thuậttỉnh Luổng Phạ Bàng, giơí thiệu các hoa văn, phong cách được thể hiện tạingôi chùa và ngọn tháp, đồng thời cách vẽ hoa văn để tạo nên tác phẩm nghệthuật có giá trị về văn hóa

Francis Engelmanh trong công trình “Tổ chức bảo vệ di sản trong khuvực” đã trình bày những vấn đề chung của việc bảo vệ di sản dựa vào kháiniệm cơ bản về di sản, đưa ra những yếu tố để bảo vệ di sản, trong đó có yếu

tố luật pháp, cơ sở hạ tầng, quy trình quản lý Để bảo vệ di sản, cần đảm bảotính thống nhất trong nghiên cứu, chính sách và truyền thông đại chúng Qua

đó, người dân hiểu và có thái độ hợp tác, hành động phù hợp trong bảo vệ disản M Cristoper Pottier, một kiến trúc sư của EFEO Ăng Co (Campuchia) đãviết bài “Tái thiết và trùng tu” bàn về các thành phần, cách trùng tu và tái thiếtmột công trình, một DSVH Sự khác biệt của tái thiết với trùng tu biểu hiện ởcách làm việc, quy mô, tần số, cấu trúc, chất lượng và giá trị Lựa chọn trùng

tu hay tái thiết phải dựa trên hiện trạng của di sản các dấu vết licḥ sử vàcácnền văn minh khác nhau

Năm 1997, Patrick Gay với công trình “Lanxang Heritages of Lao

PDR” (Di sản quý giá của nước Lào) [107] đã giới thiệu về các bộ trang phục

cổ truyền, tín ngưỡng tôn giáo của các dân tộc Lào Ngoài ra, tác giả đề cậpđến các DTLS-VH tiêu biểu của Lào

Năm 1997, Huỳnh Ngọc Trảng và Phạm Thiệu Hương [49] đã viết bàinói về phương pháp tạo hình và phong cách mỹ thuật Châu Á, kiến trúc tháp(Stupa) Ngoài ra, các tác giả cũng mô tả kỹ về nghệ thuật trang trí kiến trúcPhật giáo và nghệ thuật làm tượng của Lào

Năm 1998, Phạm Đức Dương với “Ngôn ngữ và văn hoá Lào trong bối

Trang 16

cảnh Đông Nam Á” [8] đã hình thành một cách nhìn mới về văn hoá Lào Tácgiả đã đưa văn hóa Lào vào bối cảnh Đông Nam Á, định vị văn hóa Lào làvăn hóa của cư dân làm lúa nước vùng thung lũng trước núi Công trình đãlàm rõ hơn về các trang trí nghệ thuật trên DSVHVT ở Viêng Chăn, lý giảisâu sắc hơn các hiện tượng văn hóa được biểu hiện trong hệ thống DSVHVT

ở đây Đặc biệt công trình cho thấy cơ sở hình thành nên phong cách đặc trưng của các DSVHVT ở Viêng Chăn

Năm 2001, Madelàine Giteau trong công trình “Arts et Archeologie du

Laos” (Nghệ thuật và khảo cổ học Lào) [100] viết bằng tiếng Pháp đã nghiên

cứu về tượng Phật ở Lào Mặc dù công trình chỉ tập trung khảo sát những photượng thuộc bộ sưu tập của Hoàng gia Lào nhưng đã dựng lên một hệ thống

có trật tự niên đại khá chặt chẽ của các pho tượng và phân tích những đặcđiểm thẩm mỹ của chúng

Năm 2002, ngoài những nhà nghiên cứu phương Tây và nhà nghiên cứu

Việt Nam, các học giả Thái Lan cũng nghiên cứu về di tich\ licḥ sử văn hóa ởLào Nổi bật là Somkiart Lophetsarat nghiên cứu “Lao Buddha: the image and

its history” (Lịch sử xây dựng hình tượng Phật Lạn xạng) [121], và Sangoan

Lotboun “Mỹ thuật Phật giáo Lào” [120] Các công trình này đã phác họahình tượng phật ở Lào với nhũng đặc trưng rất riêng, khẳng định những giá trịquý báu mà nhân dân Lào cần phải giữ gìn, phát huy

Năm 2006, cơ quan Du lịch Quốc gia, Cục Tư vấn văn hóa châu Á Thái Bình Dương phối hợp với UNESCO Bangkok xuất bản tác phẩm “Dulịch và Quản lý di sản ở Luổng Phạ Bàng, di sản thế giới CHDCND Lào” Đây

-là công trình nghiên cứu tác động của du lịch đến DSVH và môi trường ởLuổng Phạ Bàng, giới thiệu về DSVH, tự nhiên của Luổng Phạ Bàng tronglịch sử bao gồm: các lễ hội truyền thống, nghệ thuật thủ công truyền thống,nghệ thuật ẩm thực, qua đó chứng minh rằng:

Trang 17

Di sản văn hóa sẽ được bảo vệ tốt khi cộng đồng hiểu và nhận ra giátrị của những di sản đó, nếu các công trình sinh thái không có giá trịliên quan đến sinh kế của người dân thì rất khó để thúc đẩy họ nghĩ

về chúng như những biện pháp bảo vệ [93, tr.18]

Năm 2007, công trình “Những giá tri ̣văn hoá nghệ thuật của chùaXiêng Thoỏng ở Cố đô Luổng Pha ̣Bàng” của Champhon Vongsa [5], đãnghiên cứu về một ngôi chùa ở cố đô Luổng Phạ Bàng Champhon Vongsa đãphân tích khá kỹ và toàn diện các giá trị văn hoá (vật thể và phi vật thể) củangôi chùa Ngoại ra, công trình cũng giới thiệu khái quát về sự du nhập Phậtgiáo đến Luổng Pha ̣Bàng, xác định những yếu tố cơ bản nhất để thấy được vaitrò của ngôi chùa trong đời sống xã hội Lào, đi sâu nghiên cứu đặc trưng nghệthuật kiến trúc chùa Xiêng Thoỏng, so sánh bô ̣mái của ngôi chùa này với cácchùa khác ở Luổng Pha ̣Bàng để thấy sự khác biệt Đặc biệt, đã phân tích kỹnghệ thuật hội hoạ và điêu khắc tiêu biểu của Xỉm (Phật điện) Cuối cùng,Champhon Vongsa đã để xuất những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giátrị văn hoá qua nghệ thuật kiến trúc của ngôi chùa trong bối cảnh đất nước mởcửa và phát triển du lịch Mặc dù chùa Xiểng Thoỏng không ở Viêng Chăn,nhưng đây là tư liệu có thể giúp cho việc so sánh về đặc điểm và giátri c ̣hùaXiểng Thoỏng với chùa ở Viêng Chăn

Năm 2009, Arne Kislenko “Culture and Customs of Laos” (Văn hóa và

Phong tuc ̣ của Lào) [100], công trình này đã giới thiệu về vùng đất và con

người của quốc gia Lào bao gồm lịch sử ngắn gọn và tổng quan về nền kinh tế.Tiếp theo là các chương liên quan đến nhiều chủ đề khác nhau, tạo nên mộtbức tranh toàn cảnh về văn hóa bao hàm cả tư tưởng, tôn giáo, dân tộc học,văn học, các loại hình nghệ thuật, kiến trúc và nhà ở, ẩm thực, trang phụctruyền thống, giới tính, tình yêu và hôn nhân, lễ hội và các hoạt động giải trí,

âm nhạc và khiêu vũ, lối sống Trong chương 6: Kiến trúc và thiết kế: lịch sửkiến trúc và kiến trúc truyền thống, Arne Kislenko nhấn mạnh: “Kiến trúc

Trang 18

truyền thống ở Lào phản ánh chủ yếu các ảnh hưởng từ: Ấn Độ, Khơme, MiếnĐiện, Thái Lan và Trung Quốc Thật không may, phần lớn các di sản cổ xưacủa đất nước đã bị mất trong nhiều thế kỷ do chiến tranh và bỏ bê, nhưng vẫn

có những địa điểm minh họa cho vẻhùng vi ̃trong quá khứ của nó Đặc biệt,Lào có một loạt các ngôi chùa Phật giáo được xem là thú vị và quan trọngnhất trong số những công trình kiến trúc tôn giáo nổi tiếng trên thế giới” [100,

Năm 2011, Phadone Insaveang đã viết bài “Di sản văn hóa cố đô LuổngPhạ Bàng với việc phát triển du lịch” [25] Dưới góc nhìn Văn hóa học,Phadone Insaveang nghiên cứu các DSVH cố đô Luổng Pha ̣Bàng nhằm khaithác những giá trị của nó để phục vụ cho du lịch một cách khoa học và hiệuquả Trong công trình này tác giả đã nghiên cứu các DSVHVT và phi vật thể

ở Luổng Pha ̣Bàng, đi sâu phân tích các công trình kiến trúc có giá trị nghệthuật đặc sắc như kiến trúc chùa tháp Phật giáo, đặc điểm chung về kiến trúcchùa ở Luổng Phạ Bàng, kiến trúc tháp tiêu biểu, nghệ thuật điêu khắc tượngPhật, kiến trúc kiểu Pháp, kiến trúc nhà cổ kiểu Lào…

Năm 2014, Siviêngsay Phomarath đã viết bài “Quản lý khu di sản vănhóa chùa Phu Chăm Pạ Sắc, tỉnh Chăm Pạ Sắc, nước CHDCND Lào” [33].Đây là công trình nghiên cứu khảo sát và đánh giá thực trạng công tác quản lýkhu DSVH chùa Phu, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lýkhu DSVH thế giới chùa Phu ở tỉnh Chăm Pạ Sắc trong thời gian tới

Trang 19

Năm 2019, Luâṇ án tiến si ̃“Bảo tồn vàphát huy giátri ̣di sản kiến trúckhu phố Pháp taị thành phố Xạ Vặn Nạ Kệt CHDCND Lào” củaKhamphouphet Vanivong [15] đã kết hợp giữa bảo tồn và phát huy giá trị disản kiến trúc tại khu phốPháp ở thành phố Xạ Vặn Nạ Kệt theo hướng pháttriển bền vững, bao gồm: khẳng định giá trị tiềm năng di sản kiến trúc tại khuphốPháp thành phố Xạ Vặn Nạ Kệt; đề xuất giải pháp bảo tồn thích ứng di sảntrên cơ sở khoa học và thực tiễn tại khu phố Pháp Xạ Vặn Nạ Kệt; phát huygiá trị tiềm năng di sản kiến trúc và đô thị của khu phố Pháp Xạ Vặn Nạ Kệttheo hướng phát triển bền vững Tác giảluận án cho rằng, từ những tác độngtrong quá trình phát triển từ khi kết thúc thời Pháp thuộc (1954) đến nay, sốlượng di sản kiến trúc thời Pháp thuộc có xu hướng suy giảm xuống, cảnhquan môi trường và cấu trúc đô thị bị thay đổi Tuy nhiên di sản kiến trúc củathời Pháp thuộc cho thấy những sáng tạo về mặt nghệ thuật và khoa học kỹthuật, khẳng định dấu ấn văn hóa xã hội của một giai đoạn trong lịch sử hìnhthành của TP Xạ Vặn Nạ Kệt Khamphouphet Vanivong khẳng định: công tácbảo tồn và phát huy giá trị di sản có ý nghĩa rất quan trọng để nâng cao niềm

tự hào của cộng đồng và là nguồn động lực cho sự phát triển và là quyền lợicủa mỗi người dân

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về di sản văn hóa vâṭthểởthủ đô Viêng Chăn

Năm 1992, công trình khảo cổ góp phần làm sáng tỏ giá trị lịch sử - vănhóa của các di sản như báo cáo khảo cổ của nhóm nghiên cứu của D Hien, M.Barbetti và Th Sayavongkhamdy [102] về “An Excavation at Sisattanak Kiln

site, Vientiane, Lào PDR” (Một khai quật tại địa điểm huyện Sisattanak,

Viêng Chăn, Cộng hoà DCND Lào), Viện Nghiên cứu Châu Á và Thái Bình

Dương, Đại học Sydney Kết quả nghiên cứu của công trình nói trên đã gópphần quan trọng khẳng định quá trình phát triển, biến đổi của Viêng Chăn

Năm 1996, Francis Engelmann trong bài báo về “Symbol of Lao Nation:

Trang 20

The That Luong of Vientiane” (Biểu tượng của quốc gia Lào: Thaṭ Luổng

Viêng Chăn) [102] đăng trên báo Vientiane Times Publications, Viêng Chăn

cũng khẳng định tháp Thạt Luổng là biểu tượng của Quốc gia Lào Francis

Engelmann đã mô tả chi tiết kiến trúc, nghệ thuật tạo tác Thạt Luổng và qua

đó cho thấy nét tài hoa và tinh tế của người Lào xưa

Năm 2002, Vilaithong Keomanivong [52] đã viết bài “Thạt Luổng - ditích và lễ hội” là một công trình nghiên cứu khá toàn diện về cả hai mặt giá trịvật thể và phi vật thể của di tích này trong bối cảnh du nhập của đạo Phật ởLào và cụ thể hơn là thời kỳ đất nước Lạn Xạng chia thành các tiểu vươngquốc trong đó có tiểu vương quốc Viêng Chăn Công trình này đã dành mộtchương nói về những yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài (Ấn Độ, Thái Lan, MiếnĐiện) đến việc Thạt Luổng được xây dựng vào lúc mà đất nước Lào cần thiếtphải có sự đoàn kết nhất trí để chống quân xâm lược Đó chính là giá trị nghệthuật và tư tưởng của kiệt tác kiến trúc này Mặc dù chịu ảnh hưởng của cácyếu tố bên ngoài, nhưng Thạt Luổng không giống bất kỳ một kiểu tháp Phậtgiáo nào Đó chính là biểu tượng của văn hóa dân tộc Lào Qua tìm hiểu phần

lễ hội Thạt Luổng, Vilaithong Keomanivong khẳng định vai trò của ngôi chùatrong đời sống văn hóa của người Lào Vilaithong Keomanivong đã có phần

mô tả về kiến trúc, điêu khắc Thạt Luổng ở Viêng Chăn hết sức đặc sắc

Năm 2003, Thongmy Duansakda với công trình “Vắt XỉXa ̣Kêt:̣ Nghệthuật kiến trúc và điêu Khắc” [41] với hai nội dung chính: Nội dung thứ nhấtnghiên cứu về đạo Phật và sự phát triển của chùa ở Lào, xác định vị trí, lịch sử

ra đời của Vắt XỉXa ̣Kêṭ Nội dung thứ hai nghiên cứu nghệ thuật kiến trúc,điêu khắc tượng và nghệ thuật tạo tác đồ thờ Thongmy Duansakda giới thiệumột số pho tượng Phật chính đặt ở trong không gian thờ tự vàviết về lễ hội ởchùa XỉXa ̣Kêt,̣ đây là các giá trị trong đời sống văn hoá của cộng đồng cưdân các bộ tộc Lào Qua đó góp phần khẳng định thêm giá trị của nghệ

Trang 21

thuật tạo hình trong các ngôi chùa Lào ở thủ đô Viêng Chăn mà chùa XỉXa ̣ Kêṭlà một trong trường hợp tiêu biểu.

Năm 2003, Bunnam Phongbuapheuun [3] công trình “Mỹ thuật Phậtgiáo Lào thế kỷ XVI-XVII ở thủ đô Viêng Chăn” đã dành một chương để viết

về mỹ thuật Phật giáo Lào Chương này tập trung vào ba nội dung chính: kiếntrúc, nghệ thuật điêu khắc tượng tròn và nghệ thuật hội họa Về kiến trúc Phậtgiáo, đã nêu quá trình hình thành, đặc trưng kiến trúc chùa, các cụm kiến trúc

và chức năng của nó trong bố cục tổng thể ngôi chùa Bên cạnh đó, giới thiệumột số ngôi chùa tiêu biểu ở thủ đô Viêng Chăn, phân tích và nghiên cứu khá

kỹ về điêu khắc tượng Phật thế kỷ XVI-XVII, đã cũng phân tích những giaiđoạn về đặc điểm lịch sử xã hội ảnh hưởng đến nghệ thuật tạc tượng từ cácnghiên cứu ở các nước trong khu vực, đã có những nghiên cứu vượt trội vàsáng tạo Bunnam Phongbuapheuun cũng dành một chương để đề xuất một sốgiải pháp về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa mỹ thuật Phật giáo Lào trongthời đại hiện nay

Năm 2005, Chayphet Sayarath hoàn thành công trình “Viêng Chăn, cáinhìn của thành phố đang phát triển” [98] Đây là một nghiên cứu về sự pháttriển của đô thị Viêng Chăn với các di sản kiến trúc và quy hoạch đô thị gắnliền với lịch sử, sự phát triển của thủ đô Viêng Chăn qua phân tích lịch sử vàkhảo cổ học, kiến trúc và thiết kế đô thị Qua đó, các dấu vết trực tiếp chothấy nguồn gốc và sự biến đổi của thủ đô Chayphet Sayarath cho rằng:

Trong giai đoạn 1960-1975, Viêng Chăn đã giữ lại một số hiệntrạng kiến trúc thuộc địa cũ trên đường phố, nhưng đồng thời,Viêng Chăn cũng bước vào thời kỳ xây dựng mang những ảnhhưởng từ văn hóa châu Âu, tạo ra những công trình kiến trúc thiếutính tương đồng phong cách trong qui hoạch đô thị [46, tr.15]

Năm 2006, Viêngphone Soukhavong [52] viết bài “Bảo tồn và phát huy

Trang 22

giá trị văn hóa nghệ thuật cụm di tích mường Chăn Thạ Bu Ly, thủ đô ViêngChăn trong giai đoạn hiện nay” đã đề cập đến những giá trị văn hóa nghệthuật của cụm di tích quận Chăn Thạ Bu Ly Bài viết đã đặc biệt quan tâm đếncác giá trị văn hóa vật thể gắn với tôn giáo ở cụm di tích này Ngoại ra, giớithiệu các ngôi chùa tiêu biểu ở thủ đô Viêng Chăn Trong bài viết nàyViêngphone Soukhavong đã tiếp cận dưới dạng tổng quan khái quát từ vị trí,lịch sử, kiến trúc, theo đó làm rõ các giátrị tiêu biểu của các di tích lịch sử -văn hóa ở quận Chăn Thạ Bu Ly.

Năm 2007, Chome Khathoumphom viết bài “Công viên Phật XiêngKhuan với hoạt động du lịch ở thủ đô Viêng Chăn” [7] đã cho hiểu rõ hơn vềCông viên Phật Xiêng Khuan - di tích tiêu biểu ở thủ đô Viêng Chăn, với kiếntrúc hoành tráng, độc đáo, đặc sắc riêng biệt của nền kiến trúc Phật giáo Lào

Ý nghĩa của công viên đối với đời sống và sự phát triển kinh tế xã hội củaLào, thực trạng hoạt động du lịch và một số giải pháp xây dựng công viênPhật Xiêng Khuan trở thành điểm du lịch hấp dẫn của thủ đô Viêng Chăn

Năm 2007, Sonesay Thilath có bài viết “Tìm hiểu di tích Hỏ Phạ Kệo,phường Chăn Thạ Bu Ly ở thủ đô Viêng Chăn” [37] Đây là công trìnhnghiên cứu đánh giá thực trạng di tích Hỏ Phạ Kẹo, cũng như khảo tả các giátrị về điêu khắc, kiến trúc, nghệ thuật, nghi lễ Qua đó, đề xuất các giải phápquan trọng nhằm bảo tồn, tôn tạo DSVH, phát huy tốt hơn nữa các giá trị vănhóa truyền thống của nhân dân Lào trong công cuộc xây dựng bảo vệ Tổquốc Ngoài ra, tác giả còn tập trung miêu tả một số cổ vật tiêu biểu liên quanđến điêu khắc, trang trí trên các bộ cửa của chùa, đã đưa ra một cái nhìn kháiquát về quá trình du nhập Phật giáo vào Lào cũng như đề cập đến nguồn gốc

ra đời của công trình kiến trúc chùa, tháp ở Lào

Năm 2007, Shimizu Naho có bài viết “Trade Ceramics Recovered from

Old city of Vientiane” (Đồ gốm thương mại phục hồi từ thành phố cổ Viêng

Chăn) [107] đăng trên tạp chí khảo cổ học SEA số 27, đã phác thảo lại diện

Trang 23

mạo đồ gốm thương mại ở Viêng Chăn trong một giai đoạn lịch sử, là mộtphần quan trọng của văn hóa thủ đô.

Năm 2008, Sophie Clement-Charpentier và Piere Clêment “Les debuts

de Vientiane, capital colonial” (Sự khởi đầu của Thủ đô thuộc địa, Viêng

Chăn) [117] Bài báo này gợi lại sự khởi đầu của Viêng Chăn dưới thời thuộc

địa Pháp trong những năm cuối của thế kỷ XIX, đề cập đến bối cảnh lịch sử

và các vấn đề khác nhau nảy sinh khi người Pháp xây dựng trung tâm hànhchính của họ Thủ đô của Lào đã bị lãng quên bởi người Xiêm năm 1828, dầndần được xây dựng lại, sau khi xóa bỏ các công trình hiện có như tường thành

và đền thờ của Pháp, các khái niệm về trật tự không gian và tượng đài chồngchất lên cấu trúc không gian của thị trấn Lào cổ

Năm 2009, Anna Karlstrom với công trình “Preserving Impermanence,

The Creation of Heritage in Vientiane, Laos” (Sự bảo tồn tạm thời, Sáng tạo

di sản của Viêng Chăn, Lào) [99] đã đề cập đến vấn đề di sản ở thủ đô Viêng

Chăn Anna Karlstrom cho rằng:

Di sản được định nghĩa là bao gồm các câu chuyện, địa điểm và sựvật Nó là một di sản phức tạp và mơ hồ, bởi vì những câu chuyện

là song song, định nghĩa và nhận thức về các địa điểm là đa dạng vàtranh cãi, và mọi thứ hội tụ xuất hiện thay đổi, tùy thuộc vào cáchtiếp cận vật chất được sử dụng Ngoài ra, nghiên cứu này cũngnhằm mục đích phân tích nghiêm túc về di sản đương đại, đặc trưngcho tính xác thực, hình thức và ý tưởng rằng giá trị di sản là phổquát và cần được bảo tồn trong tương lai và mãi mãi [99, tr 34]

Năm 2010, Michel Lorrillàrd công trình khảo cổ học “Vientiane Au

Regard De L’archeologie”, (Thủ đô Viêng Chăn như khảo cổ học) [114] xuất

bản bởi EFEO, khẳng định Viêng Chăn là một trong những TP lâu đời nhấtcủa hạ lưu sông Mê Kông, các dấu tích của quá khứ đang có xu hướng biến

Trang 24

mất Đáng tiếc rằng, xu hướng đó thường là do sự thiếu hiểu biết của conngười Tuy nhiên, gần đây người ta đã nhâṇ rõtiềm năng di sản đăṭbiêṭcủa thủ

đô Viêng Chăn Ngoài ra, bài viết “Les inscriptions du That Luong de

Vientiane: donnees nuovelles sur l’histoire d’un stupa Lao”, (Các mục của

Thaṭ Luổng Viêng Chăn dữ liệu mới về lịch sử của một bảo tháp Lào) , BEFEO [113] cho chúng ta cái nhìn toàn diện về hệ thống bảo tháp của Thạt

Luổng ở Viêng Chăn

Năm 2010, Himmakone Manotham công tri]nh “Thủ đô Viêng Chăn

450 năm, nguồn gốc thủ đô Viêng Chăn” [89] đã xuất bản 5 tâp ̣ đềcâp ̣ đếnlịch sử thủ đô Viêng Chăn, nhân dịp kỷ niệm 450 năm thành lập thành phố ViêngChăn, tâp ̣ 2 viết vềthủ đô Viêng Chăn ở Vương quốc Laṇ Xang ̣ năm

1560-1893, mô tả sự thịnh vượng về văn hóa, như việc tạo dựng các di tích,đặc biệt là những ngôi đền cổ có ý nghĩa văn hóa quan trọng ở Viêng Chănthời bấy giờ như là Cung điện Hoàng gia, tâp ̣ 3 viết vềViêng Chăn thời Phápthuộc, đã chỉ ra một môi trường kinh tế xã hội giai đoạn 1983-1945, nơiDSVH Phật giáo đã được khôi phục cũng như việc xây dựng đường phố, vănphòng và các tòa nhà

Năm 2010, Luận án tiến sĩ “Nghệ thuật tạo hình ngôi chùa Lào ở thủ đôViêng Chăn” Buangeun Phimmachak [4] đã đề cập đến mỹ thuật Phật giáo,nghệ thuật tạo hình ngôi chùa Lào; tìm hiểu quá trình du nhập Phật giáo, ảnhhưởng của nó đối với đời sống bản mường Lào và nền nghệ thuật Lào qua tiếntrình lịch sử; nghiên cứu những giá trị văn hóa điển hình của mỹ thuật Phậtgiáo, đặc biệt là nghệ thuật tạo hình chùa, tháp, xác định giá trị tạo hìnhtượng, phù điêu, tranh tường của Lào, điển hình là ở thủ đô Viêng Chăn, đãphân tích giá trị và những tác động tích cực của nó đối với sự phát triển kinh

tế, văn hóa xã hội và đề ra một số giải pháp về bảo tồn và phát huy giá trị vốn

có của chúng Buangeun Phimmachak cho rằng:

Trang 25

Nghệ thuật tạo hình chùa Lào nói chung và các ngôi chùa ở thủ đôViêng Chăn nói riêng là những DSVH độc đáo, có giá trị trong nềnvăn hóa truyền thống của đất nước Lào, có thể coi đó là những biểutượng của quốc gia và là giá trị văn hóa gắn với quá trình du nhập

và phát triển của Phật giáo vào Lào [4, tr.76]

Năm 2010, Marc Askew, William S Logan và Colin Long hoàn thànhcông trình in thành sách: “Vientiane: Transformations of a Lào Làndscape”

(Viêng Chăn: Sự chuyển đổi cảnh quan ở Lào) [105] Công trình này cho thấy

cảnh quan địa lý của Viêng Chăn như một sự phản ánh các khía cạnh quantrọng của lịch sử chính trị Lào, tầm quan trọng của nó liên quan đến các côngtrình mang bản sắc Lào trong thời kỳ đương đại Nghiên cứu của MarcAskew, William S Logan và Colin Long cũng cho người đoc ̣ hiểu được việckiến tạo tiền đô thị của Lào trong quá khứ, thường được miêu tả là một nướcnông nghiệp không có quá trình đô thị hóa và có xu hướng bị ảnh hưởng nhấttrong địa văn hóa Đông Nam Á

Trong Chương 4 của cuốn sách, các tác giả cho biết sự thành lập EFEOcủa Toàn quyền Doumer năm 1899 Đây là một bước ngoặt lớn mang tínhchuyên biệt trong quản lý di sản Danh sách chung đầu tiên về các di tíchĐông Dương được công bố theo sắc lệnh của Toàn quyền năm 1924 Danhsách kiến trúc lịch sử thành phố Viêng Chăn năm 1930 có13 cấu trúc chủ yếu

là “Vắt” (chùa), Thạt Luổng và một bộ sưu tập các hình ảnh Phật đượcchuyển từ chùa Xỉ Xạ Kệt sang nơi cư trú

Năm 2011, Kheungkeo Keopaseuth [16] viết bài “Những giá trị vănhóa nghệ thuật của chùa XỉMường, quận Xí Xạt Tạ Nác, thủ đô Viêng Chăn”

đã nghiên cứu sự ra đời của chùa XỉMường theo truyền thuyết và sử liệu gắnliền với sự du nhập của Phật giáo vào thủ đô Viêng Chăn nói riêng và đấtnước Lào nói chung, cũng khảo sát thực trạng các giá trị văn hóa vật thể (bao

Trang 26

gồm kiến trúc, điêu khắc, hội họa, trang trí ) và các giá trị văn hóa phi vật thể(bao gồm các lễ hội truyền thống của chùa) của một khu vực của thủ đô Từ

đó, đã đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị vănhóa của khu di tích lịch sử chùa XỉMường

Năm 2012, nhân dịp lễ kỷ niệm Vesak ở Viêng Chăn, ngày 16 tháng 11năm 2012, Cục Di sản, Bộ Thông tin và Văn hóa (nay là Bộ Thông tin, Vănhóa và Du lịch) đã xuất bản cuốn sách “Nhà cột mốc ở thành phố ViêngChăn” [62] Cuốn sách này đã nêu kết quảkhảo sát cột mốc cổ trên đường ởkhu vực của trung tâm thành phố Đây là bằng chứng quan trọng cho khảo cổ

về nền văn minh ở Lào Các di tích đó cũng cho thấy các phong tục truyềnthống và tín ngưỡng cổ xưa của người Lào về xây dựng một ngôi nhà, xâydựng một thành phố cũng như một khu định cư của người Lào trước đây Cóthể nói, đó là sự tổng hợp các sự kiện lịch sử, cũng như DSVH quốc gia Đều

đó rất hữu ích cho người học, nghiên cứu và tìm hiểu về tầm quan trọng củacác DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn

Năm 2013, Luận án tiến sĩ “Vientiane-Sim: Form, Aesthetic and

Symbol” (Viêng Chăn-Sim: Mô hình,Thẩm mỹ và Biểu tượng) của Khamsouk

Keovongxay, bàn luận về màu sắc, hình thức và bản sắc của Viêng Chăntrong giai đoạn 1560-1974 Một phần luận án này đã chỉ ra sự ra đời của Phậtgiáo vào Lào khi thiết lập vương quốc Laṇ Xạng Trong thời điểm đó, vươngquốc phải lấy tháp làm trung tâm với hoàng cung và nhà ở để mở rộng thànhphố Ví dụ, khi thành lập Viêng Chăn là thủ đô đầu tiên, vua Xay Xệt Thạ ThịLát đã xây dựng tháp Thạt Luổng ở Viêng Chăn trước và 120 chùa nữa ở haibên sông Mê Kông như: Chùa XỉMường, chùa Ông Tư, chùa In Peng, chùaPhô Thi Xạ Lát, chùa Phạ Xay Xệt Thả Thị Lát, chùa Thạt Luổng v.v

Năm 2014, Lamphoune Thongdala viết bài “Các di tích lịch sử văn hóatiêu biểu của thủ đô Viêng Chăn với việc phát triển du lịch văn hóa Lào” [17]

Trang 27

đã tìm hiểu về các DTLS-VH tiêu biểu là chùa, tháp, đền và các di tích cáchmạng kháng chiến tại thủ đô Viêng Chăn Hơn nữa, tác giả đã khẳng định vaitrò của DTLS-VH đó đối với phát triển du lịch, việc gắn các di tích lịch sử nổitiếng của Viêng Chăn với phát triển du lịch, thực trạng phát triển du lịch vănhóa tại các DTLS-VH ở thủ đô Viêng Chăn hiện nay.

Năm 2015, Phonesit Yernsengsuly [26] với công trình “Nghê ̣thuâṭkiếntrúc, điêu khắc, trang tri\Vắt Xỉ Xa ̣Kêt,̣ thủđô Viêng Chăn, Lào” đã nghiên cứuchuyên sâu về nghê ̣thuâṭkiến trúc, điêu khắc, trang tri\của Vắt Xỉ Xạ Kêṭ vàxácđịnh giá tri ngḥê ̣thuâṭcủa ngôi chùa tiêu biểu cho văn hoá vâṭchất của thủ đô,đồng thời cũng ti]m hiểu vềcác giátri ̣truyền thống, các hi]nh thức trang tri\, hinh]tượng, ý nghĩa, phong cách nghê ̣thuật trên công tri]nh Phâṭgiáo tiêu biểu nàytaịthủ đô Viêng Chăn

Năm 2016, Bounlom Sayaseng hoàn thành công trình “Quản lý di tíchtôn giáo DSVH quốc gia: chùa Xỉ Mường, quyện Xi Xạt Tạ Nác, thủ đô ViêngChăn”, trường Đại học quốc gia Lào [75] Bounlom Sayaseng đã nghiên cứuphong cách quản lý di sản quốc gia của thủ đô Viêng Chăn và phương pháp,cách thức quản lý di tích tôn giáo, đưa ra nhận thức đúng đắn, rõ ràng về hiệntrạng di tích, phương thức quản lý các DSVH quốc gia, khẳng định chùa XỉMường không chỉ là di sản quốc gia, điểm du lịch văn hóa mà còn là trung tâm

để mọi người thực hành tín ngưỡng tâm linh

Năm 2017, Sutta Khathameunboun có bài viết “Quản lý Khu di tích lưuniệm Chủ tịch Xu Pha Nụ Vông ở thủ đô Viêng Chăn, Lào” [40], đã nghiêncứu cơ sở lý luận, pháp lý về quản lý DTLS-VH, tổng quan về khu di tích lưuniệm Chủ tịch Xu Pha Nụ Vông ở thủ đô Viêng Chăn, thực trạng, phươnghướng, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý khu di tích lưu niệm Chủtịch Xu Pha Nụ Vông ở thủ đô Viêng Chăn, nước CHDCND Lào

Trang 28

1.1.3 Đánh giá chung và những vấn đề luâṇ án cần tiếp tuc ̣

nghiên cứu

1.1.3.1 Đánh giá chung

Thực tế nghiên cứu cho thấy các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiêncứu của luận án là rất hạn chế Tuy nhiên những công trình nghiên cứu đượctrình bày trong tổng quan tình hình nghiên cứu là nguồn luận cứ quý báu đểNCS thực hiện luận án của mình Những thành tựu cơ bản của các công trìnhnày được thể hiện ở một số điểm sau:

Thứ nhất, các công trình nêu trên đã đủ để hình thành một cái nhìn tổng

quan về vai trò của DSVH ở nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào đối vớiviệc xây dựng và phát triển nền văn hóa Lào nói riêng,việc xây dựng, pháttriển đất nước Lào nói chung hiện nay

Thứ hai, các công trình nêu trên đã khẳng định quy mô và giá trị của hệ

thống DSVH ở Lào nói chung, ở thủ đô Viêng Chăn nói riêng rất phong phú

và đa dạng nhưng cũng đậm nét riêng biệt, gắn liền với hoàn cảnh lịch sử,điều kiện kinh tế - xã hội Qua đó thể hiện sức sáng tạo của các bộ tộc Làotrong quá trình dựng nước, giữ nước và xây dựng quốc gia vững mạnh, nổibật và tập trung hơn cả là đặc trưng của DSVH Viêng Chăn

Thứ ba, các công trình nghiên cứu trên đã chỉ rõ nhiệm vụ cấp thiết là

bảo tồn và phát huy các giá trị DSVHVT cũng như văn hóa phi vật thể ở thủ

đô Viêng Chăn trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tếhiện nay

Qua đó, có thể nhận ra một số khoảng trống cần phải tiếp tục nghiêncứu như sau:

1 Đến nay, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu DSVHVT ở thủ

đô Viêng Chăn, chỉ rõ sự liên kết giữa các DSVH này trong tổng thể hệ thống disản của thủ đô Viêng Chăn, chưa quan tâm đến sự phân loại và sắp xếp các

Trang 29

di sản này theo một trật tự logic như một hệ thống hoàn chỉnh.

2 Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu để chỉ rõ đặc điểm và giá trị của hệ thống DSVH ở thủ đô Viêng Chăn

3 Chưa có công trình nào nghiên cứu đưa ra được phương hướng, giảipháp cụ thể để thực hiện khả thi nhiệm vụ bảo tồn, phát huy các giá trị của hệthống DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn, tiến tới xây dựng và phát triển bền vững đấtnước

1.1.3.2 Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu các thành tựu khoa học của giới chuyênmôn được nêu ra trên đây, chúng tôi tiếp tục thực hiện nghiên cứu đề tài luận

án trên các phương diện sau:

Về lý luận: Luận án sẽ làm rõ cơ sở lý luận nghiên cứu DSVHVT ở thủ

đô Viêng Chăn, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay, từ góc nhìnVăn hóa học Đó là làm rõ hệ thống khái niệm công cụ; cơ sở phân loại di sản,vai trò của DSVH với phát triển

Về thực tiễn: Luận án vận dụng cơ sở lý luận để khảo sát, nhận diện

hiện trạng, đặc điểm và những giá trị văn hóa vật thể của thủ đô Viêng Chăn.Cùng với đó, luận án sẽ bàn về việc phát huy các giá trị DSVHVT của thủ đôViêng Chăn đối với quá trình phát triển, hội nhập hiện nay

1.2 CƠ SỞ LÝ LUÂṆ NGHIÊN CỨU

1.2.1 Các khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Khái niêṃ di sản văn hóa và di sản văn hóa vật thể

- Quan niệm của UNESCO

Vào khoảng nửa sau thế kỷ XX, các tổ chức quốc tế như UNESCO,UNDP đều nỗ lực nghiên cứu đánh giá tiềm năng quá khứ của nhân loại, đặc biệt

là về di sản văn hoá UNESCO chia di sản văn hoá thành hai loại: di sản “văn

Trang 30

hóa vật thể” (tangible culture) và di sản “văn hoá phi vật thể” (nonphysicalculture).

Trên thế giới nhiều học giả đã nghiên cứu khái niệm Di sản văn hoá

(Cultural heritage) Abraham Moles quan niệm di sản văn hoá như một “mã

di truyền xã hội”, một thứ “ký ức tập thể” Feredico Mayor hình dung di sảnvăn hoá như một “hệ thống các giá trị”, những nhân tố hình thành nên bản sắcvăn hoá dân tộc

Người Nhật quan niệm giá trị văn hoá như một thứ tài sản - “tài sản văn

hoá” (Cultural propeties) và họ chia di sản văn hoá thành hai loại: tài sản văn hoá “hữu hình” và tài sản văn hoá “vô hình” Các thuật ngữ vật thể, phi vật

thể, vô hình, hữu hình giờ đây được sử dụng rộng rãi trên thế giới khi nói về

di sản văn hoá

Công ước bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới (năm 1972) củaUNESCO quy định những loại hình sau đây được coi là DSVHVT:

bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bia ký, các hang động cư trú vànhững bộ phận kết hợp, mà xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học

là có giá trị toàn cầu

kết mà do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnhquan, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếngtoàn cầu

và thiên nhiên, cũng như các khu vực có các di chỉ khảo cổ học mà xét theo quanđiểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học nổi tiếng toàn cầu

Công ước này cũng quy định các loại hình sau đây được gọi là di sản thiên nhiên:

Trang 31

+ Các cấu tạo tự nhiên (natural features): bao gồm các thành tạo vật lý

hoặc sinh học hoặc các nhóm có thành tạo thước loại đó mà xét theo quan điểmthẩm mỹ hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu

formation) là các khu vực được khoanh vùng chính xác làm nơi cư trú cho cácloài động vật và thảo mộc bị đe dọa, mà xét theo quan điểm khoa học và bảotồn là có giá trị nổi tiếng toàn cầu

khoanh vùng cụ thể mà, xét theo quan điểm khoa học, bảo tồn vẻ đẹp thiên nhiênnổi tiếng toàn cầu

Trên bình diện quốc tế, ngay từ năm 1989, UNESCO nêu rõ: DSVH làtập hợp các biểu hiện vật thể - hoặc biểu tượng di sản quá khứ truyền lại chomỗi nền văn hóa, và do đó là của toàn thể nhân loại Là một phần của việckhẳng định cũng như làm giàu thêm bản sắc văn hóa, một dạng di sản củanhân loại, DSVH mang lại những đặc điểm riêng cho mỗi địa danh cụ thể, và

vì thế nó là nơi cất giữ kinh nghiệm của con người Việc bảo tồn và giới thiệunhững DSVH này là cốt lỗi của mọi chính sách văn hóa

- Quan niệm của Việt Nam

Khái niệm DSVH đã được xác định trong Pháp lệnh và Luật của nước

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng

DTLS-VH và danh lam thắng cảnh ban hành ngày 4/4/1984 như sau:

dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệthuật, cũng như có giá trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến các sự kiến lịch sử, quátrình phát triển văn hóa xã hội”

có cảnh đẹp, hoặc có công trình xây dựng cổ nổi tiếng”

Trang 32

Tại Điều 1 của Luật DSVH Việt Nam xác định DSVH “bao gồmDSVH phi vật thể và dỉ sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất cógiá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệkhác ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” (2001).

Trong bộ luật này, DSVHVT được xác định: “là sản phẩm vật chất cógiá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm DTLS-VH, danh lam thắng cảnh,

di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”

Di tích lịch sử - văn hóa được xác định là công trình xây dựng, di chỉ vàcác di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình địa điểm đó, có giá trị lịch

sử, văn hóa, khoa học Di chỉ có thể hiểu rộng ra bao gồm đài tưởng niệm, câycối, vườn, công viên, những nơi gắn với các sự kiện lịch sử, khu đô thị, thànhphố, địa điểm công nghiệp, di chỉ khảo cổ học và các nơi linh thiêng hoặc tôngiáo

Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có

sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch

sử, thẩm mỹ, khoa học Giá trị của di sản thiên nhiên có ý nghĩa là tầm quantrọng của hệ sinh thái, tính đa dạng sinh học và đa dạng địa lý đối với giá trịtồn tại của địa điểm hoặc đối với thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau

Năm 2002, ở Việt Nam, Luật di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi

hành được coi là văn bản pháp quy về Di sản văn hóa Đến năm 2009, bộ luật

này được sửa đổi, khái niệm DSVHVT, cũng như các khái niệm DTLS-VH,danh lam thắng cảnh vẫn được giữ nguyên

- Quan niệm của Lào

Ngày 20 tháng 6 năm 1997, Pháp lệnh về việc bảo vệ Di sản quốc gia

về văn hóa, lịch sử và thiên nhiên do Chủ tịch nước CHDCND Lào được banhành Trong Pháp lệnh này di sản quốc gia về văn hóa, lịch sử và thiên nhiênxác định:

Di sản văn hóa là tài sản của nhà nước, cộng động hoặc cá nhân, có

Trang 33

giá trị về văn hóa hay có giá trị về lịch sử, là chứng nhận về đấtnước Lào, về tổ tiên nguồn gốc và sáng lập Tổ quốc Lào, bao gồmnhững đồ cổ có giá trị cao về lịch sử nghệ thuật có từ 50 năm trở lên

và địa điểm thiên nhiên cũng đều là di sản quốc gia theo Pháp lệnh

này [83, tr.2-3].

Luật Di sản Quốc gia (2005) được Quốc hội nước CHDCND Lào sửa

đổi và bổ sung ngày 24 tháng 12 năm 2013 Trong Điều 2 (sửa đổi) đã đưa

ra định nghĩa vềdi sản quốc gia như sau:

Di sản quốc gia là sản phẩm do con người sáng tạo ra hoặc sảnphẩm của tự nhiên có giá trị cao về văn hóa, lịch sử và tự nhiên, làtài sản vô giá, là quyền sở hữu quốc dân Lào mà có di sản cấp địaphương và di sản cấp quốc gia, và có thể được công nhận là di sảncấp khu vực hay thế giới

Di sản quốc gia bao gồm di sản quốc gia về văn hóa, lịch sử, vàthiên nhiên cả vật thể, phi vật thể, động sản, bất động sản, cònsống hay không còn sống thì chứng thực hình thành của Tổ quốcLào, dân tộc Lào trong từng thời kì

Di sản quốc gia có thể ở trong nước hay ngoài nước [59, tr.2]

Theo Luật Di sản Quốc gia, di sản quốc gia về văn hóa được phân loại

gồm: Di sản quốc gia văn hóa vật thể và phi vật thể

Di sản văn hóa vật thể của quốc gia :

Là di sản hữu hình, là tài sản vô giá về văn hóa bao gồm động sản

và bất động sản với đặc trưng như là công cụ sản xuất, đồ thủcông, hàng tiêu dùng, vật dụng, hội họa, nhạc cụ dân tộc, nhữngchạm khắc cổ, đồ cổ, di tích lịch sử, nơi tôn nghiêm, [59, tr.7]Với di sản về lịch sử của quốc gia cũng được phân loại gồm: Di sản

quốc gia lịch sử vật thể và phi vật thể Di sản văn hóa lịch sử vật thể của

quốc gia được xác định:

Trang 34

Là di sản hữu hình, là tài sản vô giá về lịch sử bao gồm động sản

và bất động sản như là cung điện, tòa nhà, vũ khí binh bị, phươngtiện, hàng tiêu dùng, vật dụng, tài liệu ghi chép, địa điểm lịch sửnhư là chiến trường, đài tưởng niệm, căn cứ địa phong trào đấutranh của nhân dân, tiền bối và lãnh đạo cách mạng [59, tr.8]

Về di sản quốc gia thiên nhiên có hai loại như di sản quốc gia thiênnhiên có giá trị về danh lam thắng cảnh và di sản quốc gia thiên nhiên có giátrị về sinh thái học và khoa học

Các thuật ngữ chung về di sản quốc gia trong Luật Di sản quốc gianăm 2005 sửa đổi năm 2013 của nước CHDCND Lào có định nghĩa sau đây:

Di sản quốc gia về văn hóa và lịch sử nghĩa là di sản vật thể hay

phi vật thể, động sản hay bất động sản có giá trị cao về văn hóa vàlịch sử, khoa học hoặc công nghệ là tài sản của Tổ quốc, đượccông nhận kế thừa qua từng thời kì

Di sản quốc gia về thiên nhiên nghĩa là di sản xuất hiện từ thiên

nhiên, còn sống hay không sống với giá trị cao về danh lam thắngcảnh và sinh vật học vẫn dồi dào về thiên nhiên và tươi đẹp;

Di tích lịch sử nghĩa là di chỉ, những công trình kiến trúc, di tích văn

hóa cổ với đồ cổ có giá trị cao về văn hóa, lịch sự và khoa học;

Đồ cổ nghĩa là sản phẩm vật chật do con người tạo tác trở thành

chứng thực lịch sử trong quá trình của xã hội loài người

Khu vực đồ cổ nghĩa là địa điểm của đồ cổ, di tích lịch sử và các

dất vết về lịch sử được phát hiện và giới hạn thành một khối, mộtcụm, một khu vực

Nơi tôn nghiêm nghĩa là nơi thờ cúng của nhân dân gắn bó sự hoạt

động tôn giáo, phong tục tâp quán và truyền thống lịch sử

Đài tưởng niệm nghĩa là nơi tưởng nhớ tới chiến công của tổ tiển

Trang 35

và phong trào đấu tranh dũng cảm của đồng bào các dân tộc trong bảo vệ và xây dựng Tổ quốc để lại cho các thế hệ mai sau.

Tài sản vô giá nghĩa là tài sản có giá trị rất cao, nổi bật hay hiếm

có Kiến trúc nghĩa là công trình xây dựng nổi bất về văn hóa hay lịch sử gắn bó với nơi sinh sống của con người [ 59, tr 2-4].

1.2.1.2 Khái niêṃ giá tri ̣và giá trị của di sản văn hóa vật thể

Giá trị (value) trước hết là một phạm trù triết học, chỉ sự đánh giá

những thành quả lao động sáng tạo vật chất và tinh thần của con người Nó cótác dụng định hướng, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động của xã hội nhằmvươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội Giá trị gắn liềnvới nhu cầu con người Nhu cầu của con người rất phong phú, đa dạng vàđược biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Chính nhu cầu là động cơthúc đẩy mạnh mẽ hành động của con người, giúp con người tạo nên nhữnggiá trị vật chất và tinh thần James People và Garrick Bailey cho rằng:

Giá trị là cái ý tưởng về các loại mục đích hay các loại lối sống củamột cá thể, nó được chia sẻ trong một nhóm hay trong toàn xã hội,

nó được cá thể, nhóm hoặc toàn xã hội mong muốn hay được coi là

có ý nghĩa [, tr.116]

Xét về mặt lý thuyết, giá trị là cái có ý nghĩa được chia sẻ trong cộng

đồng xã hội, nó không chỉ là cái được mong muốn mà còn là cái đáng mong

muốn, cần phải mong muốn Đối với văn hóa, hệ thống giá trị được coi làchuẩn mực để đánh giá một nền văn hóa, là yếu tố cơ bản để xác định bản sắcvăn hóa của một dân tộc Ở góc độ hẹp hơn, cũng có thể xem xét hệ thống giátrị văn hóa đạo đức trong gia đình và xã hội, văn hóa nghệ thuật, văn hóa kinhdoanh, văn hóa khoa học, văn hóa giao thông

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Giá trị là cái làm cho một vật có ích

lợi, có ý nghĩa, là đáng quý về một mặt nào đó” [43] Giá trị là một phạm trù

Trang 36

triệt học, văn hóa học, xã hội học chỉ tính có ích (utility), có ý nghĩa(significance) của những sự kiện, hiện tượng tự nhiên và xã hội, có khả năngđáp ứng như cầu và lợi ích của con người Giá trị là một hiện tượng chứcnăng, chức năng đánh giá, cho nên tính người, tính nhân văn là nhân tố quantrọng hàng đầu, con người là giá trị cao nhất, sáng tạo ra mọi giá trị vật chất

và tinh thần của xã hội

Như vậy ở đây các sự vật, hiện tượng xem xét dưới góc độ đáng haykhông đáng mong muốn, có ý nghĩa tích cực hay không tích cực đối với đờisống xã hội hay đối với một cộng đồng, một gia đình, một con người Giá trị

là tiêu chuẩn đánh giá trong ý thức xã hội, là những hiện tượng xã hội đặc thù,

là một số biểu hiện của các quan hệ xã hội

Không phải mọi sản phẩm do con người tạo ra đều có thể mặc nhiênđược coi là DSVH Mỗi sản phẩm được sản xuất, sáng tạo trong đời sốngcộng đồng qua các thời đại, chí ít cũng phải đáp ứng một trong bốn đặc trưng,cũng là bốn tiêu chí xác định giá trị tiêu biểu mới trở thành DSVHVT:

một giai đoạn lịch sử trọng đại, tiêu biểu; một danh nhân lịch sử kiệt xuất.

thông tin, kinh nghiệm và tri thức sống) của con người

tuy không cùng ngôn ngữ, tiếng nói

Truyền thống và giá trị DSVH của một dân tộc nói lên bản sắc văn hóacủa dân tộc, đồng thời tạo nên những nét riêng, trở thành sức mạnh (kể cả mặtmạnh và mặt yếu) ăn sâu vào tâm thức dân tộc và định hình trong phong tục,tập quán, ngôn ngữ, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, mọi sinh hoạt và giaotiếp của cộng đồng dân tộc đó Trong sự đối thoại với những văn hóa khác,

Trang 37

DSVH (vật thể, phi vật thể) của dân tộc bao giờ cũng là giá trị nền tảng đểmọi thành viên giao lưu, hòa nhập quốc tế về mọi mặt mà không tự đánh mấtmình Mặt khác, mỗi người trong cộng đồng dân tộc, trong khi gìn giữ nhữnggiá trị tốt đẹp của bản sắc dân tộc, luôn luôn biết tiếp thu những tinh hoa giátrị văn hóa của các dân tộc khác để bổ sung, làm phong phú cho văn hóa dântộc mình.

1.2.1.3 Khái niêṃ bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa

Bảo tồn, theo Từ điển Tiếng Việt là “giữ lại không để cho mất đi” [43].

Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thứcvốn có của nó, bảo tồn là không để mai một, không để bị thay đổi, biến hóahay biến đổi hình thái

Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Bảo tồn là hoạt động giữgìn một cách đến tầm khi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại xảy ra, haynói cách khác bảo tồn là bảo quản kết cấu của một địa điểm ở hiện trạng vàkìm hãm sự xuống cấp của kết cấu đó” [46, tr.16]

Trong tiến trình lịch sử, hoạt động bảo tồn di sản văn hoá xuất hiệnngay từ khi con người ý thức được giá trị của di sản văn hoá trong đời sống,đồng thời hiểu được mối nguy hại do tác động của thiên nhiên và chính conngười gây ra, họ đã không ngừng tìm kiếm các biện pháp bảo tồn

Năm 1964, Hiến chương về bảo tồn, trùng tu di tích, di chỉ của tổ chứcHội đồng Quốc tế các di tích và di chỉ (ICOMOS) nhấn mạnh việc bảo tồn đòihỏi phải giữ gìn tình trạng nguyên gốc, có nghĩa không được phép làm thêmhay bớt đi mà phải bảo tồn nguyên vẹn:

Khi hãy còn là một khung cảnh truyền thống thì khung cảnh đóphải được bảo vệ Không một công trình xây dựng gì mới, một sựphá hoại hoặc sửa sang nào mà làm biến đổi mối tương quan giữakhối hình và màu sắc được phép tiến hành [125, tr.3]

Trang 38

Trong Luật di sản quốc gia Lào, thuật ngữ này được định nghĩa như sau: Bảo

vệ di sản quốc gia nghĩa là sự đề phòng không cho ăn cắp, tàn phá, thiêu đốt,

mất mát từ thiên nhiên hay được áp dụng không đúng với pháp luật Bảo tồn

di sản quốc gia nghĩa là giữ gìn giá trị, dấu vết, màu sắc văn

hóa, lịch sử, thiên nhiên của di sản quốc gia không để suy yếu hay diệt vong

Tôn tạo/trùng tu di sản quốc gia nghĩa là quá trình sửa chữa, giữ gìn

mô hình, hoa văn, chi tiết nguyên thủy, xây dựng hợp lý theo từng thời kỳđương nhiên phải tôn trọng theo đúng hình dáng xưa đã bị hủy hoại

Phát huy, theo Từ điển Tiếng Việt là “làm cho cái hay, cái tốt lan tỏa tác

dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [43] Phát huy là việc khai thác, sử dụng sảnphẩm một cách có hiệu quả, là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cáitốt lan tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao Pháthuy giá trị DSVH mục đích là phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội, cho sự pháttriển bền vững và góp phần quan trọng trong việc giáo dục truyền thống yêunước, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc đồng thời là nhịp cầu nối giao lưu vớibạn bè quốc tế

Ở nước Lào, bảo tồn và phát huy DSVH là hoạt động quan trọng trongviệc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và vẻ đẹp tâm hồn trí tuệ của ngườiLào trong thời đại ngày nay Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH là phương thức cóhiệu quả nhất để giữ gìn những giá trị văn hoá cổ truyền trong sự nghiệp xây dựngđất nước, vững vàng trong giao lưu hội nhập quốc tế Bảo tồn và phát huy luôn gắnliền với nhau như một cặp phạm trù trong việc xây dựng và phát triển văn hoá Bởi

lẽ, văn hoá là cái thể hiện sức sống của dân tộc, được truyền từ thế hệ này sang thế

hệ khác, nếu chỉ bảo tồn không đem ra sử dụng thì không phát huy được giá trị ẩnchứa trong di sản, rồi thời gian sẽ làm di sản phai mờ và nhanh chóng bị chìm vàoquên lãng Chỉ khi các giá trị di sản được phát huy thì mới có cơ sở, có căn cứ vàlàm điều kiện để bảo tồn

Trang 39

di sản Do vậy, phát huy sẽ tạo ra hướng tiếp nhận, ảnh hưởng mới làm chocác giá trị văn hoá không bị lãng quên mà còn lan tỏa và giữ được bản sắc củamình Bảo tồn là căn bản, làm cơ sở cho sáng tạo, phục vụ phát huy và ngượclại phát huy giúp cho bảo tồn di sản văn hoá được tốt hơn, toả sáng hơn.

Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị DSVH được coi là một hoạt độngkhoa học, đòi hỏi những kiến thức chuyên sâu, sự phối hợp liên ngành và phảituân thủ những nguyên tắc cao nhất của bảo tồn là giữ được tính nguyên gốccủa di sản gắn với những điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội cụ thể của từngthời kỳ Trên nguyên tắc đó, khi giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và pháthuy giá trị của di sản văn hoá cần có sự hiểu biết đầy đủ về nội dung chứađựng trong di sản, cũng như các thuộc tính của di sản văn hoá đó Đồng thờiđánh giá toàn diện, nhận định đâu là yếu tố gốc, yếu tố nội sinh, đâu là yếu tốngoại sinh, yếu tố kế thừa, thậm chí cả yếu tố tân trang vay mượn để từ đó có

sự lựa chọn hình thức bảo tồn cho phù hợp Mặt khác, cần nâng cao nhận thứccoi di sản văn hoá không những là cội rễ của bản sắc văn hoá, mà việc bảo tồn

và phát huy còn là giải pháp để phát triển bản sắc văn hoá dân tộc, là công cụtham gia vào toàn cầu hóa và là vốn liếng, là lợi thế có sức cạnh tranh trêntrường quốc tế

Vì vậy, việc phát huy di sản văn hoá và sáng tạo ra những sản phẩmđỉnh cao là trách nhiệm không của riêng ai, đặc biệt là trong quá trình toàncầu hoá, hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, mối quan hệ giữa bảo tồn vàphát huy các giá trị văn hoá truyền thống trước sự vận động mạnh mẽ của vănhóa bên ngoài càng phải được coi trọng hơn

1.2.2 Phân loại di sản văn hóa vật thể

Tùy theo góc độ của từng ngành khoa học, mà người ta có cách phânloại DSVHVT khác nhau Dưới góc độ Dân tộc học/Nhân học và Văn hóahọc, thông thường DSVHVT được hiểu là các thực thể hữu hình, gồm cácthành tố: Ăn, mặc, ở Suy rộng ra thì, các DSVHVT của cộng đồng các tộc

Trang 40

người bao gồm: làng bản, nhà cửa, ẩm thực, trang phục, sản phẩm của cácnghề thủ công truyền thống và các DTLS-VH, di chỉ khảo cổ học, danh thắng.

Theo đó, có các cách phân loại DSVHVT dưới đây:

- Phân loại theo chất liệu

Theo cách phân loại này, DSVHVT gồm có các DSVH được xây dựng, tạo tác bằng gỗ, đá, kim loại

- Phân loại theo mục đích sử dụng

Theo cách phân loại này, DSVHVT gồm có các DSVH được xây dựng,tạo tác nhằm mục đích: tôn giáo, giải trí, phục vụ đời sống, giáo dục, hànhchính, nghệ thuật

- Phân loại theo chủ thể quản lý

Theo cách phân loại này, chủ thể quản lý các DSVHVT được phân cấptheo cấp độ: Nhà nước, cộng đồng (địa phương) và tư nhân (Bảo tàng tư nhân,Nhà lưu niệm )

- Phân loại theo cách thức quản lý và bảo tồn

Theo cách phân loại này, cách thức quản lý và bảo tồn các DSVHVTgồm nhiều hình thức: Quản lý và bảo tồn tại chỗ, quản lý và bảo tồn tại bảotàng (bảo tồn tĩnh), quản lý và bảo tồn tại cộng đồng (bảo tồn động)

Như vậy, mỗi cách phân loại nêu trên vừa có những ưu điểm và hạn chếkhác nhau, song chúng đều có mục đích và ý nghĩa chung, đó là: việc phânloại làm sao vừa đáp ứng được yêu cầu về mặt khoa học, vừa có ý nghĩa thựctiễn Yêu cầu đảm bảo khoa học, sẽ làm cơ sở cho việc xây dựng nội dung đềcương phục vụ cho khảo sát, kiểm kê và kế hoạch quản lý di tích, danh thắng.Việc phân loại cũng còn có ý nghĩa phản ánh khách quan, khoa học một cáchđầy đủ, xác thực các đặc trưng văn hóa vật thể của quốc gia, dân tộc sở hữuchúng Cuối cùng, việc phân loại còn hướng tới khai thác, phát huy và bảo tồncác giá trị của các di tích, DSVHVT nói riêng, DSVH nói chung của quốc gia.Cũng cần lưu ý thêm là, bên cạnh những điểm chung, thì mỗi

Ngày đăng: 24/11/2020, 19:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w