1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn tỉnh quảng nam

90 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 115,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp sưu tầm, thu thập thông tin tư liệu: tiến hành thu thậpcác thông tin, tài liệu có liên quan từ nhiều nguồn khác nhau như: Sưu tầm tìmkiếm các nguồn t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM ĐÌNH CA

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM ĐÌNH CA

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật hiến pháp và luật hành chính

Mã số : 838 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN THỊ VIỆT HƯƠNG

HÀ NỘI, năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ

Luật Hiến pháp và Luật Hành chính “Quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” là

hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với đề tài khác trong cùng lĩnh vực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Quảng Nam, ngày tháng năm

2020

Tác giả luận văn

Phạm Đình Ca

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn đến BanGiám đốc, quý thầy, cô Học viện Khoa học Xã hội đã quan tâm và tạo điềukiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâusắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Việt Hương, người đã trực tiếp hướng dẫn đề tàicho tôi với tất cả lòng nhiệt tình và sự quan tâm

Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo, chuyên viênPhòng Người có công, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh QuảngNam; Trung tâm Nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công Quảng Nam, cùngbạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, tạo điều kiện, giúp đỡ và động viên tôitrong suốt thời gian học tập và nghiên cứu luận văn

Mặt dù bản thân đã tích cực, nỗ lực trong nghiên cứu, nhưng kiến thức

và kinh nghiệm có giới hạn nên không tránh những hạn chế, thiếu sót Tác giảkính mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp, góp ý của bạn bè, đồng nghiệp

và quý thầy, cô

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Trang 5

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI TỈNH QUẢNG NAM 277

2.1 Một số yếu tố đặc thù của tỉnh Quảng Nam ảnh hưởng đến quản lý nhànước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng 2772.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có côngvới cách mạng tại tỉnh Quảng Nam 352.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đốivới người có công với cách mạng tại tỉnh Quảng Nam 48

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE ĐỐI VỚI NGƯỜI

CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM 56

3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đốivới người có công từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 56

Trang 6

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đốivới người có công với cách mạng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 58

KẾT LUẬN 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT

123456789

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Số hiệu bảng

2.1

2.22.3

Trang 9

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Lịch sử Việt Nam đã trải qua các thời kỳ, với nhiều cuộc kháng chiếnchống giặc ngoại xâm, với ý chí sắt đá “Thà hy sinh tất cả chứ nhất địnhkhông chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” Do đó, mỗi cuộc chiến đi qua đã

để lại những hậu quả hết sức nặng nề, nhiều người đã cống hiến cả tuổi trẻ,sức lực, anh dũng chiến đấu và đã vĩnh viễn ra đi vì Tổ quốc và rất nhiềungười trở về sau chiến tranh mang trên mình thương tật, bệnh tật suốt đời,chịu nhiều đau đớn do những di chứng để lại hay bị nhiễm chất độc hóa học.Máu đào và sự hy sinh cao cả của thương binh, bệnh binh, liệt sĩ và nhữngngười đóng góp cho cuộc kháng chiến đã tô thắm màu cờ Tổ quốc, để cho đấtnước ta “Nở hoa độc lập, kết quả tự do”

Để thể hiện lòng tri ân đối với những người có công với cách mạng;Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với họ.Chăm lo đời sống người có công vừa là nhiệm vụ chính trị quan trọng, vừathể hiện đạo lý truyền thống cao đẹp “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớngười trồng cây” của dân tộc Việt Nam

Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãiđối với người có công với nước [17] Chính vì vậy, trong thời gian qua, Đảng

và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, chế độ và tổ chức vận độngtoàn dân chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các gia đình người có côngvới cách mạng Trong đó, chăm sóc sức khỏe và nâng cao đời sống cho người

có công với cách mạng luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm thực hiện Đồngthời, luôn nhận được sự tham gia hưởng ứng, góp sức của nhân dân nên trongnhững năm qua chính sách này đã đạt được một số kết quả khả quan

Trang 10

Như chúng ta đã biết, người có công với cách mạng là những ngườimang nhiều thương tật, bệnh tật, đa số lớn tuổi, sức khỏe giảm sút, thuộcnhóm đối tượng yếu thế trong xã hội Do đó, sức khỏe và chăm sóc sức khỏeđối với họ có vai trò rất quan trọng Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh dànhtình cảm đặc biệt và luôn nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân ta ghi nhớ công ơn tolớn của các đồng chí thương binh, liệt sĩ Cách đây 73 năm, Bác Hồ đã chỉ thịchọn ngày 27/7 hàng năm là ngày “Tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái” đối với thươngbinh, gia đình liệt sĩ Người căn dặn: “Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phảigiúp đỡ những người con anh dũng ấy”.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam cho thấychính sách này còn nhiều hạn chế, bất cập, đó là: chính sách thường xuyênthay đổi, không mang tính kế thừa; công tác chăm sóc sức khỏe đối với người

có công chưa được quan tâm đúng mức; nguồn lực đầu tư còn hạn chế; cơ sởvật chất, trang thiết bị tại các cơ sở nuôi dưỡng còn thiếu

Xuất phát từ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người có công với cáchmạng và để khắc phục những khó khăn, vướng mắc nhằm nâng cao hiệu quảchăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng, gắn với thực tế công tác của

bản thân, tôi chọn đề tài nghiên cứu với nội dung: “Quản lý nhà nước về

chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn tốt nghiệp.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Cho đến nay, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng có rấtnhiều đề tài, bài viết đã được các tác giả quan tâm, nghiên cứu và công bố.Các đề tài, bài viết có cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, trong quá trìnhthực hiện đề tài, tác giả đã có điều kiện tiếp cận các công trình nghiên cứu tiêubiểu như sau:

* Các nghiên cứu về chính sách đối với người có công với cách mạng:

Trang 11

- Nguyễn Đình Liêu (1996), Luận án Phó tiến sĩ khoa học luật học,Trường Đại học Quốc gia Hà Nội “Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có côngvới cách mạng ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn” Luận án nêu những vấn đề

cơ bản như: Khái niệm Pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng, lịch sửhình thành và phát triển của pháp luật này, thực trạng của pháp luật này ở ViệtNam hiện nay và việc hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công [15]

- Nguyễn Thị Tuyết Vân, Vũ Thị Lan Hương (2017), “Nâng cao hiệuquả thực hiện chính sách ưu đãi người có công với nước”, Tạp chí Quản lýnhà nước số 258 (7/2017) Qua nghiên cứu, tác giả nêu khái quát việc thựchiện chính sách ưu đãi người có công với nước ở Việt Nam hiện nay, một sốhạn chế tồn tại và đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chínhsách ưu đãi người có công trong thời gian tới [34, tr 10-15]

- Lê Tấn Dũng (2019), “Thực hiện chính sách đối với người có công –Kết quả và những vấn đến đặt ra”, Tạp chí Cộng sản (9/2019) Tác giả nêukhái quát những kết quả đạt được, những khó khăn, bất cập trong việc xâydựng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công và đưa ra một số vấn

đề cần thực hiện trong thời gian đến [7]

* Các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe đối với người có công:

- Đỗ Huyền Trang (2017), Luận văn thạc sĩ công tác xã hội “Hoạtđộng chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng tại phường Tiền An,thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh” Luận văn phân tích thực trạng hoạt độngchăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng tại phường Tiền An và đềxuất các giải pháp nhằm nâng cao việc chăm sóc sức khỏe người có công đạtchất lượng và hiệu quả cao hơn [28]

- Vũ Thị Lan Nhi (2017), “Hoạt động công tác xã hội trong chăm sócsức khỏe người có công với cách mạng tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa,tỉnh Tuyên Quang” Luận văn tìm hiểu hoạt động công tác xã hội trong chăm

Trang 12

sóc sức khỏe người có công với cách mạng tại xã Kim Bình, từ đó chỉ ra kếtquả hoạt động trong chăm sóc sức khỏe người có công và đưa ra các giảipháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe người có công

xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang [16]

- Phạm Anh Thắng - Phó trưởng đại diện Văn phòng Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, “Một số vấn đề về côngtác điều dưỡng người có công với cách mạng”, Tạp chí Lao động và Xã hội số

526 (2016) Tác giả đã đánh giá khái quát những kết quả đạt được và tồn tại,hạn chế của công tác điều dưỡng chăm sóc sức khỏe người có công, từ đó đềxuất một số giải pháp để thực hiện tốt hơn nữa công tác điều dưỡng chăm sócsức khỏe người có công [24, tr 9-10]

Nhìn chung các công trình nghiên cứu cũng như tạp chí trên phần lớn

đề cập đến việc hoàn thiện pháp luật, triển khai thực hiện chính sách ưu đãingười có công với cách mạng và các hoạt động chăm sóc sức khỏe người cócông với cách mạng Tuy nhiên, theo tìm hiểu thì chưa có công trình nàonghiên cứu chuyên về lĩnh vực quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đốivới người có công với cách mạng Chính vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu đềtài này với mục đích làm rõ công tác quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏeđối với người có công với cách mạng tại tỉnh Quảng Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn có mục đích xác lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất cácgiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏeđối với người có công với cách mạng ở tỉnh Quảng Nam nói riêng, trên địabàn cả nước nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tập hợp, phân tích làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận và pháp luật

Trang 13

liên quan đến quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng ở Việt Nam.

- Mô tả và đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về chămsóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh QuảngNam, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của ưu điểm, hạn chếtrong quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cáchmạng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hiện nay

- Xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp có tính đồng bộ,khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đốivới người có công với cách mạng ở tỉnh Quảng Nam nói riêng, trên địa bàn cảnước nói chung

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các quan điểm khoa học liên quan đến quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

- Hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước

về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng ở Việt Nam

- Thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

- Một số kinh nghiệm quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng tại một số tỉnh, thành ở Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Đề tài luận văn nghiên cứu lý luận, pháp luật vàthực tiễn quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công vớicách mạng ở Việt Nam nói chung, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng

- Phạm vi thời gian: Đề tài luận văn nghiên cứu trong khoảng thờigian 05 năm (từ 2015 đến 2019)

Trang 14

- Phạm vi không gian: Đề tài luận văn được nghiên cứu chủ yếu dựatheo số liệu, tư liệu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Trong quá trình nghiên cứu,luận văn có chú ý tìm hiểu kinh nghiệm của một vài địa phương khác.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin Luận văn tiếp cận trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm,đường lối của Đảng, Nhà nước về chính sách đối với người có công với cáchmạng ở Việt Nam

Một số lý thuyết về quản trị quốc gia, học thuyết về quyền con người

sẽ được vận dụng ở các mức độ khác nhau trong quá trình nghiên cứu đề tàiluận văn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp sưu tầm, thu thập thông tin tư liệu: tiến hành thu thậpcác thông tin, tài liệu có liên quan từ nhiều nguồn khác nhau như: Sưu tầm tìmkiếm các nguồn tài liệu có sẵn ở sách, báo, khóa luận, tạp chí, pháp lệnh, nghịđịnh, thông tư và các báo cáo tổng kết công tác thực hiện chính sách đối vớingười có công tại địa phương và các bài viết trên mạng internet, website củaChính phủ và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội…

- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp đánh giá: được sử dụngtrong việc thống kê, xử lý các thông tin, số liệu đã thu thập được; phân tíchlàm rõ một số vấn đề quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người

có công với cách mạng Từ đó, tổng hợp đánh giá trách nhiệm, nghĩa vụ vàcác nội dung quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có côngvới cách mạng

Trang 15

- Phương pháp tham vấn ý kiến: nhằm thăm dò ý kiến và thu thậpthông tin về thực trạng và nhu cầu của người có công đối với công tác chămsóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng trên địa bàn.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Về lý luận: Luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữliệu cho việc phân tích, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn nhằmhoạch định, ban hành các văn bản, chính sách quản lý nhà nước đối với người

có công với cách mạng và việc tổ chức thực hiện chính sách này một cách đầy

đủ trong thực tiễn

Về thực tiễn: Luận văn đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằmnâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người cócông với cách mạng, qua đó giúp các cơ quan quản lý và thực thi chính sáchtham khảo, vận dụng vào tình hình thực tế của tỉnh Quảng Nam nói riêng, tạimột số tỉnh thành trên cả nước nói chung Kết quả nghiên cứu của luận văncũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong hoạt động nghiên cứu,đào tạo lĩnh vực chuyên ngành luật

7. Kết cấu của luận văn

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của quản lý nhà nước

về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối vớingười có công với cách mạng tại tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhànước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng từ thực tiễntỉnh Quảng Nam

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE

ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại người có công với cách mạng

* Khái niệm người có công với cách mạng

Chính sách ưu đãi đối với NCCVCM được thực hiện từ khi Chủ tịchnước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Sắc lệnh số 20/SL ngày 16/02/1947,nhưng cho đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào định nghĩa như thếnào là “người có công với cách mạng” Tuy nhiên, căn cứ vào điều kiện, tiêuchuẩn xác nhận đối với từng đối tượng NCCVCM mà Nhà nước đã quy định,trong một số công trình nghiên cứu đã nêu khái niệm “người có công với cáchmạng” theo 2 nghĩa sau:

Theo nghĩa rộng: “Người có công với cách mạng là những người

không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước Họ là người có những thành tích đóng góp hoặc những cống hiến xuất sắc phục vụ vì lợi ích của đất nước, của dân tộc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật” Với nghĩa này, có thể thấy những tiêu chí cơ bản của

NCCVCM, đó là tự nguyện đóng góp, cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dântộc Thành tích cống hiến, đóng góp của họ có thể là trong đấu tranh giành

Trang 17

độc lập, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hoặc trong xây dựng đất nước [30,tr.18-19].

Theo nghĩa hẹp: “Người có công với cách mạng là những người

không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật” Ở đây được hiểu, NCCVCM bao gồm người tham gia hoặc giúp

đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời mình hoặc một phần thân thể hoặc

có thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng [30, tr.19]

Theo dự thảo sửa đổi Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng

giải thích: “Người có công với cách mạng là người hy sinh, chết, bị thương

hoặc có thành tích cống hiến trong các thời kỳ cách mạng, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hoặc trong xây dựng đất nước; được Đảng, Nhà nước, nhân dân tôn vinh và được xác nhận theo quy định của Pháp lệnh này”

* Đặc điểm của người có công với cách mạng

Từ khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm của NCCVCM nhưsau:

Thứ nhất, người có công với cách mạng bao gồm người tham gia hoặc

giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời mình hoặc một phần thân thểhoặc có thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng

Thứ hai, người có công với cách mạng là người có thành tích đóng

góp hoặc cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc, những đóng góp, cốnghiến của họ có thể là trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ

Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

Thứ ba, phạm trù người có công với cách mạng rất rộng, trong phạm

vi hẹp, đối tượng NCCVCM là những người có công trong các cuộc chiến

Trang 18

tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở thời kỳ cách mạngdưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Hơn nữa, chính sách đối vớiNCCVCM chủ yếu điều chỉnh đối tượng này.

* Phân loại người có công với cách mạng

Theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng sửa đổi năm

2012 quy định người có công với cách mạng gồm:

- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;

- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngàykhởi nghĩa tháng Tám năm 1945;

- Liệt sĩ;

- Bà mẹ Việt Nam anh hùng;

- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;

- Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;

- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;

- Bệnh binh;

- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;

- Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù,đày;

- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;

- Người có công giúp đỡ cách mạng [33]

1.1.1.2 Chế độ chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

Theo Điều 53 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 09/4/2013 củaChính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh

Ưu đãi người có công với cách mạng quy định chế độ CSSK như sau:

Trang 19

- Người có công với cách mạng và thân nhân được Nhà nước mua bảohiểm y tế theo quy định của pháp luật.

- Người có công với cách mạng đang được nuôi dưỡng tại cơ sở của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội thì hưởng chế độ điều trị

- Người có công với cách mạng sống ở gia đình và thân nhân đã được quy định tại Pháp lệnh hưởng mức chi điều dưỡng như sau:

+ Điều dưỡng tập trung là 2.220.000 đồng/người/lần;

+ Điều dưỡng tại nhà là 1.110.000 đồng/người/lần

- Người có công với cách mạng và thân nhân theo quy định của Pháplệnh được phục hồi chức năng lao động, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụchỉnh hình [5]

Người có công với cách mạng thường là những người bị suy giảm khảnăng lao động, sức khỏe giảm sút, trong đó đặc biệt là đối tượng thương binh,bệnh binh Chính vì vậy, việc CSSK đối với NCCVCM thông qua chế độ điềudưỡng phục hồi sức khỏe, điều trị, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnhhình, cấp bảo hiểm y tế là hết sức cần thiết

1.1.1.3 Quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

Để hiểu rõ khái niệm quản lý nhà nước về CSSK đối với NCCVCM,chúng ta cần làm rõ các khái niệm sau:

Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượngquản lý nhằm chỉ huy điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vicủa cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luậtkhách quan [35]

Quản lý nhà nước là chỉ huy, điều hành xã hội để thực thi quyền lựcNhà nước; là tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước

có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước, do các cơ quan

Trang 20

nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) có tư cách pháp nhân công pháp(công quyền) tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện cácchức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đã giao cho trong việc tổchức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân [35].

Từ các khái niệm trên, có thể rút ra khái niệm quản lý nhà nước về

CSSK đối với NCCVCM như sau: Quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe

đối với người có công với cách mạng là quá trình các cơ quan hành chính nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng và tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn, triển khai thực hiện tốt trách nhiệm của Nhà nước trong việc đãi ngộ, ưu tiên đặc biệt về đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công với cách mạng.

1.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

Một là, chủ thể quản lý nhà nước về CSSK đối với NCCVCM là hệ

thống các cơ quan hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương Theo

đó, Chính phủ quy định về chế độ, chính sách; các bộ, ngành theo phạm vi,chức năng hướng dẫn, triển khai thực hiện; UBND các cấp thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước, chỉ đạo, xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chứcthực hiện chính sách CSSK đối với NCCVCM ở địa phương mình

Hai là, mục đích của chính sách CSSK đối với NCCVCM là nhằm

tôn vinh, ghi nhận sự cống hiến, hy sinh, góp phần chăm sóc, ổn định đờisống vật chất, tinh thần của NCCVCM và gia đình họ, tạo sự ổn định chínhtrị, phát triển xã hội; đồng thời, là sự thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp,truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam

Ba là, nội dung chính sách CSSK đối với NCCVCM được quy định

bằng chủ trương, quan điểm, thông qua các nghị quyết, chỉ thị và các quy địnhcủa pháp luật mang tính toàn diện, thông qua các chế độ trợ cấp, phụ

Trang 21

cấp; bảo hiểm y tế, điều dưỡng, điều trị, dụng cụ chỉnh hình, ưu đãi về tinhthần và một số chế độ ưu đãi khác

Bốn là, tổ chức thực hiện chính sách CSSK đối với NCCVCM là quá

trình hoạt động của các chủ thể, lực lượng nhằm hiện thực hóa nội dung chínhsách một cách hiệu quả Theo đó, theo phạm vi và chức năng (chức trách), các

tổ chức, cá nhân nhận thức đầy đủ mục đích, ý nghĩa, nội dung của chínhsách; làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến đến các đối tượng và nhân dân;chuẩn bị đẩy đủ các nguồn lực và tổ chức thực hiện khoa học, hợp lý, dânchủ, công khai, công bằng; phân công trách nhiệm cụ thể; tổ chức thanh tra,kiểm tra phát hiện, phòng ngừa và xử lý vi phạm trong thực hiện chính sáchCSSK đối với NCCVCM

Năm là, nguồn lực thực hiện chính sách CSSK đối với NCCVCM

được thực hiện thông qua hai nguồn lực chính, đó là: nguồn ngân sách nhànước và nguồn xã hội hóa Trong đó, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; đồng thời,đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và người dântham gia Theo đó, ngân sách Trung ương bảo đảm kinh phí để thực hiện cácchế độ đối với người có công chủ yếu bằng hình thức trợ cấp, phụ cấp, bảohiểm y tế, điều dưỡng, điều trị, dụng cụ chỉnh hình, nhà ở… Ngoài ngân sáchTrung ương, các địa phương bố trí thêm kinh phí để thực hiện chính sách ưuđãi NCCVCM Cùng với ngân sách nhà nước, nguồn lực xã hội hóa thông quacác hoạt động vận động các tổ chức, cá nhân đóng góp quỹ “Đền ơn đápnghĩa”, tặng sổ tiết kiệm, nhà tình nghĩa, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anhhùng… góp phần quan trọng thực hiện chính sách đối với NCCVCM [13]

1.1.3 Ý nghĩa của quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

Quản lý nhà nước về CSSK đối với NCCVCM là nhiệm vụ chính trị

có ý nghĩa nhân văn cao đẹp; thể hiện sâu sắc đạo lý "Uống nước nhớ nguồn",

Trang 22

“Đền ơn đáp nghĩa” của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, nhằm tôn vinh và tri

ân đối với những cống hiến, đóng góp và hy sinh của NCCVCM; góp phầnchăm sóc, ổn định đời sống vật chất, tinh thần của NCCVCM và gia đình của

họ, tạo sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực cho sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Hệ thống chính sách, pháp luật về ưu đãi NCCVCM ngày càng đượchoàn thiện về chế độ ưu đãi, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để các cơ quan,

tổ chức và cá nhân nâng cao nhận thức, tham gia tích cực vào việc “Đền ơnđáp nghĩa”, chăm lo cho NCCVCM, tạo sự đồng thuận cao, góp phần bảođảm công bằng xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để NCCVCM và gia đình xâydựng và cải thiện cuộc sống, tiếp tục khẳng định và phát huy truyền thốngcách mạng của gia đình và bản thân NCCVCM

Ngành LĐ-TB&XH phấn đấu đến hết năm 2020 sẽ thực hiện đượcmục tiêu 100% gia đình NCCVCM có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sốngtrung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú Những nỗ lực này chính là hànhđộng thiết thực nhất, ý nghĩa nhất của thế hệ đi sau đối với sự hy sinh to lớncủa các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người tham gia cách mạng

đã cống hiến vì độc lập, tự do của Tổ quốc hôm nay

1.2 Chủ thể, nguyên tắc, nội dung quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

1.2.1 Chủ thể quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về CSSK đối với NCCVCM

Bộ LĐ-TB&XH chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lýnhà nước về CSSK đối với NCCVCM

Các bộ, ngành có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về CSSK đối với NCCVCM

Trang 23

UBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước về CSSK đối vớiNCCVCM trong phạm vi địa phương mình; cơ quan LĐ-TB&XH địa phươnggiúp UBND cùng cấp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về CSSK đối vớiNCCVCM tại địa phương [33].

1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

hy sinh, đóng góp to lớn của các thế hệ NCCVCM; xác định việc chăm lo,thực hiện chính sách ưu đãi đối với NCCVCM là bổn phận, trách nhiệm vànhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội

1.2.2.2 Nguyên tắc công khai, minh bạch

Công tác quản lý, xây dựng và thiết kế chính sách ưu đãi đối vớiNCCVCM phải bảo đảm công khai, minh bạch về điều kiện, tiêu chí côngnhận và tôn vinh NCCVCM; công khai đầy đủ, rõ ràng và kịp thời quy trình,thủ tục xác lập hồ sơ; các chế độ, chính sách ưu đãi của nhà nước đối vớiNCCVCM cho nhân dân và NCCVCM được biết để xác lập thủ tục, hồ sơ thụhưởng chính sách và tiến hành giám sát việc thực hiện chính sách của các cơ

Trang 24

quan nhà nước tại địa phương, đảm bảo xác định đúng đối tượng, không đểsót đối tượng và khắc phục tình trạng lọt đối tượng và lợi dụng chính sách ưuđãi NCCVCM để trục lợi.

1.2.2.3 Nguyên tắc công bằng và đảm bảo quyền lợi người có công với cách mạng

Trong thực hiện chế độ ưu đãi của Nhà nước đối với NCCVCM phảiđảm bảo nguyên tắc công bằng và đảm bảo quyền lợi cho NCCVCM Rà soát,tính toán và cân đối các mức trợ cấp, phụ cấp, chế độ chính sách phù hợp vớiđiều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ, để đảmbảo tương quan với mức độ đóng góp, hy sinh của từng nhóm đối tượngNCCVCM; đồng thời bổ sung các chế độ chính sách còn bất cập hoặc chưađược ghi nhận trong Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng; bảo đảmtính khả thi trong việc giải quyết chính sách đối với NCCVCM của từng giaiđoạn lịch sử cách mạng, từng thời kỳ kháng chiến và phù hợp với từng vùng,miền trong cả nước

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

1.2.3.1 Ban hành chính sách, pháp luật về người có công với cách mạng

Sau ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch HồChí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 20/SL ngày 16/02/1947, sau đó được bổsung bằng Sắc lệnh số 242/SL ngày 12/10/1948 quy định tiêu chuẩn xác nhậnthương binh, truy tặng “Tử sĩ”, thực hiện chế độ “Hưu bổng thương tật” và

“Tiền tuất cho thân nhân tử sĩ” đến nay hệ thống các văn bản quy phạm phápluật về ưu đãi NCCVCM đã được nghiên cứu xây dựng, ban hành tương đốitoàn diện, đầy đủ và kịp thời, bảo đảm chất lượng để từng bước cụ thể hóađường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, là cơ sở pháp lý cho việc triển

Trang 25

khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với NCCVCM vàthân nhân; cơ bản đáp ứng yêu cầu đề ra.

Đặc biệt, từ năm 1986 đến nay, trong vấn đề ưu đãi đối vớiNCCVCM, hệ thống pháp luật nước ta đã có những thay đổi quan trọng, trong

đó nổi bật nhất là việc ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cáchmạng và Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Namanh hùng” trong cùng năm 1994 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành.Đây là một bước tiến mới trong việc pháp điển hóa pháp luật ưu đãiNCCVCM, là sự kế thừa, chọn lọc và phát triển những bài học của hơn nửathế kỷ qua

Sau 10 năm triển khai thực hiện và qua 03 lần sửa đổi, bổ sung; ngày29/6/2005, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11 thay thế Pháp lệnh năm 1994, trong đó đã mở rộng đối tượng, bổsung người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học trở thành mộttrong 12 diện đối tượng NCCVCM

Để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế của đất nước, ngày16/7/2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổsung Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (Pháp lệnh số04/2012/PL-UBTVQH13) và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều củaPháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng(Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13) Theo đó, đối tượng được mở rộng; điềukiện, tiêu chuẩn xác nhận đã cơ bản hoàn thiện và phù hợp thực tiễn; các chế

độ ưu đãi được nâng lên, nội dung ưu đãi được luật pháp hóa và trở thành một

hệ thống chính sách bao gồm nhiều mặt của đời sống (trợ cấp, phụ cấp, chămsóc sức khỏe, cải thiện nhà ở, ưu đãi về giáo dục - đào tạo, việc làm ); quyđịnh cụ thể hơn về thẩm quyền, trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phươngtrong quản lý nhà nước về chính sách ưu đãi đối với NCCVCM [13]

Trang 26

Để hướng dẫn và triển khai thực hiện, Chính phủ, Bộ LĐ-TB&XH vàcác cơ quan liên quan đã ban hành trên 100 Nghị định, Quyết định, thông tư

1.2.3.2 Xây dựng bộ máy quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

Theo quy định, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về CSSK đốivới NCCVCM; Bộ LĐ-TB&XH chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiệnchức năng quản lý nhà nước về CSSK đối với NCCVCM; UBND các cấpthực hiện quản lý nhà nước về CSSK đối với NCCVCM trong phạm vi địaphương mình

Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BLĐTBXH-BNV ngày02/10/2015 của liên Bộ LĐ-TB&XH và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở LĐ-TB&XH thuộc UBNDtỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng LĐ-TB&XH thuộc UBNDhuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; quy định Sở LĐ-TB&XH là cơquan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúpUBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về lĩnh vực NCCVCM với nhiệm vụ vàquyền hạn trình UBND cấp tỉnh dự thảo quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kếhoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; chương trình, đề án, dự án, biện pháp tổchức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước về lĩnh vựcNCCVCM thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở LĐ-TB&XH; hướng dẫn

và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật đối với NCCVCM; quản lýđối tượng, hồ sơ đối tượng và kinh phí thực hiện các chính sách, chế độ ưu đãiđối với NCCVCM; hướng dẫn và tổ chức các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”;quản lý và sử dụng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” cấp tỉnh

Phòng LĐ-TB&XH là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện,thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước vềlĩnh vực NCCVCM với nhiệm vụ và quyền hạn trình UBND cấp huyện ban

Trang 27

hành quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm;chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chínhnhà nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được giao; tổ chức thực hiện cácvăn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt; thông tin,tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực NCCVCM; hướng dẫnchuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực NCCVCM đối với cán bộ, công chức ở

xã, phường, thị trấn; phối hợp với các ngành, đoàn thể xây dựng phong tràotoàn dân chăm sóc, giúp đỡ NCCVCM; theo dõi, kiểm tra các tổ chức, cánhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực NCCVCM;ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữphục vụ công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực NCCVCM trên địa bàn; thựchiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiệnnhiệm vụ được giao theo quy định của UBND cấp huyện và Sở LĐ-TB&XH

Tại Thông tư số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019 của Bộ Nội vụhướng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt độngkhông chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố quy định nhiệm vụ của côngchức Văn hóa - xã hội: Tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong lĩnh vực lao động, thương binh

và xã hội theo quy định của pháp luật; trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:theo dõi, tổng hợp, báo cáo về số lượng và tình hình biến động các đối tượngNCCVCM; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện và chi trả các chế độ đối vớiNCCVCM; thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyênngành và do Chủ tịch UBND cấp xã giao

Như vậy, cơ quan quản lý nhà nước về CSSK đối với NCCVCM đượcxây dựng ở 4 cấp, trong đó Trung ương gồm: Chính phủ, Bộ LĐ-TB&XH, các

bộ ngành có liên quan như: Tài chính, Y tế…; ở cấp tỉnh, huyện và xã gồmUBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước, cơ quan LĐ-TB&XH đóng

Trang 28

vai trò chính, phối hợp với các ngành chức năng liên quan tham mưu choUBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương

1.2.3.3 Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

Chính sách ưu đãi đối với NCCVCM là một chính sách đặc biệt, thểhiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”; sự tôn vinh, tri ân và đãi ngộ của Đảng,Nhà nước đối với những cống hiến, hy sinh của NCCVCM

Tổ chức thực hiện chính sách CSSK đối với NCCVCM là quá trìnhhoạt động của các chủ thể nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách một cáchhiệu quả Theo đó, Bộ LĐ-TB&XH chủ trì xây dựng, trình cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quyphạm pháp luật, kế hoạch, chương trình về CSSK đối với NCCVCM; đồngthời, phối hợp với các cơ quan liên quan như: Bộ Y tế, Bộ Tài Chính, Bảohiểm xã hội … chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, thực hiện chế độ bảo hiểm y tế và

bố trí, phân bổ ngân sách để tổ chức thực hiện và phân công trách nhiệm cụthể nhằm đạt mục tiêu CSSK đối với NCCVCM

Về chế độ Bảo hiểm y tế: Theo quy định tại Thông tư số

25/2016/TT-BLĐTBXH ngày 27/6/2016 (được thay thế bởi Thông tư số BLĐTBXH ngày 26/12/2019) của Bộ LĐ-TB&XH hướng dẫn về đối tượng,nguyên tắc, thẩm quyền và trình tự lập danh sách đối tượng tham gia bảohiểm y tế Theo đó, UBND cấp xã: lập danh sách đối tượng tham gia bảohiểm y tế trên địa bàn theo quy định, định kỳ hàng quý rà soát tăng, giảm đốitượng tham gia bảo hiểm y tế để gửi cơ quan chuyên môn về lao động thuộcUBND cấp huyện và cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện; UBND cấp huyện:chỉ đạo cơ quan chuyên môn về lao động cấp huyện rà soát, kiểm tra, đốichiếu danh sách đối tượng tham gia bảo hiểm y tế; định kỳ báo cáo hằng năm

30/2019/TT-về cơ quan chuyên môn 30/2019/TT-về lao động thuộc UBND cấp tỉnh kết quả cấp thẻ

Trang 29

bảo hiểm y tế trên địa bàn; UBND cấp tỉnh: chỉ đạo, hướng dẫn UBND cấphuyện, UBND cấp xã triển khai thực hiện bảo đảm xác định đúng đối tượngtham gia bảo hiểm y tế và kiểm tra việc thực hiện, giải quyết khó khăn, vướngmắc phát sinh trong quá trình thực hiện [3].

Đồng thời, phối hợp với cơ quan y tế địa phương tổ chức thực hiệnviệc khám, chữa bệnh và CSSK đối với NCCVCM

Chế độ điều dưỡng, phục hồi sức khỏe: Theo Điều 6 Thông tư liên

tịch số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 03/6/2014 của liên Bộ TB&XH và Bộ Tài chính quy định: Phòng LĐ-TB&XH cấp huyện lập danhsách theo mẫu quy định đối tượng đủ điều kiện hưởng chế độ điều dưỡng tậptrung và điều dưỡng tại nhà trong năm, gửi Sở LĐ-TB&XH; Sở LĐ-TB&XHcăn cứ danh sách do Phòng LĐ-TB&XH gửi đến kiểm tra và ban hành Quyếtđịnh số lượng đối tượng điều dưỡng tập trung và điều dưỡng tại nhà; lập kếhoạch, tổ chức đưa đối tượng đi điều dưỡng tập trung bảo đảm theo đúng chế

LĐ-độ quy định, đồng thời chi trả chế LĐ-độ điều dưỡng tại nhà trực tiếp cho đốitượng được hưởng [2]

Chế độ điều trị: Theo Công văn số 416/NCC-KHTC ngày 23/5/2011

của Cục Người có công, Bộ LĐ-TB&XH hướng dẫn thực hiện chế độ điều trịquy định: Giám đốc Sở LĐ-TB&XH căn cứ vào kinh phí điều trị được giaohàng năm và số lượng người có công đang nuôi dưỡng; quyết định phân bổkinh phí và hướng dẫn Giám đốc Cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người cócông lập kế hoạch sử dụng kinh phí hàng tháng và cả năm để điều trị choNCCVCM đang nuôi dưỡng Kinh phí điều trị được chia thành 2 phần, phầnchủ yếu dùng cho nhu cầu sử dụng thuốc, phần còn lại hỗ trợ bồi dưỡng sứckhỏe Kinh phí điều trị phải sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng nhằmđiều trị tại chổ và củng cố sức khỏe đối với NCCVCM sau thời gian điều trịtại bệnh viện

Trang 30

Chế độ cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình: Theo Điều 10,

Điều 11 và Điều 12 Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTCngày 03/6/2014 của liên Bộ LĐ-TB&XH và Bộ Tài chính quy định trình tựthủ tục cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình:

Người được cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình gửi PhòngLĐ-TB&XH hoặc cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công thuộc Sở LĐ-TB&XH (sau đây gọi tắt là Trung tâm) đối với các trường hợp đang đượcnuôi dưỡng tại Trung tâm các giấy tờ sau: Đơn đề nghị lập Sổ theo dõi cấpphương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình và Giấy chỉ định của cơ sở y tế vềviệc sử dụng phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình

Phòng LĐ-TB&XH hoặc Trung tâm: Trong thời gian 10 ngày làm việc

kể từ ngày nhận được các giấy tờ hợp lệ theo quy định có trách nhiệm lậpdanh sách cấp Sổ theo dõi kèm các giấy tờ liên quan gửi đến Sở LĐ-TB&XH;lập Sổ quản lý và phát Sổ theo dõi cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnhhình cho đối tượng; căn cứ Sổ quản lý, lập danh sách người có công đến niênhạn được cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình và dự toán kinh phíhàng năm gửi Sở LĐ-TB&XH theo quy định

Sở LĐ-TB&XH: Trong thời gian 15 ngày, kể từ ngày nhận được giấy

tờ hợp lệ do Phòng LĐ-TB&XH hoặc Trung tâm chuyển đến, có trách nhiệmkiểm tra, đối chiếu hồ sơ, lập Sổ quản lý, Sổ theo dõi của từng đối tượng vàchuyển về Phòng LĐ-TB&XH hoặc Trung tâm để phát cho đối tượng; trongthời gian 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được danh sách có trách nhiệmkiểm tra, đối chiếu Sổ quản lý, ra quyết định cấp phương tiện trợ giúp, dụng

cụ chỉnh hình; lập bảng tổng hợp dự toán kinh phí hàng năm và thực hiện cấpphát, quản lý, thanh quyết toán theo quy định [2]

Trang 31

1.2.3.4 Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến thực hiện chế độ chăm sóc sức khỏe đối với người

có công với cách mạng

Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết đơn thưkhiếu nại, tố cáo là trách nhiệm và là một trong những nhiệm vụ quan trọngcủa các cơ quan hành chính nhà nước, là vấn đề luôn được nhiều cấp, nhiềungành quan tâm triển khai thực hiện

Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm là một trong những hoạt động quantrọng trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tổ chức thực hiệnchính sách CSSK đối với NCCVCM Thông qua thanh tra, kiểm tra để pháthiện ra những khiếm khuyết, hạn chế của chế độ chính sách, từ đó đề xuất sửađổi, bổ sung; đồng thời, qua thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện những saiphạm, lợi dụng thực hiện chính sách CSSK đối với NCCVCM để trục lợi, gâythiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền lợi của NCCVCM thì tùy theo tínhchất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặctruy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quyđịnh của pháp luật

Trong lĩnh vực ưu đãi NCCVCM nói chung, CSSK đối với NCCVCMnói riêng, những vụ việc liên quan đến khiếu nại, tố cáo về sai phạm trongthực hiện chế độ, chính sách gây ảnh hưởng lớn đến trật tự xã hội, tư tưởngchính trị, đặc biệt là ảnh hưởng đến việc giáo dục truyền thống cách mạng đốivới thế hệ trẻ, sẽ làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, vàođội ngũ công chức thực hiện chính sách Do đó, việc giải quyết khiếu nại, tốcáo phải thật sự công tâm, khách quan, kịp thời, công khai, dân chủ và đúngquy định của pháp luật; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếunại, người bị khiếu nại, người tố cáo, người bị tố cáo và cá nhân, tổ chức liênquan

Trang 32

1.3 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

1.3.1 Sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy đảng, chính quyền

Qua các thời kỳ cách mạng; Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn dành

sự quan tâm sâu sắc đối với NCCVCM Chăm lo NCCVCM vừa là nhiệm vụchính trị quan trọng, vừa là thể hiện đạo lý truyền thống “Uống nước nhớnguồn” cao đẹp của dân tộc Việt Nam Có thể nói, chính sách ưu đãi đối vớiNCCVCM chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xãhội của Đảng và Nhà nước ta

Trong các Văn kiện từ Đại hội VI đến Đại hội XI Đảng ta đều khẳngđịnh: “Quan tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và nhữngngười có công với cách mạng, vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là tráchnhiệm của toàn dân…” [9, t.7, tr.558] Gần đây nhất, Văn kiện Đại hội XIIĐảng ta yêu cầu: "Thực hiện tốt chính sách chăm sóc người có công với cáchmạng; giải quyết tốt lao động, việc làm và thu nhập của người lao động; bảođảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội…" [8, tr.31]

Thực hiện chính sách chăm sóc NCCVCM; trong những năm qua,Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách phù hợp vớiđiều kiện phát triển kinh tế của đất nước Đây là một thành quả to lớn đáp ứngyêu cầu chăm sóc các đối tượng NCCVCM Các cấp, các ngành từ Trungương đến địa phương đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kịpthời, hiệu quả công tác này Các chính sách ưu đãi đối với NCCVCM đượcthực hiện đúng, đầy đủ và kịp thời Phong trào "Toàn dân chăm sóc các giađình thương binh, liệt sĩ và người có công" ngày càng phát triển sâu rộng,được các cấp ủy, chính quyền và nhân dân nhiệt tình hưởng ứng nhằm cảithiện, nâng cao đời sống của NCCVCM và trở thành nét đẹp trong đời sốngvăn hóa của dân tộc

Trang 33

1.3.2 Năng lực và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức

Cần sự quan tâm đến năng lực cán bộ, công chức thực hiện chính sáchCSSK đối với NCCVCM, vì đây là yếu tố có vai trò quyết định đến kết quảcủa tổ chức thực hiện chính sách Các cán bộ, công chức khi được giao nhiệm

vụ tổ chức thực hiện chính sách CSSK đối với NCCVCM, cần nêu cao tinhthần trách nhiệm và chấp hành tốt kỷ luật trong lĩnh vực này mới đạt hiệu quảthực hiện chính sách Đây là nhân tố quan trọng đối với mỗi cán bộ, côngchức để thực hiện đưa chính sách vào cuộc sống Trong thực tế, năng lực yếu

sẽ dẫn đến các cơ quan có thẩm quyền đưa ra những kế hoạch, dự kiến khôngsát thực tế, hiệu lực không có, nguồn lực huy động bị lãng phí, hiệu quả làmbiến dạng chính sách trong quá trình tổ chức thực hiện Cán bộ, công chức cóđạo đức, năng lực thực tế còn thể hiện ở thủ tục giải quyết giữa vấn đề trongquan hệ giữa các cơ quan nhà nước với cá nhân và tổ chức trong xã hội Vìvậy, cán bộ, công chức có năng lực chuyên môn thì việc thực hiện chính sáchtốt, không những chủ động điều phối được các yếu tố chủ động tác động theođịnh hướng, mà ảnh hưởng tiêu cực của các yếu tố khách quan trong công tác

tổ chức thực hiện chính sách mang lại kết quả

1.3.3 Điều kiện kinh tế và sự ủng hộ của nhân dân

Xây dựng, ban hành và thực hiện chính sách CSSK đối với NCCVCMtrước hết là trách nhiệm của Nhà nước Tùy thuộc vào điều kiện phát triểnkinh tế - xã hội của từng giai đoạn mà nhà nước xác định mức ưu đãi phù hợp

Do đó, sự phát triển về kinh tế - xã hội là điều kiện vật chất để thực hiện chínhsách ưu đãi đối với NCCVCM, chính sách ưu đãi cũng ảnh hưởng đến việcthực hiện các mục tiêu kinh tế, góp phần tạo ra sự ổn định kinh tế - xã hội

Khả năng về tài chính và điều kiện cơ sở vật chất của đất nước là nhân

tố hết sức quan trọng đối với việc quản lý nhà nước về CSSK đối với

Trang 34

NCCVCM Khi có khả năng về tài chính và vật chất đảm bảo thì đối tượngNCCVCM có thể được mở rộng, chế độ CSSK cũng được quy định ở mứccao hơn Ngược lại, khả năng tài chính và cơ sở vật chất còn hạn hẹp thì việcthực hiện các nội dung của quản lý nhà nước về CSSK đối với NCCVCM sẽgặp khó khăn hơn.

Bên cạnh đó, nhân dân ta có truyền thống đoàn kết, tương thân tương

ái, “Thương người như thể thương thân”, sẵn sàng hy sinh, đóng góp sứcngười, sức của vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc Thành công của cuộc cáchmạng dân tộc và việc thực hiện phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” toàn dân chămsóc NCCVCM của nhân dân ta đã chứng minh điều đó

Tiểu kết chương 1

Công tác CSSK đối với NCCVCM là một trong những chính sách lớn,thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta nhằm tri ân và thể hiện lòngbiết ơn đối với những NCCVCM – những người mà sức khỏe và điều kiệnsống của họ chắc chắn còn gặp nhiều khó khăn

Nội dung chương 1 của luận văn chủ yếu tập trung đề cập đến nhữngvấn đề lý luận và pháp luật về CSSK đối với NCCVCM bao gồm: khái niệm

về NCCVCM, chế độ CSSK; đặc điểm, nguyên tắc và nội dung quản lý nhànước về CSSK đối với NCCVCM; những yếu tố tác động đến công tác quản

lý nhà nước…Trong chương này cũng đã nghiên cứu, phân tích kinh nghiệmcủa một số địa phương bạn

Từ những phân tích các nội dung về lý luận và pháp luật trên là cơ sở

và điều kiện để phân tích, đánh giá làm rõ thực trạng công tác quản lý nhànước về CSSK đối với NCCVCM tại tỉnh Quảng Nam ở chương sau

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHĂM SÓC

SỨC KHỎE ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG

TẠI TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Một số yếu tố đặc thù của tỉnh Quảng Nam ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng

2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên và dân số

Quảng Nam là tỉnh ven biển, nằm ngay giữa miền Trung, trong vùngkinh tế trọng điểm miền Trung gồm Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam,Quảng Ngãi và Bình Định Ngày 01/01/1997, tỉnh Quảng Nam được tái lậptheo Nghị quyết Quốc hội khóa IX tại kỳ họp thứ 10 trên cơ sở chia tách tỉnhQuảng Nam – Đà Nẵng; phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía Đông giápbiển Đông, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dânLào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; có 18 đơn vị hành chính cấp huyện,gồm 02 thành phố, 01 thị xã, 06 huyện đồng Bằng và 09 huyện miền núi; với

241 xã, phường, thị trấn (trong đó có 84 xã đặc biệt khó khăn thuộc chươngtrình 135 và 19 xã đặc biệt khó khăn bãi ngang ven biển thuộc chương trình257) Diện tích tự nhiên của tỉnh là 10.406 km2, dân số toàn tỉnh gần 1,5 triệungười Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, nên có nhiệt độ cao và ítbiến động Chế độ ánh sáng, mưa ẩm phong phú, nhiệt độ trung bình nằm trên

250c, thời tiết chia thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng

2.1.1.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội

Tỉnh Quảng Nam có bờ biển dài trên 125 km, ngoài khơi có đảo Cùlao chàm; có sân bay, cảng, biển, khu kinh tế mở Chu Lai, tuyến quốc lộ 1A

và đường sắt Bắc - Nam chạy qua tỉnh; cơ cấu kinh tế: công nghiệp – xây

Trang 36

dựng và dịch vụ chiếm khoảng 90% (công nghiệp – xây dựng hơn 46%, dịch

vụ 44%); nông nghiệp khoảng 10% Sau 4 năm triển khai thực hiện kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2016 - 2020, kinh tế Quảng Namtiếp tục phát triển vượt bậc, trở thành điểm sáng của Vùng kinh tế trọng điểmmiền Trung, với quy mô nền kinh tế gần 100.000 tỷ đồng, đứng vị thứ haitrong Vùng Kinh tế phát triển toàn diện với nhịp độ tăng trưởng và quy môtăng nhanh Tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2016 - 2019 đạt10,7%/năm; GRDP bình quân đầu người đạt 66,3 triệu đồng Ngành côngnghiệp đóng góp tích cực vào nền kinh tế, nhất là sản xuất, lắp ráp ô tô Thungân sách của tỉnh tăng cao, riêng năm 2019, tổng thu ngân sách đạt 22.711 tỷđồng Đặc biệt, kể từ năm 2017, sau 20 năm tái lập, Quảng Nam trở thành tỉnh

tự cân đối ngân sách, có điều tiết về ngân sách Trung ương Thu nhập bìnhquân đầu người năm 2019 đạt 66 triệu đồng, tăng hơn 4 triệu đồng so với năm

2018 Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được chú trọng, cơ bản gắn kết hài hòa vớiphát triển kinh tế, chất lượng cuộc sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện

rõ rệt Các chính sách đối với người có công, bảo đảm an sinh xã hội, giảmnghèo bền vững được các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo thực hiện đạt kếtquả Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực: lao động ngành nông -lâm - ngư nghiệp chiếm 40%, công nghiệp - xây dựng chiếm 29,2%, nhómngành thương mại - dịch vụ chiếm 30,8%

Là tỉnh có số lượng đối tượng người có công với cách mạng đông(chiếm trên 23% dân số), với trên 65.400 liệt sĩ; trên 30.500 thương, bệnhbinh; trên 45.400 người có công giúp đỡ cách mạng; trên 11.500 người hoạtđộng cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; trên 33.700 ngườitham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân, Huy chương; gần 6.000 ngườitham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học Đặc biệt,

cả tỉnh có 15.184 Bà mẹ được Đảng, Nhà nước phong tặng và truy tặng danh

Trang 37

hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, trong đó có 2.582 Mẹđược phong tặng, hiện nay còn sống 641 Mẹ Là địa phương chịu hậu quảnặng nề của chiến tranh, lại thường xuyên bị thiên tai, bão lụt nên đời sốngcủa nhân dân nói chung, NCCVCM nói riêng gặp nhiều khó khăn.

Với những đặc điểm nêu trên, trong những năm qua, cùng với nỗ lựcphấn đấu, tập trung phát triển kinh tế - xã hội, công tác ưu đãi đối vớiNCCVCM và phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” luôn được Đảng bộ, chínhquyền và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp tỉnh Quảng Nam xác định đây

là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên và đã quan tâm chỉ đạo, triểnkhai thực hiện và đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao đờisống vật chất và tinh thần của NCCVCM và gia đình họ; nhiều NCCVCM đã

có ý chí vươn lên tiếp tục có nhiều đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và pháttriển của tỉnh

2.1.2 Thực trạng người có công với cách mạng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng tại tỉnh Quảng Nam

2.1.2.1 Thực trạng người có công với cách

mạng * Số lượng người có công với cách mạng

Quảng Nam là một trong những địa phương có truyền thống cáchmạng hào hùng, trong chiến tranh nơi đây là địa bàn chiến đấu gian khổ, ácliệt suốt 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có rất nhiều người con

ưu tú đã anh dũng chiến đấu hy sinh, bị thương tật, bệnh tật Chính vì vậy, saungày hòa bình thống nhất đất nước, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhànước, Tỉnh đã chỉ đạo đẩy mạnh công tác xác nhận và thực hiện chính sáchđối với NCCVCM Tính đến hết năm 2019, toàn tỉnh Quảng Nam có 210.060NCCVCM được xác nhận, hiện nay có 39.653 NCCVCM đang hưởng trợ cấphàng tháng; trong đó: có 24 Người HĐCM trước ngày 01/01/1945, 21 NgườiHĐCM từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, 641

Trang 38

Mẹ Việt Nam anh hùng, 19 Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùnglao động, 13.043 Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh,5.722 Bệnh binh, 4.770 Người HĐKC bị nhiễm chất độc hóa học, 8.359Người HĐCM, HĐKC bị địch bắt tù, đày và 7.054 Người có công giúp đỡcách mạng.

Bảng 2.1 Tổng số người có công với cách mạng được xác nhận

và số người đang hưởng trợ cấp hàng tháng tỉnh Quảng Nam

TT

1

Người HĐCM01/01/1945Người

Thương binh, người hưởngchính sách như thương binh

độc hóa họcNgười

Trang 39

30

Trang 40

Người HĐKC giải phóng

10 dân tộc, bảo vệ Tổ quốc vàlàm nghĩa vụ quốc tế11

Người có công giúp đỡ cáchmạng

Tổng cộng

Nguồn: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, tháng 4/2020

* Độ tuổi và giới tính của người có công với cách mạng

Hiện nay, đa số NCCVCM đều lớn tuổi, từ 60 tuổi trở lên Qua số liệukhảo sát thì độ tuổi NCCVCM phổ biến từ 61 – 80 tuổi, trong đó độ tuổi từ 61– 70 tuổi chiếm tỷ lệ cao (47,14%), từ 71 – 80 tuổi chiếm 34,29%, trên 80 tuổichiếm 11,43% và dưới 60 tuổi chiếm 7,14%

Bảng 2.2 Độ tuổi của người có công với cách mạng

Nguồn: Số liệu điều tra, khảo sát, tháng 4/2020

Do phong tục tập quán và tính chất đặc thù của chiến tranh nên tỷ lệgiới tính giữa nam và nữ có sự chệnh lệch nhau rõ rệt Qua khảo sát 70 người

có công thì có 42 người là giới tính nam chiếm 60%, giới tính nữ là 28 ngườichiếm 40% Qua số liệu điều tra có thể khẳng định rằng đa số nam giới lànhững phải làm những nhiệm vụ nặng nhọc, nguy hiểm, tham gia chiến đấuchống lại kẻ thù để bảo vệ Tổ quốc, nữ giới tham gia chiến đấu chiếm tỷ lệthấp hơn, hầu như họ là những người ở lại hậu phương chăm lo gia đình, lao

Ngày đăng: 24/11/2020, 16:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w