Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua là sự thể chế hóa Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền công dân không tách rời
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN KIM TÂM
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ QUÂN SỰ CỦA CÔNG DÂN TỪ THỰC TIỄN QUẬN CẨM LỆ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI , năm 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN KIM TÂM
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ QUÂN SỰ
CỦA CÔNG DÂN TỪ THỰC TIỄN QUẬN CẨM LỆ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Luật hiến pháp và luật hành chính
Mã số : 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Lê Văn Long
HÀ NỘI, năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu; các số liệu trong Luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Kết luận của Luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Trang 4QPTD Quốc phòng toàn dân
ĐCSVN Đảng cộng sản Việt Nam
TNHS Trách nhiệm hình sự
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ QUÂN SỰ 10
1.1 Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự của công
dân 10
1.2 Vai trò của thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự của công dân 15
1.3 Nội dung thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự của công dân 19
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự của
công dân 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA
VỤ QUÂN SỰ CỦA CÔNG DÂN TẠI QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG 31
2.1 Các yếu tố đặc thù của quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ảnh hưởng
đến nghĩa vụ quân sự của công dân 31
2.2 Thực trạng qui định pháp luật về nghĩa vụ quân sự của công dân 34
2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự của công dân tại quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 39
2.4 Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự của công
dân tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 45
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ QUÂN SỰ CỦA CÔNG DÂN TỪ THỰC
Trang 6KẾT LUẬN 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh quốc tế và khu vực ngày nay đã có nhiều thay đổi, tuy nhiên, Việt Nam vẫn đứng trước nhiều nguy cơ đe dọa về độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ Ngày nay, những nguy cơ, thách thức cũ vẫn còn đó thì lại có thêm những nguy cơ, thách thức mới Đó là bảo vệ chế
độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và hạnh phúc của nhân dân Gắn liền với nguy cơ, thách thức đó là phương thức chống phá của các thế lực thù địch, đó là chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật
đổ Về kỹ thuật, đó là việc các thế lực thù địch sử dụng internet, mạng xã hội làm phương thức chống phá mới
Ứng phó với tình hình đó, đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng
và Nhà nước ta đã có những điểm mới Văn kiện Đại hội XII của Đảng ta xác định: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền”… Chính sách và chiến lược quốc phòng của Đảng ta là “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh”; “Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước”
Đảng và Nhà nước ta cũng đã công khai hóa chính sách quốc phòng của Nhà nước ta Đó là: “Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ, thể hiện ở chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế, giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia khác bằng biện pháp hòa bình Việt Nam chủ
Trang 8trương từng bước hiện đại hóa quân đội, tăng cường tiềm lực quốc phòng chỉ nhằm duy trì sức mạnh quân sự ở mức cần thiết để tự vệ
Việt Nam chủ trương không tham gia các tổ chức liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác”
Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua là sự thể chế hóa Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” (Điều 15); “Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự
bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng” (Điều 16)
Luật Nghĩa vụ quân sự quy định nghĩa vụ quân sự là “Nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân;… Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của luật này” (Điều 4)
Luật Nghĩa vụ quân sự nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc - chế
độ trong tình hình mới Về mặt lý luận cũng như thực tế, thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự không làm tăng quân số tuyệt đối, không nhằm chạy đua vũ trang… mà chỉ nhằm luân chuyển nhân lực từ dân sự sang quân sự và ngược lại (đó là những đợt ra quân theo định kỳ hằng năm)
Thực tế cho thấy, ngay trong thời chiến, Quân đội ta vẫn dành một lực lượng nhất định tham gia sản xuất (phục vụ quốc phòng và dân sinh)… Hiện nay, không ít đơn vị quân đội đang làm đồng thời cả hai nhiệm vụ: kinh tế và quốc phòng, như một số đơn vị quân đội làm kinh tế, tự đáp ứng một phần nhu cầu, giảm thiểu gánh nặng ngân sách cho Nhà nước Hoặc các bệnh viện quân đội vừa là một cơ sở y tế trong hệ thống y tế quốc gia, vừa làm nhiệm vụ
Trang 9sẵn sàng phục vụ cứu chữa trong thời chiến Trong thời bình, ở những bệnh viện này, không chỉ cán bộ, chiến sĩ quân đội được chữa trị mà còn có cả những bệnh nhân dân sự… nhất là những bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo
Trên lĩnh vực phòng chống thiên tai, quân đội luôn là lực lượng nòng cốt và có không ít cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ cứu hộ - cứu nạn, giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai trên khắp mọi miền Tổ quốc
Thực tế cho thấy, trong những năm qua, các thế lực thù địch thường lợi dụng những vấn đề kinh tế - xã hội khó khăn như: ô nhiễm môi trường, những
sơ hở trong quản lý kinh tế - dịch vụ công… để kích động người dân chống lại chính quyền Hành vi “bất tuân dân sự” - là kịch bản trong đó, những phần
tử cầm đầu tập hợp lực lượng, tụ tập đông người, biểu tình gây rối… từng bước đi đến bạo loạn, lật đổ chế độ xã hội, chuyển hóa xã hội hiện hữu sang con đường tư bản chủ nghĩa, lệ thuộc vào ngoại bang Vì vậy, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng ngày càng quyết liệt Trên mặt trận ấy, các cán
bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam lại là một trong những lực lượng tiên phong
Mục tiêu của cách mạng Việt Nam ngày nay là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Điều kiện và tiền đề để thực hiện mục tiêu đó
là giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và ổn định
xã hội Thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự là góp phần đưa dân tộc ta đi đến mục tiêu đó
Tuy nhiên, trên thực tiễn vẫn có ý kiến “phản biện” rằng: “Thời bình sao phải tuyển nhiều lính như thời chiến?”; “Sao không tập trung vào phát triển kinh tế, chống tham nhũng?”, nếu không nói là một luận điệu chính trị xấu độc thì cũng thể hiện sự hiểu biết ấu trĩ về nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nói chung, của Quân đội ta nói riêng trong thời bình Thậm chí tại một
số địa phương trong thời gian gần đây, tỉ lệ thanh niên không chấp hành pháp
Trang 10luật nghĩa vụ có chiều hướng gia tăng; tuy nhiên, việc xử lý còn chậm, thiếu tính giáo dục và răn đe, nhiều trường hợp thể hiện sự lúng túng, thậm chí bế tắc trong khâu xử lý hình sự Thực trạng này có cả nguyên nhân khách quan
và chủ quan: do trình độ và năng lực của một số cán bộ Ban chỉ huy quân sự phường còn hạn chế nên thiếu chặt chẽ, quy trình còn thiếu nhưng không thể khắc phục được Sự hạn chế này dẫn đến tuy hành vi vi phạm (chống lệnh nhập ngũ) đã được quy định trong Bộ luật Hình sự nhưng thiếu sót, thiếu chặt chẽ trong khâu lập thủ tục nên không thể xử lý được; có trường hợp hồ sơ tương đối chặt chẽ nhưng hành vi vi phạm chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự dẫn đến tình trạng lúng túng, hay nói đúng hơn là bế tắc trong quá trình xử lý về hình sự, nhất là đối với các trường hợp không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe Việc quyết định xử phạt vi phạm hành chính nói chung, đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe nói riêng, chủ thể
xử phạt là chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn chưa thực hiện đúng nguyên tắc về xử phạt (tính chất, mức độ; hậu quả và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ) từ đó nảy sinh tình trạng cào bằng, trung bình trong xử phạt Ngoài
ra, quy định về xử phạt, trong đó có mức xử phạt vi phạm pháp luật nghĩa vụ quân sự đã khá lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu phòng, chống vi phạm pháp luật Dễ nhận thấy, sở dĩ các trường hợp bị xử phạt dù nặng hay nhẹ; dù
xử phạt ở mức cao nhất hay trung bình của khung xử phạt cũng không nảy sinh tình trạng khiếu nại quyết định xử phạt…
Cần tiếp tục nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật nghĩa vụ quân sự của công dân có ý nghĩa chính trị sâu sắc, nó thể hiện lòng yêu nước, trách nhiệm của công dân với Tổ quốc mình; đồng thời thể hiện ý chí quyết tâm chống lại mọi thủ đoạn của thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam Xuất phát từ lý luận và thực tiễn cũng như phù
hợp với yêu cầu thực tiễn công tác, tôi lựa chọn đề tài “Thực hiện pháp luật
Trang 11về nghĩa vụ quân sự của công dân từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng” là thực sự cần thiết về cả mặt lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Về thực hiện NVQS của thanh niên còn có nhiều bài viết đề cập Bài
Hà Nội tiễn 1.900 thanh niên lên đường nhập ngũ (15/2/2014) của Hà Trang
và Nguyễn Khánh, đăng trên Báo điện tử Tuổi trẻ Các tác giả đã phản ánh trung thực sự nhiệt huyết của thanh niên Hà Nội, hăng hái lên đường làm nhiệm vụ xây dựng và BVTQ Hòa vào không khí đó là những giọt nước mắt, cái nắm tay chặt chẽ của người thân gia đình tiễn đưa con em và niềm vui của của bố mẹ khi có con nhập ngũ: “Thực sự rất thương con vì đang trong vòng tay gia đình mà phải đi ra tự lập hoàn toàn, nhưng cũng rất là mừng vì cháu nhận thức được cái nghĩa vụ nó phải đi vì Tổ quốc” Bài Hàng ngàn thanh niên các địa phương phấn khởi nhập ngũ (19/2/2014) của Vinh Quang, Quang Sáng và cộng tác viên Trúc Giang, đăng trên Báo điện tử VOV Bài viết đã phản ánh rõ số lượng và chất lượng nhập ngũ của các thanh niên ở thành phố
Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Thuận và Lâm Đồng, như: Trong tổng số 2.570 thanh niên lên đường thực hiện NVQS ở thành phố Hồ Chí Minh, có 113 đảng viên tình nguyện nhập ngũ, 25% thanh niên có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp; Lâm Đồng, trong tổng số 500 thanh niên lên đường thực hiện NVQS, khoảng trên 90% thanh niên có đơn tình nguyện xin nhập ngũ và số đảng viên, cán bộ công chức được gọi đi nhập ngũ so với mọi năm cao hơn 12%; Bình Thuận, trong 700 thanh niên trúng tuyển NVQS, có 24 đảng viên trẻ, 58 thanh niên đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học và 54 thanh niên là dân tộc ít người
Bên cạnh đó, bài Cán bộ, công chức cũng phải nhập ngũ như con em nông dân, trích đăng tờ trình dự án luật NVQS (sửa đổi) của Đại tướng Phùng Quang Thanh trước Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trên Báo điện tử Dân trí lại cho thấy tình hình đối tượng nhập ngũ trong cả nước Hiện nay, công dân đã
Trang 12có việc làm, có trình độ học vấn cao, có chuyên môn kỹ thuật và con em cán
bộ, công chức, các gia đình có điều kiện kinh tế thực hiện NVQS chưa nhiều, chỉ chiếm 4,94% và có xu hướng giảm Con em nông dân, người chưa có việc làm nhập ngũ chiếm số đông, trên 80% và có xu hướng tăng Cho nên, theo Đại tướng Phùng Quang Thanh, phải tuyển cán bộ là công chức, viên chức, đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp vào phục vụ trong quân đội; tránh để như hiện nay số nhập ngũ có tới 90% con em nông dân, còn số có điều kiện học hành cơ bản, làm cán bộ công chức trong hệ thống chính trị gần như không tuyển
Hiện nay, hướng nghiên cứu về thực hiện NVQS của thanh niên hầu như chưa có, nhưng thông qua các tư liệu, bài viết được đăng tải trên các website của thế giới, Việt Nam và các văn bản pháp luật trong nước đã được công bố, có thể thấy rằng, các tư liệu, bài viết đó có những giá trị tham khảo nhất định Bởi vì, pháp luật thực hiện NVQS của thanh niên các nước trên thế giới, dù có nhiều đặc điểm khác Việt Nam về đối tượng, độ tuổi, thời gian nhập ngũ, nhưng đều cho thấy, để xây dựng và BVTQ, việc thực hiện NVQS của thanh niên là cần thiết với mọi quốc gia Do đó, tư liệu về thực hiện NVQS của thanh niên các nước trên thế giới sẽ giúp bổ sung các hình thức, biện pháp phù hợp nhằm phát huy tốt nhất công tác tuyển chọn, gọi thanh niên nhập ngũ ở Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự của công dân
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ:
Trang 13- Phân tích, làm rõ thêm cơ sở lý luận về pháp luật về nghĩa vụ quân sự của công dân trên cơ sở hệ thống hóa quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng và quy định của Nhà nước ta
- Phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự của công dân tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng trong những năm gần đây, qua
đó rút ra những hạn chế cần khắc phục và tìm ra những nguyên nhân hạn chế
đó
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự của công dân tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự của công dân tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật
về nghĩa vụ quân sự của công dân tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng từ năm 2016 - 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về nghĩa vụ quân sự của thanh niên
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
Luận văn sử dụng các nghiên cứu định tính và định lượng để thu thập
và xử lý thông tin qua đó trình bày và phân tích các thông tin, dữ liệu Các bước cụ thể như sau:
Trang 14- Một là thu thập thông tin
Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập thông tin từ nguồn đã có sẵn, đây là những dữ liệu đã qua tổng hợp và xử lý gồm sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các văn bản luật, nghị định, thông tư của Quốc hội, chính phủ, các bộ ngành
về thực hiện nghĩa vụ quân sự; các báo cáo đánh giá tình hình thực hiện về công tác thực hiện tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ, các chính sách đào tạo nghề cho công dân hoàn thành NVQS …của quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng Các dữ liệu từ nguồn này vừa là cơ sở lý luận, vừa mang tính thời sự
Nguồn dữ liệu sơ cấp: Điều tra thu thập thông tin từ các UBND cấp xã, quận thông qua quan sát trực tiếp, quan sát gián tiếp, phỏng vấn trực tiếp, điều tra để thu nhận thông tin
- Hai là xử lý phân tích dữ liệu: Các dữ liệu thu thập được sẽ được kiểm tra, sàng lọc, sau đó sử dụng công cụ word, excel để tiến hành thống kê, phân tích Bên cạnh đó, tiến hành xử lý số liệu bằng cách sử dụng sơ đồ, bảng biểu để phân tích, tổng hợp và đánh giá
- Ba là trình bày, diễn giải và phân tích dữ liệu: Kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ, đồ thị thống kê Tác giả tiến hành diễn giải và phân tích kết quả khảo sát căn cứ vào các quy định pháp lý về thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự của công dân
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn vận dụng lý luận, pháp luật về nghĩa vụ quân sự của công dân tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng để đánh giá việc thực hiện pháp luật NVQS; từ đó chỉ ra những bất cập, tồn tại trong quá trình thực hiện pháp luật NVQS, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật NVQS của công dân
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 15Đề xuất được các giải pháp thiết thực, hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thực hiện nghĩa vụ quân sự của công dân trong thời gian tới của quận Cẩm Lệ nói riêng và cả nước nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của thực hiện pháp luật
Trang 16CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ QUÂN SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về nghĩa
vụ quân sự của công dân
1.1.1 Khái niệm pháp luật thực hiện nghĩa vụ quân sự
Thực hiện NVQS là quy định bắt buộc với hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và dân số mà các nước quy định độ tuổi nhập ngũ cho công dân của nước mình; hoặc quy định nhập ngũ bắt buộc hay nhập ngũ tự nguyện, theo hợp đồng, thậm chí quy định nhập ngũ bắt buộc đối với cả nữ giới (ở Israel, tất cả thanh niên nam, nữ học xong trung học đều phải vào quân ngũ) Tình hình thực hiện NVQS của một số nước trên thế giới và Việt Nam cho thấy, trong xây dựng
và BVTQ ở mỗi quốc gia cần thiết phải thực hiện NVQS đối với thanh niên
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân
sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân” Quy định trên, khẳng định mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú đều phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và nhằm thể chế quy định của Hiến pháp năm 2013: “Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự”, Luật nghĩa vụ quân sự đã quy định: “Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam” Thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội nhân dân Việt Nam
Luật NVQS là cơ sở pháp lý bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân đối với sự nghiệp BVTQ; tạo điều kiện cho nhân dân làm tròn NVQS và tham gia xây dựng nền QPTD Luật NVQS góp phần quan trọng vào xây dựng Quân
Trang 17đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại
và tăng cường QPTD, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ BVTQ trong tình hình mới Luật NVQS có các quy định về đối tượng, thời gian thực hiện NVQS; trách nhiệm, nghĩa vụ của thanh niên trong thời gian tại ngũ; vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong thực hiện NVQS; quy định miễn, tạm hoãn gọi nhập ngũ
Luật NVQS đang hiện hành quy định, công dân nam từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, nơi cư trú có nhiệm vụ tại ngũ trong Quân đội nhân dân Việt Nam Thời gian phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong thời bình, với lục quân là 24 tháng, với các binh chủng kỹ thuật là 24 tháng [2, trg7] Trong thời gian tại ngũ, thanh niên phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao; Gương mẫu chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội; Ra sức học tập chính trị, quân sự, rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật và thể lực, không ngừng nâng cao bản lĩnh chiến đấu,… [2, trg14]
Luật NVQS cũng quy định vai trò của các cơ quan trong hệ thống chính trị các cấp, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình, Hội đồng NVQS xã, phường, thị trấn trong việc thực hiện NVQS của thanh niên Trong
đó có quy định, gia đình có trách nhiệm động viên, giáo dục và tạo điều kiện cho công dân làm tròn NVQS [2, trg16]
Ngoài ra, các văn bản hiện hành còn có các quy định về đối tượng được miễn, tạm hoãn gọi nhập ngũ Nghị định Chính phủ, số 38/2007/NĐ-CP, ngày
15 tháng 3 năm 2007 quy định những công dân được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình: Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng 1, con của bệnh binh hạng 1; Một người anh trai hoặc em trai của liệt sĩ; Một con trai của thương binh hạng 2; Cán bộ, viên chức, công chức, thanh niên xung phong, thanh
Trang 18niên tình nguyện, trí thức trẻ tình nguyện đã phục vụ từ hai mươi bốn tháng trở lên và công dân được tạm hoãn gọi nhập ngũ: Công dân có anh, chị hoặc
em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ và học viên là hạ sĩ quan, binh sĩ đang học tập tại các trường quân đội, trường ngoài quân đội theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng; Công dân đang học tập tại các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức giáo dục chính quy tập trung (Trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường chuyên, trường năng khiếu, dự bị đại học; v.v ) [13]
Qua những phân tích trên, có thể hiểu pháp luật về thực hiện NVQS là
hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của nhà nước nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ quận sự của công dân trên cơ sở giáo dục thiết phục và cưỡng chế
1.1.2 Khái niệm thực hiện pháp luật về NVQS
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước không chỉ không ngừng xây dựng, hoàn thiện pháp luật mà còn có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật, kịp thời phát hiện, đấu tranh phòng ngừa và xử lý các hành vi vi phạm để pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh, thống nhất Các quy phạm pháp luật muốn đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả điều chỉnh thì phải gắn với các quan hệ xã hội, với chủ thể, được thực hiện qua hoạt động
có mục đích của chủ thể Hơn nữa, đó còn là một yếu tố, giai đoạn không thể thiếu của cơ chế điều chỉnh pháp luật Sau khi được ban hành, để phát huy vai trò, pháp luật phải được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng và tự giác thực hiện Vì thế, thực hiện pháp luật là quá trình các chủ thể khi gặp phải tình huống, sự kiện mà quy phạm pháp luật đã dự liệu, từ nhận thức, chuyển hóa sáng tạo chúng vào tình huống cụ thể đó bằng hành vi thực tế, hợp pháp của mình Ngoài ra, thực hiện pháp luật còn là nghĩa vụ của tất cả cơ quan, tổ
Trang 19chức, cá nhân và được tiến hành bằng nhiều hình thức với quy trình khác nhau
Thực hiện pháp luật về NVQS bao gồm nhiều biện pháp tác động trong một quá trình nên có tính liên tục, thường xuyên Việc thực hiện pháp luật về NVQS được xem là bộ phận quan trọng trong tổng thể các biện pháp thúc đẩy trên các lĩnh vực gắn với bảo đảm nghĩa vụ công dân, hướng đến xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Thực hiện pháp luật về NVQS giúp chủ thể - công dân - tiếp cận pháp luật, nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của
họ trong xã hội Do thuộc tính điều chỉnh và bắt buộc chung của pháp luật, nên thực hiện pháp luật về NVQS đối với nước ta là nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong đó trước hết và chủ yếu thuộc về Nhà nước mà đại diện là cơ quan, đội ngũ cán bộ, công chức - người làm công tác tham mưu, hoạch định chính sách cán bộ Các chủ thể này phải là tấm gương sáng trong tuân thủ, chấp hành và áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, sáng tạo Nhà nước có trách nhiệm thiết lập các thể chế, thiết chế hỗ trợ công dân thực hiện pháp luật; giúp họ tiếp cận pháp luật, sử dụng các thiết chế hỗ trợ trong thực hiện các chính sách NVQS
Như vậy, có thể hiểu thực hiện pháp luật về NVQS là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật NVQS đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật Hay nói cách khác, thực hiện pháp luật về NVQS là hoạt động thực tiễn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được tiến hành theo những hình thức pháp
lý nhất định, có mối liên hệ và quy định lẫn nhau trong một cơ chế phù hợp với điều kiện của từng giai đoạn lịch sử, nhằm hiện thực hóa các yêu cầu, nội dung của quy phạm pháp luật về NVQS, bảo đảm cho việc thực hiện quyền
và nghĩa vụ công dân được thiết lập và duy trì trong đời sống xã hội và gia đình
1.1.3 Đặc điểm của thực hiện pháp luật nghĩa vụ quân sự
Trang 20- Đặc điểm về chủ thể thực hiện:
Chủ thể thực hiện pháp luật về Nghĩa vụ quân sự mang tính đa dạng và phong phú Cụ thể: Các cơ quan nhà nước: đây là chủ thể đặc biệt vì trong quá trình thực hiện, cơ quan nhà nước phải thể hiện là chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước thực hiện trách nhiệm quản lý xã hội, đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ quân sự được tổ chức thực hiện trên một phạm vi rộng lớn là toàn quốc Bên cạnh đó, khác với các việc đảm bảo việc thực hiện pháp luật khác, việc thực hiện pháp luật nghĩa vụ quân sự còn
do cơ quan các cơ quan có vị trí, chức năng đặc biệt thực hiện, đó là: Ban chỉ huy quân sự cấp xã; Ban chỉ huy quân sự cấp huyện; Hội đồng nghĩa vụ quân
sự các cấp
Ban chỉ huy quân sự cấp xã: Ban chỉ huy quân sự cấp xã được quy định: Tham mưu cho cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân cấp xã lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự ở cơ sở; đăng ký, quản lý công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, công dân nam trong độ tuổi sẵn sàng nhập ngũ; tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ, quản lý lực lượng dự bị động viên theo quy định của pháp luật
Hội đồng NVQS các cấp là cơ quan tham mưu giúp UBND cùng cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nhiệm vụ tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ
- Đặc điểm về phạm vi pháp luật nghĩa vụ quân sự Phạm vi thực hiện pháp luật về NVQS là môi trường và những giới hạn không gian, địa lý để các chủ thể tiến hành các hoạt động thực hiện pháp luật về NVQS Để có được phạm vi thực hiện pháp luật về NVQS đòi hỏi nhà nước phải quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện pháp luật
về NVQS; chế độ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong thực hiện về pháp luật về NVQS mang tính chất về an ninh quốc phòng
- Đặc điểm về nội dung thực hiện pháp luật nghĩa vụ quân sự:
Trang 21Thực hiện pháp luật về pháp luật về NVQS có nội hàm phong phú và bao trùm toàn bộ đời sống xã hội Nội dung đó được thể hiện thông qua các chiến lược, chính sách, mục tiêu của nhà nước về pháp luật về NVQS, thực hiện nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm của mỗi công dân đối với Tổ quốc, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp … Những công dân đến tuổi tham gia nghĩa vụ quân sự cần thực hiện tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc
Trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, mỗi gia đình cần động viên, giáo dục, khuyến khích con em mình nhận thức đúng về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ quân sự đối với đất nước, tích cực tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi quy định
Bên cạnh việc động viên, khuyến khích việc thực hiện phát luật NVQS thì Nhà nước có nhiều chính sách đối với những cá nhân, gia đình có người tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự Mặt khác, một trong những nội dung không thể thiếu trong thực hiện pháp luật về NVQS gồm các biện pháp thúc khuyến khích, động viên; phổ biến, chính sách pháp luật về NVQS, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao nhận thức pháp luật về NVQS cho thế hệ trẻ, đội ngũ cán
bộ - những người có liên quan đến việc thực thi pháp luật về NVQS
1.2 Vai trò thực hiện pháp luật nghĩa vụ quân sự
Xuất phát từ khái niệm và đặc điểm thực hiện pháp luật về NVQS trên đây, có thể thấy thực hiện pháp luật về NVQS có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội
1.2.1 Thực hiện pháp luật nghĩa vụ quân sự là phương thức để đường lối, chính sách, pháp luật đi vào thực tiễn đời sống xã hội
Thực hiện pháp luật NVQS là cách thức, biện pháp cơ bản, có hiệu lực, hiệu quả nhất để đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nhất là chính sách bảo đảm thực hiện pháp luật NVQS được đi vào cuộc sống
Trang 22Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Sự lãnh đạo đó được thực hiện bằng việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện NVQS thành pháp luật Nội dung pháp luật NVQS là chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng đối với NVQS trong xã hội Do vậy, thực hiện pháp luật
về NVQS là cách thức cơ bản, có hiệu lực, hiệu quả nhất để chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả trong điều chỉnh các quan hệ xã hội và đến với các chủ thể; giúp họ nắm bắt đầy đủ và thực hiện tốt hơn chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Qua đó giúp Đảng, Nhà nước kiểm nghiệm tính đúng đắn của các chính sách, pháp luật đã được ban hành trong thực tiễn để kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp; phát hiện, uốn nắn những sai sót trong tổ chức thực hiện để bảo đảm thực hiện tốt hơn các chính sách NVQS trong mọi lĩnh vực
1.2.2 Thực hiện pháp luật nghãi vụ quân sự đảm bảo mục tiêu bảo vệ
tổ quốc
Đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta có cơ sở lịch sử, chính trị, pháp lý minh bạch Trước hết, đó là vì dân tộc ta phải thường xuyên chống lại các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta cho thấy, không có một thế kỷ nào nhân dân ta không phải chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược, hiện nay dân tộc ta vẫn đứng trước nhiều nguy cơ đe dọa về độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ Ngày nay, những nguy cơ, thách thức cũ vẫn còn đó thì lại có thêm những nguy cơ, thách thức mới Đó là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và hạnh phúc của nhân dân Gắn liền với nguy cơ, thách thức đó là phương thức chống phá của các thế lực thù địch - đó là chiến lược
“Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ Về kỹ thuật, đó là việc các thế lực thù địch sử dụng internet, mạng xã hội làm phương thức chống phá mới
Trang 23Để ứng phó có hiệu quả với tình hình đó, đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta đã có những điểm mới Văn kiện Đại hội XII của Đảng ta xác định: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền”… Chính sách và chiến lược quốc phòng của Đảng ta là “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh”; “Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước”
Đảng và Nhà nước ta cũng đã công khai hóa chính sách quốc phòng của Nhà nước ta Đó là: “Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ, thể hiện ở chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế, giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia khác bằng biện pháp hòa bình Việt Nam chủ trương từng bước hiện đại hóa quân đội, tăng cường tiềm lực quốc phòng chỉ nhằm duy trì sức mạnh quân sự ở mức cần thiết để tự vệ
1.2.3 Thực hiện pháp luật nghĩa vụ quân sự là phương thức giúp các
cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân nâng cao ý thức pháp luật
Thực hiện pháp luật về NVQS đóng vai trò quan trọng trong việc củng
cố, nâng cao ý thức pháp luật đồng thời bồi dưỡng năng lực làm chủ để tham gia quản lý nhà nước và xã hội, giải quyết công việc chung của cộng đồng; giúp các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân nắm vững pháp luật, nhận thức sâu sắc, hiểu biết đầy đủ hơn về chuẩn mực xã hội, thấy được giới hạn của các hành vi vi phạm pháp luật NVQS; biết được nội dung quyền và nghĩa vụ của công dân khi thực hiện NVQS Nhờ đó, các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân nhận thức được bản chất pháp lý của các tình huống, sự kiện; biết lựa
Trang 24chọn hành vi xử sự phù hợp; biết tìm kiếm giải pháp tốt tối ưu cho mình Các
cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân sẽ nhận thức đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của pháp luật; từ đó, tích cực, chủ động áp dụng pháp luật để bảo đảm mục tiêu thực hiện pháp luật NVQS Hiểu biết pháp luật giúp các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tôn trọng quyền hợp pháp của chủ thể khác; yêu cầu các chủ thể thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ; tham gia quản lý Nhà nước, hoạt động
xã hội, góp phần thực thi công lý, bảo đảm công bằng xã hội Các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân sẽ nhận thức đầy đủ hơn về vai trò, trách nhiệm của mình trước Nhà nước và xã hội, trong thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm với Tổ quốc
1.2.4 Thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự là biện pháp phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về nghĩa vụ quân sự và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Thực hiện pháp luật về NVQS giúp các chủ thể nhận thức được giới hạn hành vi bị nghiêm cấm, nhờ đó, mỗi chủ thể sẽ tự giác và chủ động thực thi quyền, nghĩa vụ; không vi phạm quyền lợi hợp pháp của Nhà nước và chủ thể khác Khi phát hiện chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật NVQS thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể:
Theo quy định tại các Điều 4, 5, 6 và 7 Nghị định 120/2013/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu thì hành vi không đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu đối với công dân nam đủ
17 tuổi trong năm thuộc diện phải đăng ký nghĩa vụ quân sự bị phạt cảnh cáo Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 600.000 đồng đối với hành vi không đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu, trừ trường hợp được áp dụng hình thức cảnh cáo Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm tập trung sơ tuyển ghi trong giấy gọi sơ tuyển thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng Phạt tiền từ
Trang 25800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm kiểm tra, khám sức khỏe ghi trong giấy gọi kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng Phạt tiền
từ 1.500.000 đồng đến 2.500.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm tập trung ghi trong lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý
do chính đáng Ngoài ra, người vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định
Khoản 1 Điều 332 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”
1.2.5 Thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự đóng vai trò quan trọng trong công tác giáo dục thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc
Công dân có bổn phận làm nghĩa vụ quân sự, thực hiện nghĩa vụ quân
sự là trách nhiệm của mỗi công dân đối với Tổ quốc, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp … Những công dân đến tuổi tham gia nghĩa vụ quân sự cần thực hiện tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc
1.3 Nội dung thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự của công dân
1.3.1 Quy định về độ tuổi, tiêu chuẩn, thời gian đi nghĩa vụ quân sự
- Độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự: Cũng như các quy định trước đây, độ tuổi gọi nhập ngũ là đủ từ 18 tuổi đến hết 25 tuổi Riêng các trường hợp công dân được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi
Trang 26nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết năm 27 tuổi Đây là quy định tại điều 30 của Luật Nghĩa vụ quân sự hiện hành
Độ tuổi nhập ngũ được tính từ ngày tháng năm sinh ghi trên Giấy khai sinh của công dân cho đến ngày giao quân
- Tiêu chuẩn đi nghĩa vụ quân sự: Ngoài tiêu chuẩn về độ tuổi, thì công dân được gọi nhập ngũ phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện sau: Có lý lịch
rõ ràng; Chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Có sức khỏe để phục vụ tại ngũ - tiêu chuẩn về sức khỏe;
Có trình độ văn hóa phù hợp
- Thời gian đi NVQS
Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan, binh sĩ là 24 tháng Trong trường hợp cần đảm bảo nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu hoặc thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ thì thời hạn nêu trên
có thể được kéo dài thêm tối đa 6 tháng
Thời gian tại ngũ được tính từ ngày giao, nhận quân đến ngày được cấp
có thẩm quyền quyền quyết định xuất ngũ
1.3.2 Quy định về tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ
Việc tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ trong thời bình thực hiện theo quy định tại Điều 41 của Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015, như sau:
* Tạm hoãn gọi nhập ngũ đối với những công dân:
- Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe
- Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận
- Một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%
Trang 27- Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ;
hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân
- Người thuộc diện di dân, giãn dân trong 03 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định
- Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật
- Đang học tập tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo
* Miễn gọi nhập ngũ đối với những công dân:
- Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một
- Một anh hoặc một em trai của liệt sĩ
- Một con của thương binh hạng hai; một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên
- Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân
- Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật từ 24 tháng trở lên
Tuy nhiên: Công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ nếu không còn
lý do tạm hoãn thì được gọi nhập ngũ Công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ hoặc được miễn gọi nhập ngũ nếu tình nguyện thì được xem xét tuyển chọn và gọi nhập ngũ Danh sách công dân được tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ phải được thông báo đến trưởng thôn, xóm, tổ dân phố, khu dân cư,
Trang 28ấp, bản, làng , gia đình công dân và niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức liên quan trước khi phát lệnh gọi nhập ngũ tối thiểu là 20 ngày
1.3.3 Quy định về quyền lợi khi Công dân thực hiện nghĩa vụ quân
sự
- Đối với bản thân công dân:
Nghĩa vụ quân sự trách nhiệm vẻ vang của công dân Vì vậy, để công dân thực hiện tốt nghĩa vụ đó, Nhà nước luôn bảo đảm chế độ, chính sách ưu đãi phù hợp, nhất là trong thời gian 02 năm khi các chiến sỹ phục vụ trong quân đội
- Được bảo đảm cung cấp kịp thời, đủ số lượng, chất lượng về lương thực, thực phẩm, quân trang, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh; được bảo đảm chỗ ở, phụ cấp hàng tháng, nhu yếu phẩm và nhu cầu về văn hóa, tinh thần phù hợp với tính chất nhiệm vụ của quân đội; được bảo đảm chế độ trong các ngày lễ, tết; được bảo đảm chăm sóc sức khỏe khi bị thương, bị ốm đau, bị tai nạn theo quy định của pháp luật;
- Mức phụ cấp hàng tháng:
+ Mức phụ cấp hàng tháng binh nhì = hệ số (0,4) x Mức lương cơ sở + Mức phụ cấp hàng tháng binh nhất = hệ số (0,45) x Mức lương cơ sở + Mức phụ cấp hàng tháng hạ sỹ = hệ số (0,5) x Mức lương cơ sở
Mức lương cơ sở áp dụng từ theo các Nghị định của Chính phủ tùy từng thởi điểm
- Được khen thưởng khi có thành tích trong chiến đấu, công tác, huấn luyện theo quy định của pháp luật
- Chế độ phụ cấp thêm do kéo dài thời gian phục vụ tại ngũ: Từ tháng thứ 25 trở đi, hàng tháng được hưởng thêm 250% phụ cấp quân hàm hiện thưởng: Mức phụ cấp từ tháng 25 = Mức phụ cấp hàng tháng + Mức phụ cấp hàng tháng x 250%
Trang 29- Chế độ nghỉ phép: Từ năm thứ 2 trở đi thì được nghỉ phép hàng năm; Thời gian nghỉ phép là 10 ngày (không kể ngày đi và về)
Trường hợp gia đình gặp thiên tai, hỏa hoạn nặng hoặc người thân từ trần, mất tích hoặc hạ sĩ quan, binh sĩ lập được thành tích đặc biệt xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ thì được nghỉ phép đặc biệt, thời gian không quá 05 ngày (không kể ngày đi và về)
Trong thời gian nghỉ phép, nghỉ phép đặc biệt, được thanh toán tiền tàu,
xe, tiền phụ cấp đi đường theo quy định hiện hành
- Được tính nhân khẩu khi gia đình được cấp hoặc điều chỉnh diện tích nhà ở, đất xây dựng nhà ở và đất canh tác
- Được tính thời gian phục vụ tại ngũ vào thời gian công tác
- Miễn cước phí chuyển bưu phẩm, tiền: Miễn tiền cước khi chuyển tiền, bưu phẩm, bưu kiện; được cấp 04 tem thư/tháng; giá tem thư theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông và được cấp cùng kỳ phụ cấp quân hàm hàng tháng
- Được tạm hoãn trả và không tính lãi suất các khoản vay từ nhân hàng chính sách Trước khi nhập ngũ là thành viên hộ nghèo, học sinh, sinh viên nếu vay tiền từ Ngân hàng Chính sách xã hội thì được tạm hoãn trả và không tính lãi suất trong thời gian tại ngũ
- Được tham gia và cộng điểm ưu tiên tuyển sinh quân sự theo quy định của Bộ Quốc phòng: Áp dụng cho hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, văn hóa, sức khoẻ và độ tuổi
- Trong trường hợp bị thương, bị bệnh khi làm nhiệm vụ thi được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật
- Được Nhà nước bảo đảm chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội, Luật bảo hiểm y tế
- Hưởng trợ cấp một lần khi xuất ngũ:
Trang 30+ Khi phục vụ đủ 24 tháng trong quân đội, hạ sĩ quan, binh sĩ xuất ngũ
sẽ được hưởng trợ cấp một lần theo mức: Cứ mỗi năm phục vụ ại được hưởng
02 tháng tiền lương cơ sở
+ Nếu phục vụ từ đủ 30 tháng trong quân đội Ngoài mức hưởng nếu trên, hạ sĩ quan, binh sĩ xuất ngũ sẽ được hưởng thêm 02 tháng phụ cấp quân hàm hiện hưởng
+ Trường hợp nếu xuất ngũ trước thời hạn 30 tháng thì thời gian phục
vụ tại ngũ từ tháng thứ 25 đến dưới 30 tháng được trợ cấp thêm 01 tháng phụ cấp quân hàm hiện hưởng
- Trợ cấp tạo việc làm: Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, hạ sĩ quan, binh sĩ sẽ được trợ cấp tạo việc làm bằng 06 tháng tiền lương cơ sở tại thời điểm xuất ngũ
* Đối với gia đình Công dân thực hiện NVQS:
Hiện nay, các quyền lợi dành cho thân nhân sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam được Chính phủ quy định tại Nghị định 27/2016/NĐ-CP và một số văn bản khác liên quan Trong đó, thân nhân gồm:
Bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ hoặc bố, mẹ chồng; người nuôi dưỡng hợp pháp của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi hợp pháp của hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ
- Hỗ trợ về nhà ở 03 triệu đồng/suất: Trường hợp có tai nạn, hỏa hoạn, thiên tai xảy ra khiến nhà ở của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ bị sập, trôi, cháy hoặc gia đình phải di dời chỗ ở khác hoặc tài sản bị hư hỏng, thiệt hại nặng nề
về kinh tế thì gia đình hạ sĩ quan, binh sĩ sẽ được trợ cấp 03 triệu đồng/suất/lần Chính sách hỗ trợ này được thực hiện không quá 02 lần/năm đối với 01 hạ sĩ quan, binh sĩ
- Trợ cấp ốm đau: 500.000đồng/người/lần: Nếu cha mẹ, vợ, chồng, con của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ bị ốm đau từ 01 tháng trở lên hoặc điều trị 01 lần tại bệnh viện từ 07 ngày trở lên thì được hưởng trợ cấp 500.000 đ/thân
Trang 31nhân/ lần Chính sách hỗ trợ này thực hiện không quá 02 lần/ năm đối với mỗi thân nhân của hạ sĩ quan, binh sĩ
- Hỗ trợ mai táng 02 triệu đồng/người: Trong trường hợp người thân của hạ sĩ quan, bình sĩ tại ngũ không may bị hy sinh, từ trần, mất tích thì gia đình hạ sĩ quan, binh sĩ được hưởng một khoản trợ cấp có mức 02 triệu đồng/người Khoản tiền mang tính chất động viên, chia sẻ với mất mát của hạ
sĩ quan, binh sĩ, vừa là khoản hỗ trợ mai táng cho gia đình
- Được cấp thẻ BHYT miễn phí: Theo đó, thân nhân của hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội đang tại ngũ là một trong những đối tượng tham gia BHYT
do ngan sách nhà nước đóng, tức là BHYT miễn phí hàng năm
Ngoài các quyền lợi nêu trên dành cho cha mẹ hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ thì con của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ còn được hưởng thêm chính sách miễn học phí tại các trưởng mầm non, phổ thông công lập, ngoài công lâp
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân
sự của công dân
1.4.1 Các yếu tố chủ quan
- Số lượng con trai trong gia đình: Gia đình ít con trai hay nhiều con trai đều chi phối đến việc thực hiện vai trò của gia đình trong giáo dục, động viên con em thực hiện NVQS Gia đình ít con trai, thì việc nhập ngũ của con,
em sẽ đem đến sự trống vắng về tình cảm, thiếu nguồn nhân lực cốt yếu; dẫn đến những băn khoăn, do dự trong việc động viên, khuyến khích con em tham gia thực hiện NVQS Gia đình có nhiều con trai thì việc nhập ngũ của con em
có nhiều thuận lợi hơn, vì ít nhiều bố mẹ cũng yên tâm hơn khi ở nhà vẫn có người làm việc, vẫn có người nối dõi tông đường Nhưng gia đình có nhiều con trai lại ít có điều kiện quan tâm, dạy dỗ con cái, ít có điều kiện tuyên truyền NVQS cho con em hơn gia đình có ít con trai
- Đặc điểm của gia đình: Đặc điểm của gia đình được thể hiện ở: mức sống, trình độ học vấn của bố thanh niên, nghề nghiệp của gia đình, gia đình
Trang 32có bố mẹ là đảng viên và gia đình không có bố mẹ là đảng viên Các thành phần này đều có những chi phối đến việc thực hiện NVQS của thanh niên Bởi vì, trong thực tế tuyển quân, những gia đình có mức sống khá giả có thể không muốn con em mình phải nhập ngũ, họ lo cho con em sẽ có cuộc sống vất vả nơi quân ngũ; bố của thanh niên có trình độ học vấn cao lại muốn hướng cho con vào những công việc “nhàn hạ” nhưng thu nhập cao; những gia đình có nghề nghiệp đòi hỏi cần nhiều lao động lại có nhiều băn khoăn, lo lắng khi con em thực hiện NVQS; gia đình có bố mẹ là đảng viên lại muốn con được vào môi trường quân ngũ để rèn luyện, để cống hiến cho sự nghiệp cách mạng… Tất cả có thể trở thành các nhân tố thúc đẩy hoặc cản trợ việc nhập ngũ của thanh niên, làm cho công tác tuyển quân ở địa phương gặp thuận lợi hoặc khó khăn
- Một bộ phận thanh niên không muốn tham gia nghĩa vụ quân sự: Hiện nay, cứ tới mỗi đợt khám tuyển nghĩa vụ quân sự lại xuất hiện tình trạng nhiều thanh niên trốn tránh nghĩa vụ quân sự và chỉ nhau cách trốn nghĩa vụ quân sự Ngoại trừ một số lý do chính đáng được hoãn hoặc miễn thực hiện nghĩa vụ quân sự thì một bộ phận thanh niên không có ý định và mong muốn tham gia nhập ngũ lên đường bảo vệ Tổ quốc Nguyên nhân dẫn đến tâm lý "sợ" và trốn tránh nghĩa vụ quân sự xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, điển hình như:
+ Tâm lý ngại làm quen, sinh sống trong mỗi trường quân ngũ vì cho rằng đó là một môi trường khắc nghiệt, bản thân sợ không thể thích nghi
+ Thời gian tham gia quân ngũ là 2 năm, một số người sợ rằng sau khi xuất ngũ thì sẽ không thể tiếp tục lại được công việc,học tập do một thời gian dài sẽ quên đi kiến thức và sẽ không còn “ham học”
+ Do một phần được gia đình che chở nên có sợ “chịu khổ” khi bước vào môi trường quân ngũ kỷ luật trong 02 năm
Trang 33+ Sự tác động của các mặt tiêu cực xã hội cũng là nguyên nhân khiến cho nhiều thanh niên không còn khát khao cống hiến cho Tổ quốc thay vào đó
là tư tưởng thực dụng, lựa chọn những cái có lợi cho bản thân mình
1.4.2 Các yếu tố khách quan
- Điều kiện kinh tế của địa phương Các phong trào chính trị - xã hội ở các địa phương phụ thuộc rất lớn vào điều kiện kinh tế - xã hội Kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao, giáo dục và đào tạo phát triển, giáo dục quốc phòng được đẩy mạnh, chính trị ổn định, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững là điều kiện thuận lợi để các địa phương động viên, tổ chức cho thanh niên nhập ngũ; điều kiện thuận lợi để chăm lo cho thanh niên trong thời gian tại ngũ, thực hiện chính sách hậu phương quân đội Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội là yếu tố thúc đẩy phong trào tòng quân của thanh niên Đồng thời, đó là một yếu tố, một cơ sở để gia đình giáo dục, động viên,
tổ chức cho con, em thực hiện NVQS
- Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Trong hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay có Luật NVQS
và các chính sách đối với người có công với cách mạng, với gia đình có thanh niên đang tham gia quân ngũ, với thanh niên hoàn thành NVQS Nhưng để chính sách, pháp luật của Nhà nước đến được với người dân, đến với các gia đình, dòng họ có thanh niên nhập ngũ cần có đường lối, chủ trương của Đảng định hướng, chỉ đạo, dẫn dắt Đây là yếu tố không thể thiếu trong hệ thống chính trị ở nước ta Yếu tố này có tác động trực tiếp, thiết thực đến vai trò của gia đình, dòng họ đối với việc thực hiện NVQS của thanh niên Bởi vì, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ngoài các điều khoản quy định có tính bắt buộc thanh niên đến tuổi thực hiện NVQS, còn chỉ rõ quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của gia đình, dòng họ; giúp cho mỗi người dân, mỗi gia đình hiểu rõ được sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng nền QPTD và BVTQ hiện nay
Trang 34- Hệ thống chính trị cơ sở Yếu tố này có tác động rất lớn đến vai trò của gia đình, dòng họ đối với việc thực hiện NVQS của con, em Bởi vì, cấp
ủy đảng, chính quyền cơ sở và các đoàn thể chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh…) là các tổ chức trực tiếp lãnh đạo, hướng dẫn và thực hiện chức năng quản lý xã hội đối với các gia đình, dòng họ trong việc thực hiện đúng đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong đó có việc thực hiện Luật NVQS Cấp ủy đảng, tổ chức đảng được xây dựng trong sạch, vững mạnh, giữ vững vai trò lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt đối với địa phương; chính quyền thực sự của dân, do dân, vì nhân dân; các đoàn thể chính trị - xã hội được xây dựng vững mạnh, hoạt động đúng chức năng, tổ chức các phong trào chính trị, văn hóa, xã hội mạnh mẽ sẽ tạo thành thiết chế chính trị - xã hội
để phát huy vai trò của gia đình, dòng họ trong động viên, tổ chức cho con,
em thực hiện NVQS
- Cộng đồng làng xã Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc
ta, làng xã giữ vai trò đặc biệt quan trọng, một yếu tố của tam giác văn hóa giữ nước: Nhà - Làng - Nước Trải qua thăng trầm của lịch sử, mỗi làng quê Việt Nam đã tạo dựng cho mình một bản sắc văn hóa, gây dựng truyền thống chống giặc ngoại xâm, hình thành nên một thiết chế - thiết chế làng xã của riêng mình Làng Việt là một cộng đồng lễ nghi, một đơn vị dựng nước và giữ nước Làng xã là môi trường văn hóa, xã hội cho sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình, dòng họ Mỗi gia đình, dòng họ bằng các hoạt động cụ thể của mình đóng góp vào sự hình thành, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống của làng xã Trong mối quan hệ đó, văn hóa, truyền thống và kỷ cương trong làng xã hình thành thiết chế văn hóa - xã hội buộc các gia đình, dòng họ
có trách nhiệm phát huy truyền thống trong việc động viên, tổ chức cho con,
em thực hiện NVQS Đồng thời, các gia đình, dòng họ cũng luôn ý thức được
Trang 35rằng, việc động viên, tổ chức cho con, em thực hiện NVQS là sự đóng góp để bảo tồn và phát huy văn hóa, truyền thống của địa phương
1.5 Phương thức đảm bảo thực hiện pháp luật nghĩa vụ quân sự
- Chế độ, chính sách và ngân sách bảo đảm trong việc thực hiện nghĩa
vụ quân sự Chế độ, chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ quy định trong Luật là bảo đảm đời sống cho hạ sĩ quan, binh sĩ có đủ sức khỏe để học tập, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu Trong thời gian phục vụ tại ngũ lập được thành tích trong chiến đấu, công tác, huấn luyện được khen thưởng; nếu bị thương, bị bệnh hoặc hy sinh, từ trần thì bản thân và gia đình được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật
Khi xuất ngũ, được trợ cấp xuất ngũ, tiền tàu xe, phụ cấp đi đường; được trợ cấp tạo việc làm; trước khi nhập ngũ đang học tập hoặc có giấy gọi vào học tập tại các nhà trường được bảo lưu kết quả và tiếp nhận vào học tại các trường; được các tổ chức kinh tế tiếp nhận lại làm việc hoặc được giải quyết chế độ, chính sách trong trường hợp tổ chức kinh tế đã chấm dứt hoạt động, giải thể hoặc phá sản; được giải quyết quyền lợi về chế độ bảo hiểm; được ưu tiên trong tuyển sinh, cộng điểm trong thi tuyển công chức, viên chức và sắp xếp việc làm; trong thời gian tập sự được hưởng 100% mức lương và phụ cấp của ngạch tuyển dụng tương ứng với trình độ đào tạo
Đối với thân nhân hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ được hưởng chế độ bảo hiểm y tế, hưởng trợ cấp khó khăn; con được miễn, giảm học phí khi học tại
cơ sở giáo dục phổ thông công lập và ngoài công lập; Trường hợp hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ hy sinh, từ trần trong khi làm nhiệm vụ thì gia đình được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật
- Thực hiện nghiêm việc xử lý vi phạm: Quy định việc xử lý vi phạm trong Luật là rất cần thiết, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và rất cần thiết cho việc xử lý tổ chức, cá nhân vi phạm về nghĩa vụ quân sự Quy định này còn có tác dụng ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc chấp
Trang 36hành chế độ nghĩa vụ quân sự, bảo đảm cho Luật nghĩa vụ quân sự được chấp hành nghiêm túc và đầy đủ, đồng thời tạo thống nhất trong việc xử lý các hành vi vi phạm Luật nghĩa vụ quân sự
Trong Chương 1, tác giả hệ thống hóa khái niệm thực hiện pháp luật NVQS, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật NVQS, những quy định của pháp luật về độ tuổi, thời gian, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân khi thực hiện NVQS, đồng thời phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện NVQS của công dân Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng, là khung tham chiếu để tác giả phân tích thực trạng thực hiện pháp luật NVQS tại Chương 2 của luận văn
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ QUÂN SỰ CỦA CÔNG DÂN TẠI QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1 Các yếu tố đặc thù của quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ảnh hưởng đến nghĩa vụ quân sự của công dân
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Quận Cẩm Lệ là một quận mới của thành phố Đà Nẵng được thành lập theo Nghị định 102/NĐ-CP ngày 05/8/2005 của Chính phủ, trên cơ sở phường Khuê Trung của quận Hải Châu và 03 xã Hoà Thọ, Hoà Phát, Hoà Xuân của huyện Hoà Vang để lập 06 phường: Khuê Trung, Hoà Thọ Đông, Hoà Thọ Tây, Hoà Phát, Hoà An và Hoà Xuân thuộc quận Cẩm Lệ với diện tích tự nhiên là 3.375 ha, dân số đến nay gần 90.000 người, mật độ trung bình 987người/km2; trong đó dân số trong độ tuổi lao động là: 41.937 người, lao động trong độ tuổi thanh niên chiếm 20,4%, khoảng 8.564 người
Với vị trí địa lý là quận nằm ở trung tâm của thành phố, tiếp giáp với 5/7 quận huyện còn lại của thành phố lại nằm ở vị trí cửa ngỏ Tây Nam là địa bàn trọng tâm trong việc mở rộng không gian đô thị của Thành phố Đà Nẵng
về phía Tây Nam nên Cẩm Lệ có nhiều thuận lợi trong giao lưu tiếp cận và đầu tư phát triển trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội Từ nay đến 2020 sẽ có nhiều dự án tái định cư chỉnh trang đô thị nhằm giãn dân ở nội thành, cơ sở hạ tầng sẽ được đầu tư xây dựng Các khu đô thị mới sẽ hình thành, các khu công nghiệp, dịch vụ, du lịch và cơ sở hạ tầng sẽ được đầu tư nâng cấp hiện đại
Cẩm Lệ là vùng đô thị mới được quy hoạch đầu tư phát triển đồng bộ
cả về không gian, giao thông, điện, đường, trường, trạm … Ngoài các khu dân
cư mới với các nhà ở cao tầng, Cẩm Lệ còn là vùng đất lựa chọn để phát triển các khu biệt thự dọc trục ven sông Tuyên Sơn - Túy Loan, biệt thự nhà vườn Hòa Xuân …