Từ cacbon chúng ta sẽ có được than hoạt tính, một chất hấp phụ xốp rất tốt, với các đặc tính tuyệt vời, được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp, Than hoạt tính là một thuật ngữ thường đ
Trang 1MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Error! Bookmark not defined
MỤC LỤC 1
DANH SÁCH BẢNG Error! Bookmark not defined DANH SÁCH HÌNH Error! Bookmark not defined DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THAN HOẠT TÍNH 3
1.1 Giới thiệu về than hoạt tính 3
1.1.1 Định nghĩa 3
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 4
1.2 Phân loại 4
1.2.1 Phân loại theo Misec 4
1.2.2 Phân loại theo Meclenbua 5
1.2.3 Phân loại theo Đu-bi-nin 6
1.3 Cấu trúc mao quản của than hoạt tính 7
1.4 Tái sinh than hoạt hóa 8
1.4.1 Tái sinh bằng nhiệt 8
1.5 Tính chất vật lý 9
1.5.1 Kích thước hạt 9
1.5.2 Diện tích mặt riêng 10
1.5.3 Cấu trúc vật lý 10
1.5.4 Khối lượng riêng 11
1.6 Tính chất hóa học 11
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT THAN HOẠT TÍNH 14
2.1 Nguyên liệu chế tạo than hoạt tính 14
2.2 Thiết bị thí nghiệm 14
2.3 Phương pháp sản xuất than hoạt tính 14
2.3.1 Quá trình than hóa 15
2.3.2 Quá trình hoạt hóa 16
Trang 22.3.2.1 Phương pháp hoạt hóa hóa học 16
2.3.2.1.1 Phương pháp và ảnh hưởng của sự ngâm tẩm Error! Bookmark not defined 2.3.2.1.2 Hoạt hóa hóa học bởi H3PO4 17
2.3.2.1.3 Kích hoạt hóa học: Sử dụng muối kim loại kiềm - K và Na 24
2.3.2.2 Quá trình hoạt hóa (nhiệt hoặc vật lý) 29
2.3.2.2.1 Tỷ lệ phản ứng khí hóa 30
2.3.2.2.2 Kích hoạt bởi CO2 và H2O: Sự ức chế bởi C (0) và C (H) 33
CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG CỦA THAN HOẠT TÍNH 35
3.1 Trong công nghiệp 35
3.2 Trong y tế 35
3.3 Trong hóa phân tích 35
3.4 Trong môi trường 35
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THAN HOẠT TÍNH
1.1 Giới thiệu về than hoạt tính
1.1.1 Định nghĩa
Gần đây, cacbon được xem như là một nguyên tố tuyệt vời của cuộc cách mạng khoa học vật liệu Từ cacbon chúng ta sẽ có được than hoạt tính, một chất hấp phụ xốp rất tốt, với các đặc tính tuyệt vời, được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp,
Than hoạt tính là một thuật ngữ thường được sử dụng cho một nhóm các chất hấp phụ dạng tinh thể, có cấu trúc mau quản làm cho diện tích bề mặt khá lớn, khả năng hấp phụ tốt hơn
Than hoạt tính có thành phần chủ yếu là cacbon, chiếm từ 85 đến 95% khối lượng Phần còn lại là các nguyên tố khác như hydro, nito, lưu huỳnh, oxi,… có sẵn trong nguyên liệu ban đầu hoặc mới liên kết với các cacbon trong quá trình hoạt hóa Thành phần của than hoạt tính thông thường là: 88% C; 0.5% H; 0.5% N; 1% S và 6 đến 7% O Hàm lượng oxi có thể thay đổi từ 1 đến 20% tùy thuộc vào nguyên liệu và cách điều chế than hoạt tính Than hoạt tính có bề mặt khoảng 800 đến 1500 m2/g chủ yếu là do các lỗ nhỏ có bán kính dưới 2mm tạo ra, thể tích mau quản từ 0.2 đến 0.6 cm3/g
Mỗi năm khoảng 150 nghìn tấn than hoạt tính dạng bột được sản xuất cùng với khoảng
150 nghìn tấn than dạng hạt và 50 nghìn tấn dạng viên hoặc thanh
Nhiều nguyên liệu khác nhau có thể được sử dụng như gỗ, nhựa, đá hay các vật liệu tổng hợp để sản xuất than hoạt tính mà không cần đưa chúng về dạng cacbon, đồng thời vẫn có được hiệu quả tương tự Than hoạt tính sau khi sử dụng có thể được tái sinh (làm sạch hoặc giải hấp phụ) và có thể sử dụng hàng trăm, thậm chí hàng ngàn lần
Hiện nay trên thị trường, than hoạt tính được bán dưới ba dạng:
Hình 1.1 Một số hình ảnh về than hoạt tính
Trang 4Người Hin du cổ ở Ấn Độ đã biết làm sạch nước uống bằng cách lọc qua tâm gỗ
Sản xuất than hoạt tính trong công nghiệp bắt đầu từ khoảng những năm 1900, được
sử dụng để làm vật liệu tinh chế đường bằng cách than hóa hỗn hợp các nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật bằng hới nước hoặc CO2
Than hoạt tính còn được sử dụng trong các mặt nạ phòng độc trong thế chiến thứ nhất Năm 1793 Ken-xơ đã dùng than gỗ để hút mùi hôi ở những vết thương có tính hoại tử Năm 1773 Silo đã quan sát và mô tả hiện tượng hấp phụ trên than gỗ
Năm 1777 Phôn-ta-na đã đưa than nóng đỏ vào ống chứa khí úp ngược trên thủy ngân
và nhận thấy phần lớn khí trong ống bị than hút mất
Trong lĩnh vực dung dịch, năm 1875 Tơ-volo-vit đã thấy than gỗ có thể tẩy màu nhiều dung dịch
Năm 1794 Lip-man cũng thấy than gỗ tẩy màu tốt các dung dịch đường mía và năm
1805 Gu-li-on đã dùng than gỗ để tẩy màu trong công nghiệp đường
Sang đầu thế kỷ 20, vào năm 1922 Bi-si mới chế tạo thành công than tẩy màu
Than được chế tạo bằng cách trộn than máu với potdineeg rửa và sấy
Năm 1872 Han-xơ nghiên cứu khả năng than sọ dừa hấp thụ N2, H2, NH3 và HCN ở khoảng nhiệt độ từ 0 đến 700C thấy HCN được hấp thụ tốt hơn N2, H2, NH3
Ở nước ta từ những năm đầu thập kỷ 60 đã nghiên cứu một số than hoạt tính dùng cho mặt nạ phòng độc và phục vụ nhu cầu phát triển
1.2 Phân loại
1.2.1 Phân loại theo Misec
Có nhiều cách để phân loại than hoạt tính Cách đơn giản nhất theo Misec là phân loại theo hình dáng bên ngoài của nó Theo cách này than hoạt tính được phân thành 2 nhóm:
Trang 5Than bột
Nhóm này gồm than tẩy màu và than y tế Vì độ khuếch tán trong dung dịch nhỏ nên quá trình hấp phụ xảy ra trong dung dịch rất chậm Để tăng cường độ thiết lập cân bằng hấp phụ than được nghiền thành bột mịn
Than hạt
Than hạt chủ yếu được dùng trong hấp phụ khí và hơi, vì vậy còn có tên gọi là than khí Đôi khi than hạt cũng được dùng trong môi trường lỏng, đặc biệt là để lọc nước Than hạt có thể là dạng mảnh hoặc dạng trụ Nguyên liệu được xay đến kích thước nhất định và hoạt hóa Than hạt dạng trụ hoàn chỉnh được chế tạo theo quy trình phức tạp Nguyên liệu được chuẩn bị ở dạng vữa, ép vữa thành sợi và cắt thành hạt rồi tiếp tục các bước sản xuất khác
1.2.2 Phân loại theo Meclenbua
Meclenbua phân loại than hoạt tính theo mục đích sử dụng và vì vậy than gồm nhiều loại:
Than tẩy màu
Đây là nhốm cơ bản, có ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp để tẩy màu dung dịch Ở đây, than hấp phụ chất bẩn có màu Kích thước phân tử chất màu thay đổi trong phạm vi rộng từ dạng phân tử thông thường tới dạng lớn và tới các tiểu phân có độ phân tán keo
Than tẩy màu dùng ở dạng bột mịn có kích thước hạt khoảng 80 ÷ 100 𝜇m
Than tẩy màu còn gồm than kiềm, than axit và than trung tính
Than y tế
Than có khả năng hấp phụ các chất tan phân tán dạng keo trong dịch dạ dày và ruột Đây cũng là than tẩy màu, chỉ khác là có độ sạch cao Trong quá trình sản xuất không nên dùng chất ẩm chứa nhiều cation độc như thiếc, đồng, thủy ngân,…
Than hấp phụ
Tùy vào chất lượng và mục đích sử dụng
Than ngưng tụ: than được dùng để gôm hơi các chất hữu cơ trong không khí, chẳng hạn dùng để tách benzen khỏi các khí thiên nhiên nhằm quay vòng dung môi dễ bay hơi trở lại quy trình sản xuất Than có hoạt tính cao, bền cơ học cao, trở lực lớp than đối với dòng khí nhỏ, khả năng lưu trữ chất hấp phụ thấp Thường than được sản xuất dưới dạng
Trang 6viên định hình hay dạng mảnh đường kính từ 2 ÷ 8 mm, chiều dài khoảng 1.5 lần đường kính
Than xúc tác: cũng là một dạng than khí, có độ xốp lớn, có thể dùng làm chất xúc tác trong tổng hợp nhiều chất vô cơ cũng như hữu cơ
Than khí: than có khả năng hấp phụ chọn lọc khí và hơi Có thể dùng than này đê tách các hợp phần khí bay hơi ra khỏi hỗn hợp của chúng Than có ứng dụng rộng rãi trong công nghệ dầu mỏ để làm sạch các chất thơm, không khí,… để làm sạch nước Than được sản xuất dưới dạng mảnh hay hạt định hình với kích thước tùy thuộc vào mục đích sử dụng
1.2.3 Phân loại theo Đu-bi-nin
Đu-bi-nin đã dựa vào cấu trúc xốp để phân loại than hoạt tính Chia than hoạt tính thành dạng thu hồi và dạng khí là không có ý nghĩa về đặc trưng cấu trúc Theo ông chia than thành 3 dạng dưới đây là hợp lý:
Than hoạt tính hấp phụ khí
Dùng cho hấp phụ khí, hơi và các chất dễ bay hơi Dạng than này thuộc chất hấp phụ
có cấu trúc xốp nhỏ loại I Đặc trưng cho cấu trúc của dạng than này là khi tăng thể tích hấp phụ trong lỗ xốp nhỏ làm dễ dàng cho sự hấp phụ đẳng nhiệt
Than hoạt tính thu hồi
Dùng hấp phụ các dung môi công nghiệp nhằm thu hồi đưa chúng trở lại chu trình sản xuất Dạng than này thuộc chất hấp phụ có cấu trúc hỗn tạp Dung tích hấp phụ lớn nhưng khả năng lưu giữu chất bị hấp phụ thấp, nhất là trong điều kiện khử hấp phụ bằng hơi quá nhiệt
Than tẩy màu
Than tẩy màu dùng để tẩy màu và lột sạch dung dịch, chất lỏng Than chủ yếu thuộc chất hấp phụ có cấu trúc loại II Than chứa tỷ lệ lớn lỗ có kích thước đủ lớn để hấp phụ các chất có phân tử màu và các tạp chất khác có mặt trong pha lỏng Khi cần hấp phụ các chất
có phân tử nhỏ khỏ dugn dịch thì dùng tan có trúc loại I
Sự phân loại than hoạt tính giúp chúng ta có định hướng dễ dàng trong sản xuất và trong việc tìm loại than thích hợp cho mục đích sử dụng của mình Than hoạt tính được sản xuất từ các cơ sở khác nhau, tuy có nhãn hiệu và tên thành phần khác nhau, nhưng có thể có tính chất hấp phụ giống nhau
Trang 71.3 Cấu trúc mao quản của than hoạt tính
Các mao quản tỏng than hoạt tính được chia thành 3 loại theo kích thước cua chúng: Mao quản micro (mao quản nhỏ): những mao quản có bán kính nhỏ hơn 1nm
Mao quản mcso (mao quản trung): những mao quản có bán kính từ 1 ÷ 25 nm
Mao quản macro (mao lớn): những mao quản có bán kính trên 25 nm
Than hoạt tính có mao quản lớn thường được sử dụng để vận chuyển chất lỏng còn việc hấp phụ thường được sử dụng than hoạt tính có các mao quản vừa và nhỏ Các mao quản được hình thành tỏng quá trình sản xuất, khi mà nguyên liệu được hoạt hóa Các mao quản này không được tạo ra bằng phản ứng hóa học
Than hoạt tính chế tạo từ than bùn có cả mao quản mcso và micro Trong quá trình sản xuất có thể điều khiển được quá trình hình thành mao quản mcso – micro và tạo ra nhiều mao quản mcso cho than hoạt tính có nhiều ứng dụng Than hoạt tính dạng bột có chứa nhiều mao quản mcso Than hoạt tính loại này có các mao quản msco kích thước 1 ÷ 4 nm, cùng với các mao quản mcso lớn hơn, gần như dạng bột
Than hoạt tính chế tạo từ than đá cũng có cả mao quả micro và mcso và cũng đa chức năng Một trong những loại than phổ biến nhất trên thị trường có cỡ hạt khoảng 0.4 ÷ 1.4
mm Một loại than mới được sử dụng và ngày càng được dùng nhiều có cỡ hạt nhỏ hơn, khoảng 0.4 ÷ 0.85 mm
Than hoạt tính sản xuất từ vỏ dừa chỉ có cáu trúc mao quản micro, kích thước dưới 1
nm Nhưng kahr năng hấp phụ than hoạt tính làm từ dừa cao gấp 2 ÷ 3 lần các loại than hoạt tính khác
Than hoạt tính chế tạo bằng hoạt hóa hóa học có độ xốp cao hơn nhiều so với việc hoạt háo bằng hơi nước, tạo ra được nhiều mao quản micro và mcso
Hình 1.2 Cấu trúc mao quản của than
hoạt tính
Trang 81.4 Tái sinh than hoạt hóa
Nếu loại bỏ hết các tạp chất trong than hoạt tính đã sử dụng thì chúng có thể được tái sinh và sử dụng lại Sau khi tái sinh, than hoạt tính có thể phục hồi đến 80% hiệu quả sử dụng, mà trong thực tế là 100% vì ít khi sử dụng than hoạt tính đến hết giới hạn của nó Theo lý thuyết, việc này có thể được thực hiện nhiều lần theo ý muốn Đối với các loại than hoạt tính mềm (than hoạt tính từ than bùn sẽ giảm chất lượng khi tái sinh) thì các hạt sẽ trở nên nhỏ hơn sau mỗi lần tái sinh Còn với các loại than hoạt tính cứng hơn, như vỏ dừa hay than đá, sẽ vẫn giữ được chất lượng tốt và có thể tái sinh khoảng vài trăm lần
Có 2 cách để tái sinh hoạt tính:
Bằng nhiệt ( tái sinh nhiệt)
Bằng hơi nước (tái sinh bằng hơi nước)
1.4.1 Tái sinh bằng nhiệt
Tái sinh bằn nhiệt trong công nghiệp được thực hiên theo các bước sau:
Than hoạt tính được sấy khô
Sau đó gia nhiệt để cacbon hóa các tạp chất chứa trong các mao quản của than hoạt tính
Than hoạt tính được hoạt hóa ở 700 – 10000C Ở nhiệt độ này các tạp chất sẽ chuyển thành hơi và thoát ra khỏi than hoạt tính Quá trình này được thực hiện trong môi trường yếm khí để đảm abro rằng than hoạt tính không bị đốt cháy Bằng cách này, các mao quản
sẽ được hình thành một lần nữa và than haojt tính được cải sinh
Cách này ít khi được sử dụng cho những người chưng cất rượu tại gia Ở một số vùng, tái sinh nhiệt được thực hiện cho các bước sau:
Bắt đầu bằng việc đổ than hoạt tính vào sàng và rửa sạch với nước óng từ vòi Nếu than hoạt tính có cỡ hạt 0.4 ÷ 0.85mm thì chúng sẽ chui qua qua được các lỗ sàng thông thường khi rửa Bạn có thể sàng với các loại lưới tốt hơn hoặc bỏ qua hoàn toàn bước này Sau đó đun sôi than hoạt tính trong nước 10 ÷ 15 phút để hòa tan một vài rượu bậc cao (đã tái sinh được 15 ÷ 20%) Đun đến khi bay hơi Đun lại nếu cần thiết
Than hoạt tính sau đó được sấy khô Sau khi than đã khô, nó được đặt vào lò sấy điện Bật lò ở 1400C hoặc 1500C và nun than hoạt tính trong khoảng 2 ÷ 3 giờ
Tắt lò và đơi cho than hoạt tính nguội bây giờ nó đã sẵn sàng đẻ tái sử dụng lại
Trang 9Các tạp chất khi bay hơi khỏi than hoạt tính trong quá trình đun than hoạt tính có mùi rất tệ Đồng thời, việc tái sinh than hoạt tính trong lò điện rất nguy hiể vì nó có thể cháy Than hoạt tính làm từ gỗ và than bùn cháy ở 2000C còn than đá ở khoảng 4000C Than đá vẫn có thể tái sinh trong lò khoảng 300 ÷ 3500C nếu muốn
Tái sinh bằng hơi nước
Tái sinh bằng hơi nước là phương pháp thường sử dụng trong công nghiệp tinh chế cồn Nó được thực hiên theo các bước sau:
Lọc ngược dòng với nước nóng Được thực hiện từ trên xuống Trong các bộ lọc than hoạt tính luôn luôn thực hiện từ dưới lên
Sau đó, hơi nước được cho đi qua than hoạt tính Nó cũng được thực hiện từ trên xuống Hơi nước ở 120 ÷ 1300C và than hoạt tính cũng được làm nóng đến nhiệt động tương tự Tât cả các tạp chất và rượu tạp bay hơi khỏi các mao quản
Cuối cùng than hoạt tính được rửa ngược và sẵn sàng sử dụng lại
1.5.1 Kích thước hạt
Có nhiều phương pháp sản xuất than hoạt tính khác nhau nên các loại than hoạt tính
có nhiều tính chất, hình dạng và kích thước hạt khác nhau Trước khi đưa vào sử dụng cần xác định các thông số như kích thước hạt và diện tích bề mặt riêng của hạt than,… vì những thông số này là 1 trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất cảu than hoạt tính Người ta thường sử dụng hai phương pháp để xác định kích thước hạt than là: phương pháp hiển vi điện tử; phương pháp hấp phụ lên bề mặt
Vì kích thước và diện tích bề mặt các hạt than khác nhau nên trong tính toán thường lấy giá trị trung bình
Phương pháp xác định trược tiếp bằng kính hiển vi điện tử cho giá trị đường kính trung bình hạt than với các phương pháp sản xuất khác nhau Ví dụ,than máng có đường kính trung bình là 100 ÷ 300A; than sản xuất bằng lòng có đường kính hạt trung bình là 180 ÷
Trang 10600A; than sản xuất bằng lò khí có đường kính hạt trung bình là 400 ÷ 800A Phương pháp nhiệt phân cho than hoạt tính có đường kính hạt trung bình lớn nhất là 1400 ÷ 4000A Người ta đã đưa ra công thức tính đường kính trung bình của hạt than hoạt tính như sau:
Theo phương pháp thứ hai, diện tích bề mặt riêng được xác định theo lượng chất lỏng phân tử thấp hoàn toàn trơ hóa học với than hoạt tính nhưng hấp phụ lên bề mặt than hoạt tính Trong số chất lỏng phân tử thấp, thường dùng là nito ở nhiệt độ sôi của nó hay các dung dịch iot, phenol,… Diện tích riêng bề mặt được tính toán bằng phương pháp này gọi
là diện tích hấp phụ riêng Sp
Giá trị Sp cho mỗi chất lỏng hấp phụ khác nhau thì khác nhau vì chất lỏng phân tử lượng lớn hơn thì khả năng hấp phụ kém hơn Để đánh giá mức độ phẳng nhẵn bề mặt các cấu trúc than có thể sử dụng tỷ số giữa diện tích hấp phụ riêng và diện tích bề mặt hình học riêng Tỷ số này càng lớn bề mặt tiếp xúc giữa hai pha càng cao
1.5.3 Cấu trúc vật lý
Cấu trúc của hoạt tính được đánh giá bằng mức độ phát triển của cấu rúc bậc nhất của
nó Mức độ phát triển cấu trúc này phụ thuộc vào phương pháp sản xuất và nguyên liệu
Trang 11đầu đưa vào để sản xuất than Cấu trúc bậc nhất phát triển mạnh nhất trong than sản xuất bằng phương pháp lò Liên kết hóa học C – C đảm bảo cho cấu trúc có độ bền cao Số lượng các hạt than sơ khai có cấu trúc dao động từ vài hạt đối với than có cấu trúc thấp đến
600 hạt đối với than có cấu trúc cao
Thười gian bảo quản, các cấu trúc bậc nhất của than hoạt tính tiếp xúc với nhau, liên kết lại với nhau tạo thành liên kết bậc hai của than hoạt tính Mức độ bền vững của cấu trúc bậc hai phụ thuộc vào độ bền liên kết Vander Waals đến độ bền liên kết hydro có trong than Cấu trúc bậc hai càng bền vững khi các hạt than có kích thước càng nhỏ, mức độ nhám bề mặt càng lớn và hàm lượng các nhóm chứa oxy trên bề mặt than càng cao
Cấu trúc của than hoạt tính có thể xác định bằng kính hiển vi điện tử và có thể đánh giá gián tiếp qua lượng dầu được than haotj tính hấp thụ (trị số dầu của than) Trị số dầu của than hoạt tính là lượng dầu hay lượng chất lỏng không bốc hơi (ml), trơ hóa học với than hoạt tính được hấp phụ lên bề mặt của than hoạt tính tạo thành bột nhão Theo lý thuyết, lượng dầu hấp phụ này
Chính là khoảng không gian giữa các hạt than khi các hạt than này nằm sát với hạt kia Nếu cấu trúc cảu than càng lớn mức đọ kết bỏ chặt chẽ của than giảm, lượng dầu cần thiết
để trộn với than càng nhiều hơn Như vậy, trị số dầu là địa lượng tổng hợp để đánh gái giá trị diện tích bề mặt riêng và mức độ cấu trúc của than hoạt tính
1.5.4 Khối lượng riêng
Khối lượng riêng của than hoạt tính là đại lượng phụ thuộc vào phương pháp xác định
nó Chẳng hạn, nếu nhưu dùng rượu, axeton để xác định khối lượng riêng của than hoạt tính thì rượu và axeton là các phân tử quá lớn, không len lỏi vào các khe, kẻ giữa các hạt
và trên bề mặt than Như vậy, thể tsich do các hạt than chiếm sẽ lớn và khối lượng riêng sẽ nhỏ hơn khối lượng riêng của than Khối lượng riêng của than hoạt tính xác định bằng phương pháp này dao động trong khoảng 1800 ÷ 1900 km/m3 Khi xác định khối lượng riêng của than hoạt tính trong heli lỏng, thu được gái trị từ 1900 ÷ 2000 kg/m3
Than hoạt tính dạng bột là các hạt nằm sát bên nhau và ở các góc cạnh, các cung là không khí, vì thế khối lượng riêng của nó nhỏ hơn nhiều và dao động từ 80 ÷ 300 kg/m3, phụ thuộc vào mức độ phát triển cấu trúc của than Than có cấu trúc càng lớn, khoảng trống giữa các cấu trúc càng nhiều và gái trị khối lượng riêng càng nhỏ
1.6 Tính chất hóa học
Phân tích cấu trúc và cấu tạo cảu than hoạt tính bằng tia Rơnghen cho thấy các hạt than hoạt tính có cấu trúc mạng phẳng, cấu tạo từ các vòng cacbon, vị trí săp xếp các nguyên tử
Trang 12cacbon trong vòng giống vị trí sắp xếp các nguyên tử cacbon trong benzen Các nguyên tử cacbon liên kết với nhau bằng liên kết hóa học như sau:
Khoảng 3 ÷ 7 mạng cacbon phẳng sắp xếp thành tưng lớp, mạng này lên mạng khác, nhưng không chồng khít và chính xác như nhau mà các nguyên tử cacbon ở các mạng khác nhau nằm lệch nhau tạo thành các tinh thể sơ khai của than hoạt tính Khoảng cách giữa các nguyên tử cacbon trong cùng một mạng là 1.42A, khoảng cách giữa các nguyên tử cacbon tương ứng ở hai mạng kề nhai là 3.6 ÷ 3.7A
Trong mỗi tinh thể sơ khai của than hoạt tính chứa khoảng 100 ÷ 200 nguyên tử cacbon Các tinh thể sơ khai sắp xếp tự do và liên kết với nhau để tạo thành các hạt than đầu tiên
Số lượng các tinh thể sơ khai trong hạt than quyết định kích thước cảu hạt than, chẳng hạn than hoạt tính được sản xuất bằng phương pháp khếch tán MaxDG – 100 chứa khoảng
5000 ÷ 10000 tinh thể
Trong quá trình sản xuất, do có sự va chạm, khuấy trộn, các hạt than sơ khai thường
có dạng khối cầu hoặc gần cầu Các khối cầu nằm bên trong hỗn hợp phản ứng lại liên kết với nahu nhằm tăng kích thước cảu hạt để giảm năng lượng tự do bề mặt và tạo thành các chuỗi Hình dạng và kích thước của chuỗi phụ thuộc vào tính chất của từng loại than Các chuỗi hạt như vậy được gọi là cấu trúc hạt bậc nhất của than hoạt tính Trong tinh thể khối của hạt than hoạt tính, các nguyên tử cacbon nằm ở mặt ngoài (cạnh hoặc mép) có mức độ hoạt động hóa học lớn, vì vậy, nó là trung tâm của các quá trình oxy hóa tạo cho bề mặt than hoạt tính hàng loạt các nhóm hoạt động hóa học khác nhau
Ngoài cacbon, trong thành phần hóa học của than hoạt tính có hydro, lưu huỳnh, oxy
và các chất khác Các nguyên tử này được đưa vào than hoạt tính cùng với nguyên liệu đầu
và trong quá tình oxy hóa Sự có mặt của các hợp chất chứa oxy trên bề mặt than hoạt tính được chứng minh bằng phản ứng axit huyền phù trong nước của than hoạt tính
Bảng 1.1 Thành phần nguyên tố một số loại than hoạt tính
Loại
Hàm lượng %
hơi Tăng cường
Bán tăng
Trang 13Tăng cường lò 98.2 0.8 0.3 1.4
Nhìn chung, tùy vào từng loại than với các phương pháp sản xuất khác nhau, thành phần của chúng cũng khác nhau, nhưng nằm trong giới hạn cho phép: Cacbon: 80 ÷ 99.5%; Hydro: 0.3 ÷ 1.3%; Oxy: 0.5 ÷ 1.5%; Nito: 0.1 ÷ 0.7%; Lưu huỳnh: 0.1 ÷ 0.7%;
Sự có mặt các nhóm phân cực trên bề mặt than hoạt tính là yếu tố quan trọng quyết định khả năng tác dụng hóa học, lý học của than hoạt tính với các nhóm phân cực; liên kết đôi có trong mạch đại phân tử Dựa vào thành phần các nguyên tố hóa học của than hoạt tính có thể chọn loại than hoạt thích hợp cho từng loại
Trang 14CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT THAN HOẠT
TÍNH 2.1 Nguyên liệu chế tạo than hoạt tính
Nguồn nguyên liệu cho sản xuất than hoạt tính là những nguyên liệu có hàm lượng cacbon cao nhưng lại chứa ít các thành phần vô cơ khác như gỗ, than non, than bùn, than đá,… Bên cạnh đó, rất nhiều loại chất thải nông nghiệp như vỏ trấu, vỏ dừa,… cũng có thể chuyển thành than hoạt tính bởi nguồn nguyên liệu này có sẵn, rẻ tiền, hàm lượng cacbon cao và các thành phần vô cơ thấp
Có thể phân chia nguyên liệu thành 3 nhóm sau:
2.3 Phương pháp sản xuất than hoạt tính
Than hoạt tính chủ yếu được sản xuất bằng cách nhiệt phân nguyên liệu thô có chứa cacbon ở nhiệt độ dưới 10000C Quá trình sản xuất gồm có hai bước:
Than hóa ở nhiệt độ dưới 8000Ctrong môi trường yếm khí hoặc khí trơ
Hình 2.1 Một số nguyên liệu chế tạo than
hoạt tính
Trang 15Hoạt hóa sản phẩm của quá trình than hóa ở nhiệt độ 950 ÷ 10000C
2.3.1 Quá trình than hóa
Quá trình than hóa là quá trình phân hủy nhiệt nguyên liệu để đưa nguyên liệu ban đầu
và dạng cacbon, đồng thời làm bay hơi một số chất hữu cơ nhẹ và tạo mao quản ban đầu Quá trình than hóa có thể thực hiện trong cả 3 pha rắn, lỏng, khí
Than hóa trong pha rắn: Nguyên liệu đầu là các phân tử lớn do sự tổng hợp hoặc các quá trình tự nhiên Phân hủy nguyên liệu ban đầu bằng cách tăng nhiệt xử lý, gải phóng các chất khí và chất lỏng có khối lượng phân tử thấp
Than hóa trong pha lỏng: sử dụng các nguyên liệu như vòng thơm, hắc ín cho phéo tạo thành cacbon dạng graphit không có mao quản, cần một phản ứng tác động lên các lớp gaphit để tạo ra mao quản
Than hóa trong pha khí: Nguyên liệu ban đầu là các khí như metan, propan hoặc benzen trộn với heli Quá trình than hóa thực hiện ở áp suất tương đối thấp
Nguyên tắc của quá trình sản than nguyên liệu thực vật là dùng nhiệt phân hủy nguyên liệu trong điều kiện không có không khí Dưới tác dụng của nhiệt độ thường tới 1700C, vật liệu bị khô đều; từ 170 ÷ 2800C, vật liệu bị phân hủy theo những quá trình thu nhiệt, ở đây các hợp phần của nguyên liệu bị biến tính, giải phóng oxit cacbon, khí cacbonic, axit axetic,… Tiếp theo, từ 280 ÷ 3800C xảy ra sự phân hủy phát nhiệt giải phóng metanol, hắc ín,… Quá trình cacbon hóa xem như kết thúc ở khoảng 400 ÷ 6000C
Quá trình than hóa
Thông thường quá trình than hóa được thực hiện ở nhiệt độ cao ở nhiệt độ cao trong môi trường kị khí các vật liệu giàu cacbon sẽ bị đề hydrat hóa tạo than có diện tích bề bề mặt riêng phát triển Đặc điểm quán trọng của giai đoạn than hóa là phải đảm bảo môi trường kị khí hay hạn chế tối đa sự có mặt và lưu thông của oxy trong môi trường than hóa
Sự có mặt của oxi sẽ đốt cháy than thu được trong giai đoạn này Để tạo môi trường trơ trong giai đoạn than hóa thông thường có các phương pháp phổ biến sau:
Sử dụng khí nitơ:
Thiết bị dùng để than hóa được thổi liên tục dòng khí nito Sự có mặt của nito sẽ đuổi oxi ra khỏi thể tích phản ứng Phương pháp này có ưu điểm là hạn chế được sự có mặt của oxi hiệu quả cao và thuận lợi cho quá trình hoạt hóa tiếp theo sau bằng CO2, hơi nước nhược điểm của phương pháp này là tiêu tốn nito và đắt tiền
Sử dụng cát (SiO2) hoặc là những hạt sỏi
Trang 16Đây là phương pháp đơn giản, rẻ tiền và dễ tiến hành Cát được phủ lên trên nguyên liệu và chiếm các không gian trống trong cốc nung nhằm đuổi hết oxy và hạn chế lưu thông của oxy trong thể tích phả ứng Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là gây trở ngại cho việc hoạt hóa tiếp theo bằng CO2, hơi nước
Sử dụng khí CO2 hoặc hơi nước
Dùng khí CO2, hơi nước tương tự như như dùng khí nito, tuy nhiên CO2, hơi nước ngoài vai trò đuổi oxy nó còn là tác nhân hoạt hóa cho quá trình tạo lỗ xốp và phát triển bề mặt riêng của than Trong công nghiệp thì phương pháp dùng hơi nước là phổ biến nhất bởi vì hơi nước là nguồn sẵn có, rẻ tiền không gây ô nhiễm môi trường
2.3.2 Quá trình hoạt hóa
Quá trình hoạt hóa trong sản xuất than hoạt tính có ý nghĩa rất lớn, vì vậy người ta đã tập trung nhiều cố gắng nghiên cứu khâu này Việc nghiên cứu than hoạt tính ban đầu tập trung vào việc thiết lập mối quan hệ giữa cấu trúc nguyên liệu và sản phẩm Việc chọn nguyên liệu một mặt dựa vào quy mô sản xuất, mặt khác dựa vào nguyên liệu thích hợp tự nhiên cho một sản phẩm nhất định Ví dụ xương động vật cho than tẩy màu, sọ dừa cho than rắn chắc thích hợp để sản xuất than hấp phụ khí và hơi…
Thời gian về sau công tác nghiên cứu đi sâu vào cấu trúc xốp của than, người ta đã nhận thấy phương pháp than hóa tuy không ảnh hưởng tới thành phần nguyên tố của than nhưng ảnh hưởng rõ rệt lên cấu trúc xốp của than, ảnh hưởng mạnh lên việc hình thành các sản phẩm do than hóa tạo thành như hắc ín, than vô định hình,… từ đó ảnh hưởng lên quá trình hoạt hóa và ảnh hưởng lên tính chất than thành phần
Theo Ac-lếch-xep-ski, việc chọn nguyên liệu cho than hoạt tính dựa vào thành phần các hợp chât hữu cơ nguyên liệu Nguyên liệu tốt là các loại hợp chất hữu cơ bị phân hủy
ở nhiệt độ không cao và khi bị nhiệt phân không tạo ra cacbua no phân tử lớn, mà loại phân
tử này chỉ bị phân hủy ở nhiệt độ cao tạo ra cacbon graphit hóa
Quá trình nhiệt phân phải được thực hiện nhanh giảm thời gian tiếp xúc giữa cacbon mới được hình thành và sản phẩm củ quá trình nhiệt phân Tiếp theo quá trình than hóa là quá trình hoạt hóa Mục đích của quá trình hoạt hóa là giải phodng độ xốp sơ cấp đã có sẵn trong than, đồng thời tạo thêm độ xốp thứ cấp làm than có hoạt tính cao
Riêng về hoạt hóa có thể phân chia một cách có điều kiện thành hai phương pháp: Phương pháp hoạt hóa hóa học và phương pháp hoạt hóa lý học
2.3.2.1 Phương pháp hoạt hóa hóa học
Trang 17Các nguyên tử cacbon hoạt tính đã được sử dụng làm chất hấp phụ trong các ứng dụng
mà ở đó các tạp chất, ở nồng độ thấp, phải được loại bỏ Hấp phụ là phương pháp lý tưởng
vì nó không đặc hiệu Than hoạt tính phải có một lượng lớn micropore, với sự phân bố kích thước lỗ chân lông thích hợp, để hấp thụ các phân tử có kích thước khác nhau Ngoài ra, phải có một tỷ lệ đầy đủ mesopores để tạo điều kiện tiếp cận với micropores Do đó, có thể hiểu được rằng nghiên cứu sâu rộng đã được thực hiện để cung cấp các phương pháp kích hoạt để phát triển các phân phối kích thước lỗ chân lông tối ưu để đáp ứng các yêu cầu công nghiệp rộng lớn Khi các ứng dụng trở nên cụ thể hơn, cần có sự kiểm soát cụ thể hơn đối với các bản phân phối kích thước lỗ rỗng
Than hoạt tính, với phân bố kích thước lỗ xốp và được kiểm soát, được chuẩn bị từ tiền chất carbon tổng hợp chủ yếu là loại polymer (polyimide, polyvinyl chlor, nhựa…) và tiền chất thông thường hơn, chẳng hạn như lignocellulosic nguyên vật liệu
Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng meso và macroporosity trong than hoạt tính, được sản xuất từ vật liệu lignocellulosic, phản ánh kết cấu thực vật của tiền thân
Microporosity được phát triển bằng cách kích hoạt bằng khí (chủ yếu là hơi nước hoặc carbondioxide), bằng cách mở rộng độ rỗng thô sơ của than gỗ Kể từ khi kích hoạt nhiệt, như vậy các biến như nhiệt độ, áp suất, tỷ lệ sưởi ấm,… không ảnh hưởng đến sự phân bố kích thước micropore việc sử dụng thay thế các hoạt hóa hóa học được kiểm soát tốt là điều thú vị bởi vì, ở đây, sự phát triển của độ rỗng là thay đổi đáng kể
Hoạt động hóa học, sử dụng ZnCl2, H3PO4, thường được thực hiện ở 450-600 ° C Ở nhiệt độ này, quá trình cacbon hóa không hoàn chỉnh, và do đó thành phần hóa học của than hoạt tính thu được (sau khi loại bỏ hóa chất bằng cách rửa) nằm giữa của con trỏ trước
và than (cacbon không kích hoạt) Có một sự co lại về kích thước của tiền chất lignocellulosic trong quá trình carboniza-tion Các nghiên cứu được thực hiện với vỏ hạnh nhân cho thấy rằng giảm cân khoảng 75% trọng lượng được đi kèm với một sự co khoảng 30% thể tích Sự thay đổi kích thước cacbon hóa trong thời gian này rất quan trọng trong các hoạt hóa hóa học, vì thuốc thử phải được kết hợp vào bên trong của các hạt, nơi nó ức chế sự co lại dự kiến với nhiệt độ tăng lên Điều này có nghĩa là thuốc thử có thể hoạt động như một mẫu cho việc tạo ra vi mô Trong số nhiều thuốc thử được đề xuất để kích hoạt hóa học (kẽm clorua, axit photphoric, clorua nhôm, clorua magiê, kali hydroxit, natri hydroxit, vv), được sử dụng phổ biến nhất, công nghiệp, là ZnCl2, H3PO4 và KOH
2.3.2.1.2 Hoạt hóa hóa học bởi H3PO4
Trang 18Về cơ bản, gỗ là một vật liệu hỗn hợp sợi ma trận phức tạp được hình thành từ các poly-mers tự nhiên trong đó khung xơ bao gồm các sợi siêu nhỏ xenluloza tinh thể,
đường kính 2-5 nm Ma trận giữa các sợi nhỏ được cấu thành từ mosdy của
hemicellulose, và lignin cung cấp vật liệu tăng cường củng cố thành tế bào xung quanh Nội dung điển hình cho các chất sinh học của gỗ cứng là: 42-50% cellulose, 19-25% hemi-cellulose và 16-25% lignin
Cấu trúc phân tử của cellulose, hemicellulose và lignin được trình bày trong Hình 2.2
Các sợi nhỏ trong các thành tế bào được hình thành từ các chuỗi cellulose được liên kết
và giữ lại với nhau bằng liên kết hydro giữa các nhóm hydroxyl trên các đơn vị glucose lặp lại Các nhóm vi sợi nhỏ được kết nối bởi cellulose vô định hình (khoảng 10-20% tổng cellulose) và hemicellulose, được bao quanh bởi lignin và một số hemicellulose Khoảng cách giữa các sợi nhỏ có kích thước bằng một vài nm và có cùng kích thước với các vi mô và mesop lớn hơn