ỨNG DỤNG KHOA HỌC KĨ THUẬT VÀO SẢN XUẤT SẢN PHẨM TRONG NÔNG NGHIỆP,Khoa học công nghệ góp phần hỗ trợ ngành Nông nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ thiên tai. Đồng thời hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao, thông minh, bền vững, tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ 4... Đặc biệt, bên cạnh việc tạo ra các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới, khoa học công nghệ có thể được xem là nhóm yếu tố có tác động đặc thù đến sự phát triển toàn diện và bền vững của nông thôn.
Trang 1Nhóm Bàn Đầu
SẢN XUẤT SẢN PHẨM TRONG NÔNG NGHIỆP
I GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT
1 Lý do chọn đề tài
Kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã có những thay đổi sâu sắc và toàn diện Đời sống và thu nhập của người dân không ngừng được cải thiện, diện mạo kinh tế - xã hội nông thôn có những thay đổi căn bản
Nhiều sản phẩm khoa học, công nghệ đã được chuyển giao vào sản xuất góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp Tuy nhiên, hoạt động khoa học cũng như ứng dụng công nghệ trong ngành Nông nghiệp vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu đặt ra từ thực tế phát triển, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang gia tăng sức ép và sản phẩm nông nghiệp Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường toàn cầu hóa
Tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp - khoa học công nghệ ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt trong thời đại kinh tế tri thức Dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, Việt Nam có không ít cơ hội hướng tới một nền nông nghiệp thông minh, bền vững, nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, trước hết là sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nông sản, dịch vụ nông nghiệp của một thế giới toàn cầu hóa
Để tìm hiểu rõ hơn về công cuộc đổi mới ứng dụng khoa học kĩ thuật, công nghệ vào sản xuất sản phẩm trong nền nông nghiệp Việt Nam Nhóm chúng em đã chọn đề tài này nhằm làm
rõ được vai trò, ý nghĩa thực tiễn của nền nông nghiệp đổi mới khi được áp dụng khoa học kĩ thuật, công nghệ tiên tiến vào trong đó
Những năm gần đây, nhiều kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ đã được triển khai, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng cũng như sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế Thêm nữa, cùng với việc tái cơ cấu ngành Nông nghiệp, dựa trên sự tiếp thu công nghệ mới của thế giới, một nền nông nghiệp 4.0 bước đầu hình thành, mở ra nhiều kỳ vọng
Tuy nhiên, có thể thẳng thắn nhận định: Nông nghiệp Việt Nam vẫn manh mún nhỏ lẻ; năng lực nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ vẫn còn một khoảng cách khá xa so với tiềm năng của một nước nông nghiệp Thị trường khoa học công nghệ đã hình thành nhưng với quy mô nhỏ; việc chuyển giao kỹ thuật, hấp thụ công nghệ mới của doanh nghiệp gặp không ít trở lực; hạ tầng kết nối, hạ tầng thông tin trong nông nghiệp nông thôn còn nhiều hạn chế…
Thế nhưng để có một bước đổi mới đột phá trong lĩnh vực sản suất sản phẩm trong nông nghiệp, chúng ta cũng cần tập chung việc nâng cao nguồn nhân lực, để phù hợp với khoa học công nghệ tiên tiến Việc Thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ vào nông nghiệp trong thời đại
Trang 2với các vấn đề đặt ra trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tiến vào lĩnh vực nông nghiệp
2. Ý nghĩa thực tiễn và kết quả đạt được
Từ một nước nhập khẩu lương thực, đến nay, nông sản của Việt Nam có mặt ở 180 quốc gia, vùng lãnh thổ Thực tế cho thấy, khoa học công nghệ đã đóng góp hơn 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp Có thể nói, từ khâu giống, quy trình canh tác đến chế biến, bảo quản đều có dấu ấn của khoa học công nghệ Đơn cử như cây thanh long, từ việc nghiên cứu, cải tạo giống đã cho năng suất 40-50 tấn/ha, tăng hơn 74% so với giống cũ, tạo ra lợi nhuận cho nông nghiệp khoảng 13.000 tỷ đồng/năm
-Ứng dụng khoa học kỹ thuật không những mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn mở ra hướng đi mới trong chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang sản xuất hàng hóa, tăng thu nhập cho nông dân
-Cần tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp
-Nét nổi bật của sản xuất nông nghiệp là hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp chế biến, làm cho các sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế ngày càng cao, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, mà còn mở rộng xuất khẩu trên thị trường thế giới
-Kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã có những thay đổi sâu sắc và toàn diện Đời sống và thu nhập của người dân không ngừng được cải thiện, diện mạo kinh tế - xã hội nông thôn có những thay đổi căn bản
3 Một số kết quả tích cực
Mặc dù gặp nhiều khó khăn do biến động thị trường, thiên tai, dịch bệnh, nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn tiếp tục phát triển Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, 6 tháng đầu năm 2014, trong mức tăng 5,18% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,96%, cao hơn mức 2,07% của cùng kỳ năm 2013
-Đạt được những kết quả trên là do trong những năm qua chúng ta đã tích cực áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ tiên tiến vào quá trình sản xuất nông nghiệp Không chỉ công nghệ sinh học mà cơ giới hóa cũng được áp dụng rộng rãi vào sản xuất nông nghiệp Tỷ lệ sử dụng máy móc vào các công việc như làm đất, tưới tiêu, tuốt lúa ngày càng tăng; công nghệ sau thu hoạch, công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp cũng được phát triển mạnh Nhiều đơn vị chế biến nông sản phẩm đã sử dụng công nghệ và trang thiết bị hiện đại trong sản xuất; đồng thời, liên kết với nông dân thực hiện sản xuất "trọn gói", theo quy trình từ nuôi trồng đến chế biến và xuất khẩu Do đó, đã góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, tạo thêm nhiều việc làm và cải thiện đời sống của người lao động ở nông thôn
4 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Trang 3Mục tiêu của nghiên cứu đề tài là giúp xác định rõ hơn về vấn đề ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất sản phẩm, và yếu tố này đã chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi những nhân tố gì
Nhằm Nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, tập trung ưu tiên theo ba trục sản phẩm chủ lực (quốc gia, vùng miền và địa phương) phục vụ
cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vữnggắn với xây dựng nông thôn mới; xây dựng và nhân rộng các tiến bộ kỹ thuật góp phần nâng cao hiệu quả, tăng thu nhập, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng và an toàn thực phẩm mục tiêu cụ thể như sau:
- Xây dựng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật theo hướng ứng dụng công nghệ cao, sản xuất hữu
cơ gắn với chuỗi giá trị cho các đối tượng cây trồng chủ lực nhằm nâng cao năng suất
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng độ phì nhiêu đất, nhu cầu dinh dưỡng cho các cây trồng chủ lực phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững
- Nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất một số đối tượng chủ lực
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao để tạo và nhân nhanh giống mới; phát triển cây, con giống
có chất lượng cao; tạo ra các chế phẩm sinh học bảo vệ cây trồng, vật nuôi
- Phát triển quy trình công nghệ thâm canh tổng hợp và tự động hóa trong trồng trọt, chăn nuôi
và thủy sản để tạo ra các sản phẩm an toàn có hiệu quả kinh tế cao
- Phát triển công nghệ tiên tiến trong đánh bắt hải sản theo hướng hiệu quả và bền vững nguồn lợi
- Nghiên cứu tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, sau thu hoạch và chế biến sản phẩm nông nghiệp; nghiên cứu phát triển công nghệ bảo quản sản phẩm nông nghiệp; nhập công nghệ chưa có trong nước, nghiên cứu thử nghiệm, làm chủ và thích nghi công nghệ cao nhập từ nước ngoài
- Triển khai thực hiện một số dự án nhằm tạo ra sản phẩm nông nghiệp hàng hóa ứng dụng công nghệ cao; hoàn thiện công nghệ cao, ươm tạo công nghệ; xây dựng mô hình và đầu tư sản xuất
để tạo ra các sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, có thể thay thế sản phẩm nhập khẩu (tập trung cho phát triển các khu, vùng và doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao)
5 Câu hỏi nghiên cứu
Câu 1: Làm thế nào để ứng dụng KHKT vào nông nghiệp sản xuất sản phẩm trong ở các huyện miền núi?
Trả lời:
Những năm gần đây, nhiều cơ sở sản xuất tại các làng nghề truyền thống, các doanh nghiệp vùng nông thôn đã áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất, nâng cao năng suất, tăng chất lượng sản phẩm
Nhờ từng bước ứng dụng KHKT trong sản xuất, nhiều cơ sở, hộ dân tại các làng nghề truyền thống trên địa bàn TX An Nhơn đã dễ dàng thay đổi mẫu mã, hiệu quả sản xuất cao hơn trước
Trang 4thiết bị để làm các công đoạn tiện, cắt, đục… Nhờ vậy chất lượng sản phẩm đồng đều, rút ngắn được nhiều công đoạn so với làm thủ công, hiệu quả sản xuất nhờ vậy cũng cao hơn”
Một số DN sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở khu vực nông thôn cũng tích cực đổi mới công nghệ sản xuất để phát triển trên thị trường Ông Đào Quyết Thắng, Giám đốc Công ty TNHH
SX-TM-DV Đường Minh (ở phường Đập Đá) chuyên sản xuất các phụ kiện cho tàu đánh bắt xa bờ, cho biết: “Cuối năm 2017, được chương trình khuyến công quốc gia hỗ trợ 200 triệu đồng, Công ty
đã đầu tư công nghệ luyện kim bằng lò trung tần, công suất nung 4 tấn kim loại/ngày Nhờ vậy, chúng tôi có thể kiểm soát chính xác nhiệt độ nung kim loại, sản phẩm đẹp và đều hơn, giúp tiết kiệm chi phí sản xuất, góp phần bảo vệ môi trường trong quá trình luyện kim”
Không chỉ ở An Nhơn, các làng nghề truyền thống ở huyện Hoài Nhơn cũng tiếp cận kỹ thuật, thiết bị máy móc mới, phát triển sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ Tại làng nghề dệt chiếu cói Hoài Châu Bắc, nhiều cơ sở đã mua máy dệt đời mới, cải tiến mẫu mã nên sản phẩm làm ra tiêu thụ mạnh Ông Lý Văn Khánh, chủ một cơ sở dệt chiếu cói ở thôn Gia An Đông, xã Hoài Châu Bắc, thổ lộ: “Trước đây, muốn mua máy phải đặt từ các tỉnh miền Tây Nam Bộ Nay ngay trong tỉnh cũng đã sản xuất được máy dệt; việc lắp đặt, bảo trì, bảo hành và cả nâng cấp cũng thuận lợi hơn rất nhiều Gia đình tôi đầu tư 5 máy, mỗi ngày dệt ra hơn 60 chiếc chiếu Nếu không có máy, 2 người cùng làm mỗi ngày có giỏi cũng chỉ được có 4 chiếc”
Vài năm gần đây, người dân tại làng nghề bánh tráng Kiên Long, xã Bình Thành
huyện Tây Sơn, đã đầu tư mua, lắp đặt máy tráng bánh Chỉ sau một thời gian ngắn, 40 cơ sở, hộ gia đình làm nghề tráng bánh tráng của làng nghề tập trung tại 2 thôn Kiên Long và Kiên Ngãi đều đã có máy và thị trường đã mở rộng ra cả miền Trung - Tây Nguyên
Ông Đỗ Tạo, ở thôn Kiên Ngãi, nhận xét: “Để giảm bớt sức lao động, cách đây 8 năm, tôi đầu tư hơn 40 triệu đồng để mua máy tráng bánh Từ ngày tráng bánh bằng máy, mỗi ngày 5 lao động trong gia đình tôi làm được trung bình từ 9.000 - 10.000 cái bánh tráng Sản lượng tăng vọt, tiêu thụ mạnh nên thu nhập cũng tốt hơn trước”
Theo ông Văn Thái Toàn, Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp (Sở Công Thương), trước đây, khi đặt ra vấn đề áp dụng tiến bộ KHKT, phát triển sản xuất, nhiều người ngại rằng khó tìm vốn đầu tư, rồi sản lượng tăng cao thì khó tìm thị trường tiêu thụ Thực tế cho thấy khi chất lượng tăng cao, khả năng cạnh tranh tốt, sản phẩm không những đã được tiêu thụ mạnh mà còn góp phần tạo thêm nhiều việc làm cho lao động địa phương
Năm 2018, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp (Sở Công Thương) đã thực hiện 3 chương trình, đề án khuyến công quốc gia với tổng kinh phí trên 4,4 tỉ đồng, đạt 100% kế hoạch năm; 23/25 chương trình khuyến công địa phương với kinh phí hơn 2,4 tỉ đồng, đạt 88,5% kế hoạch
Trang 5Câu 2: KHKT có tác động như thế nào tới công nghiệp sản xuất sản phẩm
Trả lời:
Trong những thập kỷ qua, cuộc Cách mạng Khoa học – Kỹ thuật (KHKT) hiện đại đã có vai trò và tác động to lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển Các nước này có nguồn kinh phí lớn và nhiều điều kiện thuận lợi đầu tư cho nghiên cứu KHKT cũng như ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn Do vậy, các nước phát triển được hưởng lợi nhiều hơn và ngày càng giàu thêm nhờ những thành tựu của cuộc Cách mạng KHKT Viện khoa học Pháp thành lập năm 1666 Những thành tựu của cuộc Cách mạng KHKT không những góp phần tạo ra nhiều loại máy móc; thiết bị hiện đại; có nhiều phát minh tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế – xã hội, mà còn không ít phát minh gây tác động tiêu cực đến
sự phát triển kinh tế – xã hội và môi trường như: những phát minh ra vũ khí giết người, các chất hóa học gây ô nhiễm môi trường…
Nội dung 1 Cuộc Cách mạng KHKT đưa loài người đến một nền văn minh mới 2 Cuộc Cách mạng KHKT đã làm thay đổi căn bản phương thức lao động của con người 3 Cách mạng KHKT làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc dân 3.1 Thay đổi cơ cấu các ngành kinh tế 3.2 Thay đổi hình thức và cơ chế tổ chức sản xuất 3.3 Thay đổi cơ cấu lao động 4 Cuộc Cách mạng KHKT làm thay đổi phân bố sản xuất 5 Cuộc Cách mạng KHKT đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân ở nhiều quốc gia trên quy mô toàn cầu 6 Các nước ngày càng bị phụ thuộc vào nhau 7 Hậu quả của Cách mạng KHKT Cuộc Cách mạng KHKT đưa loài người đến một nền văn minh mới Cuộc Cách mạng KHKT đã và đang đưa loài người chuyển sang một nền văn minh mới, được gọi với nhiều tên: “Nền văn minh hậu công nghiệp”, “Nền văn minh truyền tin”… Ở nền văn minh này, con người có thể phát huy cao độ năng lực sáng tạo trong sản xuất, đời sống, phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống Những thành tựu to lớn của cuộc Cách mạng KHKT đã làm thay đổi cơ bản các nhân tố sản xuất và đời sống như: máy móc, thiết bị, công nghệ, năng lượng, nguyên liệu, thông tin, y học, các giống cây trồng, vật nuôi…
Nhờ vậy, trong hơn 60 năm từ sau Thế chiến thứ hai, con người đã tạo ra lượng của cải vật chất nhiều hơn tất cả các thế hệ trước kia cộng lại Cách mạng thông tin giúp con người liên kết chặt chẽ hơn, giao tiếp dễ dàng hơn Giúp phơi bày những thông tin mà trong quá khứ có thể dễ dàng
bị các chế độ độc tài triệt hạ Cuộc Cách mạng KHKT đã làm thay đổi căn bản phương thức lao động của con người Nhờ những phát minh, sáng chế ra nhiều loại máy móc, thiết bị hiện đại, con người trong các ngành sản xuất được chuyển từ lao động thể lực sang hình thức lao động có văn hóa và có KHKT Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng KHKT đòi hỏi người lao động phải được đào tạo và tự đào tạo, không ngừng nâng cao trình độ văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp
và trình độ KHKT công nghệ Nguồn lao động có trình độ KHKT và kỹ năng nghề nghiệp cao là nhân tố quan trọng, quyết định nhất để phát triển nền kinh tế tri thức của các quốc gia Cách mạng KHKT làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc dân Thay đổi cơ cấu các ngành kinh tế Các ngành thuộc khu vực I bao gồm : nông, lâm, ngư nghiệp có xu hướng giảm tỷ lệ lao động và tỷ trọng trong tổng thu nhập quốc nội (Gross Domestic Production – GDP) ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển Hiện nay, ở các nước phát triển G8 tỷ lệ lao động trong nông nghiệp
Trang 6trong tỷ trọng GDP, cơ cấu các ngành ngày càng đa dạng và thay đổi nhanh Ở nhiều nước phát triển, những năm 50 phát triển các ngành điện lực, công nghiệp khai thác mỏ, luyện kim, cơ khí chế tạo máy, công nghiệp hóa dầu; những năm 60 phát triển công nghiệp điện tử, công nghiệp vũ trụ, hóa chất ; những năm 70 phát triển công nghiệp tự động hóa (người máy), hàng không vũ trụ, dệt sợi nhân tạo; từ năm 1980 đến nay phát triển các ngành tin học viễn thông, kỹ thuật vi điện tử, công nghệ sinh học, công nghệ môi trường, sử dụng năng lượng mới, công nghiệp hàng không vũ trụ… Các sản phẩm có hàm lượng tri thức và công nghệ cao ngày càng có giá trị và được sản xuất nhiều Sản phẩm xã hội ngày càng nhiều, đa dạng theo hướng tôn trọng con người, tôn trọng môi trường, phục vụ thị hiếu của người tiêu dùng Các ngành thuộc khu vực III bao gồm các ngành dịch vụ có xu hướng phát triển nhanh, chiếm ưu thế cả về tỷ lệ lao động và tỷ trọng trong GDP Thay đổi hình thức và cơ chế tổ chức sản xuất Hình thức tổ chức quản lý phân đoạn và cơ chế tổ chức quản lý hai tầng được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất công nghiệp và hoạt động dịch vụ ở nhiều nước Bên cạnh việc phát triển các công ty xuyên quốc gia, những công ty có quy mô lớn, sức cạnh tranh cao; các công ty, xí nghiệp có quy mô vừa và nhỏ nhưng
có thiết bị máy móc hiện đại được chú trọng phát triển để thích ứng với năng lực quản lý, sự đổi mới công nghệ và yêu cầu của thị trường Từ những năm 80 đến nay, ở hầu hết các nước phát triển và các nước NICs, những ngành công nghiệp truyền thống sử dụng nhiều nguyên, nhiên liệu và nhân công có xu hướng suy giảm như công nghiệp luyện kim, đóng tàu, công nghiệp dệt may Ngược lại, những ngành công nghiệp mang lại giá trị cao và mới được phát triển mạnh Hàm lượng KHKT và công nghệ đầu tư trong các ngành sản xuất tăng nhanh, song lực lượng lao động trong các ngành này có xu hướng giảm, khối lượng hàng hóa sản xuất ngày càng nhiều, sự phân công lao động sâu sắc, sự cạnh tranh thị trường ngay trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia ngày càng khốc liệt Sản xuất muốn phát triển cần có các ngành dịch vụ phát triển như : thương mại, tài chính, ngân hàng, giáo dục, nghiên cứu và ứng dụng KHKT, marketing, bảo hiểm, giao thông vận tải, tư vấn, lắp đặt và bảo dưỡng thiết bị máy móc… Khi nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao, nhiều dịch vụ phục vụ con người cũng phát triển theo như: y tế, chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp, văn hóa nghệ thuật, thể thao, vui chơi giải trí, du lịch… Cuộc Cách mạng KHKT hiện dại cũng đã làm thay đổi cơ cấu sản phẩm Năng lượng, nguyên liệu, vật tư, lao động thể lực và thời gian để tạo ra sản phẩm có xu hướng giảm Trong các quá trình sản xuất, các yếu tố tự động hóa, đơn giản hóa, tiêu chuẩn hóa (giảm thiểu tác động tới mỏi trường), chi phí cho môi trường và cho dịch vụ, lao động có KHKT, nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ được tăng cường Thay đổi cơ cấu lao động Trong những thập kỷ gần đây,
do tốc độ phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng KHKT nên phát triển nền kinh tế tri thức trở thành xu hướng và mục tiêu phát triển ở nhiều quốc gia Vì vậy, trong các ngành kinh tế, số lượng lao động thể lực giảm, nhưng lao động có trình độ tri thức khoa học công nghệ và tay nghề cao lại tăng nhanh Do tăng cường cơ giới hóa và tự động hóa trong các quá trình sản xuất nên tỷ
lệ lao động trong các ngành nông nghiệp và công nghiệp có xu hướng giảm, tỷ lộ lao động trong ngành dịch vụ có xu hướng tăng Cuộc Cách mạng KHKT làm thay đổi phân bố sản xuất Nhờ các phát minh, sáng kiến, một số loại nguyên liệu, năng lượng mới được sử dụng, nhiều ngành sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao phát triển đã làm cho nhiều vùng hoang vắng trở thành những trung tâm công nghiệp, kinh tế sầm uất như vùng phía đông nam Hoa Kỳ, vùng phía đông nam nước Pháp, vùng phía tây nam Trung Quốc, vùng phía nam Ấn Độ… Cuộc Cách mạng KHKT đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân ở nhiều quốc gia
Trang 7trên quy mô toàn cầu Nhờ những thành tựu nghiên cứu và ứng dụng của Cách mạng KHKT trong sản xuất cũng như đời sống nên đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân ở hầu hết các quốc gia đều tăng, đặc biệt ở những nước phát triển (năm 1950 : GDP/người của các nước phát triển đạt 3.840 đôla Mỹ (USD), của các nước nghèo nhất đạt 165 USD ; năm 1994 : GDP/người các nước phát triển đạt 18.130 USD, của các nước nghèo nhất đạt 300 USD Mức tiêu thụ các sản phẩm tính trung bình của 1 người ở Mỹ hiện nay so với đầu thế kỷ XX tăng 6,6 lần Đời sống được nâng cao, nhiều-dịch bệnh bị đẩy lùi nên tỷ lệ tử vong trung bình của cả thế giới đã giảm (năm 1950 là 15%o và hiện nay là 7 – 8%o) Hơn nửa thế kỷ qua, nhờ những thành tựu của cuộc Cách mạng KHKT nên nhìn chung các chỉ tiêu về chất lượng cuộc sống của nhân dân ở nhiều quốc gia đều được nâng cao
Các nước ngày càng bị phụ thuộc vào nhau Cuộc Cách mạng KHKT làm cho các nước ngày càng bị phụ thuộc vào nhau về vốn, nguyên, nhiên liệu, lao động và khoa học công nghệ Vì vậy,
đã làm cho nền kinh tế – xã hội thế giới ngày càng có xu hướng quốc tế hóa và toàn cầu hóa cao Một thị trường thế giới bao gồm tất cả các nước có chế độ xã hội khác nhau đang được hình thành Các nước tăng cường giao lưu, hợp tác trong nhiều lĩnh vực như : kinh tế, KHKT, y tế, giáo dục, văn hóa, an ninh, du lịch, môi trường… Ngày càng nhiều tổ chức kinh tế – xã hội với quy mô khác nhau được thành lập, hoạt động có hiệu quả làm cho các quốc gia, các dân tộc trên thế giới gắn bó với nhau chặt chẽ hơn Hậu quả của Cách mạng KHKT Bên cạnh những thành tựu to lớn tác động thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, cuộc Cách mạng KHKT cũng gây nhiều hậu quả đến sự phát triển kinh tế – xã hội, môi trường đối với từng quốc gia cũng như quy
mô trên toàn thế giới Những thành tựu của cuộc Cách mạng KHKT đã giúp Loài người sản xuất
ra một khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, song một lượng lớn tài nguyên bị khai thác và một khối lượng lớn chất thải được đưa vào môi trường đã dẫn đến các nguồn tài nguyên ngày càng bị cạn kiệt, ô nhiễm môi trường, khan hiếm nước sạch, suy giảm sự đa dạng sinh học… Các loại nguyên, nhiên liệu mà loài người sử dụng ngày càng tăng Năm 1983 nhu cầu về dầu mỏ của thế giới ở mức 59 triệu thùng/ngày
Đến năm 2004 nhu cầu về dầu mỏ của thế giới đạt mức 85,5 triệu thùng/ngày, mức tăng hằng năm là 1,4% (trong khi đó sản lượng cung dầu lửa quý in năm 2004 là 82 triệu thùng/ngày và quý IV năm 2004 là 83,6 triệu thùng/ngày*) Sản lượng thép của thế giới trong 10 năm trở lại đây kể từ năm 1994 có mức tãng hằng năm là 3,32%, mỗi năm tăng thêm 50 triệu tấn, Sản lượng thép của thế giới sản xuất năm 1994 là 725,1 triệu tấn, đến năm 2004 là 1.000 triệu tấn Nhu cầu
về các loại nguyên, nhiên liệu của toàn cầu tăng nhanh, cầu vượt quá cung, trong khi các mỏ khoáng sản ngày càng cạn kiệt, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất Các nhà khoa học dự báo nguồn dầu mỏ của thế giới chỉ có thể dùng được khoảng 30 – 35 năm nữa Loài người phải tính đến việc sử dụng những nguồn năng lượng mới
Nhu cầu sử dụng các loại nguyên liệu tăng đã làm cho giá tất cả các loại nguyên vật liệu đầu vào, giá các dịch vụ, giá cả cảc mặt hàng đều tãng nhanh Và kết quả đã làm suy thoái nền kinh tế toàn cầu cũng như từng quốc gia Nãm 1973, giá dầu lửa của thế giới tăng 400%, trong khi đó tăng trưởng kinh tế của thế giới năm 1973 là 6,47% và trong hai năm tiếp theo giảm xuống chỉ còn 1% Từ cuối nãm 2003 đến nay, giá dầu lửa thế giới liên tục tăng, giá 1 thùng từ 25 USD vào
Trang 8USD Giá thép phế liệu trong năm 2004 tăng 65%, giá quặng sắt tăng trung bình 20% so với năm
2003, giá thép thành phẩm năm 2004 so với năm 2003 tăng 25 – 30% ở thị trường Viễn Đông và
60 – 70 % ở thị trường Mỹ Giá các nguyên liệu đầu vào, giá các mặt hàng tăng cao nhưng do nhiều quốc gia trên thế giới có các biện pháp ứng phó và thực hiện các chiến lược cải tổ nền kinh
tế nên năm 2004 mức tăng trưởng kinh tế thế giới vẫn đạt 5%, song theo các chuyên gia Quỹ Tiển tệ Quốc tế (Intemationnal Monetary Fund – IMF) mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm
2005 giảm xuống chỉ đạt 4,3%) Nhiều phát minh sáng kiến khoa học chưa được kiểm nghiệm và đánh giá thấu đáo để thấy được những hạn chế đã đưa vào ứng dụng rộng rãi dẫn đến những tác động tiêu cực lớn tới hiệu quả về kinh tế – xã hội cũng như môi trường… Như việc ứng dụng những giống mới, những phương pháp độc canh, chuyên canh của cuộc “Cách mạng Xanh” thực hiện ở Hoa Kỳ, Ân Độ, vùng Trung Đông của Liên Xõ (cũ)… thời kỳ 1965 – 1970 đã làm bạc màu, hoang hóa một diện tích lớn đất canh tác của các nước này Hay việc sử dụng các chất bảo
vệ thực vật, phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp ở nhiều quốc gia đã gây ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên
Sự cố các nhà máy hóa chất, vụ nổ các nhà máy điện nguyên tử, việc khai thác và chuyên chở dầu mỏ… cũng đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng… Các phát minh sáng kiến khoa học còn được áp dụng để sản xuất các loại vũ khí chiến tranh, đặc biệt là các loại vũ khí hóa học, vũ khí nguyên tử nhằm sát hại con người, gây ô nhièm môi trường Những nước phát triển có nhiều vốn, nguồn lực để nghiên cứu và ứng dụng KHKT Do vậy, các nước này được hưởng lợi nhiều hơn từ những thành tựu của cuộc Cách mạng KHKT và ngày càng giàu thêm Ngược lại, các nước đang phát triển do không có nhiều nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng KHKT nên kinh tế chậm phát triển và ngày càng nghèo Như vậy, cuộc Cách mạng KHKT còn góp phần làm gia tăng sự chênh lệch vể trình độ phát triển và khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia và các tầng lớp trên thế giới… Bình quân GDP theo đầu người giữa các nước giàu nhất và các nước nghèo nhất năm 1950 là 24 lần, nhưng đến năm 2004 lên đến 74 lần
Nguồn bài viết: https://cacnuoc.vn/tin/tac-dong-cua-cuoc-cach-mang-khoa-hoc-ky-thuat-khkt-hien-dai/
6 Tác động của ứng dụng KHCN với sự phát triển nông nghiệp
Giải pháp căn bản và lâu dài để duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững cho nông nghiệp, nông thôn là nâng cao năng lực sáng tạo, thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ
10 năm qua thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, nông thôn Việt Nam đã có những chuyển biến mạnh mẽ cả về lượng và chất Đến nay, Việt Nam đã có khoảng 11.200 doanh nghiệp nông nghiệp, hình thành 27.000 mô hình sản xuất liên kết chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao, vùng sản xuất tập trung theo hướng hàng hóa quy mô lớn Kết quả cơ cấu lại ngành Nông nghiệp đã đạt nhiều thành tựu quan trọng cả về quy mô và trình độ sản xuất Đó
là nông nghiệp chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa cạnh tranh quốc tế, năng suất, chất lượng sản phẩm ngày càng cao; trình độ khoa học - công nghệ của nền nông nghiệp được nâng cao; công tác đào tạo nghề cho nông dân được đẩy mạnh
Trang 9Nhiều khâu như làm đất, thu hoạch có nơi đã cơ giới hóa 100% Tiến bộ khoa học, kỹ thuật được
áp dụng, chuyển giao rộng rãi và điều đặc biệt là người nông dân đã chủ động tìm kiếm, áp dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất
Khoa học - công nghệ góp phần hỗ trợ ngành Nông nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ thiên tai Đồng thời hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao, thông minh, bền vững, tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 Đặc biệt, bên cạnh việc tạo ra các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới, khoa học - công nghệ có thể được xem là nhóm yếu tố có tác động đặc thù đến sự phát triển toàn diện và bền vững của nông thôn