Niccolò Machiavelli (1469 1527) cũng được xem như một người “khổng lồ” của thời kì này. N.Machiavelli là một nhà tư tưởng lỗi lạc của Italia thời kì Phục hưng, một người được coi là “ông tổ” của chính trị học hiện đại. N.Machiavelli sống trong một thời kì có nhiều biến động, một thời kì mà mọi mặt trong đời sống từ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng,… đều có sự thay đổi to lớn. Thời kì Trung cổ đang trên đà sụp đổ để nhường chỗ cho thời kì Phục hưng, chủ nghĩa tư bản xuất hiện và ngày càng lớn mạnh cùng với đó là chế độ phong kiến đang trên đà tiêu vong, các phát kiến địa lí, những phát minh khoa học,…Trong các tác phẩm của ông thì tác phẩm Quân vương là tác phẩm nổi tiếng nhất và đây cũng chính là tác phẩm gây nhiều tranh cãi nhất. Tuy nhiên đây cũng là cuốn cẩm nang quan trọng của nhiều nhà chính trị nổi tiếng. Tác phẩm Quân vương không phải là một tác phẩm thuần chính trị, mà trong đó cũng có những tư tưởng triết học về con người, về các phẩm chất đạo đức được Machiavelli thể hiện qua nhân cách người cầm quyền.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC -
LÊ THỊ DIỆU NGỌC
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA N.MACHIAVELLI
TRONG TÁC PHẨM QUÂN VƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH 2016 – X
HÀ NỘI – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC -
LÊ THỊ DIỆU NGỌC
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA N.MACHIAVELLI
TRONG TÁC PHẨM QUÂN VƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận này là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Những kết quả từ những tác giả trước mà tôi sử dụng đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể Không có bất kì sự không trung thực nào trong các kết quả nghiên cứu
Nếu có gì sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2020
Sinh viên
Lê Thị Diệu Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 CUỘC ĐỜI CỦA N.MACHIAVELLI VÀ NỘI DUNG CHÍNH CỦA TÁC PHẨM QUÂN VƯƠNG 9
1.1 Điều kiện kinh tế - chính trị, xã hội thời kì Phục hưng 9
1.2 Tiền đề lý luận cho sự ra đời tư tưởng của Machiavelli 13
1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Nicolo Machiaveli 21
1.4 Nội dụng chính của tác phẩm “Quân vương” 25
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC
N MACHIAVELLI TRONG TÁC PHẨM “QUÂN VƯƠNG” 30
2.1 Mối quan hệ chính trị và đạo đức 30
2.2 Cái nhìn của N.Machiavelli về bản tính con người 40
2.3 Bản tính người thể hiện trong phẩm chất quân vương 44
2.4 Thời cơ và vận mệnh 53
KẾT LUẬN 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 60
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử là một dòng chảy không ngừng từ quá khứ đến tương lai Trong dòng chảy đó thời kì Phục hưng có vị trí vô cùng độc đáo, đặt nền móng cho một nền văn minh phát triển rực rỡ sau này Thời kì Trung cổ con người bị kìm kẹp, thân phận con người đã quá nhỏ bé, con người phải đeo gông cùm của thần quyền và thế quyền, một xã hội luôn nhuốm màu u ám Chủ nghĩa nhân văn thời
kì Phục hưng như những tia sáng đầu tiên trong màn đêm u tối ấy, đưa con người dần thoát khỏi sự kìm kẹp hàng ngàn năm, mở ra một thời kì phát triển rực rỡ về mọi mặt Ăngghen đã nhận xét thời kì Phục hưng: “Đó là một cuộc đảo lộn tiến bộ nhất mà từ xưa tới nay, nhân loại đã trải qua, đó là một thời đại cần có những con người khủng lồ và đã sinh ra những con người khủng lồ: khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng” [9; tr.459- 460]
Niccolò Machiavelli (1469 - 1527) cũng được xem như một người
“khổng lồ” của thời kì này N.Machiavelli là một nhà tư tưởng lỗi lạc của Italia thời kì Phục hưng, một người được coi là “ông tổ” của chính trị học hiện đại N.Machiavelli sống trong một thời kì có nhiều biến động, một thời kì mà mọi mặt trong đời sống từ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng,… đều có sự thay đổi to lớn Thời kì Trung cổ đang trên đà sụp đổ để nhường chỗ cho thời kì Phục hưng, chủ nghĩa tư bản xuất hiện và ngày càng lớn mạnh cùng với đó là chế độ phong kiến đang trên đà tiêu vong, các phát kiến địa lí, những phát minh khoa học,…
Người ta biết rất ít về tuổi trẻ của Machiavelli, nhưng song có một điều chắc chắn là ông được nắm rất rõ về thời kì Hy Lạp - La Mã Ông tham gia vào con đường chính trị từ rất sớm, chính điều đó đã đem lại cho ông nhưng kinh nghiệm thực tiễn quý báu, ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của ông sau này Tuy
Trang 6nhiên, những biến động ở Florence đã khiến ông phải chấm dứt sự nghiệp chính trị của mình Cũng vì lẽ đó, Machiavelli dành thời gian để suy ngẫm, đưa ra
những lý luận của riêng mình Trong các tác phẩm của ông thì tác phẩm Quân vương là tác phẩm nổi tiếng nhất và đây cũng chính là tác phẩm gây nhiều tranh
cãi nhất Tuy nhiên đây cũng là cuốn cẩm nang quan trọng của nhiều nhà chính
trị nổi tiếng Tác phẩm Quân vương không phải là một tác phẩm thuần chính trị,
mà trong đó cũng có những tư tưởng triết học về con người, về các phẩm chất đạo đức được Machiavelli thể hiện qua nhân cách người cầm quyền
Trong tác phẩm Quân vương N.Machiavelli giành một phần để đề cập
đến nhân cách của người cầm quyền, đây cũng được xem như là tư tưởng đạo đức mà ông muốn thể hiện Trong tư tưởng của mình, N.Machiavelli lấy con người làm trung tâm, làm bộ phận quan trọng nhất của thế giới Ông đưa ra quan niệm lấy cá nhân làm chủ thể và là mục đích của mọi cải tạo lịch sử Thông qua lăng kính “cá nhân” N.Machiavelli đã xem xét mọi vấn đề, bắt đầu
từ vấn đề đạo đức xã hội và kết thúc ở vấn đề tôn giáo Ông đưa con người từ cuộc sống ở thiên đường về với cuộc sống hiện thực ở trần thế Trong cuộc sống hiện thực, đạo đức của con người bị nhiều thứ tác động như lợi ích vật chất, địa
vị, tác động của mọi người xung quanh,… Những thứ này ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển đạo đức của mỗi người Và con người thể hiện rõ nhất bản tính của mình trong lĩnh vực chính trị Nhãn quan chính trị Machiavelli đã lột tả được bản chất của con người là ích kỉ, tham lam
Ngày nay, đất nước ta đang trong quá trình hội nhập với thế giới trên mọi lĩnh vực, trong đó có cả văn hóa, chính trị, đạo đức Vì vậy việc nghiên cứu, tìm
hiểu tử tưởng đạo đức của N.Machiavelli trong tác phẩm Quân vương là hoàn
toàn cần thiết Qua việc nghiên cứu tác phẩm chúng ta có thể nâng cao năng lực
tư duy chính trị, nhận diện các sự kiện chính trị, hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội châu Âu những năm đầu thời kì Phục hưng, điều đó có ích trong quá trình hội nhập của nước ta Trong qua trình hội nhập với thế giới, chúng ta cũng phải đối
Trang 7mặt với không ít nguy cơ, như hiện tượng một số người đánh mất bản thân, chạy theo các giá trị vật chất, bội tín, ích kỉ, hay sự xuống cấp của các giá trị đạo đức truyền thống Để khắc phục tình trạng này chúng ta cần nghiên cứu và khảo sát các tư tưởng triết học về đạo đức, về con người đặc biệt là tư tưởng đạo đức của N.Machiavelli để tìm ra nguyên nhân của sự tha hóa và các giải pháp khắc phục Machiavelli còn cho chúng ta thấy rõ con người không chỉ tha hóa trong lĩnh vực kinh tế mà còn tha hóa trong lĩnh vực chính trị - lĩnh vực thể hiện
rõ bản chất của con người Một đóng góp quan trọng khác của N.Machiavelli trong quan niệm về con người là sự định hướng vào chủ thể chính trị Theo đó,
an nguy của quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào phẩm chất của quân vương, của thủ lĩnh chính trị
Không phải ngẫu nhiên mà Quân vương được liệt vào hàng một trong
những cuốn sách kinh điển hay về chính trị Cho đến tận ngày nay tác phẩm vẫn duy trì được tính thực tế và khả năng dự báo về những gì cần có để trở thành một quân vương, một người lãnh đạo Trong quan niệm của Machiavelli, đã là một quân vương thì không thể bị cản trở bởi những luân lí, những giá trị đạo đức Rousseau đã nói về Machiavelli: “Dường như đây là các bài học dành cho các vị vua chúa, nhưng thực ra ông đang dạy những bài học vĩ đại cho nhân dân”
Xuất phát từ những lý do trên em chọn Tư tưởng dạo đức của Niccolò
Machiavelli trong tác phẩm “Quân vương làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử
nhân ngành triết học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Niccolò Machiavelli là một trong những nhà tư tưởng có cái nhìn độc đáo nhất thời kì Phục hưng Điều đó được ông thể hiện một phần trong tác phẩm
Quân vương Tác phẩm hoàn thành năm 1513 nhưng đến năm 1532 tác phẩm Quân vương (Il Principe) của Machiavelli mới được xuất bản tại Italia Mãi đến
Trang 8năm 1540 tác phẩm mới được dịch sang tiếng Anh, và được tái bản nhiều lần
sau đó Nhưng trước đó gần 4 thế kỷ năm 1559, tác phẩm Quân vương cùng
toàn bộ các tác phẩm khác của Machiavelli đã bị đưa vào danh mục sách bị giáo hội cấm lưu hành và tàng trữ Những “người theo Thiên Chúa giáo và theo đạo tin lành đều đua nhau lên tiếng chống đối ông” [8; tr 5]
Tuy nhiên sách của ông đã được lưu truyền từ trước đó, vì vậy tuy bị cấm lưu hành nhưng tác phẩm không mấy bị ảnh hưởng vì nó đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, tác phẩm đã sớm lan tỏa khắp châu Âu Đặc biệt nhiều nhà độc tài và vua chúa trong mọi thời kì đã tìm được các lời khuyên hữu ích trong tác phẩm
Quân vương của Machiavelli: “Bằng danh sách những độc giả say mê cuốn sách
gồm những nhân vật rất quan trọng: Hoàng đế Charles đệ ngũ, và bà Catherine
de Medicis đã tán thưởng tác phẩm Oliver Cromwell đã kiếm được một bản
Ông Hoàng (tức Quân vương) chép tay và đã áp dụng những nguyên tắc của
cuốn sách đó trong Chính phủ Cộng hòa Anh quốc Hai ông vua Pháp Henry đệ
ngũ Là Henry đệ tứ lúc bị ám sát còn cầm cuốn Ông hoàng trong tay Cũng một
cuốn sách đó đã giúp cho Fréderick Đại đế tạo ra chính sách của nước Phổ thời
ấy Vua Louis thứ 14 đã coi Ông hoàng là cuốn sách gối đầu gường được ưa thích hơn hết Người ta đã tìm thấy một cuốn Ông hoàng có ghi những chú thích
trong xe ngựa của Hoàng đế Napoléon ở Waterlo Những ý kiến về cách cai trị
của Napoléon đệ tam đã chính thức bắt nguồn cũng từ cuốn Ông hoàng, và
Bismark cũng đã là một đệ tử trung thành của N.Machiavelli Gần đây hơn nữa,
cứ theo như chính lời của Hitler thì Ông hoàng là nguồn cảm hứng thường
xuyên của ông ta lúc nghỉ ngơi Về phần Benito Mussolini, ông đã từng tuyên
bố: Tôi tin rằng cuốn Ông hoàng của N.Machiavelli phải là sách chỉ nam tuyệt
tác của nhà chính khách Học thuyết của tác giả ngày nay vẫn hợp thời vì trong vòng bốn trăm năm vẫn không có những gì thay đổi sâu xa trong trí não người
ta hay là trong những hoạt động của các quốc gia” [ 2; tr 23]
Trang 9Có thời gian tiếng tăm của Machiavelli bị gắn với sự độc ác, xấu xa, là một chính khách đầy mưu mô, thủ đoạn, giả đạo đức,… đến thế kỉ XIX tiếng tăm của Machiavelli mới được bênh vực và biện minh phần nào Ngày nay Machiavelli được xem như là “ông tổ” của chính trị học hiện đại, một nhà bình luận xuất sắc về tâm lí học và nghệ thuật của người lãnh đạo và tác phẩm “Quân vương” chính là tác phẩm đặt nền móng
Ở Việt Nam thân thế, sự nghiệp của Niccolò Machiavelli cũng được nhiều người quan tâm, xuất hiện những công trình nghiên cứu về Machiavelli tuy còn nhiều hạn chế Một số tác phẩm của Machiavelli cũng được dịch sang
tiếng Việt với nhiều bản dịch khác nhau Đặc biệt là tác phẩm Quân vương đã
được nhiều người dịch và tái bản nhiều lần Các bản dịch của Vũ Mạnh Hồng, Nguyễn Hiền Chi hay bản dịch của Đặng Thư đã cho ta thấy được khái quát
nhất về Machiavelli và toàn bộ nội dung của tác phẩm Quân vương Trong tác phẩm Quân vương Machiavelli đưa ra những tư tưởng chính trị, đạo đức, tư
tưởng về con người hết sức độc đáo, khác biệt với những tư tưởng trước đó
Cuốn Những luận thuyết nổi tiếng thế giới (Nxb văn hóa thông tin Tp Hồ
Chí Minh 1999) của Vũ Đình Phòng và Lê Huy Hòa đã bước đầu giới thiệu khái
quát về thân thế, sự nghiệp và tác phẩm Quân vương của Machiavelli Ngoài ra
tác phẩm còn nói đến một số biến cố của Italia giai đoạn này
Cuốn Đại cương lịch sử triết học phương Tây của Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn (Nxb Văn hóa thông tin Tp Hồ Chí Minh 2006), và cuốn Lịch sử triết học phương tây tập 1 của Đỗ Minh Hợp (Nxb Chính trị quốc gia 2014) đã
nói đến tư tưởng của N.Machiavelli trên cơ sở xâu chuỗi các vấn đề để chỉ ra đặc điểm tư duy của Machiavelli; chủ nghĩa hiện thực về chính trị, cái nhìn bi quan về con người, các quan điểm mới về đức hạnh của quốc vương; các
“nguyên tắc” như là điều kiện phục hồi và đổi mới đời sống chính trị Nhóm tác giả đã khái quát ba quan điểm cơ bản khi nói đến mối quan hệ chính trị và đạo đức là: tính chất đạo đức của chính trị được quy định bởi mục đích của nó;
Trang 10phương tiện sử dụng có ảnh hưởng hàng đầu đến ý nghĩa đạo đức của nó; cả mục đích lẫn phương tiện đều quan trọng như nhau đối với việc đem lại cho chính trị tính chất nhân đạo, mục đích lẫn phương tiện cần phải tương dung với nhau và với bối cảnh cụ thể Trong ba quan điểm trên thì Machiavelli là người ủng hộ quan điểm thứ nhất, tuy nhiên sẽ là sai lầm khi coi ông là người thanh minh cho sự tách rời hoàn toàn chính trị khỏi đạo đức
Cuốn 106 nhà thông thái do P.S.Taranốp biên soạn (Đỗ Minh Hợp dịch,
Nxb chính trị quốc gia 2000) đã lấy mốc từ vua Sôlômông cho đến Actua Sơpenhaoơ, chọn ra 106 gương mặt tiêu biểu, trong đó đã đề cập đến Machiavelli Tác phẩm đã trình bày khái quát, cô đọng lại những nét chính từ cuộc đời, các sự kiện làm nên số phận, tạo nên tính cách, cũng như tư tưởng của Machiavelli
Theo Robert B.Downs trong cuốn Những tác phẩm biến đổi thế giới (Hoài Châu và Từ Huệ dịch, Nxb Lao động hà nội 2003), “Quân vương là một
trong những tác phẩm từng gây được những ảnh hưởng sâu đậm và lâu dài ở phương Tây và phương Đông, có tác động lớn lao đến đời sống nhân loại, xứng đáng được gọi là „Books That Changed World‟ – những tác phẩm biến đổi thế
giới” [2; tr 5] Cuốn sách nhắc đến tác phẩm Ông hoàng của Machiavelli ngay
từ những trang đầu tiên, và nhận định tác phẩm chứa đựng những bài học cho muôn đời Tác phẩm đã chỉ ra và phân tích khái quát nhất những tư tưởng đạo
đức, chính trị,… mà Machiavelli nhắc đến trong tác phẩm Quân vương
Nhìn chung những nghiên cứu về N.Machiavelli không nhiều, nhưng các nghiên cứu đều có đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu tử tưởng của Machiavelli trong đó có cả tử tưởng về đạo đức của ông Tuy nhiên chưa có cuốn sách nào lấy Machiavelli cũng như những tư tưởng và tác phẩm của ông làm nghiên cứu chủ đạo Trước tình hình đó, khóa luận mong muốn đem đến cái
nhìn sáng tỏ tư tưởng đạo đức của Machiavelli trong tác phẩm Quân vương
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Phân tích, làm rõ tư tưởng đạo đức của Machiavelli trong tác phẩm Quân vương
Nhiệm vụ:
- Phân tích điều kiện kinh tế, xã hội và tiền đề tư tưởng – lý luận cho sự
ra đời của tư tưởng đạo đức của Niccolò Machiavelli và sự ra đời của tác phẩm
Quân vương
- Trình bày khái quát những nội dung cơ bản của tác phẩm Quân vương
- Phân tích, làm rõ những tư tưởng đạo đức mà Machiavelli thể hiện trong
tác phẩm Quân vương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng đạo đức của Niccolò Machiavelli
Phạm vi nghiên cứu: Chủ yếu nghiên cứu tư tưởng đạo đức của
N.Machiavelli thông qua tác phẩm “Quân vương”
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Dựa trên các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết đạo đức Mác - Lênin
Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh, thống nhất lịch sử - logíc, khái quát hóa, trừu tượng hóa,…
6 Ý nghĩa của khóa luận
Trang 12Ý nghĩa lý luận: Khóa luận đóng góp vào việc hiểu đúng và sâu hơn về
một lĩnh vực quan trọng của triết học phương Tây thời kì Phục hưng nói chung, đạo đức học của Machiavelli nói riêng
Ý nghĩa thực tiễn: Khóa luận có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho
những ai ham thú tìm hiểu về tư tưởng đạo đức của Machiavelli
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 2 chương, 8 tiết
Trang 13NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CUỘC ĐỜI CỦA N.MACHIAVELLI VÀ NỘI DUNG
CHÍNH CỦA TÁC PHẨM QUÂN VƯƠNG
1.1 Điều kiện kinh tế - chính trị, xã hội thời kì Phục hưng
Sau khi Hy Lạp - La Mã cổ đại sụp đổ, Tây Âu bước vào thời kì Trung cổ với sự thống trị của nhà thờ Bước vào thời kì này các công trình, thành tựu thời
kì Hy - La xây dựng đã dần bị lãng quên, bị vùi lấp một phần không nhỏ Thời
kì này cả Châu Âu trở nên u ám
Thời kì Trung Cổ ở châu Âu kéo dài hàng nghìn năm với sự thống trị của nhà thờ, nền kinh tế tự cung tự cấp làm cho sự giao thương rất hạn chế Tới thế
kỉ XIV theo sự phát triển của kinh tế ở các thành thị, phương thức sản xuất mới hình thành trong lòng phương thức sản xuất phong kiến, mầm mống của quan
hệ sản xuất tư bản dần dần được hình thành Sự phân công lao động giữa các ngành nghề, các vùng sản xuất đã hình thành nên nền kinh tế hàng hóa, giai cấp
tư sản bắt đầu xuất hiện Quan hệ sản xuất tư bản phát triển nhanh chóng và trở nên lớn mạnh hơn, các nhà tư sản, các nhà tư tưởng không còn chịu sự áp đặt, các giáo lí lỗi thời của nhà thờ, họ tìm cách thoát khỏi sự kìm kẹp của giáo hội
và nhà thờ Tuy nhiên do lực lượng còn mỏng, giai cấp tư sản chưa thể lật đổ được nhà thờ, vì vậy họ tìm đến một cách khác, đó là làm một cuộc cách mạng trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng
Các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản vận động khôi phục lại sự huy hoàng của văn hóa Tây Âu thời cổ đại Họ nhìn thấy ở trong nền văn hóa thời cổ đại có nhiều yếu tố phù hợp với tình hình hiện nay, có thể giúp ích được họ, có thể chống lại giáo hội và nhà thờ và hơn hết có thể làm cho giáo hội và nhà thời không có lí do để buộc tội họ
Phong trào văn hóa Phục hưng xuất hiện đầu tiên ở Italia Người Italia gọi phong trào này là “Renascita” Italia là trung tâm của đế quốc Roma thời cổ đại
Trang 14Italia phong trào nhanh chóng lan ra khắp các nước ở Tây Âu như Anh, Pháp, Tây Ban Nha và lan khắp cả Châu Âu Các nhà văn hóa phục hưng mong muốn khôi phục lại nền văn hóa rực rỡ từ thời cổ đại Hy lạp – La Mã, với một lí do chính đáng là khôi phục lại những điều mà Chúa cho phép, điều này làm cho giáo hội và nhà thờ không thể phản đối phong trào Phục hưng Qua việc khôi phục nền văn hóa cổ đại các nhà văn hóa thời kì này còn muốn nhà thờ thay đổi cách nhìn về thế giới và con người
Các nhà văn hóa Phục hưng chú ý nhiều vào việc khôi phục lại truyền thống đề cao con người của thời Hy Lạp cổ đại vốn từ thời Protago đã coi “Con người là thước đo của muôn loài” Và khôi phục sự tự do của con người so với
sự chuyên chế độc tài của phong kiến và giáo hội Trong bức tranh “Mars và Venus” của danh họa Veronese, chàng kị sĩ rời khỏi yên ngựa, rũ bỏ thanh gươm, cởi bỏ chiếc áo khoác, ngả đầu vào vị nữ thần sắc đẹp và tình yêu Hai tiểu thần Amua bay tới, một tiểu thần buộc chân họ vào nhau bằng sợi dây gắn
bó, tiểu thần còn lại đem thanh gươm trả lại ngựa xám, chú ngựa xám buồn thiu Chiếc áo của nữ thần phủ lên một bức tường đen tối tượng trưng cho thời kì trung cổ đang đổ vỡ và hiện ra sau bức tường là một kiến trúc nổi tiếng của thời
Hy Lạp cổ đại Hay trong bức tranh “Hằng nga tái sinh” toàn bộ bức tranh như
là một lời tuyên ngôn rằng thời kì Trung Cổ đang trên đà sụp đổ và nhường chỗ cho một thời kì mới
Xét về bản chất kinh tế thời kì Phục hưng là thời kì chuyển từ phương thức sản xuất phong kiến sang phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa “Đây là thời kì tích lũy tư bản được mở rộng, trong nông nghiệp phương thức canh tác được cải tiến như luân canh, sử dụng phân bón, đầm lầy được tát cạn, rừng rậm được khai phá nên diện tích canh tác được mở rộng, sản lượng tăng” [7; tr 24] Người nông dân bị cướp mất ruộng đất, người lao động bị tách khỏi tư liệu sản xuất Các đồng cỏ nuôi bò, nuôi cừu được mở rộng Các chủ xưởng thủ công nghiệp dần áp dụng phương thức quản lí mới theo lối tư bản chủ nghĩa, họ ngày
Trang 15càng có vai trò quan trọng trong xã hội mới và nắm giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, họ trở thành một giai cấp mới trong xã hội - gia cấp tư sản Người nông dân bị cướp đoạt ruộng đất, để có thể nuôi sống chính mình họ buộc phải rời xa quê hương đến các công trường thủ công nghiệp, các thành phố lớn để làm thuê Họ chính là tiền thân của giai cấp vô sản sau này
Chế độ phong kiến ngày càng lụi tàn, phương thức sản xuất nhỏ lẻ của chế độ phong kiến đã không còn phù hợp với sự phát triển của thời đại Những đạo luật hà khắc, sự bóc lột tàn ác của người địa chủ phong kiến đối với nông dân đã làm mâu thuẫn giữa người địa chủ với người nông dân trở nên gay gắt, những cuộc nổi dậy của nông dân nhằm chống lại địa chủ phong kiến diễn ra khắp Châu Âu và giai cấp tư sản trở thành đồng minh của họ “Người ta không chỉ đòi xóa bỏ đặc quyền đặc lợi của giai cấp phong kiến, những chướng ngại trên con đường phát triển theo xu hướng tư bản chủ nghĩa và còn chĩa mũi nhọn vào giáo hội La Mã, thành lũy tinh thần của chế độ phong kiến” [4; tr 236]
Giai đoạn này cũng xuất hiện nhiều trường đại học như đại học Tuludo, Oxford, Cambridge, Palecmo,… chúng trở thành những nơi học tập, nghiên cứu, trung tâm văn hóa, khoa học, dần thay thế cho các trường học của giáo hội, làm giảm ảnh hưởng của giáo hội đối với nhân dân Các trường học có xu thế hoạt động độc lập nhằm thoát khỏi sự kìm kẹp của giáo hội
Ở Tây Âu giai đoạn này người nông dân rời bỏ quê hương đến các thành thị làm thuê rất đông đảo, vì thế hình thành rất nhiều các thành thị Có ba loại thành thị: “Thành thị mới: thành thị của những người thủ công thoát ly khỏi nông thôn lập nên Thành thị cổ: thành thị có từ thời cổ đại được phục hồi lại Thành thị do lãnh chúa quý tộc phong kiến xây dựng cho thị dân thuê” [13; tr.94]
Thế kỉ XV đánh đánh dấu sự chuyển biến to lớn của xã hội châu Âu Do kinh tế tư bản không những phát triển, sự đòi hỏi của thực tiễn sản xuất vật chất,
Trang 16các ngành khoa học tự nhiên bắt đầu phát triển Các thành tựu to lớn của khoa học kĩ thuật trên mọi lĩnh vực như sử dụng năng lượng nước, các ngành dệt, luyện kim, chế tạo vũ khí,… có sự phát triển vượt bậc Sự phân công lao động được đẩy mạnh, các công xưởng thủ công không ngừng được mở rộng
Quan hệ sản xuất tư bản được hình thành và phát trển không ngừng Giai cấp tư sản không ngừng lớn mạnh và khẳng định vai trò, sức mạnh của mình trong xã hội phong kiến Nhưng trong giai đoạn này, quan hệ sản xuất phong kiến vẫn còn tồn tại, quan hệ sản xuất tư bản chưa được củng cố vững chắc Vì vậy giai cấp lãnh chúa phong kiến vẫn tiếp tục bóc lột nông dân, nông dân mất hết ruộng đất buộc phải trở thành những người làm thuê Mâu thuẫn giữa nông dân và các địa chủ phong kiến ngày càng trở lên gay gắt hơn Lợi dụng mâu thuẫn đó giai cấp tư sản một mặt thì cùng với nông dân chống lại các lãnh chúa phong kiến, mặt khác do giai cấp tư sản cần một thị trường thống nhất, tiền tệ thống nhất, vì vậy giai cấp tư sản đã bắt tay với nhà vua chống lại các lãnh chúa
để xây dựng một nhà nước trung ương tập quyền Tuy nhiên nhà nước này không phải là biểu hiện sự hùng mạnh của chế độ phong kiến phương Tây mà chỉ là sự cố gắng cuối cùng của chế độ phong kiến hòng giữ lại địa vị thống tị của mình Nhà nước phong kiến trong thời kì này như là một liên minh giữa một nhà nước đang trên đà sụp đổ với sự phát triển của giai cấp tư sản
Các phát kiến địa lí, những hành tựu của khoa học tự nhiên, sự ra đời của nhiều loại máy móc đã làm thay đổi cả châu Âu Với sự xuất hiện của máy móc,
sự xuất hiện các nguồn năng lượng mới như năng lượng gió đã làm tăng năng suất lao động, của cái được làm ra nhiều hơn Hiệu quả kinh tế được đặt lên hàng đầu Những mong muốn của con người có thể đáp ứng ngay tại hiện thực
mà không phải trong Kinh thánh hay ở thế giới bên kia
Mọi mặt xung quanh cuộc sống con người dần dần thay đổi, vì vậy tư duy con người cũng dần thay đổi Con người thay vì bị kìm kẹp bởi những giáo điều
hà khắc của Thiên chúa giáo thì giờ đây bắt đầu có cơ hội sáng tạo hơn, được tự
Trang 17do phát triển, giảm bớt những cấm đoán hơn so với lúc giáo hội còn đang thịnh trị So với thời kì Thiên chúa giáo đang thống trị hoàn toàn mọi mặt của xã hội thì con người làm việc thiện là làm theo lời Chúa, làm điều ác là trái ý của Chúa, mọi việc con người làm đều quy về với Chúa, thì giờ đây đã xuất hiện tầng lớp tri thức phi tôn giáo, họ truyền bá những tư tưởng tiến bộ, những tư tưởng nằm ngoài nhà thờ, con người không còn chịu sự an bài tuyệt đối của Thiên Chúa Các tư tưởng tiến bộ không ngừng được truyền bá quyền uy, sự phổ biến của giáo hội không còn tuyệt đối như trước Ngoài những phát minh về khoa học kĩ thuật làm thay đổi phương thức sản xuất còn có các khám phá khoa học làm đảo lộn mọi nhận thức trước đó của con người, lung lay nền chuyên chính của nhà thờ Các vấn đề khoa học như Galileo khẳng định trái đất hình tròn Ông nói trái đất cũng như mọi hành tinh khác mà thôi, nó không phải là trung tâm của cả vũ trụ này, nó chỉ là trung tâm của các lực lượng mà nó chi phối Các quan điểm của các nhà triết học như của Leonardo da Vinci, Bruno, Nicolo Machiavelli, Dante… đã đưa ra những quan điểm khác biệt so với các quan điểm trước đó Những quan điểm mới này đã đánh một đòn mạnh vào sự chuyên chính tinh thần của nhà thờ Trung cổ Phục hưng có thể xem là thời kì con người tìm lại chính mình, con người không bị lệ thuộc vào Chúa, con người trở về chính mình, trở về với chính thế giới thực tại
1.2 Tiền đề lý luận cho sự ra đời tư tưởng của Machiavelli
Thời kì Phục hưng chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa Hy Lạp cổ đạị “Từ thế kỷ XIII trở đi, nhờ sự tiến bộ của kỹ thuật, sự phát triển của phương tiện giao thông, sự trao đổi về sách cũ, sách mới bên cạnh nền học thuật chính thức, bên cạnh kinh viện học, người ta đã thấy nảy nở một nguồn tư tưởng lành mạnh, bạo dạn Kho tàng tư tưởng Hy Lạp, khoa học Ả Rập kích thích tinh thần học hỏi với người xưa, với ngoại quốc Đi đôi với những cuộc thám hiểm, những đạo quân viễn chinh, với sự phát triển công nghệ và thương mại, là những cuộc phát kiến về văn hóa, về khoa học, về phong tục của xã hội Đông
Trang 18Âu và Tiểu Á” [8; tr.20 – 21] Con người thời Phục hưng có cơ hội tiếp xúc lại với nền văn minh cổ đại dưới mọi hình thức như triết học, nghệ thuật, văn chương,… những điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đời sống
tinh thần con người của giai đoạn Phục hưng
Vì vậy, ngay từ thời còn trẻ N.Machiavelli đã dành nhiều quan tâm đến các tác phẩm và tác giả thời Hy Lạp và La Mã cổ đại Và cũng chính tư tưởng của thời kì Hy - La cổ đại đã trở thành nguồn tư tưởng để Machiavelli sử dụng
trong các tác phẩm sau này, đặc biệt là trong tác phẩm Quân vương Machiavelli
tiếp thu nhiều tư tưởng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại như Socrates, Platon, Arixtotle,…
1.2.1 Socrates
Socrates (469 - 399 TCN), nhà triết học nổi tiếng thời Hy Lạp cổ đại Ông cho rằng luật pháp chính là nền tảng của nhà nước Ông chủ trương giao quyền điều hành nhà nước vào tay những người có năng lực, có tri thức
Socrates phê phán những quan niệm sai lầm về cái thiện “Ở thời ông, một khi bàn về vấn đề giá trị, thì phải thông qua các khái niệm cái thiện, kĩ năng, cái đức hạnh và cái hạnh phúc Các khái niệm này có thể diễn tả theo ba khuynh hướng Có thể quan niệm cái thiện theo cách hiểu của chủ nghĩa vị lợi (Utilitarismus) như cái gì đó có mục đích, hữu ích, cần thiết Hay theo cách hiểu của chủ nghĩa khoái lạc, cái thiện là cái dễ chịu, khao khát, ham muốn tương ứng Chủ nghĩa tự nhiên lại coi cái thiện là sự vượt trội và là sức mạnh của kẻ thống trị Ở đây chủ nghĩa vi lợi và chủ nghĩa tự nhiên không phải là đáp số cuối cùng, vì cái hữu dụng và cái mạnh chỉ phục vụ cho một mục đích được xếp đặt nào đó” [5; tr.75 -76] Điều này thường thấy trong thời đại của Socrates
Trong tư tưởng đạo đức của Socrates thì học thuyết đức hạnh là bộ phận
cơ bản nhất Ông thừa nhận ba đức hạnh cơ bản là tính kiềm chế, lòng dũng cảm
và sự công bằng Ba đức hạnh này hợp lại thành sự thông thái “Sự thông thái là
Trang 19đức hạnh nói chung và thể hiện khả năng phân biệt cái tốt và cái xấu, cái hữu ích và cái bất dụng, trong đó tính tự chủ là cơ sở cho mọi đức hạnh khác Thiếu
nó thì người ta không thể sống và làm việc Lòng dũng cảm là sự biết cách cần khắc phục những mối nguy hiểm một cách khéo léo và mạnh bạo như thế nào Việc tuân thủ luật pháp thành văn – cơ sở cho sự thịnh vượng của nhà nước – và
sự công bằng là tri thức giúp con người biết tuân thủ luật pháp đó” [14; tr.50]
Socrates coi điều tốt (phúc lợi) là thỏa mãn, hài lòng, coi cái ác là đau khổ Tất cả mọi người đều hướng đến điều tốt, đến hạnh phúc, tránh cái xấu Tuy nhiên con người lại mắc sai lầm khi tìm đến hạnh phúc, và con người không biết rõ thế nào là hài lòng thực sự Vì thế con người cần đến tri thức, cần tri thức dẫn đường đến hạnh phúc Socrates đặc biệt đề cao tri thức và coi tri thức là nền tảng của đức hạnh Khi con người có tri thức thì họ sẽ biết hướng đến cái thiện và tránh điều ác Mọi cái ác, hành vi vô đạo đức đều là do sự kém hiểu biết, do sự dốt nát Vì vậy con đường đi đến tri thức cũng là con đường hoàn thiện nhân cách đạo đức của con người Tuy nhiên con người tự tìm kiếm tri thức của riêng mình vì vậy họ có đủ sức chống lại những ý kiến của người khác Socrates kiên quyết bảo vệ tính độc lập của mỗi cá nhân trước những đánh giá của xã hội
Socrates ủng hộ người cầm quyền là những người có tri thức chứ không phải là quý tộc hay những kẻ giàu có Ông cho rằng nhà nước và luật pháp đứng trên nhất vì vậy mọi người đều phải tuân thủ luật pháp mà mỗi quốc gia đã ban hành
1.2.2 Platon
Platon (427 - 347 TCN) xuất thân từ tầng lớp quý tộc ở Athen Ông cho rằng nhà nước phát sinh từ những nhu cầu của con người “Trong cuộc sống, con người luôn tồn tại các nhu cầu cơ bản là lương thực, quần áo và chỗ ở Không một cá nhân nào có thể tự một mình thỏa mãn được tất cả những nhu cầu
Trang 20ấy, vì vậy nhà nước đầu tiên sẽ gồm nhiều cá nhân kết hợp với nhau để giúp nhau đáp ứng các nhu cầu này Như vậy, Platon là một trong những nhà triết học đầu tiên đưa ra quan điểm về nguồn gốc tự nhiên của nhà nước Platon phê phán gay gắt nền dân chủ Athens, và thể hiện rõ ra tư tưởng duy lý hóa nhà nước, cho rằng nền dân chủ Athens nó không dẹp bỏ được tình trạng vô trật tự, bởi quyền lực nhà nước không dựa trên lý trí mà trên số đông ngu đần, thất học, dẫn đến tình trạng phân tán quyền lực và xé nhỏ luật pháp” [7 ;tr.33 -34] Platon chủ trương xây dựng một nhà nước lý tưởng với sự tối thượng của luật pháp, mọi công dân phải tuân thủ luật pháp mà nhà nước lý tưởng đã đề ra Platon cho rằng sự thay đổi chính quyền này bằng chính quyền khác có hai nguyên nhân
“Thứ nhất là từ tình trạng chiến tranh bắt nguồn từ lòng tham của con người Thứ hai là sự tự đào thải của chính các quốc gia khi nó trở nên bất chính” [7;
tr.34] Platon luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức, tri thức của người cai trị Ông loại bỏ những kẻ bất tài, bịp bợm ra khỏi chính quyền và lựa chọn những người tài năng, đức độ để lãnh đạo nhà nước
Platon phân chia xã hội ra làm ba đẳng cấp Đẳng cấp thứ nhất thuộc về các nhà triết học, các nhà chính trị họ sẽ giải quyết mọi vấn đề quốc gia, họ sở hữu “nghệ thuật làm vua”, đức hạnh phù hợp với họ là sự thông thái Đẳng cấp thứ hai là những chiến binh chịu trách nhiệm bảo vệ đất nước, đức hạnh phù hợp với họ là lòng dũng cảm Đẳng cấp thứ ba là nông dân và thợ thủ công họ chịu trách nhiệm tạo ra của cải cho xã hội và phục tùng tầng lớp trên, vì vậy họ cần đến đức hạnh ôn hòa hay kiềm chế Đức hạnh chung giữa ba tầng lớp này là chính nghĩa Chính nghĩa đòi hỏi họ phải sống đúng khôn khổ ngành nghề của mình và phục tùng dức hạnh phù hợp
Platon cho rằng thiện hay ác đã có sẵn trong ý niệm của con người rồi Chỉ thông qua ý niệm về cái thiện, mọi vật mới là bản thân chúng Thế giới ý niệm là một hệ thống có cấu trúc phân cấp, trong đó ý niệm bậc thấp hơn phục tùng ý niệm bậc cao hơn Platon tước đi sở hữu và gia đình của mỗi công dân vì
Trang 21theo ông nhà nước lí tưởng chỉ cần những người khỏe mạnh sống động Vì vậy trẻ em yếu đuối, người đau ốm không có giá trị đều bị mang đi giết Chính vì thế nhân từ, yếu đuối không có chỗ trong quan niệm đạo đức
1.2.3 Aristotle
Aristotle (384 - 322 TCN) là nhà triết học vĩ đại người Hy Lạp Cũng như một số nhà triết học khác, ông chủ trương cai trị nhà nước bằng pháp luật Ông cho rằng nhà nước là một tạo vật của tự nhiên và trong con người luôn có bản tính chính trị Ông cho rằng đạo đức là một biến thể của chính trị
Aistotle xem xét cái thiện trên nhiều phương diện khác nhau Theo ông cái thiện tồn tại trong phong tục, kinh nghiệm cuộc sống hàng ngày của con người Theo ông cái thiện đạt được vì lợi ích tự thân chứ không phải vì lợi ích của bất cứ ai Con người có đầy đủ giàu có, danh dự xã hội, nhiều bạn,… đều thúc đẩy con người ta đến thực hiện hành vi tốt, đến cái thiện
Mục đích mà con người hướng đến chính là hạnh phúc, con người hướng đến hạnh phúc theo con đường và phương tiện khác nhau, cho dù họ có ý thức được điều đó hay không Hạnh phúc là một khả năng dựa trên những phẩm chất đạo đức, nó bắt đầu bằng sự lựa chọn có mục đích của con người Hạnh phúc theo ông, là không phải đầy đủ các đức tính mà là có cuộc sống đầy đủ Hạnh phúc có tính phổ quát, nó không giống nhau ở mỗi cá nhân, có người hạnh phúc trong khoái lạc, hưởng thụ, có người hạnh phúc trong danh vọng, đại vị
Aistotle xây dựng nên quan điểm về sự trung bình mẫu mực trong đạo
đức học Quan điểm này của ông xuất hát từ quan niệm độ như một thứ cốt cách
thẫm đẫm tinh thần Hy Lạp Bởi thế trong các học thuyết của mình, đặc biệt trong đạo đức học và chính trị học, Arixtotle cho rằng trong một tập thể cái tốt nhất luôn là cái trung bình cộng, không thái quá mà cũng không bất cập Ông khẳng định “Ta phải công nhận rằng sự trung dung và trung bình là điều tốt
Trang 22nhất, và như vậy Rõ ràng có được vận may vừa phải là điều tốt nhất” [1; tr.236]
Ông cho rằng chế độ nô lệ là dĩ nhiên, vì một số người đã được định trước là trở thành nô lệ Một số người khác lại thích hợp với đời sống chính trị hơn là lao động chân tay Mỗi người cần phải là tốt nhiệm vụ của mình
1.2.4 Chủ nghĩa nhân văn Phục hưng
Thời đại Phục hưng đã tái hiện lại phần nào những sinh hoạt trí tuệ của thời kì cổ đại Và Italia chính là trung tâm của phong trào này, vì vậy ở đây hình thành rất nhiều các lĩnh vực, hoạt động mới Các sáng tạo phục vụ con người được phổ biến rộng rãi Như việc chế tạo máy in của Gutenberg (1440) đã giúp cho các tài liệu được lưu truyền rộng khắp “Ông tổ thời Phục hưng là thi sĩ Petrarca (1374), nhà nhân bản Florence Nhưng phong trào Phục hưng nở rộ từ
1453, khi Constantinople thất thủ, nhiều nhà bác học Hy Lạp như Bessarion sang Tây phương tị nạn, mang theo nhiều thủ bản Hy ngữ Người Tây phương
có dịp khám phá lại nền văn minh Cổ đại dưới mọi hình thức: triết học, văn chương, nghệ thuật và khoa học Các học giả người Ý say mê nghiên cứu nền văn chương cổ cho tới lúc này vẫn đang "ngủ yên" trong các tu viện” [8; tr.20 - 21]
Thuật ngữ “chủ nghĩa nhân văn” có nguồn gốc gắn liền với khái niệm
“studia humanitatis”, có nghĩa đen là “phòng học các môn khoa học nhân văn” [6; tr.543] Từ thế kỉ XIV, “người ta dùng thuật ngữ này để chỉ những bộ môn như ngữ pháp, tu từ học, thi ca, lịch sử đạo đức học Những người dạy các môn này bắt đầu được gọi là những người theo chủ nghĩa nhân văn” [6; tr.543] Tuy nhiên những người đi theo chủ nghĩa nhân văn Phục hưng lại không cảm thấy đây chỉ là một số môn nghiên cứu con người, mà là phương tiện phát triển và nâng cao phẩm giá con người Chủ nghĩa nhân văn Phục hưng trước hết là một hiện tượng thẩm mỹ Nhiều người vẫn luôn nhầm tưởng Chủ nghĩa nhân văn
Trang 23Phục hưng với định hướng đạo đức, luân lý, chứ không phải định hướng thẩm
mỹ Trong khi đó, chủ nghĩa nhân văn Phục hưng tuy có yếu tố đạo đức nhưng
đó không phải yếu tố đắc thù và không phải là nội dung trung tâm Đặc điểm quan trọng của chủ nghĩa nhân văn là hướng đến thực tiễn “Điều này không có nghĩa là các nhà nhân văn không xây dựng hay không cố gắng xây dựng các lý thuyết Điều này có nghĩa lý luận đối với họ không phải là mục đích tự thân Khác với triết học trung cổ, trong đó tính hoàn hảo của hệ thống lý luận là một yếu tố quan trọng tự thân nó, lý luận trong chủ nghĩa nhân văn cần phải phục vụ công khai và phục vụ ngay các lợi ích của cuộc sống thực tiễn” [6; tr.547] Con người cần phải sống một cuộc sống hiện thực ở trần thế chứ không phải mong chờ về một cuộc sống bên kia thiên đàng
Chủ nghĩa nhân văn Phục Hưng có ảnh hưởng rất lớn đến các tư tưởng đạo đức của Machiavelli Chính tên gọi Phực Hưng đã liên quan đến sự phục hồi lại các tri thức thời kì cổ đại mà vẫn còn đến giá trị của thời kì hiện nay Mọi tri thức là ở trần thế chứ không phải là nhưng tri thức trên thiên đàng của tôn giáo, kinh viện “Đồng thời với việc xảy ra sự phục hồi tinh thần Thiên chúa chân chính, suy xét lại truyền thống Thiên chúa, chống đối kịch liệt sự xa hoa của giới tăng lữ và sự xuyên tạc học thuyết của Chúa Kitô bằng sự bù trừ, kêu gọi sự Phục hưng Thiên chúa giáo tông đồ khởi thủy” [8; tr.23]
Đặc điểm căn bản của thời đại Phục hưng là đề cao con người, lấy con người làm trung tâm của thế giới chứ không phải Chúa Con người được đặt lên hàng đầu, sau đó mới là quan tâm các vấn đề xung quanh con người Các quan niệm như thế giới do tự nhiên sinh ra chứ không phải do Chúa trời tạo nên, con người không phải là một bộ phận của Chúa,… được truyền bá rộng rãi
“Chủ nghĩa nhân văn, thứ nhất là ý thức tự do tư tưởng và chủ nghĩa cá nhân hoàn toàn thế tục đặc trưng cho thời Phục hưng Thứ hai, đây không đơn giản là tự do tư tưởng thế tục mà còn là các phương diện chính trị - xã hội, công
Trang 24do tư tưởng này Như vậy đặc điểm quan trọng của chủ nghĩa nhân văn là sự hướng đến thực tiễn của nó Điều này hoàn toàn không có nghĩa là các nhà nhân văn không xây dựng hay không cố gắng xây dựng các lý thuyết Mà có nghĩa là
lý luận đối với họ không phải là mục đích tự thân Khác với triết học Trung cổ, trong đó tính hoàn hảo của hệ thống lý luận là một yếu tố quan trọng tự thân nó,
lý luận trong chủ nghĩa nhân văn cần phải phục vụ công khai và ngay các lợi ích của cuộc sống thực tiễn Lý luận cần phải trả lời cho câu hỏi “sống như thế nào?” Con người, cá nhân cụ thể cần phải sống một cuộc sống thế tục chứ không phải là một cuộc sống trong giáo hội Cá nhân, cá thể được đặt vào trung tâm của những hệ thống lý luận Tư tưởng của các nhà nhân văn vận động không phải từ cái thần thánh đến cá nhân, mà ngược lại từ cá nhân đến cái thần thánh” [8; tr.25] Con người là trung tâm của mọi học thuyết Các nhà nhân văn
đã xem xét mọi vấn đề dưới lăng kính cá nhân mình, mở ra sự sáng tạo vô hạn cho con người Đặc biệt là sự phát triển trên linh vực thẩm mỹ - nghệ thuật
Chủ nghĩa nhân văn Phục hưng đã tạo điều kiện cho nghệ thuật thời kì này phát triển rực rỡ Các nhà nhân văn xem việc sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật là viêc sáng tạo ra nhân cách cá nhân của chính mình Và xem đây cũng là cách để khẳng định mình
Với tình hình xã hội Tây Âu lúc bấy giờ chủ nghĩa nhân văn lại tạo ra những tích cực và tiêu cực của nó Chủ nghĩa nhân văn tạo ra nhưng con người khổng lồ, những sản phẩm văn hóa mang tính thời đại, những công trình nói lên
sự phát triển phồn vinh của thời đại Phục hưng Nhưng mặt khác nó cũng tạo ra những mặt trái của nó, khi bản thân con người được giải phóng thì những dục vọng, tật xấu của con người cũng vậy, “sự lộng hành của những dục vọng, của thói chuyên chế và của thói vô kỉ luật đạt tầm cỡ chưa từng thấy ở thời Phục hưng” [8; tr.27]
Các nhà tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn thời kì này đã nói lên những bất bình của nhân dân với giáo hội, với chế độ phong kiến “Các nhà tư tưởng này
Trang 25chống lại sự thao túng của giáo hội Thiên chúa giáo, các giáo điều tôn giáo bằng
tư tưởng bảo vệ các quyền và nhân cách con người Tư tưởng từ bỏ hạnh phúc trần gian của Thiên chúa giáo đối lập với niềm tin vào sức mạnh của lý trí và kinh nghiệm, vào sức mạnh của con người Sự thay đổi của đời sống kinh tế - xã hội, sự chuyển biến đột ngột của các hoạt động chính trị đã làm rạn nứt và đổ vỡ những hệ giá trị vốn có nền tảng trong hàng ngàn năm qua” [8; tr 27 – 28] Sự thống trị hàng ngàn năm của Giáo hội và chế độ phong kiến đang bị đe dọa Hệ giá trị của Thiên chúa giáo đã không còn phù hợp với xã hội, nó làm dấy lên sự hoài nghi của con người, con người buộc phải suy ngẫm về mình Thi sĩ Giovanni Boccaccio đã diễn tả trạng thái tinh thần thời đại: “Chưa bao giờ người ta thấm thía đến thế về sự phù du và phi lý của kiếp người Vậy chỉ còn lại hai lối thoát: hoặc phải tận hưởng cuộc sống ngắn ngủi nơi trần thế, hoặc hiến mình cho những giá trị siêu thế gian Như thế, bên cạnh nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo hướng đến cái vĩnh hằng, con người đột nhiên phát hiện ra một cảm thức mới mẻ về cuộc đời, và tỏ ra nhạy cảm trước nhu cầu nội tâm hướng đến cái đẹp Cái đẹp – thanh cao lẫn nhục cảm – rồi sẽ được khắc ghi trong hoạt động nghệ thuật sáng tạo” [8; tr.28]
1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Nicolo Machiaveli
Niccolò Machiavelli là nhà văn, nhà sử học, nhà thơ thời đại Phục hưng Ông sinh ngày 03 tháng 5 năm 1469, mất ngày 21 tháng 6 năm 1527 tại thành phố Florence, Italia Cha ông là một luật sư nhưng do những món nợ không trả được nên không được phép hành nghề nên gia đình ông trở nên túng thiếu Ông không học đại học, không biết tiếng Hy Lạp, nhưng lại hiểu rất rõ về tiếng Latinh đến mức có thể đọc được tiếng La Mã và cũng thông qua việc hiểu rõ tiếng Latinh mà ông biết đến các tác giả Hy Lạp Ông đọc và tìm hiểu rất kĩ các tác giả La Mã, Hy Lạp
Từ thời trẻ tuổi Machiavelli đã rất quan tâm đến sử thi của Lucretius Carus và cũng chính sử thi này ảnh hưởng rất nhiều đến quan điểm sau này của
Trang 26Machiavelli Ông rất quan tâm đến đời sống xã hội phức tạp ở Florence trong những năm tháng phục hồi chế độ cộng hòa ở đây và cầm quyền của Savonarolla có lối sống khắc kỉ, có tâm trạng chống đối tại tòa thánh Rome Ngay sau khi Savonarolla bị xử tử vào năm 1498, khi mà chế độ cộng hòa vẫn còn tiếp tục tồn tại ở Florencia, ông bắt đầu làm việc tại một công sở của nền cộng hòa, sau đó làm thư kí văn phòng chính phủ Ở đây ông làm nhiều công việc khác nhau – chính trị và ngoại giao Một thời gian ngắn ông được bầu làm thư kí Hội đồng quân sự và ngoại giao, nhờ đó ông có cơ hội đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều chính khách cũng như nhiều sự kiện lịch sử Ông đã tiếp kiến nữ bá tước Caterina Sforza (1499), vua Louis VII của Pháp (trong các năm 1500,
1504, 1510, 1511), Cesare Borgia (1502, 1503), Giáo hoàng Giuliô II (vào các năm 1503, 1506), hoàng đế Maximilian II (từ năm 1507 đến năm 1508),… Chính các sứ mệnh ngoại giao và việc gặp gỡ nhiều người lãnh đạo mà nhiều tư
tưởng của ông đã được hình thành, và thể hiện trong tác phẩm Quân vương của
mình
Đặc trưng cho quan điểm chính trị và triết học xã hội đã chín muồi ở thời
kì này của Machiavelli thể hiện ở chỗ ông tự coi mình là con người của hành động luôn được suy xét kịp thời Ông thích nhắc lại câu châm ngôn cổ: “Đầu tiên sống, rồi sau đó mới triết lý” Ông chủ yếu buộc phải nghiên cứu triết học
và trình bày tư tưởng của mình dưới dạng văn học Điều này có thể thấy trong tác phẩm “Quân vương” của ông, tác phẩm đã phá vỡ nguyên tắc đặc thù của các tác phẩm chính trị truyền thống về cả nội dung lẫn hình thức
Trở thành bạn của Piero Soderini ( người đứng đầu chính phủ Firenze năm 1502) Machiavelli do quá chán nản trước sự kém cỏi của đội quân đánh thuê mà chính phủ Florence sử dụng, ông đã thuyết phục Soderini hậu thuẫn việc xây dựng quân đội quốc gia của Firenze bất chấp những ý kiến phản đối của giới qúy tộc Firenze Machiavelli đã đứng ra tuyển chọn, đào tạo và tập luyện cho đội quân này Vào năm 1509, sự sáng suốt của ông đã được minh
Trang 27chứng khi quân đội Florence giành được quyền kiểm soát thành phố láng giềng Pisa sau một cuộc chiến kéo dài suốt 15 năm Thành công này đánh dấu một bước tiến trong sự nghiệp của Machiavelli Năm 1512, chính phủ cộng hòa bị thay thế bằng nền bạo chính của nhà Medici Sau đó Machiavelli bị bãi chức và cấm rời khỏi lãnh thổ Firenze
Vài tháng sau, hai thanh niên bất mãn với chính quyền và bị bắt cũng với danh sách những người bất mãn với nhà Medici Trong đó có tên của Machiavelli, dù không có gì chứng tỏ nhưng ông vẫn bị tống giam Nhân đợt ân
xá khi người chú của Giuliano là Giovanni được bầu làm Giáo hoàng Lêô X vào tháng 3 năm 1513, Machiavelli được tha và ông lui về sống tại một trang trại nhỏ ở quê nhà Trong thời gian này, ông viết nhiều thư cho người bạn thân là Francesco Vettori, một nhà ngoại giao Firenze được bổ nhiệm giữ chức đại sứ tại thành Roma để nắm bắt thông tin về thế giới bên ngoài và hy vọng Vettori có thể tiến cử ông cho nhà Medici Trong hoàn cảnh bức bách đó, Machiavelli dành nhiều thời gian để viết lên những tác phẩm của mình Ông đã viết nhiều tác phẩm như Quân vương (1513), Những suy ngẫm về 10 cuốn sách đầu tiên của Tit Livi (1516 – 1517), Con lừa (1517), Mandradora (1518), Về nghệ thuật quân sự (1519 – 1517), Andria (1519), Benphago (1520), Cuộc đời của Catruchco Katracani (1520), Lịch sử Florenxia, Đối thoại về ngôn ngữ
Tong đó tác phẩm Quân vương là tác phẩm nổi tiếng nhất của của ông
Tác phẩm này chắt lọc những nhìn nhận của ông về các phẩm chất đạo đức, về bản tính con người, nghệ thuật lãnh đạo cũng như chính sách ngoại giao Ông dâng tặng nhà Medici tác phẩm này nhằm chứng tỏ sự tận tâm của mình nhưng không thành công Cho tới năm 1515, nhà Medici vẫn không để mắt tới ông và
sự nghiệp ngoại giao của ông đã chấm dứt
Machiavelli có thái độ đặc biệt thù địch đối với tầng lớp quý tộc phong kiến, ông cho rằng họ là những kẻ sống một cuộc sống xa hoa dựa trên thu nhập
Trang 28sống dân sự ở dưới chế độ cộng hòa và thậm chí ông không ngần ngại tuyên bố cần thiết phải thủ tiêu hoàn toàn họ Thiện cảm của Machiavelli được dành hoàn toàn cho nhân dân mà ông trước hết kể đến tầng lớp cư dân thị thành phong lưu
và tích cực nhất - thương gia, thợ thủ công, hoạt động sản xuất đa dạng của họ đảm bảo sự phát triển thịnh vượng của Florencia và các thành thị khác ở Italia Hoạt động lao động tích cực của họ phù hợp với vai trò chính trị quan trọng hàng đầu của họ trong việc điều hành công việc nhà nước Song, đại đa số cư dân còn lại, tầng lớp dưới của nó, “tầng thấp nhất của cái tháp xã hội”, lại hoàn toàn không dành được thiện cảm của Machiavelli Một yếu tố quan trọng nữa ở Machiavelli là thái độ thù địch sâu sắc của ông đối với giới tăng lữ, giới chức sắc tôn giáo nói chung [6 ; tr.563]
Thái độ thù địch như vậy của Machiavelli chủ yếu bắt nguồn từ tâm trạng
và các tư tưởng chính trị dân tộc của ông Italia phải trả cái giá là sự phân tán về mặt chính trị cho sự phát triển thịnh vượng của Florence và các vương quốc khác Các vương quốc khác nhau của nó liên tục xung đột với nhau, còn các nước láng giềng hùng mạnh, đặc biệt là Pháp và Tây Ban Nha, đã bành trướng sang Italia, gây chiến với nhau nhờ liên minh với các vương quốc Italia, chia xé chúng, làm cho chúng bị suy thoái
Tòa thánh Rome đóng một vai trò tiêu cực trong việc chia rẽ Italia Vốn là một nhà nước thần quyền và phong kiến, song lại cố gắng mở rộng biên giới của mình, nó trở thành một trong những trở ngại chính trị trên con đường thống nhất Italia thành một nhà nước thống nhất Sự thống nhất như vậy cấu thành một trong những kích thích quan trọng nhất đối với tư tưởng chính trị của Machiavelli Từ đó, thái độ thù địch của ông đối với tầng lớp tăng lữ lại càng có tính chất thế giới quan và nhân sinh quan sâu sắc hơn [6; tr.564]
Các tác phẩm của ông đã thu hút được sự chú ý của Hồng y Giáo chủ Giulio de Medici, người đã nắm quyền ở Firenze một vài năm và nhờ đó, ông đã được giao nhiệm vụ viết về lịch sử của Florence Ông viết cuốn Lịch sử thành
Trang 29Firenze từ năm 1520 tới năm 1524 Năm 1523, Giulio được bầu làm Giáo hoàng Clêmentê VII và Machiavelli đệ trình cuốn Lịch sử thành Firenze cho giáo hoàng vào năm 1525 Sự giảng hòa với nhà Medici đã giúp Machiavelli được tham gia chính sự trong một thời gian ngắn Ông được giao trách nhiệm phụ trách các vấn đề quân sự tại Firenze cho Giáo hoàng Tuy nhiên, Giáo hoàng Clêmentê VII mắc mưu kẻ thù và thành Roma bị quân đội Tin lành của Đức cướp phá Sự cố này đã khiến cho người dân Florence làm cuộc lật đổ nhà Medici vào năm 1527 Machiavelli, người suốt đời ủng hộ và bảo vệ nền cộng hòa Firenze, lại một lần nữa không gặp may vì bị những người cộng hòa nghi ngờ là cấu kết với nhà Medici Tuy nhiên, ông không phải tiếp tục chứng kiến định mệnh trớ trêu của mình bởi ông qua đời sau một trận ốm vào tháng 6 năm
1527
1.4 Nội dụng chính của tác phẩm “Quân vương”
Quân vương là tác phẩm nổi tiếng của Machiavelli nhưng không được
xuất bản khi ông còn sống mà chỉ được lưu truyền dưới hình thức chép tay Tác phẩm lần đầu tiên được xuất bản vào năm 1532, với sự cho phép của giáo hoàng Clement VII Và được tái bản nhiều lần sau đó Đến năm 1559, tất cả các tác phẩm của Machiavelli bị đưa vào danh mục sách cấm của giáo hội Tuy nhiên
dù bị cấm nhưng sự lan truyền của tác phẩm không mấy bị ảnh hưởng vì nó sớm
đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, lan tỏa khắp châu Âu Quan điểm chính trị của ông còn được nhiều nhà cai trị coi như cuốn cẩm nang để tranh giành quyền lực Machiavelli viết tác phẩm theo những điều ông thấy thực tế ở đời sống chính trị,
ông không viết tác phẩm với mong muốn tạo ra một bạo chúa
Tác phẩm ghi lại những kinh nghiệm trong chuyến công du của ông qua Romagna dưới sự thống trị độc tài của Cesare Borgia Ban đầu ông không coi trọng thủ đoạn chính trị của Borgia nhưng sau này Machiavelli lại khâm phục
khả năng nắm quyền của nhà độc tài này Trong tác phẩm Quân Vương
Machiavelli có đề cập đến nhiều thủ đoạn chính trị, trong đó có nhiều thủ đoạn
Trang 30là của Borgia Trong tác phẩm ông đưa ra những quan niệm về chính trị khác hẳn với các quan niệm truyền thống Ông cho rằng người nắm quyền lên quan tâm đến mục đích chính trị hơn là phương pháp thực hiện Kết quả biện minh cho hành động
Kết cấu của tác phẩm được chia làm 26 chương với các nội dung lớn: các vương quốc - cách cai trị, các loại quân lính – quân đội, những phẩm chất cần
có của một quân vương, vấn đề thần tử của quân vương và hai phần lẻ là vai trò của số phận và lời kêu gọi giải phóng Italia
Nội dung lớn đầu tiên là các vương quốc, cách cai trị chúng được đề cập trong 11 chương đầu, gần một nửa tác phẩm Qua đó ta thấy Machiavelli đã nghiên cứu, tìm hiểu rất nhiều loại hình chính trị của các quốc gia khác nhau Qua những sự kiện lịch sử mà ông tận mắt chứng kiến hay ghi chép được, trong tác phẩm ông phân biệt các hình thức vương quốc: các vương quốc quân chủ thế tập, các vương quốc quân chủ mới, và ông cũng nhắc đến các nước cộng hòa nhưng không được bàn tới trong tác phẩm này Theo Machiavelli “các vương quốc hoặc là do cha truyền con nối từ những dòng họ nắm quyền lâu đời, hoặc mới được thiết lập”, tuy nhiên lại có nhiều hình thức để bình định một quốc gia Machiavelli đưa ra các hình thức bình định một vương quốc, ông đã chia các vương quốc thành: các vương quốc giành đươc do tài trí, năng lực của bản thân, các vương quốc giành được bằng binh lực của người khác và vận may của bản thân, các vương quốc giành được nhờ sự hung ác, tàn bạo, các vương quốc dân
cử và các vương quốc giáo hội Theo ông, các vương quốc này thì đều được cai trị theo một trong hai cách Cách thứ nhất là quân vương cùng với bề tôi, cận thần do ông ta chỉ định, nếu theo cách cai trị này thì quân vương có quyền lực rất lớn Cách thứ hai là quân vương cùng với các công hầu thế tập, số công hầu này là các lãnh chúa có lãnh địa và thần dân riêng Machiavelli quan tâm đến cách thức cai trị một vương quốc, những vùng đất bị thôn tính có sự tương đồng
về văn hóa, ngôn ngữ với chính quốc sẽ dễ dàng sát nhập với chính quốc, nếu
Trang 31không thì quân vương cần đích thân đến cư ngụ tại vùng đất mới đó để dễ dàng hơn cho việc cai trị, đồng hóa Theo ông có 3 cách thức để cai trị một vương quốc Thứ nhất là phá hủy hết, thứ hai là đích thân đến cư ngụ tại chỗ, thứ ba là
để dân sống theo luật lệ của họ, cống nạp cho quân vương Trong tác phẩm Machiavelli còn nói lên những khó khăn mà một quân vương phải đương đầu, ông luôn nhấn mạnh quân vương phải dựa vào năng lực của bản thân và thần dân Ông cũng đưa ra nhiều những thủ đoạn mà một quân vương nên áp dụng
Nội dung thứ hai bàn về binh lính, quân đội được nói đến từ chương thứ
12 đến chương 14 Machiavelli nói lên vai trò quan trọng không thể thiếu của quân đội, quân đội như là nền móng của một quốc gia Một quốc gia có thể có quân binh, đạo quân riêng, lính đánh thuê, quân đồng minh hoặc là hỗn hợp các loại trên Ông cho rằng lính đánh thuê và quân đồng minh là những loại quân vô dụng và nguy hiểm Quân vương nào cũng nên có quân đội riêng của mình Ông cũng đề cập đến việc rèn luyện cho quân đội vì theo ông chiến tranh là công việc của kẻ trị vì do đó rất cần một quân đội mạnh
Nội dung thứ ba Machiavelli đề cập đến trong tác phẩm “Quân vương” là phẩm chất của một quân vương, được thể hiện từ chương 15 đến chương 21 Trong những chương này Machiavelli cho rằng một quân vương nếu muốn thành công thì không cần có đủ các phẩm chất đạo đức mà chỉ cần tỏ ra là mình
có tất cả những phẩm chất đạo đức tốt đó Quân vương muốn thành công thì phải học được cách gác lòng tốt sang một bên, sử dụng lòng tốt còn tùy thuộc vào thời điểm Ông đề cập đến từng cặp phẩm chất đạo đức trái ngược nhau Quân vương cần tránh sự khinh miệt và thù ghét Một quân vương cần có sự khôn ngoan và mới mục đích duy nhất là bảo vệ được vương quốc và địa vị của mình, để bảo vệ được địa vị của mình thì quân vương buộc phải làm điều ác Và
“quan điểm đáng chú ý của Machiavelli là quan điểm về tầm quan trọng của
“lòng dân” và nguyên tắc lựa chọn chính sách trị nước rất hiện đại: không có chính sách nào toàn vẹn, cần phải biết chọn lấy cái bất lợi nhỏ nhất” [8; tr.37]
Trang 32Nội dung tiếp theo là nói về bộ máy giúp việc cho quân vương Machiavelli phân tích mối quan hệ giữa hai bên và cho rằng hai bên cần giúp đỡ nhau Và quân vương cũng cần chọn cho mình những cận thần khôn ngoan
Hai phần sau cũng ông bàn về số phận và kêu gọi giải phóng Italia Quan điểm của ông rất thực tế và tiến bộ, khi cho rằng số phận chỉ chi phối một nửa của con người còn một nửa là do con người quyết định Theo Machiavelli, hành động của con người có thể khác nhau nhưng thất bại hay thành công là do hợp thời hay không hợp thời
Machiavelli đã tách chính trị ra khỏi đạo đức, tôn giáo Người đã làm chính trị thì không nên quan tâm đến đạo đức Chính trị là hoạt động có mục đích của con người, trong đó họ cố gắng thực hiện lợi ích và nhu cầu của mình
“Việc thông qua và thực hiện các giải pháp chính trị phụ thuộc vào các yếu tố: mục đích – phương tiện – vai trò của thủ lĩnh Mà tất cả điều này lại được xây dựng trên cơ sở là những quan niệm của ông về con người – chủ nghĩa bi quan
về nhân học” [8; tr.38]
Quân vương là tác phẩm gây ra nhiều tranh cãi từ khi ra đời cho đến tận ngày nay Những luận điểm trong tác phẩm đã gây ra nhiều ý kiến trái chiều Khi mới xuất bản thì được tái bản nhiều lần nhưng có thời gian lại bị liệt vào hàng sách cấm và cũng vì đó mà Machiavelli chịu nhiều sự phỉ báng Tuy nhiên tác phẩm lại nhận được nhiều hưởng ứng của một số chính khách, các nhà tư tưởng,… như Bacon nhận xét: “Chúng ta đã chịu ơn N.Machiavelli và những tác giả đã viết về những điều mà con người làm chứ không phải điều con người nên làm”, hay như Rousseau đã viết: “Dường như đó có vẻ là các bài học cho các vua chúa, nhưng thực ra, ông đã dạy những bài học vĩ đại cho nhân dân” [8; tr.38]
Tác phẩm còn nhiều giá trị cho đến ngày này một phần là do có những tư tưởng triết học về con người, “những nhận xét lạnh lùng về con người và cách