1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận PL cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

19 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 36,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường tạo ra cho các doanh nghiệp áp lực giảm giá thành, cải tiến chất lượng và đa dạng hóa hàng hóa, dịch vụ mà mình cung cấp. Để giảm áp lực cạnh tranh và gia tăng lợi nhuận ngắn hạn, các doanh nghiệp có thể tìm cách kết hợp với nhau. Trong quá trình cạnh tranh các chủ thể cạnh tranh phải không ngừng khai thác ưu thế của mình, liên tục hoàn thiện và đổi mới để có thể có thể đảm bảo vị thế của mình trên thị trường. “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay”.

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường tạo ra cho các doanh nghiệp

áp lực giảm giá thành, cải tiến chất lượng và đa dạng hóa hàng hóa, dịch vụ

mà mình cung cấp Để giảm áp lực cạnh tranh và gia tăng lợi nhuận ngắn hạn, các doanh nghiệp có thể tìm cách kết hợp với nhau Trong quá trình cạnh tranh các chủ thể cạnh tranh phải không ngừng khai thác ưu thế của mình, liên tục hoàn thiện và đổi mới để có thể có thể đảm bảo vị thế của mình trên thị trường Trong những biến dạng tiêu cực của cạnh tranh thì hành vi hạn chế cạnh tranh được coi là đặc biệt nguy hiểm bởi nếu không được kiểm soát chặt chẽ thì sẽ dẫn đến thủ tiêu cạnh tranh, gây hại cho người tiêu dùng và đồng thời cả nền kinh tế Với khuôn khổ của bài viết,

em xin trình bày đề tài “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay”.

Trang 2

NỘI DUNG CHÍNH

I Những vấn đề chung về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

1 Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là một trong số những hành vi hạn chế cạnh tranh được Luật cạnh tranh năm 2004 điều chỉnh Theo quy định tại Khoản 3, Điều 3, Luật cạnh tranh, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế Mặc dù Luật cạnh tranh không trực tiếp đưa ra định nghĩa về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhưng từ nội dung của quy định nêu trên có thể hiểu thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là thỏa thuận giữa hai hay nhiều chủ thể kinh doanh trên thị trường hướng tới hoặc có tác động làm giảm, làm sai lệch hay cản trở hoạt động cạnh tranh bình thường trên thị trường

2 Hình thức của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Theo Điều 8, Luật cạnh tranh, các thoả thuận hạn chế cạnh tranh gồm: (1) Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp: là việc thống nhất cùng hành động dưới một trong các hình thức sau đây: áp dụng thống nhất mức giá với một số hoặc tất cả khách hàng; tăng giá hoặc giảm giá ở mức cụ thể; áp dụng công thức tính giá chung; duy trì tỷ lệ cố định về giá của sản phẩm liên quan; không chiết khấu giá hoặc áp dụng mức chiết khấu giá thống nhất; dành hạn mức tín dụng cho khách hàng; không giảm giá nếu không thông báo cho các thành viên khác của thỏa thuận; sử dụng mức giá thống nhất tại thời điểm các cuộc đàm phán về giá bắt đầu

(2) Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ trong đó:

Trang 3

Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ là việc thống nhất về số lượng hàng hóa dịch vụ ; địa điểm mua, bán hàng hóa, dịch vụ; nhóm khách hàng đối với mỗi bên tham gia thỏa thuận

Thỏa thuận phân chia nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ là việc thống nhất mỗi bên tham gia thỏa thuận chỉ được mua hàng hóa, dịch

vụ từ một hoặc một số nguồn cung cấp nhất định

(3) Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ, trong đó:

Thỏa thuận hạn chế số lượng, khối lượng sản xuất mua, bán hàng hóa, dịch vụ là việc thống nhất cắt, giảm số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường liên quan so với trước đó Thỏa thuận kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ là việc thống nhất ấn định số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ ở mức đủ để tạo sự khan hiếm trên thị trường

(4) Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư trong đó:

Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ là việc thống nhất mua sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp để tiêu hủy hoặc không sử dụng

Thỏa thuận hạn chế đầu tư là việc thống nhất không đưa thêm vốn để mở rộng sản xuất, cải tiến chất lượng hàng hóa, dịch vụ hoặc để mở rộng phát triển khác

(5) Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; trong đó:

Trang 4

Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ là việc thống nhất đặt một hoặc một số điều kiện tiên quyết sau đây trước khi ký hợp đồng:

- Hạn chế về sản xuất, phân phối hàng hóa khác nhau; mua, cung ứng dịch vụ khác không liên quan trực tiếp đến cam kết của bên nhận đại lý theo quy định của pháp luật về đại lý;

- Hạn chế địa điểm bán lại hàng hóa, trừ những hàng hóa thuộc danh mục mặt hàng kinh doanh có điều kiện, mặt hàng hạn chế kinh doanh theo quy định của pháp luật;

- Hạn chế về khách mua hàng hóa để bán lại, trừ hàng hóa quy định tại điểm b khoản này;

- Hạn chế về hình thức, số lượng hàng hóa được cung cấp

Thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng là việc thống nhất ràng buộc doanh nghiệp khác khi mua hàng, bán hàng hóa, dịch vụ đối với bất kỳ doanh nghiệp nào tham gia thỏa thuận phải mua hàng hóa, dịch vụ khác từ nhà cung cấp hoặc người được chỉ định trước hoặc thực hiện thêm một hoặc một số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng (6) Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh

Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho dianh nghiệp khác tham gia thị trường là việc thống nhất không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận hoặc cùng hành động dưới một trong các hình thức sau đây:

- Yêu cầu, kêu gọi, dụ dỗ khách hàng của mình không mua, bán hàng hóa, không sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận;

- Mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận không thể tham gia thị trường liên quan

Trang 5

Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác phát triển kinh doanh là việc thống nhất không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận hoặc cùng hành động dưới một trong các hình thức sau đây:

- Yêu cầu, kêu gọi, dụ dỗ các nhà phân phối, các nhà bán lẻ đang giao dịch với mình phân biệt đối xử khi mua, bán hàng hóa của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận theo hướng gây khó khăn cho việc tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp này;

- Mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận không thể mở rộng thêm quy mô kinh doanh

(7) Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận: là việc thống nhất không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận và cùng hành động dưới hình thức quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 19 Nghị định

116/2005/NĐ-CP hoặc mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận phải rút lui khỏi thị trường liên quan

(8) Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ

3 Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm.

Có ba loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tuyệt đối theo quy

định tại khoản 1 Điều 9 Luật Cạnh tranh bao gồm: Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận; Thông đồng để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ

Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm có điều kiện quy định tại

khoản 2 Điều 9 Luật Cạnh tranh ngoại trừ ba trường hợp cấm tuyệt đối nêu trên thì những thỏa thuận sau đây bị cấm nếu các bên tham gia thỏa thuận

Trang 6

có thị phần kết hợp của thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên, bao gồm: thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận hạn chế phát triển kĩ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật Cạnh tranh, mức thị phần trên thị trường liên quan từ 30% trở lên đã có thể trao cho doanh nghiệp sức mạnh thị trường bởi được coi là doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, theo

đó có khả năng tác động đến giá cả thị trường của một loại hàng hóa hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua Và tất nhiên, với việc thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp có khả năng tác động đến những yếu tố của thị trường theo hướng có lợi cho bản thân doanh nghiệp Và những doanh nghiệp hay những nhóm doanh nghiệp cho dù có liên kết mà vẫn không có được mức thị phần thống lĩnh thì sẽ không bị coi là có sức mạnh thị trường

4 Các trường hợp miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Trường hợp miễn trừ đối với hành vi hạn chế cạnh tranh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: Theo quy định tại Điều 10 Luật Cạnh tranh các thỏa

thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 8 Luật Cạnh tranh nếu các doanh nghiệp trong thỏa thuận có thị phần kết hợp dưới 30% trên thị trường liên quan thì được miễn trừ trong một thời hạn nhưng phải đáp ứng một trong các điều kiện là: Hợp lý hoá cơ cấu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh; Thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ; Thúc đẩy việc áp dụng

Trang 7

thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm; Thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá; Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; Tăng cường sức cạnh tranh của doanh

nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế Và nhằm mục đích hạ giá thành

có lợi cho người tiêu dùng

Những hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nếu được thực hiện bởi những doanh nghiệp mà sức mạnh thị trường yếu thì sẽ không thể gây tác động tiêu cực đến thị trường, nên Nhà nước quy định cho phép những doanh nghiệp đó được thực hiện nhằm nâng cao sức mạnh của mình

Đối với những doanh nghiệp thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mà mức thị phần két hợp trên 30%, đây là trường hợp mà những doanh nghiệp này kết hợp với nhau đã có sức mạnh thị trường tương đối có thể tác động lên thị trường Nhưng Nhà nước vẫn để cho các doanh nghiệp này được thưc hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong một thời hạn với việc phải tuân thủ những điều kiện là nhằm mang lại lợi ích tối đa cho người tiêu dùng Bởi lẽ nếu như những thỏa thuận đó làm giảm giá thành

mà tăng chất lượng thì không phải là tiêu cực nhưng cần phải có giới hạn

Vì nếu không có giới hạn thì những doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đó sẽ lạm dụng

Các trường hợp được áp dụng miễn trừ đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đều nhằm mục đích hướng đến người tiêu dùng và phát triển nền kinh tế nói chung Đây là những biện pháp giúp cho các doanh nghiệp

có thể phát triển lâu dài và mang lại những lợi ích kinh tế cao

Trường hợp miễn trừ đối với hành vi hạn chế cạnh tranh tập trung kinh tế:

Trang 8

Theo quy định tại Điều 19 Luật Cạnh tranh tập trung kinh tế bị cấm quy định tại Điều 18 của Luật này có thể được xem xét miễn trừ trong các trường hợp sau đây:

1 Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản;

2 Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ.

Có nghĩa là đối với các trường hợp tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan thì có thể được hưởng miễn trừ nếu như thuộc một trong hai hoặc cả hai trường hợp đó là: một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản; Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ

Các trường hợp được hưởng miễn trừ đối với hành vi hạn chế cạnh tranh tập trung kinh tế được quy định tại Điều 19 Luật Cạnh tranh chính là những điều kiện đặt ra để các doanh nghiệp có thể hưởng miễn trừ Để xem xét có việc miễn trừ hay không cần phải xem có việc tập trung kinh tế vi phạm pháp luật do bị cấm hay không, sau đó phải tìm hiểu các doanh nghiệp tham gia vào quan hệ tập trung kinh tế đó đang ở tình trạng như thế nào, có thị phần trên thị trường liên quan là bao nhiêu để xác định tính hợp pháp của hành vi tập trung kinh tế Việc tiến hành điều tra để xem xét đề nghị hưởng miễn trừ là rất quan trọng

5 Đặc trưng pháp lý của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Như vậy, những yếu tố của cạnh tranh trên thị trường như giá cả, chất lượng, sản lượng hay các yếu tố kinh doanh khác cũng chính là những yếu

tố mà các bên tham gia thỏa thuận hướng tới nhằm làm áp lực cạnh tranh lẫn nhau Dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, các thỏa thuận hạn chế cạnh

Trang 9

tranh mang bản chất hạn chế cạnh tranh nên cần phải được kiểm soát Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có những đặc trưng pháp lý sau:

Thứ nhất, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp Doanh nghiệp là chủ thể trong quan hệ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Doanh nghiệp, theo quy định tại Khoản 1, Điều 2, Luật cạnh tranh

2004, được hiểu là các tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam Doanh nghiệp là chủ thể tạo nên và quyết định mức độ cũng như hình thức của cạnh tranh, đồng thời, cũng chính các doanh nghiệp có thể gây hạn chế, giảm bớt hay thậm chí triệt tiêu cạnh tranh do chính mình tạo ra bằng các thỏa thuận Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể là giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nhau hoặc có thể là giữa những doanh nghiệp có mối liên hệ với nhau trong cùng một chuỗi sản xuất hay cung ứng sản phẩm, dịch vụ

Thứ hai, giữa các doanh nghiệp có thoả thuận hạn chế cạnh tranh Thoả thuận là đặc trưng pháp lý cơ bản và là yếu tố cấu thành hành vi quan trọng, được hiểu là sự thống nhất ý chí giữa các bên tham gia.

Trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đòi hỏi phải có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên tham gia thỏa thuận thông qua sự thể hiện và thống nhất ý chí của những người có thẩm quyền và hướng tới mục đích hạn chế cạnh tranh. Vì vậy, thoả thuận hạn chế cạnh tranh thường là kết quả của quá trình đàm phán, thương lượng giữa các bên tham gia với nhau liên quan đến một hoặc một số nội dung hay yếu tố nào đó của thị trường. Tuy nhiên, cũng có trường hợp các bên tham gia không trực tiếp thỏa thuận với nhau mà gián tiếp đạt được sự thoả thuận thông qua các nghị quyết, quyết định hay hành động chung của Hiệp hội mà các bên là thành

Trang 10

viên. Sở dĩ trường hợp này cũng được coi là thoả thuận bởi khi các doanh nghiệp tham gia và là thành viên của hiệp hội, tự nguyện chấp nhận hay đồng tình theo những cam kết hay chủ trương chung của hiệp hội, chấp nhận cho phép hiệp hội được đưa ra nghị quyết, quyết định hoặc hành động chung và bản thân các doanh nghiệp thành viên tuân thủ theo thì đó cũng chính là một sự thoả thuận giữa các doanh nghiệp thành viên đã đạt được Hình thức của thỏa thuận dạng kiểu như vậy gần như mang tính chất uỷ quyền quyết định cho hiệp hội do vậy có giàng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý với các thành viên. Ngoài ra, thoả thuận hạn chế cạnh tranh còn có thể biểu hiện dưới dạng các cam kết tuân thủ hay đáp ứng những yêu cầu do một hoặc một số bên đặt ra. Trong thực tế, có trường hợp các doanh nghiệp thực hiện những hành vi giống nhau nhưng không vì thế mà có thể kết luận giữa các doanh nghiệp có sự thoả thuận bởi có thể đó

là sự trùng hợp ngẫu nhiên trên cơ sở tính toán và đưa ra quyết định một cách độc lập của từng doanh nghiệp. Chỉ có thể quy kết là có sự tồn tại một thoả thuận nếu có thông tin, chứng cứ cho thấy rằng giữa các doanh nghiệp đã có sự gặp gỡ, trao đổi và thống nhất giữa ý chí, hay nói cách khác các doanh nghiệp đã tìm được tiếng nói và hành động chung mà không bị tác động bởi bất cứ lý do nào

Thứ ba, mục đích của thoả thuận là nhằm hạn chế cạnh tranh. 

Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể theo chiều ngang hoặc chiều dọc. Nội dung của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là các yếu tố của cạnh tranh như giá cả hay thị trường Mục đích của các bên tham gia thỏa thuận

là làm giảm sức ép cạnh tranh hay chính là hạn chế cạnh tranh và thông qua

đó gây thiệt hại cho các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận, cho các doanh nghiệp tiềm năng, xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng và toàn xã hội Đối với khách hàng, lợi ích trực tiếp bị thiệt hại là không được hưởng các sản phẩm với chất lượng tốt hơn và mức giá cả phù

Ngày đăng: 24/11/2020, 10:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w