Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường tạo ra cho các doanh nghiệp áp lực giảm giá thành, cải tiến chất lượng và đa dạng hóa hàng hóa, dịch vụ mà mình cung cấp. Để giảm áp lực cạnh tranh và gia tăng lợi nhuận ngắn hạn, các doanh nghiệp có thể tìm cách kết hợp với nhau. Trong quá trình cạnh tranh các chủ thể cạnh tranh phải không ngừng khai thác ưu thế của mình, liên tục hoàn thiện và đổi mới để có thể có thể đảm bảo vị thế của mình trên thị trường. Trong những biến dạng tiêu cực của cạnh tranh thì hành vi hạn chế cạnh tranh được coi là đặc biệt nguy hiểm bởi nếu không được kiểm soát chặt chẽ thì sẽ dẫn đến thủ tiêu cạnh tranh, gây hại cho người tiêu dùng và đồng thời cả nền kinh tế. Với khuôn khổ của bài viết, em xin trình bày đề tài “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay”.
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
===============
TIỂU LUẬN MÔN PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH VÀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
ĐỀ BÀI SỐ 3
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo pháp luật
cạnh tranh Việt Nam hiện nay.
Họ và tên: Thạch Thị Liên Ngày sinh: 29/6/1991
Số CMT: 012840332 Khoa: Luật kinh tế Niên khóa: 2017-2019
Hà Nội, 04/2019
Trang 2A Đ T V N Đ ẶT VẤN ĐỀ ẤN ĐỀ Ề.
Thị trường ra đời gắn liền với nền sản xuất hàng hoá, nó là môi trường đểtiến hành các hoạt động giao dịch mang tính chất thương mại của mọi doanhnghiệp công nghiệp Trong một xã hội phát triển, thị trường không nhất thiết chỉ
là địa điểm cụ thể gặp gỡ trực tiếp giữa người mua và người bán mà doanhnghiệp và khách hàng có thể chỉ giao dịch, thoả thuận với nhau thông qua cácphương tiện thông tin viễn thông hiện đại Cùng với sự phát triển của sản xuấthàng hoá, khái niệm thị trường ngày càng trở nên phong phú và đa dạng Có thểhiểu một cách chung nhất, thị trường được hiểu là nơi gặp gỡ giữa cung và cầucủa một loại hàng hoá, dịch vụ hàng hoá hay cho một đối tác có giá trị Các sảnphẩm trên thị trường đều có thể thay thế cho nhau nên người tiêu dùng có thể lựachọn bất cứ một doanh nghiệp nào đang cung cấp sản phẩm mà mình cần Tuynhiên thực tế ta thấy hiếm có một thị trường nào mà các sản phẩm có thể thay thếhoàn toàn cho nhau Để tìm hiểu kỹ hơn về thị trường liên quan, tôi xin trình bày
đề tài: “Thị trường liên quan: Khái niệm, bản chất và cách xác định theo pháp
luật cạnh tranh Việt Nam”.
Trang 3B NỘI DUNG CHÍNH.
I Khái quát thị trường liên quan.
1 Khái niệm thị trường liên quan
Tầm quan trọng của việc xác định thị trường liên quan đã được thừa nhậnrộng rãi Việc xác định được thị trường liên quan làm cơ sở quan trọng để các cơquan thực thi luật kết luận một hành vi cụ thể là có vi phạm Luật Cạnh tranh haykhông Nói cách khác, xác định thị trường liên quan là công đoạn đầu tiên trongchuỗi tác nghiệp thực thi Luật Cạnh tranh liên quan đến các hành vi hạn chếcạnh tranh
Luật Cạnh tranh đã đưa ra khái niệm về thị trường liên quan như sau: Thịtrường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liênquan Trong đó:
- Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ
có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả
- Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có nhữnghàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự
và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận
Việc phân chia thị trường liên quan thành thị trường sản phẩm liên quan vàthị trường địa lý liên quan không có nghĩa là có hai thị trường riêng biệt Ngược
Trang 4lại, đây là hai khía cạnh của một thị trường liên quan: khía cạnh sản phẩm vàkhía cạnh địa lý.
Ví dụ: Thị trường nước giải khát có ga tại Việt Nam – Thị trường của sản
phẩm liên quan là các loại nước giải khát có ga có thể thay thế cho nhau trongmột khu vực địa lý liên quan là toàn bộ lãnh thổ Việt Nam
2 Ý nghĩa của việc xác định thị trường liên quan trong quá trình
xử lý vụ việc cạnh tranh
Việc xác định thị trường liên quan có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quátrình xử lý vụ việc cạnh tranh
Thứ nhất, xác định thị trường liên quan là công việc đầu tiên để xác định thị
phần của từng doanh nghiệp trong vụ việc cạnh tranh
Theo các quy định tại Khoản 2 Điều 9, Điều 11, Điều 18 và 19 của LuậtCạnh tranh, thị phần là cơ sở để xác định liệu các doanh nghiệp tham gia thỏathuận hạn chế cạnh tranh có bị cấm thực hiện thỏa thuận đó hay không; xác định
vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp/nhóm doanh nghiệp; xác địnhtrường hợp tập trung kinh tế bị cấm và trường hợp các doanh nghiệp tập trungkinh tế cần phải thông báo cho Cục Quản lý Cạnh tranh trước khi tiến hành
Thứ hai, xác định thị trường liên quan là cơ sở quan trong để xác định hai
doanh nghiệp có phải là đối thủ cạnh tranh của nhau hay không Các doanhnghiệp chỉ có thể là đối thủ cạnh tranh của nhau nếu những doanh nghiệp nàycùng hoạt động trên cùng một thị trường liên quan
Trang 5Thứ ba, xác định thị trường liên quan giúp cho việc xác định mức độ gây
hạn chế cạnh tranh do hành vi vi phạm các quy định của Luật Cạnh tranh gâyra
Việc xác định được thị trường liên quan là để có thể đánh giá được sứcmạnh thị trường của một doanh nghiệp, là để xem mức độ những sản phẩm vàdịch vụ thay thế lẫn nhau tạo sức ép cạnh tranh lên các nhà cung cấp những sảnphẩm và dịch vụ tương ứng
Ví dụ, nếu công ty A đang bị nghi ngờ là nhà cung cấp duy nhất hoa lanvàng, đang thực hiện sức mạnh thị trường và định giá độc quyền thì câu hỏi đầutiên phải được đặt ra là liệu sản phẩm thay thế của hoa lan vàng mà người tiêudùng có thể dễ dàng chuyển qua sử dụng là sản phẩm nào Nếu có, và sau đó nếu
A tăng giá bán, A sẽ mất khách hàng Việc người tiêu dùng có thể mua hoa lanxanh và hoa lan nâu (sản phẩm thay thế hoàn hảo từ những công ty khác) làmcho việc tăng giá hoa lan vàng sẽ thúc đẩy khách hàng chọn mua hoa lan xanh vàhoa lan nâu (rẻ hơn) Khi đó, nói A có “độc quyền” trong việc bán hoa lan vàng
là vô nghĩa theo khía cạnh kinh tế
Tương tự như vậy, giả sử A là nhà cung cấp duy nhất tất cả màu độc củahoa lan A vẫn sẽ không thể tăng giá bán mà không bị mất khách hàng nếu địalan – được cung cấp bởi các công ty khác, là sản phẩm thay thế hoàn hảo cho lanthường
Trang 6II B n ch t c a th tr ản chất của thị trường liên quan ất của thị trường liên quan ủa thị trường liên quan ị trường liên quan ường liên quan ng liên quan.
Thị trường liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thaythế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng va giá cả trong khu vực địa lý cụ thể
có các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vựcđịa lý lân cận
Bản chất của thị trường liên quan đó là sự phản ánh mức độ cạnh tranh củacác sản phẩm với nhau Luật cạnh tranh điều chỉnh chung các qua hệ cạnh tranh.Việc điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh, miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnhtranh phụ thuộc nhiều vào việc xác định thị trường cạnh tranh
III Cách xác đ nh th tr ị trường liên quan ị trường liên quan ường liên quan ng liên quan theo pháp lu t c nh tranh ật cạnh tranh ạnh tranh.
Luật cạnh tranh năm 2004 của nước ta quy định thị trường liên quan bao
gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Trong đó, “Thị
trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả; Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng
kể với các khu vực lân cận”.
Về cơ bản, cách thức nhận dạng thị trường liên quan của luật cạnh tranh ở
nước ta giống với các nước khác Kinh nghiệm thực thi pháp luật của các nước
đã cho thấy, việc điều tra và xác định thị trường liên quan là câu chuyện khôngđơn giản, có rất nhiều nội dung cần làm rõ
Trang 71 Xác định tính thay thế của sản phẩm.
Khả năng thay thế cho nhau phản ánh mức độ cạnh tranh giữa các sản phẩmkhác nhau Bởi lẽ, khi các sản phẩm có thể thay thế cho nhau, tức là chúng cùngđáp ứng cho một nhu cầu của thị trường Trong thị trường hiện đại, sự đa dạngcủa nhu cầu thị trường đã kéo theo sự phân hoá, dị biệt hoá các sản phẩm, cácdòng sản phẩm Thậm chí, các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm cũng
đã và đang cố gắng tạo ra cho sản phẩm của mình những sự khác biệt nhất định
so với sản phẩm của người khác Do đó, sẽ có nhiều khó khăn cho việc tìm kiếmkhả năng thay thế cho nhau giữa các sản phẩm Thông thường, Luật cạnh tranhcủa các nước không quy định thế nào là khả năng thay thế cho nhau của sản
phẩm mà chỉ đưa ra ba tiêu chí để xác định, đó là đặc tính, mục đích sử dụng và
giá cả của sản phẩm Kế thừa những kinh nghiệm đó, ở nước ta, Luật cạnh tranh
và các văn bản hướng dẫn thi hành đã đưa ra hai căn cứ để xác định khả năng
thay thế của sản phẩm là: tính chất của sản phẩm thể hiện thông qua tiêu chí về
đặc tính, mục đích sử dụng của sản phẩm; và phản ứng của người tiêu dùng khi
có sự thay đổi giá cả của các sản phẩm có liên quan.
– Tính chất của sản phẩm được thể hiện bằng việc phân tích các đặc tính lý
hoá và mục đích sử dụng Theo đó, các sản phẩm được coi là có thể thay thế cho
nhau về mục đích sử dụng, về đặc tính nếu như chúng có mục đích sử dụng, cónhiều tính chất vật lý, tính chất hoá học, tác động phụ đối với người sử dụnggiống nhau Có hai nội dung cần phải xem xét là:
Trang 8Mục đích sử dụng là những yếu tố cơ bản được nhìn nhận dưới con mắt của
người sử dụng Các sản phẩm, cho dù khác nhau nhưng nếu có chung một mụcđích sử dụng thì được người sử dụng coi là có thể thay thế cho nhau Do đó, khiphân tích dấu hiệu này, cơ quan có thẩm quyền cần phải nhìn nhận hiện tượngdưới góc độ của người sử dụng hàng hoá, dịch vụ, thay vì với vai trò của cơ quanquản lý nhà nước;
Xác định sự tương tự về đặc tính của sản phẩm đòi hỏi phải phân tích các
yếu tố trong cấu tạo vật chất của sản phẩm như các yếu tố lý hoá, các tác dụngphụ đối với người sử dụng… Bởi lẽ, các sản phẩm không tương đồng nhau vềnhững yếu tố trên thì không thể thay thế cho nhau, ví dụ các loại vitamin khôngthể thay thế cho nhau vì các thành phần dinh dưỡng, đặc tính vật lý, nguyên lýchuyển hoá khi sử dụng… của chúng không giống nhau Có thể nói, việc xácđịnh sự tương đồng về các yếu tố vật chất lý hoá của sản phẩm là khâu quantrọng hàng đầu trong việc điều tra thị trường liên quan, chỉ khi có kết luận về vấn
đề này, cơ quan điều tra mới có thể khoanh vùng các sản phẩm có khả năng nằmtrong một vùng thị trường và thực hiện các bước điều tra tiếp theo
– Xác định phản ứng của người tiêu dùng khi có sự thay đổi giá cả của sản
phẩm Việc xác định khả năng thay thế về tính chất của sản phẩm nhằm mục
đích tìm kiếm sự tương tự nhau giữa các sản phẩm khác nhau, từ đó khẳng địnhchúng đều đáp ứng cho cùng một nhu cầu sử dụng Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng
là phạm trù diễn tả thái độ của khách hàng (đại diện cho nhu cầu của thị trường)
Trang 9đối với sản phẩm Do đó, việc điều tra về khả năng có thể thay thế giữa các sảnphẩm cần phải được kiểm chứng từ phản ứng của thị trường thông qua thái độcủa khách hàng đối với các sản phẩm khi có sự thay đổi giá cả của chúng trên thịtrường Một khi khách hàng bày tỏ thái độ sẵn sàng thay đổi thói quen sử dụngmột sản phẩm nhất định nào đó bằng sản phẩm khác, có nghĩa là cả hai sản phẩmnói trên có khả năng thay thế cho nhau Thông thường, người ta bắt đầu cuộcđiều tra bằng một giả định rằng: sản phẩm đang bị điều tra sẽ tăng giá, nếu nhưkhách hàng thường xuyên phản ứng trước sự tăng giá đó bằng việc chuyển sangdùng sản phẩm khác có đặc tính và mục đích sử dụng tương tự, thì có thể kếtluận rằng hai sản phẩm trên có thể thay thế cho nhau, và ngược lại.
Kinh nghiệm của các nước cho thấy, khi điều tra về phản ứng của kháchhàng, có hai vấn đề mà pháp luật và người thực thi phải lưu ý đến:
Thứ nhất, sự thay đổi về giá cả chỉ là giả định, do đó, việc xác định mức
tăng lên của giá cả một cách chính xác quyết định hiệu quả của cuộc điều tra.Nếu như mức tăng không đáng kể thì sự phản ứng nhẹ nhàng của khách hàng sẽthu hẹp phạm vi của thị trường liên quan và ngược lại;
Thứ hai, không phải tất cả khách hàng đều sẵn sàng chuyển sang những mặt
hàng thay thế gần với sản phẩm bị điều tra khi có sự tăng giá, số lượng kháchhàng có ý định thay đổi có thể là đáng kể hoặc không
Trang 10Dó đó, việc cần giải quyết là xác định một tỷ lệ khách hàng nhất định sẽthay đổi nhu cầu sử dụng đủ để đại diện cho nhu cầu của thị trường, hòng kếtluận về tính thay thế của sản phẩm
Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định: “Hàng hoá, dịch vụ được coi là có
thể thay thế được cho nhau về giá cả nếu trên 50% của lượng ngẫu nhiên trong tổng số 1000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hoá, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hoá, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp giá của hàng hoá, dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong sáu tháng liên tiếp…”
Có thể thấy hướng giải quyết hai vấn đề đã nói trên mà các nhà làm luật
của Việt Nam đưa ra là, mức độ tăng giá thể hiện ở mức giá tăng lên quá 10%
(không khống chế tối đa) so với giá bán lẻ hiện tại6 và thời hạn tăng giá là sáu
tháng liên tiếp (không phải là tăng giá quá độ); đồng thời, số lượng khách hàng
có thể thay đổi nhu cầu tiêu dùng là trên 50% của 1000 số mẫu thống kê ngẫunhiên từ người tiêu dùng trên thị trường thực tế Trong khi đó, ở Hoa Kỳ vàCộng hoà Pháp thường khống chế mức tối đa và tối thiểu cho việc tăng giá giảđịnh, theo đó, mức giá tăng hợp lý có thể dao động từ 5% đến 10% và thời giantăng giá là một năm Lý lẽ mà các nhà làm luật của hai quốc gia trên đưa ra là:
Vị trí của doanh nghiệp trên thị trường được chứng minh bằng khả năngtăng giá để thu lợi nhuận tối đa, nếu như một doanh nghiệp tăng giá mà người
Trang 11tiêu dùng buộc phải chấp nhận vì không có sự lựa chọn nào khác, thì doanhnghiệp đó được coi là có vị trí độc quyền Ngược lại, nếu người tiêu dùng có thểchuyển sang sử dụng sản phẩm khác có đặc tính và mục đích sử dụng gần vớisản phẩm đã tăng giá, thì doanh nghiệp đã tăng giá không thể thu lợi nhuận tối
đa như mong muốn vì phải chịu sức ép của cạnh tranh từ sản phẩm đã đượckhách hàng thay thế nói trên;
Mức tăng giá giả định phải hợp lý, do đó, cần phải xác định mức tối đa vàtối thiểu bởi nếu mức tăng quá cao có thể kéo theo sự sụt giảm của nhu cầu hoặc
sự thay đổi quá lớn trong nhu cầu tiêu dùng, và điều đó sẽ là bất hợp lý vớidoanh nghiệp, ngược lại, nếu mức tăng quá thấp thì sự phản ứng yếu ớt củangười tiêu dùng không đủ làm căn cứ cho thấy sự thay đổi nhu cầu của thịtrường
Từ những so sánh trên, có lẽ chúng ta nên xem lại tỷ lệ ấn định mức tănggiá trên 10%, và cần phải có một ngưỡng tối đa nhất định nào đó
2 Xác định thị trường địa lý liên quan.
Việc xác định khu vực không gian liên quan được thực hiện dựa trên quanđiểm của người sử dụng về khả năng thay thế cho nhau của những sản phẩmđược sản xuất hoặc được mua bán tại những địa điểm khác nhau Nếu ngườiđang sử dụng sản phẩm được bán hoặc được sản xuất tại một địa điểm nhất địnhchuyển sang mua sản phẩm tương tự tại địa điểm khác để phản ứng lại việc tănggiá đáng kể trong một thời gian đủ dài, khi đó, hai địa điểm được xem xét nằm
Trang 12trong khu vực địa lý mà các sản phẩm có thể thay thế cho nhau, nói cách khác làchúng có cùng thị trường địa lý liên quan và ngược lại.
Theo khoản 1 Điều 3 của Luật cạnh tranh năm 2004 quy định, thị trường
địa lý liên quan là khu vực địa lý cụ thể có sự hiện diện của những sản phẩm có
khả năng thay thế cho nhau; có sự tồn tại của các điều kiện cạnh tranh tương tự trong khu vực đó; giữa khu vực đó với các khu vực lân cận tồn tại những sự khác biệt về điều kiện cạnh tranh Khu vực địa lý là những vùng thị trường được
đo bằng khoảng cách không gian, bao gồm các địa điểm mà tại đó những sảnphẩm có thể thay thế cho nhau được phân phối cho khách hàng, có thể là mộtquận, một thành phố, hoặc trong phạm vi cả nước… Trong ranh giới của khu vực
địa lý đó có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp tham gia phân phối sản phẩm
liên quan và khu vực địa lý lân cận đủ gần có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp khác để có thể tham gia phân phối sản phẩm liên quan trên khu vực địa
lý nói trên Các điều kiện cạnh tranh được xem xét để xác định bao gồm chi phí
vận chuyển, thời gian vận chuyển giữa các địa điểm trong cùng một khu vực thịtrường hoặc giữa vùng thị trường này với vùng thị trường khác; sự tồn tại củacác rào cản gia nhập vùng thị trường được xem xét
Như đã trình bày ở phần trên, xác định thị trường địa lý suy cho cùng làviệc đi tìm kiếm những căn cứ để đánh giá tâm lý của người tiêu dùng có sẵnsàng chuyển thói quen mua sản phẩm ở một địa điểm nào đó sang mua sản phẩmtương tự ở địa điểm khác hay không Do đó, ngoài việc phải xác định những địa