Trong quá trình thực hiện sáng kiến có vận dụng một số phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tích cực. Cải tiến kĩ năng nghe phân biệt so sánh các âm dễ mắc lỗi, học nâng cao kĩ năng nghe viết, nắm chắc luật chính tả để phân biệt được các âm đầu sx; rgid; ln; chtr,…. Vận dụng tối đa hình thức trò chơi nhằm gây hứng thú cho học sinh. Lồng ghép kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp một cách có chủ động cho học sinh trong các giờ Chính tả.
Trang 1CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện
Số
TT Họ và tên Ngày tháng năm sinh Nơi công tác Chức danh
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo
ra sáng kiến
1
Trường Tiểu học
Giáo viên
Đại học Tiểu học
100%
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: "Rèn kỹ năng viết đúng chính
tả cho học sinh lớp 3".
1 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: (không có)
2 Lĩnh vực áp dụng của sáng kiến:
Những giải pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh -GDTH
3 Thời gian áp dụng sáng kiến:
Sáng kiến này được áp dụng từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019
4 Mô tả bản chất của sáng kiến:
4.1 Tính mới của sáng kiến:
Trong quá trình thực hiện sáng kiến có vận dụng một số phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tích cực Cải tiến kĩ năng nghe - phân biệt - so sánh các âm dễ mắc lỗi, học nâng cao kĩ năng nghe - viết, nắm chắc luật chính tả để phân biệt được các âm đầu s/x; r/gi/d; l/n; ch/tr,…
Vận dụng tối đa hình thức trò chơi nhằm gây hứng thú cho học sinh
Lồng ghép kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp một cách có chủ động cho học sinh trong các giờ Chính tả
Áp dụng phương pháp dạy học tích cực để rèn cho học sinh đức tính tự luyện,
tự rèn Học sinh có thể viết, phân biệt được chính tả khi nói hoặc viết đúng theo từng hoàn cảnh Chính vì lẽ đó mà tôi không những dành nhiều công sức, tâm
huyết vào đề tài “Rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3” Qua đó sẽ
Trang 2giúp các em khắc sâu hơn những tri thức và kĩ năng học tốt các phân môn khác của Tiếng Việt và các môn học khác
Giáo viên, học sinh cùng khám phá kiến thức, nâng cao hiểu biết, kĩ năng giao tiếp thông qua hộp thư vui
Đây là những điểm mới mà sáng kiến nghiên cứu khi dạy học môn Chính tả cho học sinh lớp 3 Những điểm này chưa có trong sách giáo viên hay các loại sách báo khác, lần đầu tiên được bản thân áp dụng khi nghiên cứu sáng kiến
4 2 Tính thực tiễn:
Trên cơ sở khoa học của môn tâm lý học ta thấy trẻ em ở bậc tiểu học khái niệm chú ý chủ động còn thấp Các em chóng nhớ, chóng quên Nhận thức của trẻ còn mang đậm màu sắc cảm tính Nhưng ở tuổi này các em dễ xúc động, hiếu
kỳ, tò mò ham hiểu biết, đặc biệt là hay bắt chước Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong việc rèn luyện chữ viết cho học sinh Nhưng công việc này đòi hỏi sự kiên trì rèn luyện từng ngày, từng giờ Vì vậy để thực hiện tốt việc rèn chữ viết cho học sinh nhất là học sinh yếu thì cần phải tuân theo các nguyên tắc học đi đôi với hành
Thực tế trong giảng dạy học sinh trong những năm qua việc viết Chính tả đúng để đạt yêu cầu cao rất ít, thậm chí có em viết rất kém
Học sinh phân biệt thanh hỏi/thanh ngã còn lẫn lộn; các bài viết chính tả có các phụ âm cuối vần và phụ âm đầu vần học sinh còn nhiều lẫn lộn (ngh/ng; s/x;
r /d/gi…)
Rút kinh nghiệm sau mỗi giờ dạy phân môn Chính tả hằng năm để tích lũy cho bản thân Đồng thời tham khảo một số ý kiến của các giáo viên trong tổ Nghiên cứu kĩ từng loại bài Chính tả của học sinh thông qua kiểm tra, đánh giá phần thực hành ở từng giai đoạn
a Thuận lợi:
Hầu hết các em ngoan, ý thức đoàn kết tốt, có cùng độ tuổi nhận thức tương đối đồng đều Các em có sức khoẻ và thể lực tốt Tất cả các em chăm học biết nghe lời thầy cô giáo, ham muốn tham gia vào công việc rèn chữ viết Có sự chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu nhà trường, có sự giúp đỡ của đồng chí, đồng nghiệp, Uỷ ban nhân dân xã, Hội cha mẹ học sinh rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục Có sự chỉ đạo sáng suốt kịp thời của ngành giáo dục Giáo viên đứng lớp có tâm huyết, có lòng yêu nghề mến trẻ và say sưa với công việc
Trang 3b Khó khăn:
Đơn vị trường Tiểu học là vùng miền núi và đa số người dân làm nghề nông Tình hình thực tế học sinh lớp 3 vốn từ của các em còn hạn chế Các em chỉ hiểu nghĩa của các từ ngữ ở mức độ đơn giản trong khi
từ ngữ Tiếng Việt vô cùng phong phú Đa số gia đình các em cha mẹ còn lo đi làm để kiếm sống, chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của các em, mà còn phó mặc cho cô giáo chủ nhiệm và giáo viên bộ môn Dẫn đến tình trạng:
Một số em còn mải chơi chưa có ý thức để học tập, ý thức giữ vở sạch, viết chữ đẹp còn chưa cao Giữ gìn vở chưa cẩn thận còn bẩn còn bị rách
Một số em bị ngọng bẩm sinh, nói ngọng theo thói quen của địa phương, con dân tộc dẫn đến việc viết sai lỗi chính tả Chữ viết còn xấu còn ẩu
c Khảo sát chất lượng đầu năm:
* Số liệu điều tra phân loại học sinh đầu năm:
Ví dụ bài: Tiếng hò trên sông (SGK TV tập 1- Trang 87)
* Cụ thể mức độ các lỗi chính tả hay mắc phải như sau:
Tổng số
Học sinh
Kết quả môn chính tả (Số lỗi sai ) Lỗi về âm đầu và dấu thanh Lỗi về vần có âm cuối
7 - 8 lỗi 5 - 6 lỗi 3 - 4 lỗi 1 - 2 lỗi
32 em 1 em = 3,1% 8 em = 25% 16 em = 50% 7em = 21,9%
- Trong thực tế cho thấy học sinh còn mắc lỗi chính tả rất nhiều, có một số học sinh còn viết sai hơn 8 lỗi trong 1 bài chính tả
- Điều đó cho thấy kĩ năng viết của các em còn hạn chế làm ảnh hưởng tới kết quả học tập ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác
- Học sinh viết sai chính tả chủ yếu do các em chưa nắm vững âm vần, chưa phân biệt được cách phát âm của giáo viên, chưa hiểu rõ nghĩa của từ, chưa có ý thức tự học, tự rèn ở nhà, chưa chú ý khi viết chính tả, viết còn ẩu thả quên không đánh dấu thanh
- Học sinh viết sai chính tả do một số lỗi sau:
+ Lỗi do vô ý, chưa cẩn thận (như thiếu dấu phụ, thiếu dấu thanh…)
+ Lỗi về các vần khó (uênh, oang, oeo, uyên, uyêt…)
+ Lỗi do phát âm sai (ưu - iu, ươu - iêu, iu - iêu…)
+ Lỗi do không nắm được qui tắc chính tả (gh, ngh chỉ đứng trước i, e, ê Cách ghi âm đệm)
Trang 4+ Lỗi do không hiểu nghĩa của từ (để dành - tranh giành).
* Qua thống kê các loại lỗi, tôi thấy học sinh thường mắc phải các loại lỗi sau:
a Về âm đầu:
Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ l/n: nỗ lực, cơm lếp
+ g/gh: cái gế
+ ng/ngh: củ ngệ
+ c/k: cái céo
+ ch/tr: con chăn
+ s/x: nhà xàn, se đạp
+ r/d/ gi: quốc da, cá dô
Qua thực tế giảng dạy trong nhiều năm tôi nhận thấy lỗi về ch/tr; s/x; r/d/g; l/n là phổ biến hơn cả
b Lỗi về vần có âm cuối:
Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ at/ac: đồ đạt
+ ăt/ăc: mặt quần áo
+ iêt/iêc: xanh biết
+ uôn/uông: mong muống
+ uôt/uôc: trắng muốc
+ ươn/ương: con lương
4.3 Một số giải pháp khắc phục lỗi chính tả:
Đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh, phân tích được tình hình học sinh là nguồn thông tin quan trọng xác định mục tiêu bài học, trên cơ sở phân tích học sinh, đáp ứng nhu cầu học tập của các em
Trước tình hình học sinh viết còn sai nhiều lỗi chính tả, tôi đã áp dụng một
số biện pháp khắc phục như sau:
* Giải pháp 1: Luyện phát âm.
Muốn học sinh viết đúng chính tả, trước hết giáo viên phải chú ý luyện phát
âm cho mình và cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau Do đó có đọc đúng và ghi nhớ âm đúng thì khi giáo viên đọc học sinh sẽ
Trang 5tái hiện và viết đúng Giáo viên phải cố gắng phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng
* Giải pháp 2: Phân tích so sánh.
- Với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng,
so sánh với những tiếng dễ lẫn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ
Ví dụ: Khi viết tiếng “nặng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “lặng” giáo viên yêu cầu học sinh phát âm hai tiếng này
- Nặng / lặng
So sánh để thấy sự khác nhau, khi phát âm “nặng” phát âm đầu lưỡi cuối răng, miệng mở hẹp hơn so với "lặng" phát âm lưỡi hơi cong hơn một chút, miệng mở rộng hơn một chút
* Giải pháp 3: Giải nghĩa từ.
Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập đọc, Tập làm văn…nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả khi mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng
Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh… với những từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để giải nghĩa từ
Ví dụ: Từ "chung thuỷ" học sinh viết là "trung thuỷ", giáo viên phải giải nghĩa "trung" viết trong trường hợp là điểm giữa…, còn "chung" viết trong trường hợp có nghĩa là trước sau như một…Làm như vậy tôi thấy học sinh viết rất tốt, lỗi sai giảm hẳn
* Giải pháp 4: Ghi nhớ luật chính tả.
- Luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: Các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với âm i, e, ê
Ngoài ra giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như sau:
* Mẹo chính tả:
Trang 6+ Để phân biệt âm đầu s/x:
- Từ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên viết với s: sa mạc, sao sa, ánh sáng, sẩm tối, sấm chớp, sét, sóng thần, suối,
- Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s: sâu, sên, sam, sán, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, sư tử, si, sồi, sả, sứ, sắn, sung, sao, sim, su su, sầu đâu, sơn trà, sậy, sấu, sến, sam, sán, sầu riêng, so đũa…
- Từ chỉ đồ dùng nấu nướng: cái xanh, cái xoong, cái xiên nướng thịt
+ Để phân biệt âm đầu tr/ch:
- Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch: chuột, chó, chồn, chuồn chuồn, chào mào, châu chấu, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi… chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng…
- Từ chỉ người thân trong gia đình, họ hàng đều viết với ch: cha, chú, chồng, chị, cháu, chắt
- Từ chỉ vị trí trong không gian, thời gian, trình tự, viết với tr: trên, trước, sau, trước hết, trước tiên, trở lên trên, trở xuống, trong,
- Tên một số món ăn viết với ch: chả, cháo,
* Giải pháp 5: Làm các bài tập chính tả
Giáo viên có thể đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập tận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp các em rút ra các qui tắc chính tả để ghi nhớ
* Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết đúng chính tả.
* Bài tập lựa chọn:
+ Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:
- Bạn em đi chăn bắt được nhiều chấu (trâu, châu).
- Đôi … này đế rất (dày, giày)
Trang 7- Sau khi … con, chị ấy trông thật … (xinh, sinh)
- Bài viết của em còn … sài (sơ, xơ ).
* Bài tập phát hiện:
+ Tìm từ sai chính tả trong câu sau và sửa lại cho đúng
- Một người nạ mặt đi bên cạnh một người đeo mặt lạ
- Anh ta gửi nại lá đơn khiếu lại
- Cô bé nắc đầu cười lắc nẻ
- Đàn xếu đang sải cánh trên cao
- Bà ta hay sỉ vả, thích xỉ nhục người khác
- Quê hương là con dìu biếc
- Hồ về thu, nước chong vắt, mênh mông
* Bài tập điền khuyết: Điền vào chỗ trống âm đầu cho phù hợp:
- l hoặc n: lành …ặn; ao xao; .o ắng; nao …úng, anh lảnh
- s hoặc x: nhảy a, xa….ôi,….ung phong, Bầu trời ám ịt
- d, r hoặc gi: …ảng bài, ….ễ….ãi, đêm….ao thừa, ành mạch
- ch hay tr: buổi …iều; thuỷ …iều; ngược …iều; …iều đình
* Bài tập tìm từ: Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa
của từ, qua gợi ý từ đồng âm, từ trái nghĩa
+ Tìm các từ chứa chứa tiếng bắt đầu bằng “r, d” hoặc “gi” có nghĩa như sau:
- Máy thu thanh, thường dùng để nghe tin tức: …………
- Đơn vị đo thời gian nhỏ hơn đơn vị phút: ………
- Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh: ………
+ tìm các từ bắt đầu bằng "ch" hoặc "tr"có nghĩa như sau:
- Cùng nghĩa với siêng năng: ………
- Đồ chơi mà có cánh quạt của nó quay được nhờ gió:………
* Bài tập phân biệt:
Đặt câu để phân biệt từng cặp từ sau:
+ dao - giao + chanh - tranh + chai - trai
+ chái - trái + nắng - lắng + truyền - chuyền
+ no - lo + sôi - xôi
Trang 8* Bài tập giải câu đố:
Dáng nhìn không thấy chỉ nghe
Chỉ nghe xào xạc vo ve trên cành
Vừa ào ào giữa rừng xanh
Đã về bên cửa rung mành leng keng
Là gì? (gió) Mặt tròn, mặt lại đỏ gay
Ai nhìn cũng phải nhíu mày vì sao
Suốt ngày lơ lửng trên cao
Đêm về đi ngủ, chui vào nơi đâu?
Là gì? (Mặt trời) Tên nghe nặng trịch
Lòng dạ thẳng băng
Vành tai thợ mộc nằm ngang
Anh đi học vẽ sẵn sàng đi theo
Là cái gì? (Bút chì) Ngoài ra giáo viên phải kết hợp cho học sinh biết xây dựng cái đúng, loại
bỏ cái sai Bên cạnh việc cung cấp cho học sinh những qui tắc chính tả, hướng dẫn học sinh thực hành luyện tập nhằm hình thành các kĩ năng chính tả cần đưa
ra những trường hợp viết sai để hướng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa rồi từ
đó hướng học sinh đi đến cái đúng
*Giải pháp 6: Tổ chức dạy học.
Khi tổ chức các hoạt động thực hành luyện tập, giáo viên giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài tập có thể bằng lời hoặc mô tả, giáo viên lựa chọn hình thức luyện tập phù hợp đối tượng học sinh và phù hợp với nội dung của từng bài tập (làm việc độc lập hoặc theo nhóm) Trong quá trình học sinh làm bài giáo viên đến từng nhóm để kiểm tra giúp đỡ và trả lời những thắc mắc của học sinh;
tổ chức cho học sinh trình bày kết quả việc làm của học sinh bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm tạo hứng thú, phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập (như học nhóm, đôi bạn cùng tiến, trò chơi vòng quay kì diệu và các trò chơi khác trong dạy học, )
(Phụ lục ảnh 1-8 minh họa các em học sinh đang học giờ Chính tả dưới sự hỗ trợ của GV)
Trang 9Trong quá trình học sinh làm bài, giáo viên quan sát cá nhân học sinh, nhóm học sinh để đôn đốc hướng dẫn và biết được những bài làm sai để tổ chức cho học sinh nhận xét và sửa chữa Đối với dạng bài tập không chỉ có đáp án đúng duy nhất, giáo viên tổ chức cho học sinh luyện tập dưới hình thức trò chơi hoặc thảo luận nhóm thì hiệu quả và việc chữa bài tối ưu hơn cả Giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét góp ý bài của bạn, chỉ ra được lỗi để cùng chữa Trường hợp nếu học sinh không phát hiện ra lỗi, giáo viên gợi ý để học sinh nhận ra và chữa lỗi Khi đánh giá, ngoài việc nhận xét bài cho học sinh, giáo viên nên tổ chức cho học sinh tự đánh giá bài hoặc nhận xét, đánh giá cho bạn dựa vào đáp án đúng và hướng dẫn chấm của giáo viên Qua mỗi bài tập giáo viên tổng kết ý kiến và chốt lại nội dung kiến thức cần ghi nhớ và kỹ năng cần
rèn luyện Giáo viên nên tuyên dương, khen thưởng động viên kịp thời tạo hứng
thú cho các em say mê học tập
* Giải pháp 7: Tổ chức cho học sinh “Học mà vui - Vui mà học”, các phong trào thi đua.
* Đối với học sinh lớp tôi, việc viết bài chính tả là một việc làm căng thẳng đối với các em Học sinh phải tập trung, chú ý nhiều giác quan để viết liền mạch bài viết Để học sinh thấy thoải mái, thích thú, tiết học sôi nổi, đạt hiệu quả cao, trong các giờ học tôi luôn tổ chức các cuộc thi, các trò chơi giúp các em hứng thú học tập, qua đó các em ghi nhớ kiến thức một cách chủ động có hiệu quả
Ví Dụ: Dạy bài chính tả nghe – viết: Nhà Rông ở Tây Nguyên
+ Hướng dẫn viết tiếng khó: Nhà Rông, giỏ mây, truyền lại Sau khi cho học sinh đọc phân tích tiếng, từ nói trên tôi cho học sinh thi viết (nghe – viết) các tiếng, từ đó theo dãy Học sinh tự nhận xét bài của bạn
+ Bài tập 3: Điền vào chỗ trống ưi hay ươi:
Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát SGK trang 128, tự điền vần thích hợp để có từ đúng ứng với từ đã cho trong SGK (làm việc cá nhân) – chia sẻ theo nhóm Sau đó chữa bài
Giáo viên gọi 2 nhóm (mỗi nhóm 3 học sinh) đại diện lên chữa bài tập, học sinh dưới lớp chú ý quan sát bạn làm, nhận xét Cuối cùng tôi đưa ra 2 bảng phụ ghi bài tập để củng cố bài
* Để gây hứng thú thi đua rèn chữ sạch đẹp, tôi thường xuyên tổ chức các cuộc thi, cuộc triển lãm vở sạch chữ đẹp trong nội bộ lớp vào các tiết sinh hoạt tập thể, cuối tuần (lớp học 2 buổi/ ngày) Những bài viết đẹp, sạch sẽ được trình
Trang 10bày để các em học tập, những bài viết có tiến bộ cũng được giáo viên nêu tên và lớp tuyên dương khuyến khích
Qua việc tổ chức như vậy, giáo viên thấy được khả năng của từng em để có biện pháp rèn luyện phù hợp Còn học sinh thì phấn khởi, quyết tâm giữ vở sạch – viết chữ đẹp đạt ở mức cao nhất mình có thể
4.4 Khả năng áp dụng của giải pháp:
Với kinh nghiệm của bản thân, phạm vi ứng dụng của nó cho đơn vị trường Tiểu học xã đã đạt hiệu quả cao Tuỳ thuộc vào khả năng vận dụng sáng tạo của người trực tiếp giảng dạy, sự hưởng ứng nhiệt tình của
giáo viên và học sinh, việc “Rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3” đạt hiệu quả tốt hơn, chắc chắn sẽ có tác dụng rất tốt trong việc hỗ trợ kĩ
năng: Nghe, nói, đọc, viết của học sinh
Sáng kiến là những đề xuất về giải pháp rèn chữ viết cho học sinh Vấn đề sáng kiến quan tâm ở việc học tập, tổng hợp kinh nghiệm xoay quanh việc rèn chính tả và tập viết để hình thành thói quen viết đúng chính tả cho học sinh Vận dụng những lý luận vào thực tiễn đúc rút kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình dạy học hiện nay cũng như những năm tiếp theo
Sáng kiến đã được Hội đồng sáng kiến cấp trường đánh giá hiệu quả tính khả thi cao Vấn đề sáng kiến lựa chọn là rất cần thiết đối với nhà trường Đáp ứng được những đổi mới về đánh giá và nhận xét học sinh tiến bộ theo thông tư
22 hiện hành Sáng kiến giúp đồng nghiệp có thêm cái nhìn thực tế hơn về một hoạt động dạy học đang làm Trong quá trình thực hiện, tôi nhận thấy sáng kiến
có khả năng áp dụng không chỉ đối với trường Tiểu học nói riêng mà còn có thể vận dụng vào các trường trong huyện nới chung Góp phần hạn chế nào những thực trạng của chất lượng bộ môn hiện nay
4.5 Tính hiệu quả:
Trong quá trình giảng dạy, tôi đã áp dụng các biện pháp trên và nhận thấy học sinh chăm chỉ, chủ động tiếp thu kiến thức, có hứng thú trong các hoạt động hoạc tập có tiến bộ rõ rệt Học sinh hứng thú trong giờ học chính tả không còn
“sợ” học chính tả như trước đây (Số lỗi sai giảm hẳn) Tỉ lệ học sinh viết sai
chính tả giảm đáng kể, học sinh viết chữ đẹp hơn nhớ không phải suy nghĩ lâu
“tiếng hoặc từ đó viết như thế nào cho đúng” Những em trước kia sai 7, 8 lỗi thì nay còn 2, 3 lỗi những em viết sai 4, 5 lỗi thì nay chỉ còn 1, 2 lỗi và không sai lỗi nào…