1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ

23 350 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 39,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn người dân đều làm nôngnghiệp, càng về sau có những bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ liên kếtchặt chẽ với nhau, khiến cho nông thôn Vi

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ

2.1 Sản phẩm thủ công mỹ nghệ và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản.

Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như hiện nay đề cho thấy làng

xã Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất cũng như đời sống nhândân ở nông thôn Qua thử thách của những biến động thăng trầm, những lệ làngphép nước và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn được duy trì đến ngày nay

Làng xã Việt Nam phát triển từ rất lâu đời, nó thường gắn liền với nôngnghiệp và sản xuất nông thôn Theo kết quả nghiên cứu sử học, làng xã ViệtNam xuất hiện từ thời các vua Hùng dựng nước, những xóm làn định canh đãhình thành, dựa trên cơ sở những công xã nông thôn Mỗi công xã gốm một sốgia đình sống quây quần trong một khu vực địa giới nhất định Đồng thời là nơigắn bó các thành viên với nhau bằng khế ước sinh hoạt cộng đồng, tâm thức tínngưỡng,lễ hội, tập tục, luật lệ riêng nhằm liên kết với nhau trong quá trình sảnxuất và đời sống

Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn người dân đều làm nôngnghiệp, càng về sau có những bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ liên kếtchặt chẽ với nhau, khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một số tổ chức theonghề nghiệp, tạo thành các phường hội: phường gốm, phường đúc đồng,phường dệt vải…từ đó, các nghề được lan truyền và phát triển thành làng nghề.Bên cạnh những người chuyên làm nghề thì đa phần vừa sản xuất nông nghiệp,vừa làm nghề phụ Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hoá, các nghề mang tínhchuyên môn sâu hơn và thường chỉ giới hạn trong quy mô nhỏ dần dần táchkhỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công Những làng nghề pháttriển mạnh, số hộ, số lao động làm nghề truyền thống tăng nhanh và sống bằngnghề đó ngày càng nhiều

Trang 2

Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề thủ công truyền thống

và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hoá, văn minh dân tộc Quátrình phát triển của làng nghề là quá trình phát triển của tiểu thủ công nghiệp ởnông thôn Lúc đầu sự phát triển đó từ một vài gia đình rồi đến cả họ và lan ra

cả làng Trải qua một quá trình lâu dài của lịch sử, lúc thịnh, lúc suy, có nhữngnghề được gìn giữ, có những nghề bị mai một hoặc mất hẳn và có những nghềmới ra đời Trong đó có những nghề đạt tới trình độ công nghệ tinh xảo với kỹthuật điêu luyện và phân công lao động khá cao

Theo đó ta có thể đưa ra một số khái niệm sau:

Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn( làng) có một

hay một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanhđộc lập Thu nhập của các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sảnphẩm của toàn làng

Làng nghề truyền thống

Để làm rõ khái niệm về làng nghề truyền thống cần có những tiêu thức sau

- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở làng nghề đạt từ 50% trở lên

so với tổng số hộ và lao động của làng

- Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên 50%tổng giá trị xuất và thu nhập của làng trong năm

- Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hoá và bản sắcdân tộc Việt Nam

- Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định được truyền từ thế hệ này sangthế hệ khác

Từ những tiêu thức trên có thể định nghĩa về làng nghề truyền thống nhưsau: “Làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiều nghề thủcông truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh vàđem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm Những nghề thủ công

đó được truyền từ đời náy sang đời khác, thường là qua nhiều thê hệ Cùng vớithử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội,

Trang 3

một nghề cổ truyền tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp haybán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định vàsống chủ yếu bằng nghề đó Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thànhhàng hoá trên thị trường.”

Ngành nghề truyền thống là những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã

xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế của nước ta còn tồn tại cho đếnngày nay, bao gôm cả ngành nghề mà phương pháp sản xuất được cải tiến hoặc

sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản xuất nhưng vẫn tuân thủcông nghệ truyền thống

Như vậy từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu cụ thể về hàng thủ công mỹ nghệ

như sau: sản phẩm thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm mang tính truyền

thống và độc đáo của từng vùng, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hoá, vừa

là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí có thể trở thành di sản vănhoá của dân tộc, mang bản sắc văn hoá của vùng lãnh thổ hay quốc gia sản xuất

từ khi phát hiện ra các sản phẩm trống đồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ, thế

Trang 4

giới đã biết đến một nền văn hoá Việt Nam qua những sản phẩm phản ánh sinhđộng và sâu sắc nền văn hoá, tư tưởng và xã hội thời đại Hùng Vương Cho đếnnay, những sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đậm tính văn hoá như gốm BátTràng, hay bộ chén đĩa, tố sứ cao cấp có hình hoa văn Châu á, mang đâm nétvăn hoá Việt Nam như chim lạc, thần kim quy, hoa sen…đã được xuất khẩurộng rãi ra khắp thế giới, người ta đã có thể tìm hiểu phần nào văn hoá của ViệtNam Có thể nói đặc tính này là điềm thu hút mạnh mẽ đối với khách hàng nhất

là khách quốc tế, nó tạo nên một ưu thế tuyệt đối cho hàng thủ công mỹ nghệ vàđược coi như món quà lưu niệm đặc biệt trong mỗi chuyến du lịch của du kháchnước ngoài Khách du lịch khi đến thăm Việt Nam không thể không mang theo

về nước một món đồ thủ công mỹ nghệ , cho dù ở nước họ có thể sản xuất ranhưng sẽ không thể mang hồn bản sắc văn hoá của Việt Nam Sản phẩm thủcông mỹ nghệ không chỉ là hàng hoá đơn thuần mà trở thành sản phẩm văn hoá

có tính nghệ thuật cao và được coi là biểu tượng của nghề truyền thống của dântộc Việt Nam

2.1.2.2.Tính mỹ thuật

Sản phẩm mang tính mỹ thuật cao, mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ làmột tác phẩm nghệ thuật, vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ Nhiềuloịa sản phẩm vừa là phục vụ tiêu dùng , vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùanơi công sở…các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinhxảo với sự sáng tạo nghệ thuật Khác với các sản phẩm công nghiệp được sảnxuất hàng loạt bằng máy móc, hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị cao ở phươngdiện nghệ thuật sáng tạo thì chỉ được sản xuất bằng công nghệ mang tính thủcông, chủ yếu dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ Chính đặc điểm này

đã đem lại sự quý hiếm cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Nhờ đó, tai các hộichợ quốc tế như EXPO, hội chợ ở NEW YORK , Milan( ý) …hang thủ công

mỹ nghệ đã gây được sự chú ý của khách háng nước ngoài bởi sự tinh xảo trongcác đường nét hoa văn trạm trổ trên các sản phẩm , hay những kiể u dáng mẫu

mã độc đáo, mặc dù nguyên liệu rất đơn giản có khi chỉ là một hòn đá, xơ dừa…

Trang 5

qua bàn tay tài hoa của các nghệ nhân đã trở thành các tác phẩm nghệ thuật cógiá trị cao.

2.1.2.3 Tính đơn chiếc

Hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống đều mang tính cá biệt và có sắc tháiriêng của mỗi làng nghề Cùng là đồ gốm sứ, nhưng người ta vẫn có thể phânbiệt được đâu là gốm Bát Tràng, Thồ Hà, Hương Canh…nhờ các hoa văn, màumen, hoạ tiết trên đó Bên cạnh đó, tính đơn chiếc có được là do hàng thủ công

mỹ nghệ Việt Nam mang hồn của dân tộc Việt Nam , mang nét văn hoá và bảnsắc của dân tộc Việt Nam , chính vì vậy hàng của Trung Quốc hay Nhật bảncho dù có phong phú hay đa dạng đến đâu cũng không thể có được những nétđặc trưng đó,cho dù kiểu dáng có thể giống nhưng không thể mang “hồn” củadân tộc Việt Nam Cùng với đặc trưng về văn hoá, tính riêng biệt đã mang lại

ưu thế tuyệt đối cho hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong xuất khẩu Đốivới Việt Nam và cả khách hàng nước ngoài, nó không những có giá trị sử dụng

mà còn thúc đẩy quá trình giao lưu văn hoá giữa các dân tộc

2.1.2.4 Tính đa dạng

Tính đa dạng của sản phẩm thủ công mỹ nghệ thể hiện ở phương thức,nguyên liệu làm nên sản phẩm đó và chính nét văn hoá trong sản phẩm Nguyênliệu làm nên sản phẩm có thể là gạch, đất, cói , dây chuối, xơ dừa…mỗi loại sẽtạo nên một sản phẩm thủ công mỹ nghệ với những sắc thái khác nhau, chongười sử dụng có những cảm nhận khác nhau về sản phẩm Là một đôi dép đitrong nhà, nhưng dép làm bằng cói đã quá cũ đối với người tiêu dùng nên hiệnnay, các nghệ nhân sử dụng chất liệu dây chuối, tạo cảm giác rất mới lạ, vừa cómàu vàng ngà của chuối vừa có mầu mốc tự nhiên của thân chuối…Bên cạnh

đó, tính đa dạng còn được thể hiện qua những nét văn hoá trên sản phẩm thủcông mỹ nghệ bởi vì mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ đêù mang những nét vănhoá đặc trưng của từng vùng, từng thời đại sản xuất ra chúng Chính vì vậy trênthị trường có rất nhiều loại sản phẩm thủ công mỹ nghệ, mỗi loại đều có sự khác

Trang 6

biệt rõ rệt, không đồng nhất Cũng là đồ gốm sứ nhưng người ta vẫn có thể thấyđâu là gốm Việt Nam , gốm Nhật Bản , gốm Trung quốc…

2.2.2.4 Tính thủ công

Có thể cảm nhận ngay tính thủ công qua tên gọi của sản phẩm thủ công

mỹ nghệ Tính chất thủ công thể hiện ở công nghệ sản xuất, các sản phẩm đều là

sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo và sáng tạo nghệ thuật Chínhđặc tính này tạo nên sự khác biệt giữa sản phẩm thủ công mỹ nghệ và những sảnphẩm công nghiệp hiện đại được sản xuất hàng loạt và ngày nay,cho dù khôngsánh kịp tính ích dụng của các sản phẩm này nhưng sản phẩm thủ công mỹ nghệluôn gây được sự yêu thích của người tiêu dùng

2.2 Xuất khẩu thủ công mỹ nghệ và vai trò của xuất khẩu hàng thủ công

mỹ nghệ

2.2.1 Các hình thức xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

Sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác hàng hoá khác ở chỗ nó vừa có thể sửdụng vừa có thể là vật trang trí, làm đẹp cho nhà cửa, văn phòng hay cũng cóthể là đồ lưu niệm hấp dẫn trong mỗi chuyến du lịch của khách quốc tế Chính

vì vậy, hàng thủ công mỹ nghệ có thể được xuất khẩu ra nước ngoài theo cácphương thức sau:

2.2.1.1 Xét theo địa lý diễn ra giao dich xuất khẩu

- Xuất khẩu tại chỗ: khi khách du lịch đến từ nước ngoài vào Việt Nam vàmua hàng thủ công mỹ nghệ sản xuất tại Việt Nam hoặc các thương nhânnước ngoài vào Việt Nam tìm kiếm các nguồn hàng và đặt mua Với xuhướng phát triển của du lịch như hiện nay, hình thức xuất khẩu này sẽ gópphần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của ViệtNam hàng năm

- Xuất khẩu ra nước ngoài: là hình thức các doanh nghiệp bán hàng thủ công

mỹ nghệ cho các đối tác nước ngoài bằng cách mang hàng sang tận nơi băngcác phương tiện vận tải khác nhau và phải chịu sự ràng buộc của một số thủtục xuất khẩu nhất định

Trang 7

Sơ đồ 2: Kênh phân phối xuất khẩu

Trung gian trong nước

Trung gian Quốc tế

2.2.1.2 Xét theo kênh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

- Kênh 1: Đơn vị sản xuất TCMN => Đầu mối trong nước => Nhà phân phối

quốc tế => Khách hàng Đây là kênh tổ chức xuất khẩu phổ biến hiện tại đốivới các đơi vị sản xuất hàng TCMN Mô hình này sẽ xuất hiện 2 khâu trunggian trong nước và quốc tể đảm nhận 2 khâu gom hàng trong nước về mộtmối và tìm kiếm phân phối ở đầu bên kia 2 Nhà trung gian nàu sẽ đóng vaitrò 2 “thương lái” ở 2 khu vực địa lý, một bên am hiểu nội địa và thạo cácnghiệp vụ xuất khẩu, tạo tìm kiếm đối tác, một bên am hiểu khách hàng, địabàn và có hệ thống bán lẻ sẵn có Kênh 1 này làm cho nhà sản suất thủ công

mỹ nghệ chỉ chuyên vào khâu sản suất và giao phó toàn bộ các vấn đề cònlại cho chuỗi hệ thống Nó cũng là gia tăng hàng loạt chi phí lưu thông làmgiảm lợi nhuậ của nhà sản xuất và tăng tính phụ thuộc, bị động chiến lược

- Kênh 2: Nhà sản xuất => Trung gian quốc tế => Nhà phân phối quốc tế =>

Khách hàng Kênh này tương tự kênh 1, tuy nhiêm điểm khác biệt duy nhất

là đầu mối tiếp xúc với nhà sản xuất không phải là tổ chức trung gian trongnước, nó được thay bằng một đối tác ngoại đã am hiểm thị trường Việt Namhoặc đang tìm kiếm các mặt hàng kinh doanh Họ sẽ đóng vai trò xúc tácthúc đẩy các đơn vị sản xuất thủ công mỹ nghệ phát triển và cũng bao tiêuluôn mảng thị trường “bên kia” Trong nhiều trường hợp kênh 2 có thể được

Trang 8

coi như một hình thức quá độ để đơn vị sản xuất làm quen với các hoạt độngxuất khẩu vốn còn khá lạ lẫm với họ.

- Kênh 3: Đơn vị sản xuất => Văn phòng giới thiệu sản phẩm của đơn vị sản

xuất => Chuỗi bán lẻ quốc tế => Khách hàng hoặc Đơn vị sản xuất => Vănphòng giới thiệu sản phẩm của đơn vị sản xuất => Khách hàng Đây là hìnhthức kênh tương đối khó tổ chức với đơn vị sản xuất trong giai đoạn hiện tại

do yếu kém về nhân sự, quy mô vốn, am hiệu thị trường Theo kênh này, đơn

vị sản xuất sẽ chú trong xây dựng chuỗi nhận diện của mình, chuỗi này sẽđảm trách việc đưa hàng ra bên ngoài Hình thức đưa hàng có thể là thôngqua hệ thống bán lẻ quốc tế hoặc cũng có thể là các điểm bán trực tiếp của

họ tại các nước Mô hình này là mục tiêu cần hướng tới của đơn vị xuấtkhẩu, nếu thành công nó sẽ giúp đơn vị gia tăng lợi nhuận, tiết giảm chi phí,xây dựng được vị thế hình ảnh, tăng cường năng lực cạnh tranh và hoàn toànchủ động trong chiến lược sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu , xâm nhập thịtrường quốc tế gia tăng kim ngạch

- Kênh 4: Kênh hỗn hợp, ngoài 3 kênh chủ đạo trên còn có một số hình thức

pha trộn kết hợp giữa các hình thức trên thông qua sự đan xen của các thànhviên kênh, tùy thuộc vào từng thời điểm, diễn biến tình hình xuất khẩu vàcạnh tranh

2.2.2 Vai trò của xuất khẩu hàng TCMN

2.2.2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân

a) Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.

Việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta trong mấy năm gầnđây đã mang lại cho nước ta nguồn ngoại tệ lớn, đóng góp không nhỏ cho sựphát triển của nền kinh tế quốc dân Cụ thể trong năm 2003 Việt Nam đã xuấtkhẩu được gần 400 triệu USD, và tính đến tháng 4 năm nay, kim ngạch hàngthủ công mỹ nghệ đã đạt trên 100 triệu USD, tăng 10% so với năm ngoái Đây

là nguồn thu ngoại tệ to lớn thực thu về cho đất nước từ nguồn nguyên liệu rẻ

Trang 9

tiền có sẵn trong tự nhiên và từ lực lượng lao động nhàn rỗi ở các vùng nôngthôn nước ta.

Nhờ có nguồn vốn đó, các làng nghề truyền thống Việt Nam có điều kiệnđầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất kinhdoanh, đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề và kỹ thuật cao cho ngành thủ công

mỹ nghệ

b)Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng hiện đại hoá

Chuyển dịch cơ cấu nông thôn là nhằm phát triển kinh tế nông thôn lênmột bước về chất, làm thay đổi cơ cấu sản xuất , cơ cấu lao động, cơ cấu việclàm , cơ cấu giá trị sản lượng và cơ cấu thu nhập cua ra dân cư nông thôn bằngcác nguồn lợi thu được từ các lĩnh vực trong nông nghiệp và phi nông nghiệp

Với mục tiêu như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thônngày càng được thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nội bộ ngành công nghiệp và cảcác bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông thôn Việc phát triển cáclàng nghề truyền thống dẫ có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỉ trọngcông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp,chuyển từ lao động sản xuất nông nghiệp thu nhập thấp sang ngành nghề nôngnghiệp có thu nhập cao hơn Ngay từ đầu khi nghề thủ công xuất hiện thì kinh

tế nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh còn cócác ngành thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại phát triển

Mặt khác có thể thấy kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập vagiá trị sản lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp Do từng bước tiếpcận với nền kinh tế thị trường, năng lực thị trường được nâng lên người laođộng nhanh chóng chuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp, dặcbiệt là những sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước vàngoài nước Khi đó khu vực sản xuất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp , khu vực sảnxuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được tăng lên

Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ởnông thôn mở rộng địa bàn hoạt động thu hút nhiều lao động Khác với sản

Trang 10

xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi

sự cung cấp thường xuyên trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản phẩm

Do đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng vàphong phú , đem lại thu nhập cao cho người lao động

Như vậy, sự phát triển của làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt vớiquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp côngnghiệp hoá- hiện đại hoá Sự phát triển lan toả của làng nghề truyền thống đã

mở rộng quy mô và địa bàn sản xúât, thu hút rất nhiều lao động Cho đếnnay cơcấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60-80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20-40%cho nông nghiệp

c) Tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân.

Tác động của xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đến đời sống bao gồm rấtnhiều mặt Trước hết thông qua mặt sản xuất hàng xuất khẩu với nhiều côngđoạn khác nhau đã thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhậpkhông thấp tăng gía trị lao động tăng thu nhập quốc dân Bên cạnh đó, xuấtkhẩu thủ công mỹ nghệ còn tạo nguồn để nhập nguồn vật phẩm tiêu dùng thiếtyếu, phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một phong phú củanhân dân và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động

Trên phương diện xã hội đẩy mạnh xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đã kíchthích việc phát triển các làng nghề truyền thống Hiện nay trong các làng nghềtruyền thống bình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho 27lao động thường xuyên và 8 đến 10 lao động thời vụ, mỗi hộ chuyên nghề tạoviệc làm cho 4 đến 6 lao động thường xuyên và 2 đến 5 lao động thời vụ Đặcbiệt ở nghề dệt, thêu ren, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 đến 250 laođộng

Nhiều làng nghề không những thu hút lực lượng lao động lớn ở địaphương mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác Lànggốm bát tràng ngoài việc giải quyết việc làm cho gần 2430 lao động của xã, còn

Trang 11

giải quyết thêm việc làm cho khoảng 5500 đến 6000 lao động của các khu vựclân cận đến làm thuê

Mặt khác, sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã kéo theo sựphát triển và hình thành của nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quanxuất hiện, tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động Ngoài các hoạtđộng dịch vụ phục vụ sản xuất trực tiếp còn có các dịch vụ khác như dịch vụ tíndụng ngân hàng

Từ kinh nghiệm thực tiễn đã tính toán cho thấy cứ xuất khẩu 1 triệu USDhàng thủ công mỹ nghệ thì tạo được việc làm và thu nhập cho khoảng 3000 đến

4000 lao động chủ yếu là lao động tại các làng nghề nông thôn, trong đó có laođông nông nhàn tại chỗ và các vùng lân cận( trong khi đó chế biến hạt điều thì 1triệu USD kim ngạch xuất khẩu chỉ thu hút được 400 lao động)

Ngoài việc được coi là động lực gián tiếp giải quyết việc làm cho ngườilao động xuất khẩu thủ công mỹ nghệ còn góp phần tăng thu nhập và cải thiệnđời sống cho người lao động ở nông thôn ở nơi nào có ngành nghề phát triểnthì nơi đó thu nhập cao và mức sống cao hơn các vùng thuần nông Nếu so sánhvới mức thu nhập lao động nông nghiệp thì thu nhập của lao động ngành nghềcao hơn khoảng 2 đến 4 lần, đặc biệt là so với chi phí lao động và diện tích sửdụng đất thấp hơn nhiều so với sản xuất nông nghiệp Bình quân thu nhập của

1 lao động trong hộ chuyên ngành nghề phi nông nghiệp là 430000- 450000đồng / tháng, ở hộ kiêm nghề từ 190000- 240000 đồng/ tháng, trong khi đó ở hộlao động thuần nông chỉ có khoảng 70000-100000 đồng/ người/ tháng Cónhững làng nghề có thu nhập cao như làng gốm Bát Tràng : Mức bình quân thunhập của các hộ thấp cũng đạt từ 10-20 triệu/năm Thu nhập từ nghề gốm sứ BátTràng chiếm tới 86% tổng thu nhập của toàn xã Vì vậy thu nhập của các làngnghề truyền thống đã tạo ra sự thay đổi khá lớn trong cơ cấu thu nhập của hộ giađình và của địa phương

Sự phát triển ổn định của làng nghề tạo ra nguồn hàng ổn định đối với cácdoanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này từ đó tạo ra sự thuận lợi trong kinh

Ngày đăng: 24/10/2013, 06:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2: Kênh phân phối xuất khẩu Trung gian trong nước - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
Sơ đồ 2 Kênh phân phối xuất khẩu Trung gian trong nước (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w