1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý ở trẻ mầm non

106 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, có một số đề tài nghiên cứu về nhận thức của cha mẹ ở nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng phần lớn các đề tài này tập trung nghiên cứu về các vấn đề như nhận thức của cha mẹ về gi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

HÀ N ỘI - 2020

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng

Nếu có điều gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 26 tháng 8 năm 2020

Tác gi ả luận văn

Lê Hà An

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy (cô) trong Khoa Tâm lý – Giáo dục – Học viện Khoa học xã hội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn cao học

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Mai Lan, người đã tận tình dành nhiều thời gian quý báu để giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu và đóng góp những ý kiến quan trọng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn cao học này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn và người thân trong gia đình tôi,

những người đã ủng hộ tôi về mặt tinh thần và tạo mọi điều kiện giúp tôi có thể hoàn thành luận văn của mình

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã rất cố gắng nhưng luận văn của tôi vẫn còn nhiều thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự bổ sung, đóng góp ý kiến quý giá của các thầy (cô) giáo, các bạn đồng nghiệp và độc giả để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành c ảm ơn!

Hà N ội, ngày 20 tháng 08 năm 2020

H ọc viên

Lê Hà An

Trang 5

M ỤC LỤC

M Ở ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC CỦA CHA MẸ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRI ỂN TÂM LÝ Ở TRẺ MẦM NON 11

1.1 Nhận thức 11

1.2 Sự phát triển tâm lý ở trẻ mầm non 19

1.3 Nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý ở trẻ mầm non 36

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC C ỦA CHA MẸ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ Ở TRẺ MẦM NON 42

2.1 Tổ chức nghiên cứu 42

2.2 Phương pháp nghiên cứu 45

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN NHẬN THỨC CỦA CHA M Ẹ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ Ở TRẺ MẪU GIÁO LỚN 56

3.1 Đánh giá chung về thực trạng nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn 56

3.2 Sự khác biệt trong nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn 64

3.3 Mối tương quan giữa các mặt biểu hiện nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý ở trẻ mẫu giáo lớn 74

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý ở trẻ mẫu giáo lớn 75

K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 7

DANH M ỤC SƠ ĐỒ, BẢNG

Bảng 2.1: Một số đặc điểm của mẫu điều tra chính thức 44 Bảng 2.2: Nội dung bảng hỏi về nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý ở

trẻ mầm non 46 Bảng 3.1: Thực trạng các mặt biểu hiện nội dung nhận thức của cha mẹ về sự

phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn 56 Bảng 3.2: Thực trạng biểu hiện nhận thức của cha mẹ về những quy luật phát

triển tâm lý ở trẻ mẫu giáo lớn 57

Bảng 3.3: Thực trạng biểu hiện nhận thức của cha mẹ về đặc điểm phát triển trí

tuệ ở trẻ mẫu giáo lớn 58

Bảng 3.4: Thực trạng biểu hiện nhận thức của cha mẹ về đặc điểm phát triển

nhân cách ở trẻ mẫu giáo lớn 60 Bảng 3.5: Thực trạng biểu hiện nhận thức của cha mẹ về bước ngoặt 6 tuổi và

sự chuẩn bị tâm lý cho trẻ mẫu giáo vào lớp một 63 Bảng 3.6: Thực trạng so sánh sự khác biệt giữa các nhóm nhận thức với sự

khác biệt về tuổi 64 Bảng 3.7: Thực trạng so sánh sự khác biệt giữa các phương diện nhận thức với

sự khác biệt về tổng thu nhập/tháng 70 Bảng 3.11: So sánh về dành thời gian chăm sóc con của các bậc cha mẹ trên các

phương diện nhận thức 72 Bảng 3.12: Mối tương quan giữa các mặt biểu hiện nhận thức của cha mẹ về sự

phát triển tâm lý ở trẻ mẫu giáo 74

Bảng 3.13: Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của cha mẹ về sự phát triển

tâm lý ở trẻ mẫu giáo lớn 75

Trang 8

M Ở ĐẦU

1 Tính c ấp thiết của đề tài

Gia đình là trường học đầu tiên của trẻ, cha mẹ là những người thầy đầu tiên tốt nhất của con Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là một trong những nhân tố đóng vai trò quan trọng trong quá trình trưởng thành của trẻ Để có được một mối quan hệ tốt, tích cực, trước tiên, hơn ai hết, cha mẹ phải là người hiểu con mình nhất Nhưng phần đông cha mẹ chỉ quan tâm cách giáo dục, chăm sóc con mà chưa quan tâm thực sự đến đứa trẻ muốn gì, phát triển tâm lý như thế nào hay nói cách khác là hiểu con mình Trong giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ ở lứa tuổi mầm non thì nhận thức của cha mẹ thường theo cảm tính, không biết thế nào là đúng hay sai

Vậy làm như thế nào để có được sự chăm sóc toàn diện, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho những đứa con yêu Đây luôn là những băn khoăn thường trực của các bậc làm cha làm mẹ trong thời đại hiện nay

Chúng ta đang ở trong một giai đoạn mà sự bùng nổ của internet đã thay đổi cách suy nghĩ, nhận thức của các bậc cha mẹ về thế giới, về đất nước và cả về nuôi

dạy con cái Nhiều thế hệ trẻ con sẽ lớn lên cũng với chính nhận thức của các bậc sinh thành, dưỡng dục hôm nay Trong mười hoặc hai mươi năm tới, những chuyển biến của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với thời đại của robot và các thiết bị điện tử tích hợp vào cơ thể người sẽ thực sự thay đổi cách chúng ta tương tác với nhau Liệu chúng ta đã sẵn sàng, liệu các bậc làm cha làm mẹ đã sẵn sàng nâng cao nhận thức về sự phát triển tâm lý của trẻ, đặc biệt là trẻ ở giai đoạn tuổi mầm non?

Tác giả Lê Nguyên Phương từng viết lời đề tựa cuốn sách Dạy con trong hoang mang có câu đó là “chuyển hóa chính mình để giáo dục trẻ thơ” [14] Suy nghĩ và chiêm nghiệm nghiêm túc chúng ta sẽ thấy con trẻ là hình ảnh phản chiếu

của chính bố mẹ chúng và nhất cử nhất động của người làm cha làm mẹ đều tương quan mật thiết với thế giới xung quanh, trong đó có trẻ Vì vậy, nghiên cứu thực trạng nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý ở trẻ mầm non có ý nghĩa quan trọng giúp chúng ta đưa ra những định hướng và những kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao nhận thức cho cha mẹ, giúp cha mẹ thấu hiểu và chăm sóc con trẻ tốt hơn Không những thế việc trang bị nhận thức tốt về sự phát triển tâm lý ở trẻ mầm non

Trang 9

cũng giúp cho cha mẹ vượt qua những stress khi chăm sóc con cái, biến việc nuôi dạy con trở thành hành trình đồng hành làm bạn cùng con khôn lớn

Hiện nay, có một số đề tài nghiên cứu về nhận thức của cha mẹ ở nhiều khía

cạnh khác nhau, nhưng phần lớn các đề tài này tập trung nghiên cứu về các vấn đề như nhận thức của cha mẹ về giáo dục con cái hay giáo dục đạo đức trong gia đình và chỉ quan tâm đến đối tượng là các trẻ em ở lứa tuổi lớn Đề tài nghiên cứu nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý ở trẻ mầm non khá hiếm thấy và dường như chưa được quan tâm nhiều Vì vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Nhận thức của cha mẹ

về sự phát triển tâm lý ở trẻ mầm non” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên c ứu liên quan đến đề tài

2.1 Các công trình nghiên c ứu về sự phát triển tâm lý ở trẻ mầm non

Belcher HM, Watkins K, Johnson E, Ialongo N (2007), nghiên cứu về khởi đầu sớm: Các yếu tố liên quan đến kiến thức của cha mẹ về sự phát triển của trẻ, hành vi và căng thẳng trong nuôi dạy con cái trên NHSA, một tạp chí nghiên cứu để thực hành cho lĩnh vực can thiệp sớm (2007) Nghiên cứu này chỉ ra, thời thơ ấu là bước quan trọng nhất trong suốt cuộc đời Kiến thức của người mẹ là một trong

những nội dung quan trọng của sự phát triển của trẻ Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định nhận thức của cha mẹ Iran về khái niệm và tầm quan trọng của sự phát triển những năm đầu đời của trẻ Theo kết quả của nghiên cứu này, nhận thức của cha mẹ về sự phát triển đầu đời của trẻ bị ảnh hưởng bởi bốn yếu tố sau: sự chia sẻ thông tin từ người thân, sách báo và các tài liệu, công nghệ thông tin (truy cập internet) và truyền thông Trong số đó, sự chia sẻ từ người thân đã được công nhận

là có vai trò có ảnh hưởng nhất, sau đó là ảnh hưởng từ truyền thông và công nghệ thông tin Một nửa số người tham gia không coi sách như một nguồn kiến thức tốt

về sự phát triển của trẻ em bởi vì phần lớn họ không quá quan tâm đến việc đọc, đọc sách là tốn thời gian, có một vài cuốn sách về phát triển của trẻ với cách viết đơn giản bằng tiếng Farsi và tất cả các sách đã dịch không đáng tin cậy Về vai trò của truyền thông về sức khỏe, Alimahdi Et Al tiến hành một nghiên cứu vào năm

2015 tại tỉnh Khorasan Razavi của Iran Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy rằng những người ở tỉnh này xem chương trình sức khỏe của trẻ em là một trong những

mục quan trọng nhất cần được theo dõi trên các phương tiện truyền thông [27]

Trang 10

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết ( chủ biên) cuốn Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm

non – từ lọt lòng đến 6 tuổi đã trình bày chi tiết về sự phát triển tâm lý của trẻ em từ

lọt lòng đến 6 tuổi Trong cuốn sách này, những quy luật chung về sự phát triển của

trẻ em với những quy luật và đặc điểm của trẻ ở từng lứa tuổi ( lọt lòng – 15 tháng,

15 tháng – 36 tháng, 36 tháng – 72 tháng) được trình bày theo quan điểm của tâm lý khoa học: coi trẻ em là một thực thể tự nhiên đang phát triển Sự phát triển đó là quá trình đứa trẻ lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội trong nền văn hóa do loài người sáng tạo nên, bằng hoạt động của chính nó, quá trình đó thường xuyên được sự hướng dẫn của người lớn Cuốn sách cũng chú ý đến vai trò chủ đạo của giáo dục, đồng thời phân tích ý nghĩa có tính chất nguyên tắc về vai trò quyết định của hoạt động, đặc biệt là các dạng hoạt động chủ đạo trong từng giai đoạn phát triển.[20]

Như vậy có thể thấy tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã rất dày công biên soạn, tỉ

mỉ và chi tiết về sự phát triển tâm lý của trẻ từ lọt lòng đến 6 tuổi Ở mỗi một giai đoạn tuổi của trẻ, tác giả cũng chỉ ra rất rõ hoạt động chủ đạo của trẻ là gì, sự phát triển tâm lý ra sao để từ đó có những khuyến nghị phù hợp cho nhà giáo dục, các bậc cha mẹ, cho tất cả những ai quan tâm đến sự phát triển của trẻ thơ với mong

muốn giáo dục trẻ đạt tới mức phát triển tối ưu

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Trinh với đề tài Nghiên cứu những điều kiện tâm lý

của sự phát triển tính độc lập ở trẻ 5 – 6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề

(2004) đã xây dựng khái niệm tính độc lập trong trò chơi đóng vai theo chủ đề và các biểu hiện cơ bản của nó Nghiên cứu cũng xác định những điều kiện tâm lý của

sự phát triển tính độc lập cho trẻ 5 – 6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề và nghiên cứu sự phát triển tính độc lập của trẻ qua trò chơi.[19]

Tính độc lập là một trong những biểu hiện của sự phát triển ý chí và ý thức bản ngã ở trẻ 5 – 6 tuổi ( trẻ mẫu giáo lớn ) Đây cũng là nét tâm lý đặc trưng trong

sự phát triển tâm lý của trẻ ở giai đoạn cuối tuổi mẫu giáo Tuy nghiên cứu này chỉ nghiên cứu trên một khía cạnh là tính độc lập của trẻ được phát huy trong trò chơi đóng vai theo chủ đề, nhưng đây cũng là một trong những nghiên cứu về sự phát triển tâm lý ở trẻ mầm non đem lại những giá trị cho những người làm công tác giáo dục và cho các bậc cha mẹ quan tâm

Trang 11

Tác giả Trần Văn Tính với đề tài Tính sáng tạo trong trò chơi học tập của

tr ẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ( 2012) đã đưa ra khái niệm về tính sáng tạo trong trò chơi

của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi là một thuộc tính tâm lý của nhân cách được hình thành

và phát triển qua hoạt động tích cực của trẻ với thế giới xung quanh, đặc biệt là hoạt động vui chơi đóng vai theo chủ đề nhằm tạo ra cái mới, cái độc đáo thích hợp có ý nghĩa đối với sự phát triển cá nhân của trẻ, mang đặc trưng sáng tạo lứa tuổi Tính sáng tạo của trẻ mẫu giáo là một thành phần bậc cao của trí tuệ và có quan hệ với nhiều yếu tố trong nhân cách của trẻ Nghiên cứu cũng khẳng định trò chơi học tập

giữ vai trò đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi Trò chơi học tập vừa chứa đựng yếu tố vui chơi giúp trẻ thoải mái vừa giúp trẻ học tập Tác giả đề ra biện pháp nâng cao tính sáng tạo trong trò chơi học tập của trẻ chủ

yếu sự ngôn ngữ, hành vi và kết hợp ngôn ngữ, hành vi để phát triển tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.[17]

Tính sáng tạo là một trong những biểu hiện bậc cao trong sự phát triển tư duy của trẻ mẫu giáo lớn Nghiên cứu tính sáng tạo cũng là nghiên cứu một khía cạnh trong sự phát triển tâm lý của trẻ Tuy nghiên cứu trên chỉ nghiên cứu một phương

diện là tính sáng tạo nằm trong sự phát triển tâm lý nói chung của trẻ mầm non, nhưng nghiên cứu cũng chỉ ra : Sự sáng tạo của trẻ em thường bắt đầu từ sự tái tạo, bắt chước, mô phỏng… và thường không có tính chủ đích Sự sáng tạo của trẻ em phụ thuộc nhiều vào xúc cảm, vào tình huống và thường kém bền vững Lứa tuổi mầm non là lứa tuổi tràn ngập xúc cảm, phát triển trí tò mò, trí tưởng tượng bay bổng Suy luận lô gíc tuổi này chưa phát triển mạnh, vì vậy đây là giai đoạn tối ưu,

là “mảnh đất” mầu mỡ nhất để gieo hành vi sáng tạo Chính qua những trò chơi tích cực khám phá, trải nghiệm, giầu tính tương tác đó giúp trẻ học cách quan sát, phát hiện thế giới,… học cách trao đổi nhận xét, trải nghiệm những xúc cảm, rèn luyện tính kiên trì Trẻ càng được khuyến khích, tự do chơi với ý tưởng của mình càng có nhiều cơ may để phát triển tính sáng tạo

Như vậy, có thể thấy rằng những nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đã chỉ ra thời thơ ấu là bước phát triển quan trọng nhất trong suốt cuộc đời Ở lứa tuổi này trẻ phát triển mạnh mẽ về thể chất, cảm xúc, trí tuệ và là nền móng cho sự phát triển ở các giai đoạn tiếp theo

Trang 12

2.2 Nh ững nghiên cứu về nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý ở trẻ

m ầm non

Holland Suzanne Kate (2012), nghiên cứu nhận thức của cha mẹ về tầm quan

trọng của hoạt động chơi đối với trẻ 0-3 tuổi, khách thể là 255 cha mẹ tại New Zealand, có con từ 0-3 tuổi, tham gia vào cuộc khảo sát trực tuyến ẩn danh đối với trò chơi có cấu trúc (có tổ chức) và không có cấu trúc (chơi tự do) cho trẻ em dưới

ba tuổi Kết quả của nghiên cứu chỉ ra, phần lớn các bậc cha mẹ nhận thức chơi không có cấu trúc sẽ hỗ trợ cho sự phát triển sớm nhất và do đó, cần cung cấp cho trẻ em một lượng lớn thời gian hàng ngày để tham gia vào chơi tự do không có cấu trúc Nghiên cứu cũng xác định rằng, trong những hoạt động mà hàng tuần trẻ được tham gia thì chơi có cấu trúc (tổ chức) được cha mẹ đánh giá cao hơn; cha mẹ có độ

tuổi cao không coi trọng việc chơi có cấu trúc như bố mẹ trẻ; cha mẹ có trình độ học vấn đại học trở lên có nhận thức về chơi có cấu trúc tốt hơn những cha mẹ có trình độ học vấn thấp hơn; thời gian sử dụng thiết bị điện tử được cho là phù hợp hơn với đứa trẻ lớn tuổi hơn Sự sắp xếp thời gian của cha mẹ trong việc dành thời gian để tổ chức hoạt động chơi với trẻ có sự ảnh hưởng rất lớn tới mức độ hưởng ứng hoạt động chơi của trẻ Những kết quả này đưa ra vai trò của phụ huynh, giáo

dục mầm non, giáo dục cha mẹ tới sự phát triển và an sinh của trẻ [28]

Nghiên cứu “Ảnh hưởng của mối quan hệ cha-con đối với sự phát triển của trẻ sơ sinh” của Rempel, Lynn A Rempel, John K., Khuc Toan Nang,Vui Le Thi (2017), qua việc kiểm tra mức độ mà người cha có thể được dạy và khuyến khích phát triển các mối quan hệ tích cực với con cái của họ, đặc biệt là trong giai đoạn

trứng nước và ảnh hưởng của sự can thiệp của người cha đối với sự phát triển của trẻ sơ sinh Một can thiệp tập trung nhiều mặt đã được sử dụng để hỗ trợ người cha

ở Việt Nam tham gia trực tiếp và gián tiếp đáp ứng với con của họ và làm việc cùng

với người mẹ như là một phần của một nhóm làm cha mẹ Các cặp vợ chồng từ 13

xã ở một huyện nông thôn và ngoại thành được mời vào nhóm can thiệp Những người cha nhận được tư vấn nhóm và cá nhân trước và sau khi vợ của mình sinh Các cặp vợ chồng từ 12 xã tương đương trong một huyện không liền kề được tuyển vào nhóm đối chứng Các phụ huynh đã hoàn thành bảng câu hỏi tại buổi tuyển sinh trước và sau sinh 1, 4, và 9 tháng Các bậc cha mẹ được can thiệp thể hiện sự gia tăng kiến thức và thái độ về mối quan hệ cha mẹ-con Cả cha và mẹ đều báo cáo

Trang 13

rằng những người cha khi tham gia vào hoạt động phát triển tình cảm, chăm sóc và chơi đùa trong những tháng đầu đời của con, họ cảm thấy gắn bó hơn ngay từ khi

sinh ra Đánh giá phát triển 9 tháng cho thấy những đứa trẻ được can thiệp có sự phát triển tốt về nhận thức, ngôn ngữ và phát triển cá nhân/xã hội Nghiên cứu này chứng minh rằng người cha có thể được dạy để tương tác nhạy cảm hơn, có trách nhiệm và hiệu quả hơn với trẻ sơ sinh Sự tương tác gia tăng và sự gắn bó tình cảm của họ dường như đặt nền móng cho sự phát triển của trẻ sơ sinh [30]

Ở Việt Nam, chưa có nhiều những công trình nghiên cứu về nhận thức của

của cha mẹ đối với sự phát triển tâm lý của trẻ mầm non Có một số nghiên cứu nhận thức của giáo viên về các rối loạn hành vi của trẻ, có một số nghiên cứu nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm và trí tuệ xã hội của trẻ

Có một số nghiên cứu về nhận thức của giáo viên, có thể kể đến như: Nghiên cứu của Trần Văn Hô (2012) về “Nhận thức của giáo viên về rối loạn hành vi ở học sinh tiểu học tại một số trường trên địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội” [10], nghiên cứu của Nguyễn Linh Trang (2012) về “Nhận thức của giáo viên tiểu học về chiến lược quản lý hành vi đối với trẻ có dấu hiệu tăng động giảm chú ý trong một số trường tiểu học ở hà nội” [18], nghiên cứu của nhóm tác giả Cao Thị Xuân Thủy và Huỳnh Thị Hoàng Oanh (2017) về “Nhận thức của giáo viên về rối loạn hành vi ở học sinh tiểu học” [21]…

Nghiên cứu về nhận thức của cha mẹ có thể nhắc tới một số nghiên cứu như: Nguyễn Thị Ngọc Anh (2013) nghiên cứu “Nhận thức của cha mẹ về việc giáo dục

trẻ tự kỷ tại gia đình ở thành phố Hà Nội”, kết quả nghiên cứu cho thấy cha mẹ cho nhận thức tương đối tốt về các nội dung giáo dục trẻ tự kỷ tại gia đinh [1] Quách Nguyễn Thương Thương (2018) nghiên cứu về “Nhận thức và hành vi của cha mẹ

về giáo dục sớm cho trẻ từ 0 – 3 tuổi”, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm cho trẻ ở 0-3 tuổi có mối quan hệ tương quan

chặt chẽ, tỉ lệ thuận với nhau Có sự khác biệt giữa nhóm khách thể người cha và nhóm khách thể người mẹ về cả nhận thức và hành vi giáo dục sớm đối với trẻ 0-3 tuổi Nhận thức và hành vi của nhóm khách thể là người mẹ cao hơn nhóm khách thể người cha Đồng thời cũng khẳng định được vai trò của người mẹ trong giáo dục sớm cho trẻ 0-3 tuổi thực hiện được giáo dục sớm cho trẻ tốt hơn người cha [22] Bên cạnh đó, các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng lớn hơn các yếu tố khách quan đến

Trang 14

nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm cho trẻ 0-3 tuổi Nghiên cứu cũng chỉ ra hai yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới nhận thức và hành vi của cha mẹ đó là truyền thông và sự sắp xếp thời gian giữa gia đình và công việc của bản thân họ Như vậy, nghiên cứu này không chỉ nghiên cứu nhận thức đơn thuần mà còn nghiên cứu cả hành vi của cha mẹ để xem xét mối quan hệ giữa chúng, làm sáng tỏ và lý giải thêm hoạt động giáo dục sớm cho trẻ từ 0 – 3 tuổi Tuy nhiên nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến nhận thức và hành vi của cha mẹ trong giáo dục sớm cho trẻ từ 0 – 3 tuổi (giai đoạn ấu nhi), mà chưa khai thác, nghiên cứu đến nhận thức và hành vi

của cha mẹ về giáo dục sớm cho trẻ từ 3 – 6 tuổi – giai đoạn mà các nhà tâm lý học đánh giá là bước khởi đầu của sự hình thành nhân cách

Huỳnh Văn Sơn (2011) nghiên cứu “Thực trạng nhận thức của phụ huynh Thành phố Hồ Chí Minh về sự phát triển trí tuệ xã hội của trẻ từ 6 – 11 tuổi” Nghiên cứu cho thấy nhận thức của phụ huynh về sự phát triển trí tuệ xã hội (TTXH) của trẻ từ 6-11 tuổi đạt mức trung bình Các bậc phụ huynh đã hiểu được vai trò quan trọng của gia đình, thầy cô, bạn bè và những đối tượng khác

mà trẻ tiếp xúc đối với sự phát triển TTXH của trẻ Theo đánh giá của phụ huynh thì gia đình có ảnh hưởng nhiều nhất, sau đó là đến thầy cô, bạn bè rồi đến các đối tượng khác Tuy nhiên, phụ huynh chưa đánh giá đúng vai trò của bản thân đứa trẻ đối với sự phát triển TTXH của chúng khi cho rằng bản thân trẻ chỉ có ảnh hưởng vừa phải - ảnh hưởng ít hơn so với các đối tượng khác [15] Nghiên cứu trên cũng bàn về vấn đề nhận thức của cha mẹ, song lại quan tâm đến đối tượng trẻ ở lứa tuổi lớn (6 – 11 tuổi) và sự phát triển trí tuệ xã hội ở lứa tuổi đó Nhìn chung nghiên cứu nào về nhận thức của cha mẹ về trẻ cũng chỉ ra tầm quan trọng của việc nhận thức đúng, đủ và sâu sắc sẽ khiến hiệu quả giáo dục được nâng cao Tuy nhiên các nghiên cứu cũng chỉ ra thực trạng rằng các bậc phụ huynh mới chỉ nhận thức ở mức trung bình, chưa sâu sắc, và chưa đánh giá đúng vai trò của bản thân đứa trẻ

Nhìn chung, những nghiên cứu này đều tìm hiểu mức độ hiểu biết của giáo viên hoặc phụ huynh về một số phương diện có liên quan đến trẻ em Kết quả của

những nghiên cứu này đều chỉ ra mức độ nhận thức tương đối đầy đủ của giáo viên

và phụ huynh về một số vấn đề liên quan đến trẻ em Hầu như chưa có nghiên cứu nào trực tiếp đề cập đến nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý của trẻ mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo lớn nói chung

Trang 15

3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 M ục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý ở trẻ mầm non, đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp cha mẹ nâng cao nhận thức về sự phát triển tâm lý trẻ mầm non góp phần giúp cha mẹ chăm sóc

và giáo dục con tốt hơn

3.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu

- Xác định và hoàn thiện lý luận về nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý ở trẻ mầm non;

- Phân tích thực trạng nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý ở trẻ mầm non;

- Đề xuất một số kiến nghị nâng cao nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý của trẻ mầm non

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Biểu hiện và mức độ nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn

5 C ơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở một số nguyên tắc phương pháp luận trong tâm lý học sau:

- Nguyên tắc hoạt động – nhân cách: Nghiên cứu nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý của trẻ mầm non không tách rời các hoạt động - giao tiếp và các đặc điểm nhân cách của cha mẹ có con trong độ tuổi mầm non (mẫu giáo lớn)

Trang 16

- Nguyên tắc hệ thống: Nghiên cứu nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý của trẻ mầm non trong mối quan hệ, tác động qua lại với các yếu tố tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội của cha mẹ có con trong độ tuổi mầm non (mẫu giáo lớn)

- Nguyên tắc phát triển: Nghiên cứu nhìn nhận nhận thức của cha mẹ về sự

phát triển tâm lý của trẻ mầm non không phải là một hiện tượng tâm lý cố định, mà

là một hiện tượng tâm lý có thể thay đổi dưới sự tác động của các nhân tố cá nhân

và và nhân tố xã hội

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp phân tích số liệu bằng thống kê toán học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài đã xây dựng cơ sở lý luận về nhận thức của cha mẹ đối với sự phát triển tâm lý của trẻ mầm non; xác định các khái niệm công cụ (nhận thức, sự phát triển tâm lý của trẻ mầm non, nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý của trẻ

mầm non); xác định các phương diện nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý của trẻ mầm non (trẻ mẫu giáo lớn) và chỉ ra thực trạng một số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý của trẻ mầm non

Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm vào lý luận tâm lý học, tâm lý học giáo dục, tâm lý học phát triển một số vấn đề lý luận về nhận thức của cha mẹ đối với sự phát triển tâm lý của trẻ mầm non

Trang 17

phát triển trí tuệ ở trẻ mẫu giáo lớn, rồi đến đặc điểm phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo lớn và cuối cùng là những quy luật phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các biến nhân khẩu của cha mẹ và nội dung nhận thức của họ về sự phát triển tâm lý của

trẻ mẫu giáo lớn

Có nhiều yếu tố yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý ở trẻ mẫu giáo lớn nhưng chủ yếu là từ sự tự nhận thức của cha mẹ Bên cạnh

đó, cha mẹ cũng đánh giá có sự ảnh hưởng từ truyền hình, truyền thanh, báo chí

giấy, báo mạng, tạp chí khoa học Yếu tố được đánh giá có ảnh hưởng thấp nhất là

là trường mầm non, điều này cho thấy ở nghiên cứu này giữa nhà trường và gia đình vẫn chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa phụ huynh và nhà trường

Đề tài đã đưa ra một số kiến nghị giúp cha mẹ có con trong độ tuổi mầm non (tuổi mẫu giáo lớn) nâng cao nhận thức của họ về sự phát triển tâm lý của trẻ mầm non

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo bổ ích dành cho các bậc cha mẹ có con trong độ tuổi mầm non, là cơ sở để họ hiểu rõ hơn về sự phát triển tâm lú của con mình Đây cũng là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu

có quan tâm đến nhận thức của cha mẹ về sự phát triển tâm lý của trẻ mầm non (trẻ

mẫu giáo lớn)

7 K ết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Lý luận về nhận thức của cha mẹ đối với sự phát triển tâm lý ở trẻ

Trang 18

Chương 1

1.1 Nh ận thức

1.1.1 Khái ni ệm nhận thức

Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người, bên cạnh tình cảm, và hành vi Nhận thức là sự phản ánh chủ quan về thế giới khách quan trong đầu óc con người Trong quá trình hoạt động, con người phải nhận thức, phản ánh hiện thực xung quanh và cả hiện thực bản thân mình, trên cơ

sở đó, con người tỏ thái độ, tình cảm và hành động

Lý luận về nhận thức được hình thành vào khoảng thế kỷ 17 với các tư tưởng sơ khai của các nhà triết học như René Descartes, Immanuel Kant Đến nửa cuối thế kỷ 20 tâm lý học nhận thức hình thành và khái niệm nhận thức được sử dụng như một khái niệm chung để chỉ hầu hết các quá trình tâm lý bao gồm: tri giác, tư duy, động cơ…(dẫn lại theo Nguyễn Thị Ngọc Anh, 2013) [1] Thuật ngữ

“tâm lý học nhận thức” lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1967 bởi nhà tâm lý học

Mỹ Ulric Neisser trong cuốn sách “Tâm lý học nhận thức” Theo Neisser, nhận thức liên quan đến tất cả các quá trình chuyển đổi, giảm bớt, hoàn thiện, lưu trữ, phục hồi, và sử dụng các cảm giác kể cả trong trường hợp không có sự kích thích liên quan, như trong hình ảnh và ảo giác Một cách chung nhất nhận thức tham gia vào mọi hoạt động của con người, tất cả các hiện tượng tâm lý đều có thể coi là hiện tượng nhận thức (dẫn lại theo Trần Văn Hô, 2012) [10] Như vậy có thể hiểu nhận thức là những gì được nhận biết hoặc là tri thức có được thông qua kinh nghiệm cá nhân

Trước Neisser, Scheerer cũng đưa ra định nghĩa nhận thức là quá trình trung gian đại diện cho các sự kiện nội tâm và ngoại tâm: Nó là hình thức tổ chức các hiện tượng nằm giữa nguồn kích thích và sự điều chỉnh hành vi Festinger đã định nghĩa các thành tố nhận thức là sự nhận thức, điều mà cá nhân biết về bản thân, về hành vi và môi trường xung quanh (dẫn lại theo Trần Văn Hô, 2012) [10]

Theo quan điểm Triết học Mác - Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con

Trang 19

người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn Quá trình này diễn

ra ở các mức độ: Kinh nghiệm hàng ngày về sự vật, hiện tượng và người khác, mang tính tự phát, thường hỗn hợp với tình cảm, thành kiến, thiếu hệ thống; Khoa

học các khái niệm được kiến tạo một cách chặt chẽ có hệ thống với ý thức về phương pháp và những bước đi của tư duy để chứng nghiệm đúng sai Theo đó, nhận thức là sự phản ánh những thuộc tính của sự vật hiện tượng trong mối quan

hệ của chúng trong hiện thực khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người Sống trong điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội đòi hỏi con người phải nhận thức được những quy luật của tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân con người (dẫn theo vi.wikipedia.org, từ khóa “Nhận thức”, truy cập ngày 20/06/2020)

Tác giả Bùi Minh Hiền (2001) trong cuốn “Từ điển Giáo dục học” cho rằng:

“Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người” Như vậy, Nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả

của quá trình nhận thức đó (Nhận biết là mức độ thấp, hiểu biết là mức độ cao hơn, hiểu được các thuộc tính bản chất) [11]

Các nhà tâm lý học Mỹ coi nhận thức là một thuật ngữ khái quát hóa mọi dạng hiểu biết, bao gồm cảm giác, tri giác, sự nhận biết hình mẫu, ghi nhớ, suy nghĩ

và giải quyết vấn đề Nhận thức là một quá trình thể hiện qua các khái niệm, các

mệnh đề, các quy tắc, các điều nhớ lại Một số quá trình nhận thức về thế giới xung quanh thể hiện qua tâm trí như quá trình phân loại thông tin và lý giải các trải nghiệm, một số quá trình nhận thức khác hướng vào nội tâm như những gì xảy ra trong giấc mơ và những chuyện tưởng tượng Các quá trình nhận thức cho thấy ý nghĩa của các tín hiệu mã hóa của hệ thần kinh truyền tới từ mắt và từ các giác quan khác Những điều này có nghĩa nhận thức bao gồm cả hai giai đoạn nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính (dẫn theo Nguyễn Quang Uẩn, 2000) [23]

Trong quá trình nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức độ khác nhau từ cao đến thấp, từ đơn giản đến phức tạp Mức độ thấp là nhận thức cảm tính, đó là cảm giác, tri giác, trong đó con người biết được những cái bên ngoài của

sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động tới giác quan của con người; mức độ

Trang 20

cao hơn là nhận thức lý tính, còn gọi là quá trình tư duy, con người nắm được cái bản chất bên trong, những mối quan hệ có tính quy luật, bản chất của sự việc hiện tượng Các quá trình này bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau trong cùng một hoạt động nhận thức thống nhất của con người (dẫn theo Nguyễn Quang Uẩn, 2000) [23]

Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau, biểu hiện ở những mức độ khác nhau và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan Nhận thức bao gồm các quá trình cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng Quá trình này phản ánh và tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy của con người Như vậy, quá trình nhận thức được hiểu là quá trình tiếp cận, tiến gần đến chân lý nhưng không bao giờ ngừng ở một trình độ nào vì không bao giờ nắm hết được toàn bộ hiện thực Quá trình này diễn ra liên tục và không bao giờ ngừng

bởi hiện thực khách quan là vô cùng và luôn luôn phát triển (dẫn theo Nguyễn Quang Uẩn, 2000) [23]

Tác giả Nguyễn Khắc Viện (1995) trong cuốn “Từ điển tâm lý học” đã định nghĩa: “Nhận thức là một quá trình tiếp cận, tiến gần đến chân lý nhưng không bao

giờ nhận thức hết hiệu lực, phải thấy dần đến cái sai, tức không ăn khớp với hiện thực để đi hết bước này đến bước khác” [24]

Nguyễn Quang Uẩn (2000) định nghĩa: “Nhận thức là một quá trình tâm lý

Ở con người quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ảnh hiện thực khách quan Hoạt động này bao gồm nhiều quá trình khác nhau,

thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực khác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng…) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm ) Theo định nghĩa này, nhận thức không chỉ đơn thuần là hiện tượng mà còn là hoạt động thực tiễn của con người có

những mục đích nhất định, đồng thời tạo ra những sản phẩm mang tính thực tiễn về hình ảnh, hình tượng, khái niệm [23]…

Tác giả Vũ Dũng (2012) trong cuốn “Từ điển Thuật ngữ Tâm lý học” cho rằng: “Nhận thức là toàn bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hoá, được mã hoá, được lưu giữ và sử dụng Hiểu nhận thức là một

Trang 21

quy trình, nghĩa là nhờ có quy trình đó mà cảm xúc của con người không mất đi, nó được chuyển hoá vào đầu óc con người, được con người lưu giữ và mã hoá” [6]

Nhìn chung có nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về nhận thức Điểm chung của các khái niệm đó là đề cập đến mặt tích cực của con người, đề cập đến khả năng phản ánh những thuộc tính, những mối quan hệ bản chất của hiện thực khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của chủ thể Con người sống trong điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội, muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải nhận thức được quy luật tự nhiên và xã hội, để cải tạo nó đồng thời cũng chính

là cải tạo bản thân mình

Nhận thức phản ánh chủ quan về thế giới khách quan trong đầu óc con người, bao gồm các quá trình từ biết (nhận biết, ghi nhớ, nhắc lại) đến hiểu (có

thể áp dụng kiến thức vào giải quyết tình huống mới) Quá trình nhận thức vận động, phát triển liên tục không ngừng, mang bản chất xã hội - lịch sử Kết quả cuối cùng của quá trình nhận thức cho ta hiểu biết và giúp cho con người ngày càng tiếp cận hiện thực, tiếp cận chân lý Kiến thức là những hiểu biết của con người

về thế giới tự nhiên và xã hội, nhờ học tập trong nhà trường và từng trải trong thực

tế cuộc sống mà có Kiến thức của loài người là kết quả của quá trình nhận thức

Kiến thức phong phú, đa dạng vì nó phản ánh đúng sự vật hiện tượng và các quan

hệ có tính quy luật của hiện thực khách quan nhưng cũng chứa đựng những hiểu biết nông cạn không thật chính xác

Nhận thức của con người luôn có tính đối tượng; đối tượng phản ánh nhận thức của con người không chỉ là những thuộc tính của sự vật hiện tượng vốn có trong thế giới mà còn phản ánh những thuộc tính của sự vật hiện tượng do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động nhận thức của mình vào đối tượng bên trong và bên ngoài của con người, vào những vật cụ thể và những vật trừu tượng

Như vậy, theo chúng tôi nhận thức là quá trình thu nhận những tri thức chân

thật về thế giới khách quan trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, là quá trình tâm lý phản ánh sự vật hiện tượng xung quanh và bản thân con người, trên

c ơ sở đó con người bày tỏ thái độ, tình cảm và hành động của mình

Trang 22

1.1.2 B ản chất của nhận thức

Nhận thức là quá trình tâm lý, phản ánh bản thân hiện thực khách quan Ở

con người, quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động có chủ đích Đặc trưng nổi bật của hoạt động nhận thức

là phản ánh hiện thực khách quan Nó không chỉ phản ánh các thuộc tính bên ngoài mà còn phản ánh các thuộc tính bản chất bên trong, các mối quan hệ có tính quy luật; không chỉ phản ánh hiện thực xung quanh mà còn phản ánh cả cái đã qua

và cái sắp tới của hiện thực khách quan (Nguyễn Quang Uẩn, 2000) [23]

Hoạt động nhận thức là cơ sở của mọi hoạt động tâm lý con người Nhận thức là hoạt động của chủ thể nhằm khám phá thế giới xung quanh, kết quả của hoạt động này nhằm tìm ra chân lý hay sự thật về những thuộc tính và quy luật khách quan của sự vật hiện tượng cụ thể Nhận thức đúng làm cơ sở cho tình cảm,

ý chí, quan điểm, lập trường, tư tưởng và hành động đúng

Hoạt động nhận thức thể hiện những mức độ phản ánh khác nhau và mang

l ại sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan Ở con người, quá trình này

thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động

có chủ đích Đặc trưng nổi bật của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan Nó không chỉ phản ánh các thuộc tính bên ngoài mà còn phản ánh các thuộc tính bản chất bên trong, các mối quan hệ có tính quy luật, không chỉ phản ánh hiện thực xung quanh mà còn phản ánh cả cái đã qua và cái sắp tới của hiện thực khách quan Hoạt động nhận thức là cơ sở của mọi hoạt động tâm lý con người Nhận thức là hoạt động của chủ thể nhằm khám phá thế giới xung quanh, kết quả của hoạt động này nhằm tìm ra chân lý hay sự thật về những thuộc tính và quy luật khách quan của sự vật hiện tượng cụ thể Nhận thức đúng làm cơ sở cho tình cảm, ý chí, quan điểm, lập trường tư tưởng và hành động đúng Hoạt động nhận thức thể hiện những mức độ phản ánh khác nhau và mang lại sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (Nguyễn Quang Uẩn, 2000) [23]

Nhận thức mang bản chất xã hội, lịch sử Hoạt động nhận thức bao giờ cũng

phải dựa vào tri giác đã có, dựa vào kinh nghiệm của nhân loại tích lũy được, tức là dựa vào kết quả của hoạt động nhận thức mà xã hội loài người đã đạt được ở trình độ phát triển lịch sử lúc đó Nhận thức phải sử dụng vốn ngôn ngữ do các thế hệ trước

Trang 23

sáng tạo ra với tư cách là phương tiện biểu đạt, khái quát và gìn giữ kết quả hoạt động nhận thức của loài người Quá trình nhận thức thúc đẩy bởi nhu cầu xã hội, nghĩa là tư duy của con người được hướng vào giải quyết các vấn đề bức xúc do xã

hội đặt ra Nhận thức của con người mang tính chất lịch sử bởi bề rộng của sự khái quát và chiều sâu của sự phát triển ra bản chất của sự vật hiện tượng được quy định không chỉ do khả năng của cá nhân mà còn do kết quả của hoạt động nhận thức mà loại người đã đạt được dựa vào kho tàng tri thức có liên quan vào trí tuệ của nhân loại (Nguyễn Quang Uẩn, 2000) [23]

Như vậy, kiến thức của mỗi người được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhận thức tích cực của bản thân họ Nhận thức là sản phẩm của sự phát triển lịch sử - xã hội

Nhận thức lý tính: Nhận thức lý tính phản ánh những yếu tố thuộc bản chất, hướng đến cái chưa biết và cái mới của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà con người chưa biết Nhận thức lý tính bao gồm hai mức độ là tư duy và tưởng tượng Ở đó, tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những mối liên hệ, những mối quan hệ có quy luật cũng như những thuộc tính của sự vật và hiện tượng

mà trước đó con người chưa biết Còn tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái không có hoặc nói cách khác là chưa từng có trong kinh nghiệm, ký

ức của chúng ta thông qua việc xây dựng những cái mới dựa trên cơ sở những biểu tượng đã có từ trước (Nguyễn Quang Uẩn, 2000) [23]

Trang 24

Như vậy, hoạt động nhận thức giúp cho con người nhận biết được những thuộc tính ngoài và những thuộc tính bên trong của sự việc, hiện tượng Nói cách khác, hoạt động nhận thức giúp con người hiểu biết về các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan

Theo tiếp cận giáo dục học, nhận thức được chia ra làm nhiều cấp độ khác nhau Theo bản phân loại mức độ nhận thức của Benjamin Bloom- nhà tâm lý học giáo dục người Mỹ (1956) và bản chỉnh sửa của Anderson và Krathwohl, một người là học trò và một người là cộng sự của Bloom, năm 2001 có tất cả 6 cấp độ

đi từ thấp lên cao:

Mức 1: Kiến thức (ghi nhớ kiến thức): khả năng có thể nhận ra, lấy lại từ trong trí nhớ, gọi tên lại những kiến thức đã từng được học

Mức 2: Lĩnh hội (hiểu ý nghĩa): khả năng hiểu được ý nghĩa, diễn giải, phân loại, tóm tắt, so sánh, giải thích, kết luận, chứng minh được vấn đề

Mức 3: Vận dụng (áp dụng, thực hành): khả năng tiến hành áp dụng những kiến thức học được vào các tình huống mới như làm mẫu, thuyết trình, phỏng vấn, bắt chước

Mức 4: Phân tích (diễn giải): Khả năng chia nhỏ thành các thành tố để tái cấu trúc lại kiến thức, các thành tố này liên hệ với nhau như thế nào và liên hệ với tổng thể như thế nào Làm thế nào để phân biệt giữa các thành tố với nhau Khi phân tích, chủ thể có thể minh hoa bằng bảng biểu, đồ họa, bảng điều tra

Bắt đầu từ mức 5, có sự khác biệt giữa thang của Bloom và thang của Anderson và Krathwohl Theo Bloom, mức 5 là Tổng hợp: khả năng tổng hợp vấn

đề, tức đưa các thành tố quy về một thể thống nhất và rõ ràng, như cấu trúc, sắp xếp, kết hợp, điều chỉnh các bộ phận trong tổng thể [3]

Còn theo Anderson và Krathwohl, mức 5 là Đánh giá: khả năng đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn để đưa ra nhận xét, kiến nghị, báo cáo

Mức 6 theo thang Bloom mới là mức Đánh giá, tức khả năng kiểm tra, nhận định, phê bình, cân nhắc những kiến thức đã học

Còn Anderson và Krathwohl lại cho rằng mức 6 là Sáng tạo: đặt các thành tố thành một tổng thể hoàn chỉnh, tái cấu trúc những thành tố theo mô

Trang 25

hình mới, tạo ra hình thái mới cho sự vật Đây là quá trình tư duy khó nhất trong

mô hình nhận thức mới [2]

Sơ đồ 1.1 Các mức độ nhận thức theo phân loại của Bloom và Anderson và

Krathwohl

Năm 1956 Năm 2001 Những ưu điểm của hệ phân loại này đã giúp khá nhiều nhà nghiên cứu tìm thấy thang đánh giá nhận thức dễ sử dụng, cho phép họ tìm ra các phương pháp tác động vào chủ thể nghiên cứu một cách hiệu quả

Theo Robert M Gagne, cũng là một nhà tâm lý giáo dục của Mỹ, ông đưa ra 8 mức độ nhận thức, đi từ thấp lên cao (dẫn lại theo Nguyễn Hương Mai, 2017) [12]:

Mức 1: Học qua tín hiệu: làm thế nào để phản ứng lại với tín hiệu giống như thí nghiệm điều kiện hóa cổ điển của Pavlov

Mức 2: Phản ứng - Kích thích: học cách phản ứng chính xác với những kích thích/ tín hiệu chính xác Nó khác với học qua tín hiệu ở chỗ học tập qua tín hiệu dẫn đến những phản ứng không tự chủ, trong khi phản ứng kích thích ở mức 2 là phản ứng có kiểm soát, có tự chủ hay còn gọi là điều kiện hóa thao tác

Mức 3: Hình thành chuỗi: hình thành một chuỗi bao gồm nhiều cặp kích thích và phản ứng đã được học từ trước Đây là quá trình hình thành nên những kĩ năng tâm vận động phức tạp như đạp xe, chơi đàn

Đánh giá

Sáng

tạo Tổng

hợp

Đánh giá

Trang 26

Mức 4: Liên kết với ngôn ngữ: Các chuỗi là những liên kết được hình thành bằng ngôn ngữ, đây là quá trình tiên quyết để phát triển kĩ năng ngôn ngữ

Mức 5: Phân biệt: Biết cách phân biệt giữa các kích thích tương tự nhau, từ

đó có các phản ứng khác nhau với các kích thích tương tự đó

Mức 6: Khái niệm hóa: Khả năng đưa ra những phản ứng thống nhất với những kích thích khác nhau nhưng cùng trong nhóm chung Đây là khả năng khái quát hóa, phân loại

Mức 7: Học nguyên tắc: Đây là quá trình nhận thức cấp cao, là khả năng hiểu được mối quan hệ giữa các khái niệm và áp dụng mối tương quan này trong các tình huống khác nhau, bao gồm cả tình huống mới, giúp hình thành nên nguyên tắc, quy trình

Mức 8: Giải quyết vấn đề: Mức nhận thức cao nhất đòi hỏi khả năng phải tìm ra quy luật phức tạp để giải quyết vấn đề nào đó, và sau đó sử dụng phương pháp đó để giải quyết các vấn đề tương tự

Trên cơ sở tìm hiểu nhiều cách tiếp cận về các mức độ của nhận thức Trong nghiên cứu này, tôi giới hạn chỉ khảo sát mức độ hiểu của cha mẹ về sự phát triển tâm lý của trẻ mầm non

1.2 S ự phát triển tâm lý ở trẻ mầm non

1.2.1 Khái ni ệm trẻ mầm non

Những nghiên cứu của tâm lý học duy vật biện chứng đã khẳng định: Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại Trẻ em là trẻ em, nó vận động và phát triển theo quy luật của trẻ em Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, đứa trẻ đã là một con

người, một thành viên của xã hội (dẫn lại theo Lê Văn Hồng và cộng sự, 2008) [9]

Tâm lý học phát triển nghiên cứu sự phát triển tâm lý của cá nhân qua các giai đoạn lứa tuổi Con người được chia thành các giai đoạn tuổi dựa trên nhiều yếu

tố tác động, điều kiện chi phối sự phát triển của cá nhân Trong đó giai đoạn từ 0 – 6 tuổi được gọi là lứa tuổi mầm non Trẻ em trong lứa tuổi mầm non lại được tiếp tục chia nhỏ thành 4 giai đoạn: Giai đoạn tuổi sơ sinh từ 0 – 2 tháng; Giai đoạn tuổi hài nhi từ 2 – 12 tháng; Giai đoạn tuổi vườn trẻ từ 1 – 3 tuổi; Giai đoạn tuổi mẫu giáo

từ 3 – 6 tuổi (dẫn theo Vũ Thị Nho, 2000) [13]

Trang 27

Điều lệ Trường Mầm non quy định nhiệm vụ và quyền hạn của các trường mầm non, trường mẫu giáo, nhóm trẻ, nhà trẻ, lớp mẫu giáo độc lập được tổ chức

thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục “trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu

tuổi” theo chương trình Giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành (Ban hành kèm theo Quyết định số: 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng

4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) [4]

Như vậy, từ những khái niệm và quy định ở trên, trẻ mầm non được hiểu là trẻ em trong độ tuổi từ ba tháng đến sáu tuổi, trẻ có có sự vận động và phát triển theo nh ững quy luật nhất định

*Tr ẻ mầm non trong giai đoạn từ 2 – 12 tháng

Trẻ mầm non trong giai đoạn này còn được gọi là tuổi hài nhi Là một sinh

vật còn bất lực, cuộc sống của trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào người lớn Người lớn cho ăn no, mặc ấm, người lớn tạo ra những ấn tượng ban đầu v.v Do đó giao tiếp với người lớn là nhu cầu đầu tiên, bức thiết của trẻ em tuổi này mà thiếu nó đứa trẻ không tồn tại và phát triển được Đó cũng là hoạt động chủ đạo tạo ra những cấu tạo tâm lý mới ở đứa trẻ trong năm đầu tiên (dẫn theo Dương Diệu Hoa và cộng sự, 2015) [8]

*Tr ẻ mầm non giai đoạn tuổi vườn trẻ từ 1 – 3 tuổi

Trẻ mầm non trong giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn vườn trẻ Ở lứa tuổi vườn trẻ, sự phát triển hành động với đối tượng là một thành tựu nổi bật của trẻ Song song với đó, tuổi vườn trẻ là thời kỳ nhạy cảm với ngôn ngữ, là thời kỳ mà ngôn ngữ được trẻ lĩnh hội đặc biệt có hiệu quả (dẫn theo Dương Diệu Hoa và

cộng sự, 2015) [8]

*Tr ẻ mầm non giai đoạn tuổi mẫu giáo từ 3 – 6 tuổi

Từ 3 tuổi trở đi, đa số trẻ em đi học tại các trường mầm non và chính thức được gọi là trẻ mẫu giáo Việc gia nhập vào một môi trường mới với những mối quan hệ xã hội mới, được tham gia nhiều dạng hoạt động mới đã làm xuất hiện ở trẻ những đặc điểm tâm lý mới so với giai đoạn tuổi trước đó Trẻ mẫu giáo là những trẻ em trong độ tuổi từ 3 đến 6 tuổi, có những đặc điểm tâm lý riêng do hoạt động vui chơi (với tư cách là hoạt động chủ đạo) và một số dạng hoạt động khác mang lại; được chia thành 3 giai đoạn tuổi nhỏ hơn là mẫu giáo bé (3 - 4 tuổi),

Trang 28

mẫu giáo nhỡ (4 - 5 tuổi) và mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) Dạng hoạt động chủ đạo mà trẻ tiến hành trong giai đoạn tuổi này là vui chơi, song ở mỗi độ tuổi (3, 4, 5 tuổi), hoạt động vui chơi lại có những đặc điểm riêng Hoạt động này mang đến những chuyển biến về chất trong đời sống tâm lý của trẻ, từ nhận thức (tri giác, chú ý, tư duy, trí nhớ, tưởng tượng), ngôn ngữ đến đời sống tình cảm, nhân cách…Bên cạnh hoạt động vui chơi, trẻ còn thực hiện một số dạng hoạt động khác, mang tính sáng tạo, như vẽ, ghép hình, nặn, thiết kế… nhưng đều với tính chất “học mà chơi,

chơi mà học” (dẫn theo Dương Diệu Hoa và cộng sự, 2015) [8]

1.2.2 Đặc điểm sinh lý ở trẻ mầm non

* Tr ẻ mầm non giai đoạn 2 – 12 tháng

Trẻ ở tuổi hài nhi có tốc độ tăng trưởng thể chất rất nhanh Trong vòng 6 tháng trẻ sẽ nặng gấp đôi khi sinh, và đến khi 12 tháng, trẻ sẽ có nặng gấp 3 lần khi sinh Trung bình, trẻ có số cân từ 8 – 12 cân, và chiều dài tăng gấp rưỡi so với sơ sinh Trẻ bắt đầu biết bò, tập đứng, mon men tập đi để khám phá thế giới xung quanh Đây là giai đoạn khởi đầu quan trọng trong việc phát triển tri giác, tình cảm, cảm xúc của trẻ thông qua việc giao tiếp với người lớn, người chăm sóc trẻ (dẫn

theo Dương Diệu Hoa và cộng sự, 2015) [8]

* Tr ẻ mầm non giai đoạn tuổi vườn trẻ từ 1 - 3 tuổi

Khi trẻ em 3 tuổi, não của nó cân nặng 1.200 gram, gần bằng não người lớn (1300 - 1400 gram), quá trình myêlin hóa phát triển mạnh Tư thế đứng thẳng người

và những bước đi ban đầu từ cuối năm thứ nhất bây giờ đã vững chãi hơn Trẻ không chỉ đi được mà còn chạy nhảy trong một không gian ngày càng mở rộng Khả năng di chuyển là thành tựu về mặt thể chất có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển tâm lý, dẫn tới khả năng giao tiếp với thế giới bên ngoài rộng rãi hơn, độc lập hơn,

tự chủ hơn Trẻ 3 tuổi đã bắt đầu có khả năng tự phục vụ và tham gia vào các mối quan hệ qua lại với những người lớn xung quanh Ở lứa tuổi này, quan hệ giữa trẻ

em với thế giới đồ vật chiếm vị trí then chốt, tạo ra những cấu tạo tâm lý mới về chất so với giai đoạn trước Hoạt động và hành động với thế giới đồ vật là hoạt động chủ đạo của trẻ ở giai đoạn này (dẫn theo Dương Diệu Hoa và cộng sự, 2015) [8]

Trang 29

*Tr ẻ mầm non giai đoạn tuổi mẫu giáo từ 3 – 6 tuổi

Từ 3 tuổi đến 6 tuổi tốc độ tăng trưởng thể chất của trẻ chậm lại so với giai đoạn ấu nhi Mỗi năm trẻ chỉ tăng trung bình khoảng 3kg thể trọng và 5 – 7 cm chiều cao Sự trưởng thành cơ thể và hệ thần kinh diễn ra với tốc độ chậm hơn so với thời kỳ trước và có xu hướng hoàn thiện cấu tạo và chức năng Sự phát triển thể chất và thần kinh của trẻ trong giai đoạn 3 – 6 tuổi phụ thuộc vào nhiều chế độ dinh dưỡng và chất lượng chăm sóc Trẻ ở lứa tuổi này cũng bị yếu tố bệnh tật làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển thể chất và tâm lý Vì vậy việc nuôi dưỡng đầy

đủ, khoa học, chế độ tiêm phòng vacxin đúng quy định là rất cần thiết Chất lượng chăm sóc của người lớn cũng ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ Tuy chế độ dinh dưỡng đảm bảo, nhưng trẻ bị nuôi dưỡng trong môi trường thường xuyên bị stress và không được yêu thương cũng sẽ dễ bị còi cọc, phát triển chậm hơn so với trẻ cùng trang lứa Còi cọc còn có thể do trẻ bị chứng rối loạn, thiếu hụt cảm xúc tình cảm, mặc cảm hoặc vô cảm… Những thiếu hụt này chủ yếu là do sự thiếu gần gũi, sự chăm sóc ân cần của người lớn Sự tụt hậu phát triển và còi cọc thể chất, tâm lý của trẻ em nhỏ tuổi do chế độ chăm sóc nếu được điều trị sớm thì trẻ sẽ

phục hồi tốt và phát triển kịp những trẻ bình thường (dẫn theo Dương Diệu Hoa và

cộng sự, 2015) [8]

Do giới hạn về thời gian và năng lực nghiên cứu, luận văn này chỉ tập trung trình bày những cơ sở lý luận về những đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn Trẻ mẫu giáo lớn là trẻ mầm non nằm trong độ tuổi từ 5 đến 6 tuổi, ở độ tuổi

này này sự phát triển tâm lý của trẻ cũng dựa trên một số quy luật nhất định, trên

cơ sở đó trẻ có sự phát triển mạnh mẽ về trí tuệ, nhân cách và ý thức bản ngã

1.2.3 S ự phát triển tâm lý ở trẻ mẫu giáo lớn

Do sự tăng trưởng về mặt thể chất, sự phong phú về đời sống xã hội cũng như hoạt động, trẻ em mẫu giáo lớn đã đạt được mức độ phát triển phong phú về nhiều mặt Đây là giai đoạn phát triển mạnh về trí tuệ, nhân cách và ý thức bản ngã của trẻ Nghiên cứu này giới hạn tìm hiểu bốn phương diện phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn: thứ nhất là những quy luật phát triển tâm lý của trẻ mầm non nói chung; thứ hai là đặc điểm phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo lớn; thứ ba là đặc điểm phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo lớn; thứ tư là đặc điểm phát triển ý thức bản

Trang 30

ngã của trẻ mẫu giáo lớn; và thứ năm là bước ngoặt 6 tuổi – sự chuẩn bị tâm lý cho trẻ mẫu giáo lớn vào lớp một

1.2.3.1 Nh ững quy luật phát triển tâm lý của trẻ mầm non

Sự phát triển tâm lý trẻ em không diễn ra tự nó một cách ngẫu nhiên, nó có nguyên nhân từ chính quá trình sống của đứa trẻ trong điều kiện cụ thể và mâu thuẫn và trong mối quan hệ muôn màu muôn vẻ của nó với thế giới xung quanh tạo

ra cuộc sống của nó Sự phát triển tâm lý trẻ em diễn ra trong mối quan hệ qua lại với các yếu tố sinh học, nền văn hóa xã hội, hoạt động cá nhân, giáo dục Những mối quan hệ này mang tính khách quan, tất yếu, phổ biến nên nó là những quy luật cơ bản của sự phát triển tâm lý trẻ em Dưới đây là một số quy luật phát triển tâm lý của trẻ mầm non (dẫn theo Nguyễn Thị Bích Thủy, Nguyễn Thị Anh Thư, 2005) [16]:

a Quy luật về mối quan hệ giữa điều kiện sinh học và sự phát triển tâm lý trẻ: Điều kiện sinh học là toàn bộ những cấu tạo và chức năng cơ thể mỗi đứa trẻ sinh ra đã được kế thừa từ thế hệ trước thông qua gen Trong đó quan trọng là cấu tạo hệ thần kinh, não - đặc biệt là vỏ não, các giác quan Chức năng hoạt động của chúng như: Chức năng hoạt động của não, các cơ quan phân tích, cơ quan phát âm (gọi tắt là yếu tố bẩm sinh di truyền) [16]

b Quy luật về mối quan hệ giữa nền văn hóa xã hội và sự phát triển tâm lý trẻ: Nền văn hóa xã hội chứa đựng toàn bộ kinh nghiệm xã hội lịch sử loài người, những tri thức, những kỹ năng và phẩm chất tâm lý đặc trưng của con người, phong tục tập quán, truyền thống dân tộc tạo thành môi trường xã hội nuôi dưỡng đời

sống tinh thần và vật chất của con người Nền văn hóa xã hội quyết định sự phát triển tâm lý trẻ Nền văn hóa xã hội là nguồn gốc, nội dung của sự phát triển tâm lý

trẻ Trình độ văn hóa xã hội, quan hệ xã hội quy định nội dung, trình độ phát triển tâm lý trẻ Chính trình độ văn hóa của những người sống xung quanh trẻ, mức độ phong phú và tinh xảo của phương tiện sống, tính chất quan hệ xã hội trẻ tiếp xúc, biến động xã hội đều chi phối nội dung, trình độ phát triển tâm lý trẻ Mỗi dân tộc, mỗi địa phương có điều kiện sống tự nhiên khác nhau, địa lý khác nhau vì vậy họ có lối sống lao động khác nhau đã hình thành nên những phong tục tập quán, truyền thống văn hóa khác nhau, tạo nên nền văn hóa mang bản sắc dân tộc, vùng miền Tất cả điều đó đều ảnh hưởng đến tâm lý, nhân cách trẻ Nền văn hóa xã hội tác động đến trẻ bằng hai con đường: tự phát và tự giác [16]

Trang 31

c Quy luật về mối quan hệ giữa hoạt động, giao lưu và sự phát triển tâm lý trẻ: Như đã phân tích vai trò quyết định của nền văn hóa xã hội đối với sự phát triển tâm lý trẻ, nhưng không phải tất cả các yếu tố của nền văn hóa xã hội đều quyết định sự phát triển tâm lý trẻ, mà chỉ có sự vật nào, hiện tượng nào (yếu tố nào

của nền văn hóa xã hội) mà trẻ tác động tới nó, giao lưu với nó thì nó mới tác động đến trẻ và hình thành tâm lý trẻ Vì vậy để "nên" người trẻ phải tự hoạt động và giao lưu với mọi người, với thế giới xung quanh để lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử

Hoạt động và giao lưu có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự phát triển tâm lý trẻ Hoạt động và giao lưu là phương tiện, là điều kiện của sự phát triển tâm

lý trẻ, đồng thời còn là nơi bộc lộ tâm lý Vì vậy muốn phát triển tâm lý và hình thành nhân cách cho trẻ thì phải đưa trẻ vào những hoạt động nhất định, tổ chức cho trẻ được trực tiếp tham gia vào các hoạt động với nội dung và hình thức phong phú,

đa dạng, phù hợp với nhu cầu hứng thú của trẻ

Ở lứa tuổi mẫu giáo, hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo có đối tượng là chức năng xã hội của người lớn và những hành động hoạt động, những mối quan hệ qua lại giữa họ với nhau trong hoạt động (trước đây đối tượng của trẻ là hoạt động

với đồ vật) Chính hoạt động này đã hình thành ở trẻ cấu tạo tâm lý mới trong nhân

cách - khả năng tự ý thức, hình thành ở trẻ những nét tâm lý đặc trưng của lứa tuổi: Tính mục đích của các quá trình tâm lý, dễ xúc cảm và tính hình tượng Nghĩa là làm cho tâm lý trẻ biến đổi về chất Hoạt động vui chơi chi phối các dạng hoạt động học tập, lao động làm cho chúng mang dáng dấp hoạt động vui chơi

Mỗi một giai đoạn phát triển có một hoạt động nhất định đóng vai trò chủ đạo Chẳng hạn ở trẻ mầm non: Lọt lòng - 15 tháng hoạt động giao lưu xúc cảm trực tiếp là hoạt động chủ đạo; 15 - 36 tháng hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ đạo;

3 - 6 tuổi hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo Chính vì mỗi giai đoạn phát triển

có một hoạt động nhất định đóng vai trò chủ đạo nên điều quan trọng là nhà giáo

dục phải phát hiện và nắm vững hoạt động chủ đạo của từng độ tuổi để tập trung nỗ

lực hình thành hoạt động ấy khi còn non yếu, để hoạt động đó phát huy tối đa tác dạng mạnh mẽ của nó trong sự phát triển tâm lý trẻ, thúc đẩy cái mới phát triển tức

là tạo ra sự phát triển tâm lý trẻ [16]

d Quy luật về mối quan hệ giữa giáo dục và sự phát triển tâm lý trẻ: Giáo dục đóng vai trò chủ đạo đối với sự phát triển tâm lý trẻ Tâm lý mang bản chất xã

Trang 32

hội lịch sử, trẻ phát triển được là nhờ lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, nắm các dạng hoạt động muôn màu muôn vẻ đặc trưng cho con người Chính giáo dục truyền đạt cho trẻ những kinh nghiệm xã hội và các dạng hoạt động ấy Như vậy giáo dục đi trước sự phát triển kéo nó theo mình Có nghĩa là giáo dục không theo đuôi sự phát triển mà luôn tính đến trình độ đạt được hiện tại nhưng không dừng lại ở đó mà biết

sẽ đưa sự phát triển tới đâu, bước theo sau như thế nào [16]

e Quy luật phát triển không đồng đều: Sự phát triển không đồng đều diễn ra

ở mỗi đứa trẻ trong những chặng đường phát triển Quá trình phát triển tâm lý của

mỗi cá nhân đứa trẻ diễn ra không đồng đều, có thời kỳ chuyển biến tương đối chậm, từ từ, trong thời gian đó trẻ vẫn giữ nguyên nét tâm lý cơ bản Có thời kỳ biến đổi rõ rệt, nhảy vọt, có liên quan đến sự diệt vong, mất đi những nét tâm lý cũ,

xuất hiện những nét tâm lý mới, có khi khiến người xung quanh không nhận ra được trẻ nữa Những chuyển biến nhảy vọt đó gọi là đột biến trong sự phát triển Chúng xuất hiện ở tất cả mọi trẻ sống trong điều kiện giống nhau xấp xỉ vào cùng một lứa tuổi cho phép ta chia thời kỳ thơ ấu thành một số giai đoạn lứa tuổi Tất cả các trẻ

em trong cùng một giai đoạn lứa tuổi phát triển tâm lý có những nét tâm lý cơ bản chung là thái độ của trẻ đối với thế giới xung quanh, là hứng thú của trẻ và các dạng

hoạt động bắt nguồn từ các nhu cầu hứng thú đó Từ đó ta có sự phân định các giai đoạn lứa tuổi mầm non theo hoạt động chủ đạo như sau: Từ lọt lòng đến 15 tháng gọi là tuổi hài nhi, hoạt động chủ đạo là giao lưu xúc cảm trực tiếp; Từ 15 tháng đến

36 tháng gọi là tuổi ấu nhi, hoạt động chủ đạo là hoạt động với đồ vật; Từ 3 đến 6 tuổi gọi là tuổi mẫu giáo, hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi (trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề); Ý nghĩa thực tiễn của cách phân chia này, là tạo điều kiện cho việc xác lập những biện pháp giáo dục thích hợp cho từng giai đoạn phát triển và cho sự liên hệ giữa chúng [16]

Sự phát triển không đồng đều diễn ra trong sự phát triển của nhiều trẻ Trong

sự phát triển tâm lý của trẻ có sự khác biệt căn bản giữa trẻ này và trẻ khác trong nhịp độ phát triển tâm lý, nhịp độ nắm từng dạng hoạt động, nhịp độ phát triển các quá trình tâm lý, phẩm chất tâm lý Bên cạnh những khác biệt trong nhịp độ phát triển, ở trẻ còn bộc lộ những khác biệt trong phẩm chất tâm lý cá nhân như hứng thú, các nét tính cách và năng lực…

Trang 33

1.2.3.2 Đặc điểm phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo lớn

* S ự phát triển chú ý của trẻ mẫu giáo lớn

Trẻ ở tuổi mẫu giáo lớn chú ý không chỉ định vẫn là chủ yếu, trẻ thường chú

ý đến những đối tượng gây kích thích mạnh hoặc gây cho trẻ sự ngạc nhiên, nhất là tạo ra một sự hứng thú Chẳng hạn, khi tìm hiểu môi trường xung quanh những đối tượng xuất hiện bất ngờ, mới lạ thường gây cho trẻ chú ý tới nó, xem xét nó hoặc câu chuyện cô kể dưới hình thức sinh động hấp dẫn sẽ gây cho trẻ sự chú ý nghe câu chuyện cô kể

Nếu ở trẻ mẫu giáo lớn chú ý không chủ định phát triển tới mức cao thì chú ý

có chủ định của trẻ mới bắt đầu hình thành khi người lớn tổ chức hoạt động của trẻ trong đó có xác định rõ nhiệm vụ cho trẻ, có sự nhắc nhở để trẻ thực hiện nhiệm vụ

Sự phát triển thuộc tính của chú ý bao gồm: Sự tập trung chú ý (Chỉ thực sự

xuất hiện khi đối tượng chú ý thực sự gây hứng thú đối với trẻ); Tính bền vững của chú ý (Thông thường tính bền vững của chú ý phát triển theo độ tuổi Thí dụ theo dõi thời gian chơi của trẻ, thấy trẻ bé chú ý liên tục 27 phút, trẻ lớn có thể duy trì chú ý bền vững trong khoảng 90 - 100 phút); Khối lượng chú ý (Ngôn ngữ được phát triển, tính độc lập cao trong hành vi của trẻ, hoạt động của trẻ đa dạng làm phát triển mạnh khối lượng chú ý của trẻ mẫu giáo Trẻ mẫu giáo lớn chú ý 2 - 3 đối tượng trong cùng một thời gian rõ như nhau); Sự di chuyển chú ý (Trẻ dễ di chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác)

* S ự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn

Sự phát triển vốn từ: Tuổi mẫu giáo lớn hoạt động ngôn ngữ được tiếp tục phát triển mạnh Vốn từ tăng lên rất nhiều Nếu cuối 2 tuổi trẻ có khoảng 300 - 400

từ, thì đến 7 tuổi trẻ đã có khoảng 3000 - 4000 từ Tăng về tất cả các loại từ: Danh

từ, tính từ, động từ, đại từ, nhưng sử dụng tính từ còn chậm Nói chung vốn từ đủ dùng trong sinh hoạt hàng ngày

Khả năng phát âm của trẻ: Do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng, tai âm vị thường xuyên được luyện tập tiếp nhận các ngữ âm khi nghe người xung quanh nói, đồng thời cơ quan phát âm cũng được trưởng thành dần Nên trẻ mẫu giáo nhạy bén trong việc tiếp thu các đặc điểm phát âm của người xung quanh, trẻ

Trang 34

hay bắt chước, bắt chước khá nhanh đặc điểm phát âm của họ Trẻ có thể phát âm khá chính xác các nguyên âm đơn, nguyên âm đôi thì đến cuối tuổi mẫu giáo mới phát âm chính xác Trẻ hay thay đổi nguyên âm đôi thành nguyên âm đơn Đến cuối

5 tuổi trẻ đã nắm được đầy đủ cơ bản hệ thống ngữ âm của tiếng mẹ đẻ

Ngữ pháp: Trẻ mẫu giáo lớn biết nói đúng tiếng mẹ đẻ ở mức phổ thông Cấu trúc ngữ pháp tiến dần tới chỗ hoàn thiện Trẻ 5 tuổi bắt đầu sử dụng câu phức

Sự phát triển các chức năng ngôn ngữ: (1) Ngôn ngữ và giao lưu (Một trong những chức năng cơ bản nhất của ngôn ngữ được phát triển ở tuổi mẫu giáo lớn là chức năng giao lưu, ngôn ngữ trở thành phương tiện giao lưu); Ngôn ngữ và tư duy (Ở tuổi mẫu giáo lớn nhờ ngôn ngữ của trẻ đã hòa nhập với tư duy nên ngôn ngữ của trẻ đã biến thành phương tiện đặt kế hoạch và điều chỉnh hành vi thực tiễn của trẻ Ở tuổi mẫu giáo lớn, ngôn ngữ là trung tâm chuyển vào bên trong, biến thành ngôn ngữ bên trong Nếu trong lúc làm việc, trẻ không giao tiếp với ai thì trẻ thường im lặng làm việc, có nghĩa là ngôn ngữ vẫn giữ chức năng “đặt kế hoạch” thầm ở trong đầu)

* S ự phát triển tư duy của trẻ mẫu giáo lớn

Các loại tư duy của trẻ mẫu giáo lớn được hình thành một cách rõ rệt Tư duy

trực quan hành động: Đóng vai trò đáng kể, được phát triển và hoàn thiện dần ở mức độ cao hơn Trẻ 5 tuổi bắt đầu có suy nghĩ về nhiệm vụ và phương pháp giải quyết nhiệm vụ trong quá trình hành động

Hoạt động của trẻ ngày càng phức tạp, đã nảy sinh ở trẻ những nhiệm vụ mới

mà kết quả hành động không phải là trực tiếp mà là gián tiếp Muốn đạt được kết quả

cần phải tính đến mối liên hệ giữa hai hay nhiều hiện tượng đang diễn ra đồng thời hay liên tiếp nhau Việc giải quyết các nhiệm vụ này đòi hỏi phải chuyển dần từ phép thử bên ngoài sang phép thử thầm trong óc Mặt khác phạm vi hoạt động với hiện thực xung quanh ngày càng mở rộng gắn liền với sự hoàn thiện và phát triển ngôn ngữ, các biểu tượng, các kinh nghiệm khái quát của trẻ ngày càng phong phú Tất cả những điều

đó tạo ra ở trẻ hình thức tư duy mới - tư duy trực quan hình tượng

Tư duy trực quan hình tượng là loại tư duy cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn Trẻ dùng những hành động bên trong là những hành động với hình tượng để giải quyết nhiệm vụ trí tuệ Nhờ có tư duy trực quan hình tượng mà trẻ có khả năng dự kiến

kết quả của hành động bên ngoài và lập kế hoạch hành động đó

Trang 35

Cuối tuổi mẫu giáo nhỡ đầu mẫu giáo lớn xuất hiện tư duy trực quan sơ đồ

Là loại tư duy với hình ảnh trong óc nhưng hình ảnh này không phải là hình ảnh cụ

thể của từng sự vật, hiện tượng mà là ký hiệu của sự vật, hiện tượng Thể hiện là trẻ

hiểu được hình vẽ sơ đồ của các vật, biết dùng sơ đồ đường đi vẽ kiểu sơ đồ địa lý

để tìm đúng đường đi trong một hệ thống đường nhiều nhánh Đây là thành tựu lớn trong sự phát triển tư duy của trẻ mẫu giáo, mở ra cho trẻ khả năng nhìn thấy mặt bản chất của sự vật, hiện tượng mà tư duy trực quan hình tượng không thấy được

Tư duy trừu tượng: Tuổi mẫu giáo xuất hiện tiền đề của tư duy trừu tượng rõ

nhất ở mẫu giáo lớn, biểu hiện ở tư duy trực quan sơ đồ xuất hiện và trẻ biết dùng vật thay thế Sự hình thành tư duy trừu tượng là quá trình chuyển biến từ hình thức hành động bên trong với hình tượng sang hình thức hành động bên trong với ký

hiệu (từ, số) Muốn hình thành tư duy trừu tượng cần phải làm cho “từ biểu tượng” của trẻ biến thành các “từ khái niệm” Điều này chỉ đạt được khi trẻ học tập một cách có hệ thống ở trường phổ thông

Sự phát triển các thao tác tư duy: (1) Phân tích và tổng hợp (Trẻ mẫu giáo lớn bắt đầu phân tích trong óc); (2) So sánh (Trẻ so sánh sự khác nhau tốt hơn sự

giống nhau); Trừu tượng hóa và khái quát hóa (Cuối tuổi mẫu giáo, trẻ không

những lĩnh hội được những khái niệm thuộc về chủng loại mà còn cả những khái niệm thuộc về loài, sắp xếp chúng theo một cách nhất định Ví dụ: Trẻ gọi tất cả các con chó có màu sắc, độ lớn và hình dáng khác nhau đều là chó Trẻ còn xếp tất cả các con chó, ngựa, mèo, bò vào một nhóm động vật, tức là trẻ đã tiến hành khái quát bậc hai, lĩnh hội những khái niệm chung hơn)

Tư duy của trẻ mẫu giáo lớn phát triển mạnh mẽ Trẻ nắm được một loạt kiến thức mới về hiện thực xung quanh, đồng thời trẻ nắm được những phương thức tư duy đơn giản nhất, tập phân tích tổng hợp, so sánh, khái quát dựa trên những điều quan sát được Tức là trẻ đã thực hiện những thao tác trí tuệ đơn giản nhất

1.2.3.3 Đặc điểm phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo lớn

* Sự phát triển tình cảm của trẻ mẫu giáo lớn

Ở tuổi mẫu giáo lớn tình cảm chi phối mạnh mẽ đời sống của trẻ và đóng vai trò lớn lao trong sự phát triển toàn bộ nhân cách của trẻ Trẻ sống rất tình cảm, luôn

có nhu cầu đòi hỏi mọi người biểu hiện tình cảm tốt đẹp với mình Hành vi, thái độ

Trang 36

của người xung quanh với trẻ gây ra ở trẻ những tình cảm muôn màu, muôn vẻ Sự yên ổn về mặt tình cảm góp phần phát triển nhân cách của trẻ, hình thành những

phẩm chất tích cực, thái độ thiện chí đối với người khác

Ngược lại trẻ cũng mong muốn biểu hiện tình cảm của trẻ với người khác, trước hết với bố, mẹ, anh chị em Trẻ thường thể hiện quan tâm thông cảm với họ Với trẻ khác trẻ còn thể hiện lòng yêu mến, thông cảm với chúng Tình cảm này đễ dàng xuất hiện và bộc lộ rõ ở trẻ mẫu giáo Những tình cảm của trẻ với người xung quanh được chuyển sang với các nhân vật trong các tác phẩm văn học nghệ thuật,

những truyện cổ tích, truyện kể Trẻ thông cảm với nỗi bất hạnh của các nhân vật trong truyện không khác gì nỗi bất hạnh của mình, giận những nhân vật có biểu hiện tiêu cực và muốn bảo vệ nhân vật trẻ thích

Mọi hành động của trẻ đều bị chi phối bởi tình cảm Trẻ thích đối tượng nào, con người nào thì mới tìm hiểu đối tượng đó, hành động với đối tượng đó Tình cảm điều khiển hành vi của trẻ, hành vi của trẻ tốt hay xấu không phải do nhận thức đầy

đủ hay không mà do tình cảm yêu hay ghét

Tình cảm của trẻ chưa ổn định, chưa bền vững, nảy sinh nhanh chóng và mất

đi dễ dàng Nhiều khi trẻ vừa cười như nắc nẻ, rồi lại khóc ngay được Trẻ chưa kiềm chế được tình cảm của mình, tình cảm bộc lộ chân thực, hồn nhiên, trẻ không giấu được tình cảm của mình Do ở trẻ hưng phấn còn mạnh hơn ức chế

Đến cuối tuổi mẫu giáo tình cảm của trẻ ngày càng ổn định và trở nên bền

vững sâu sắc Chẳng hạn trẻ biểu hiện sự quan tâm thực sự với người thân, tránh không cho họ lo lắng, trẻ đã biết kết bạn thân

Sự phát triển các loại tình cảm cao cấp: Tình cảm cao cấp của trẻ dần dần được hình thành và phát triển phong phú Tình cảm đạo đức được nảy sinh trong quá trình lĩnh hội những chuẩn mực đạo đức, quy tắc hành vi và sự hình thành tự ý thức Trẻ mẫu giáo có nhu cầu được hoạt động trong tập thể với bạn bè Trong điều kiện tổ chức tốt tập thể trẻ nhỏ thì hình thức đầu tiên của tình bạn nói chung và tình

bạn thân được nảy sinh Mối quan hệ bạn bè được hình thành trong nhiều nhóm trẻ lớn Tình cảm đạo đức được hình thành trong trò chơi đóng vai theo chủ đề Thông qua việc trẻ nhập vai mẹ, bác sĩ, mà hình thành tình cảm yêu thương, chăm sóc người khác Thông qua nhập vai người công an mà hình thành tình cảm trách nhiệm, nghĩa vụ

Trang 37

Tình cảm trí tuệ của trẻ mẫu giáo được phát triển thể hiện rõ rệt ở mẫu giáo lớn Do tuổi mẫu giáo muốn tìm hiểu nguyên nhân các hiện tượng trong thiên nhiên,

xã hội, cuộc sống xung quanh trẻ Tình cảm trí tuệ của trẻ được biểu hiện ở lòng ham hiểu biết, trẻ thường đặt các câu hỏi: Tại sao? Để làm gì? Thế là thế nào? Dần

dần trẻ có hứng thú, say mê với các đối tượng nhận thức như: Truyện, nhạc, múa, vẽ Trẻ bắt đầu có khả năng sáng tạo trong vui chơi, vẽ, làm thơ

Tình cảm thẩm mỹ của trẻ mẫu giáo lớn được nảy sinh và phát triển mạnh

Do đặc điểm dễ xúc cảm và tính hình tượng là nét đặc trưng của lứa tuổi này, nên

trẻ dễ dàng nảy sinh xúc cảm thẩm mỹ Trẻ rất dễ rung cảm trước những màu sắc hài hòa, âm thanh êm dịu Trẻ bắt đầu hướng vào cái đẹp, yêu thích cái đẹp Dần dần trẻ biết phân biệt cái đẹp về mặt hình thức, chưa đánh giá được mặt nội dung

* S ự phát triển ý chí của trẻ mẫu giáo lớn

Lứa tuổi mẫu giáo lớn là lứa tuổi xuất hiện ý chí như là sự điều khiển có ý

thức đối với hành vi, những hành động bên ngoài và bên trong của mình Trong quá trình giáo dục và dạy học, do ảnh hưởng của những yêu cầu của người lớn và các bạn cùng tuổi, ở trẻ hình thành khả năng bắt những hành động của mình phục tùng

một nhiệm vụ nào đó, khắc phục các khó khăn để đạt tới mục đích đã đề ra Trẻ nắm được kỹ năng kiểm tra tư thế của mình, chẳng hạn như ngồi yên trong giờ học như cô giáo yêu cầu, không quay đi quay lại, không nhấp nhổm

Trẻ mẫu giáo lớn bắt đầu điều khiển tri giác, trí nhớ, tư duy của mình Từ khi trẻ gần bốn tuổi trẻ đã có thể điều khiển quá trình trí nhớ, nhớ lại và nó bắt đầu tự

đề ra cho mình mục tiêu đặc biệt - ghi nhớ nhiệm vụ do người lớn giao cho, ghi nhớ bài thơ nó thích… Việc điều khiển hoạt động tư duy thể hiện ở trẻ mẫu giáo nhỡ và lớn, khi chúng cố giải một “bài toán” hóc búa, khi chúng thử những cách lắp khác nhau để lắp các bộ phận thành cái toàn thể bằng cách chuyển tuần tự cách lắp này sang cách lắp khác Việc điều khiển hành vi một cách có ý thức chỉ bắt đầu được hình thành ở lứa tuổi mẫu giáo Những hành động ý chí song song tồn tại cùng với

những hành động không chủ định, những hành động bột phát xuất hiện do ảnh hưởng của những tình cảm và những nguyện vọng tình huống

Bản thân các hành động ý chí cũng được biến đổi trong suốt thời kỳ tuổi mẫu giáo Nhưng chỉ tới tuổi mẫu giáo lớn, trẻ mới có thể có những nỗ lực ý chí tương đối

Trang 38

lâu, mặc dù về mặt này vẫn còn thua xa các trẻ lứa tuổi học sinh phổ thông Như vậy, nét đặc trưng đối với trẻ mẫu giáo là sự xuất hiện và sự phát triển của các hành động ý chí, nhưng phạm vi vận dụng của chúng và địa vị của chúng trong hành vi còn hạn chế

Khả năng kiên trì mục đích ở trẻ mẫu giáo lớn phụ thuộc trực tiếp vào mức

độ khó của nhiệm vụ và thời gian thực hiện nhiệm vụ Khi người ta đề nghị trẻ xếp các quân cờ màu khác nhau theo một thứ tự nhất định trên 156 ô bàn cờ, không một trẻ 4 tuổi nào hoàn thành được nhiệm vụ Chỉ có một bộ phận trẻ 5 tuổi và 6 tuổi hoàn thành được nhiệm vụ đến cùng Tuy nhiên khi giảm số lượng ô xuống tới 64 thì ngay cả trẻ 4 tuổi cũng hoàn thành được nhiệm vụ

Ở tuổi mẫu giáo lớn, những thành công và những thất bại khi thực hiện các nhiệm vụ có ý nghĩa to lớn đối với sự hình thành tính mục đích của các hành động Đối với trẻ mẫu giáo nhỡ, những thất bại trong việc thực hiện hoạt động làm mất yếu tố kích thích đạt tới mục đích của chúng, nếu hoạt động đạt kết quả thì trẻ sẽ cố gắng làm tới cùng Đa số trẻ mẫu giáo lớn cũng hành động như vậy, mặc dù một số trẻ bắt đầu có thái độ khác đối với công việc, dù thế nào cũng khắc phục được các khó khăn, chúng van nài người lớn để chúng thử sức lần nữa, nhất định không chịu đầu hàng

Trong những hành động được định hướng trực tiếp bởi các tình cảm và các nguyện vọng của trẻ, động cơ và mục đích trùng nhau Điều đó có nghĩa là, kết quả trực tiếp của hành động cũng là cái mà hành động được thực hiện vì nó Đứa trẻ với tới đồ chơi, hành động này được thực hiện do thích thú với chính đồ chơi mà nó muốn có Sau khi đạt được mục đích - cầm lấy đồ chơi, như thế là đứa trẻ đã thỏa mãn động cơ đã có ở nó Sự trùng hợp giữa động cơ và mục đích là nét đặc trưng đối với nhiều hành động của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo

Khả năng điều khiển hành vi của mình đang xuất hiện ở lứa tuổi mẫu giáo

lớn Khả năng này gắn liền với sự hình thành những hành động kiểu mới mà mục đích của chúng không trùng với động cơ Trẻ mẫu giáo đã có thể cân nhắc những động cơ của mình, đã biết tự giác hoàn thiện về một trong những động cơ đó Tuy nhiên trẻ mẫu giáo nhỏ chỉ có thể thể hiện thái độ quyết định đó trong những trường hợp đơn giản nhất, khi phải lựa chọn một trong hai nguyện vọng thuộc cùng một loại (chọn đồ chơi này, hay đồ chơi khác) Đến tuổi mẫu giáo lớn khả năng lựa chọn

Trang 39

cách giải quyết hợp lý tăng lên rõ rệt trong quá trình đấu tranh giữa các động cơ Tính chất đúng đắn của hành động trong cách giải quyết của trẻ phụ thuộc vào tính

chất của những mối quan hệ phụ thuộc đã xác lập được trong hệ thống thứ bậc động

cơ Ở những trẻ nào mà động cơ xã hội (hành động để mang lại lợi ích niềm vui cho người khác) mà chiếm ưu thế thì việc giải quyết thường là đúng đắn, sự lựa chọn động cơ diễn ra một cách nhanh chóng Ngược lại ở những trẻ mà động cơ cá nhân (hành động vì lợi ích cho riêng mình) chiếm ưu thế thì hành động thường mang tính sai lầm về đạo đức và sự lựa chọn giải quyết diễn ra chậm chạp, gay go hơn

Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc thực hiện hành động ý chí của trẻ mẫu giáo lớn Trong hành động ý chí trẻ dùng ngôn ngữ để diễn đạt cho mình những gì nó định làm, tự tranh luận với mình về những giải pháp có thể có khi đấu tranh giữa các động cơ, nhắc nhở mình về mục đích của hành động và tự ra lệnh cho mình đạt tới các mục tiêu, nhưng ngôn ngữ không thể có ngay được ý nghĩa điều chỉnh này trong hành vi của trẻ Trẻ mẫu giáo lớn có kỹ năng thực hiện những lời chỉ dẫn tương đối phức tạp của người lớn Khi dùng lời nói để lập kế hoạch hành động của mình, trong đa số trường hợp trẻ không cần phải nói to lên mà lập kế

hoạch và chỉ đạo hành động của mình bằng cách nói thầm Tuy nhiên trong những trường hợp khó khăn, chẳng hạn, phải kiềm chế những nguyện vọng của mình, nhiều khi trẻ 6 tuổi phải nói to lên để kiềm chế bản thân mình

*Sự phát triển ý thức bản ngã của trẻ mẫu giáo lớn

Ý thức bản ngã hay sự tự ý thức được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá

về thành công và thất bại của mình, về những ưu điểm và khuyết điểm của bản thân,

về những khả năng và cả sự bất lực nữa Tiền đề của ý thức bản ngã là việc tự tách mình ra khỏi người khác đã được hình thành từ cuối tuổi ấu nhi, nhưng khi bước vào tuổi mẫu giáo trẻ chỉ ý thức được chính sự tồn tại của nó chứ chưa hiểu biết gì

về bản thân mình, về phẩm chất của mình Đến cuối tuổi mẫu giáo trẻ hiểu được mình là người như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao, tại sao mình lại có hành động này hay hành động khác Để đánh giá bản thân một cách đúng đắn, đầu tiên đứa trẻ phải học cách đánh giá người khác và nghe những người xung quanh đánh giá mình như thế nào Ở giai đoạn này trẻ thường chỉ nhắc đi nhắc lại nhận xét đơn giản của người lớn về bạn cùng tuổi và về

Trang 40

bản thân mình Thoạt đầu sự đánh giá của trẻ về người khác (cử chỉ, phẩm chất) còn phụ thuộc nhiều vào thái độ của nó đối với người này Chẳng hạn mọi đứa trẻ đều đánh giá mẹ mình bao giờ cũng tốt, hay khi đánh giá hành vi của các nhân vật trong câu chuyện kể, truyện cổ tích trẻ thường coi hành vi của nhân vật tốt, tích cực là tốt,

của nhân vật xấu là xấu

Trẻ mẫu giáo lớn càng lĩnh hội được những chuẩn mực và quy tắc hành vi thì chúng càng trở thành thước đo để trẻ sử dụng chúng trong việc đánh giá người khác Nhưng việc vận dụng chúng vào đánh giá bản thân mình thì lại khó khăn hơn nhiều

Những tình cảm chi phối mạnh mẽ mọi hành động của trẻ đã không cho phép đánh giá các hành vi của chúng một cách khách quan Đến tuổi mẫu giáo lớn, trẻ mới nắm được kỹ năng so sánh mình với người khác Điều này là cơ sở để tự đánh giá một cách đúng đắn hơn và cũng là cơ sở để trẻ noi gương những người tốt, việc tốt

Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự tự ý thức còn được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ Ở lứa tuổi này trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái mà còn biết rõ rằng nếu mình là trai hay gái thì hành vi phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình Vì vậy tấm gương của người lớn tác động rất mạnh đến trẻ Những trẻ trai thường bắt chước những cử chỉ hành vi của đàn ông, còn

những trẻ gái thì bắt chước dáng điệu của đàn bà Hiện tượng này phản ánh vào trò chơi rất rõ: Con trai thường đóng vai bộ đội, công an, bảo vệ Con gái đóng vai nội trợ, bán hàng Trong khi nhận xét nhau, trẻ cũng biểu hiện giới tính khá rõ Trẻ thường nói: “Con trai mà lại khóc nhè” hay “con gái mà lại đánh nhau”

Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh hành

vi của mình dần dần phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc xã hội, từ đó mà hành vi của trẻ mang tính xã hội và nhân cách đậm nét hơn trước

Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng còn cho phép trẻ thực hiện các hành động có chủ tâm hơn Nhờ đó các quá trình tâm lý mang tính chủ định rõ rệt (như

chủ tâm nghe, chủ tâm nhớ, chủ tâm nghĩ )

1.2.3.4 Bước ngoặt 6 tuổi và sự chuẩn bị tâm lý cho trẻ vào lớp một

Các nhà tâm lý học coi thời điểm lúc trẻ tròn 6 tuổi là một bước ngoặt quan

trọng, giữa một bên là đứa trẻ bé nhỏ đang phát triển để hoàn thiện các cấu trúc tâm

Ngày đăng: 23/11/2020, 17:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w