Việc thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng được xã hội, cộng đồng quan tâm và đem lại có những kết quả to lớn, đã cải thiện cuộc sống đáng kể, góp ph
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS LÊ THANH SANG
HÀ NỘI, năm 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả đã nhận được sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan
Với tất cả lòng chân thành, tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Lê Thanh Sang người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến quý thầy, cô ở Học viện Khoa học Xã hội đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Nam cùng các đồng nghiệp, bạn bè, các Mẹ đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Mặc dù tác giả đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu, tuy nhiên với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ các thầy giáo, cô giáo, đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ chính sách công “Thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu của tác giả với sự
hướng dẫn tận tình của PGS.TS Lê Thanh Sang - người hướng dẫn khoa học Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực
Tác giả xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Học viên
Đinh Thị Liễu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
LỜI CAM ĐOAN 4
MỤC LỤC 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
CHƯƠNG 1 9
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI, CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG 9
1.1 Các khái niệm liên quan 9
1.2 Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng 12
1.3 Chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng 18
1.4 Những nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng 23
1.5 Kinh nghiệm trong thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Thanh Hoá và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Nam 26
CHƯƠNG 2 31
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI, CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG Ở 31
TỈNH QUẢNG NAM 31
2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Quảng Nam 31
2.2 Thành tựu và nguyên nhân đạt được kết quả thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Quảng Nam 46
2.3 Hạn chế và nguyên nhân 58
2.4 Đánh giá chung 60
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ ĐẨY MẠNH VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI, CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG 63
3.1 Quan điểm, định hướng trong việc thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Quảng Nam 63
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho tỉnh Quảng Nam 66
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng Bà mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2015 đến năm 2019 39 Bảng 2.2: Tình hình đời sống của Mẹ Việt Nam anh hùng tại thời điểm tháng 12/2019 41 Bảng 2.3: Tình trạng sức khỏe của Mẹ Việt Nam anh hùng tại thời điểm tháng 12/2019 42 Bảng 2.4: Tình trạng nhà ở của Bà mẹ Việt Nam anh hùng 43 Bảng 2.5: Tình hình chi trả chế độ trợ cấp ưu đãi hàng tháng cho Mẹ Việt Nam anh hùng tỉnh Quảng Nam (tại thời điểm tháng 12 năm 2019) 52 Bảng 2.6: Kết quả chăm sóc sức khỏe cho Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2015 đến năm 2019 55 Bảng 2.7 Kết quả hỗ trợ cải thiện nhà ở cho Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2015 đến năm 2019 54 Bảng 2.8: Kết quả tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa cho Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2015 đến năm 2019 58
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Người có công là bộ phận hết sức đặc thù của xã hội Việt Nam bởi vì không đâu như ở Việt Nam, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho Tổ quốc diễn ra trong một thời gian rất dài và vô cùng ác liệt,
đã để lại hậu quả vô cùng nặng nề về sức người và sức của Trong đó, người
có công là lực lượng chủ yếu chịu nhiều hy sinh, mất mát Đó là những
người như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng kêu gọi: “Khi nạn ngoại xâm ào
ạt đến, nó như trận lụt to Nó đe dọa tràn ngập cả non sông Tổ quốc Nó đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản, chìm đắm cả bố mẹ, vợ con của nhân dân ta Trước cơn nguy hiểm ấy, số đông thanh niên yêu quý của nước ta đã dũng cảm xông ra mặt trận Họ quyết tâm đem xương máu của họ đắp thành một bức tường đồng, một con đê vững để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập
Tổ quốc, làm hại đồng bào Họ quyết hy sinh tính mệnh họ, để giữ tính mệnh đồng bào
Họ quyết hy sinh gia đình, tài sản họ để bảo vệ gia đình và tài sản đồng bào Họ quyết liều chết chống địch để cho Tổ quốc và đồng bào sống Họ là những chiến sĩ anh dũng của chúng ta Trong đó có người đã bỏ lại một phần thân thể ở mặt trận, có người đã bỏ mình ở chiến trường Đó là thương binh,
đó là tử sĩ ” [3, tr.22] Nhận thức rõ sự hy sinh to lớn đó Người từng dạy:
“Song đối với những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng” [3, tr.23], “Tổ quốc và đồng bào phải biết
ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy, mọi người phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả khó khăn, gian khổ hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã để lại” [3, tr.16-17]
Phần lớn người có công với cách mạng là những người yếu thế, cần được Nhà nước, xã hội chăm lo một cách đặc biệt Vì vậy, việc chăm lo đời
Trang 8sống vật chất, tinh thần cho người có công không chỉ là sự Đền ơn đáp nghĩa
và không chỉ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, mà còn là trách nhiệm của cộng đồng và của toàn xã hội
Thực hiện đạo lý truyền thống của dân tộc: “Uống nước nhớ nguồn”,
“Đền ơn đáp nghĩa”, nhằm mục đích ghi nhận và đền đáp công lao đóng góp
hy sinh của những người có công và các gia đình chính sách, Đảng và Nhà nước ta đã tạo mọi điều kiện để bù đắp phần nào giá trị vật chất và tinh thần cho họ Chính từ đó mà chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ra đời, đặc biệt là chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng
Cuộc đời của mỗi Bà mẹ Việt Nam anh hùng là hiện thân của đức hy sinh mà các thế hệ phải trân trọng Để đổi lấy cuộc sống thanh bình, ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay, những người thân yêu nhất của các Mẹ đã ra đi
và mãi mãi không trở về Có nỗi đau nào lớn hơn khi chồng, con của Mẹ đã bị giặc giết, đó là một sự hy sinh to lớn và thầm lặng của các Mẹ Quảng Nam là một trong những tỉnh có nhiều anh hùng liệt sĩ và Mẹ Việt Nam anh hùng Để chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho các Mẹ, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đã, đang và sẽ tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc tham mưu, tổ chức triển khai thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng đối với
Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn tỉnh Việc thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng được xã hội, cộng đồng quan tâm và đem lại có những kết quả to lớn, đã cải thiện cuộc sống đáng kể, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước, tăng thêm lòng tin đối với Đảng, Nhà nước
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, đời sống của một bộ phận không nhỏ Mẹ Việt Nam anh hùng vẫn còn khó khăn, nhất là các Mẹ hiện không còn nơi nương tựa; điều kiện, tiêu chuẩn tuyên dương danh hiệu Bà mẹ
Trang 9Việt Nam anh hùng chưa thật sự khoa học, hợp lý Tình hình đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải tiếp tục nghiên cứu, từng bước điều chỉnh chính sách, làm tốt hơn nữa công tác chăm sóc, phụng dưỡng các Mẹ Việt Nam anh hùng, tiếp tục nâng cao mức sống, đảm bảo đời sống của các Mẹ ngày một tốt hơn
Xuất phát từ thực tiễn thời gian qua tại tỉnh Quảng Nam, với hy vọng
đề ra các giải pháp thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc người có công trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, trong giai đoạn hiện nay và
những năm tiếp theo, tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam” làm luận
văn tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Chính vì vậy, đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và công bố các kết quả nghiên cứu Dưới đây là một
số đề tài, luận án, bài viết mà tác giả được biết:
Năm 2002, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội đã xuất bản cuốn sách “Hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành về chính sách đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công” Cuốn sách nhằm giúp cán bộ
nghiệp vụ làm công tác chính sách ở địa phương cũng như những độc giả quan tâm đến lĩnh vực này nắm được một cách có hệ thống chế độ, chính sách của Nhà nước ta trong lĩnh vực ưu đãi người có công
Năm 2013, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội đã xuất bản cuốn sách
“Hướng dẫn thủ tục lập, quản lý hồ sơ thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, thân nhân và Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước
Bà mẹ Việt Nam anh hùng” Cuốn sách đã hướng dẫn cụ thể nhằm thực hiện
tốt các tiêu chuẩn, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân;
Trang 10trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện chế độ chính sách, chế độ trên
Luận án Phó tiến sỹ khoa học Luật học “Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đình Liêu vào năm 1996 đã
nêu ra những vấn đề cơ bản như: Khái nhiệm, lịch sử hình thành và phát triển, thực trạng của pháp luật ưu đãi đối với người có công với cách mạng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và việc hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Hằng - Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội đã có bài viết “Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng” được
đăng trên Tạp chí Cộng sản số 7 năm 2005 đã nêu lên khái quát những thành tựu đã đạt được trong việc thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công trong 10 năm (từ 1995 đến 2005); qua
đó, rút ra những kinh nghiệm và đề ra những giải pháp thiết thực nhằm thực hiện tốt hơn chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng
Bài viết “Chính sách Người có công - là trách nhiệm của toàn dân”
của tác giả Nguyễn Duy Kiên được đăng trên Tạp chí Tuyên giáo số 7 năm
2012 đã khái quát một số thành tựu của chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trong những năm qua, tập trung vào việc đánh giá, tìm hiểu nguồn lực thực hiện chính sách ở nước ta Theo đó, khẳng định nguồn lực của Nhà nước thông qua việc trợ cấp ưu đãi hàng tháng giữ vai trò chủ đạo trong việc ổn định đời sống của người có công
Bài viết “Đền ơn đáp nghĩa là trách nhiệm, đạo nghĩa và nhân văn”
của tác giả Nguyễn Thanh Hoàng được đăng trên Tạp chí Lao động - và Xã hội số 603 năm 2019 đề cập khá chi tiết và cụ thể về trách nhiệm, nghỉa cử
Trang 11cao đẹp và nhân văn của nhân dân đối với những người đã hy sinh vì độc lập,
tự do của Tổ quốc
Những công trình nghiên cứu, những bài viết về chính sách ưu đãi, chăm sóc người có công với cách mạng luôn được những nhà nghiên cứu và độc giả quan tâm với lòng biết ơn sâu sắc cùng với mong muốn những Bà mẹ Việt Nam anh hùng có chất lượng cuộc sống ngày càng cao hơn
Trên cấp độ quốc gia, năm 1994 Nhà nước ban hành Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng và ban hành Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” Đây là lần đầu tiên có hai Pháp lệnh được xây dựng có cơ sở khoa học,
có hệ thống về chính sách và tiêu chuẩn, chế độ chính sách, định tính và định lượng hợp lý đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với người có công Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới, nhiều chủ trương, chính sách không còn phù hợp, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11
và nhiều Nghị định kịp thời điều chỉnh Để phù hợp với giai đoạn phát triển mới, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16/7/2012 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng và ban hành Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” Đây là hai văn bản được xây dựng trên cơ sở khoa học, có tính hệ thống, phù hợp với tình hình hiện nay, định hướng cho việc thực hiện chính sách ưu đãi, góp phần nâng cao đời sống đối với người có công ở giai đoạn hiện nay và trong những năm tới
Quảng Nam là tỉnh có đông người có công với cách mạng (chiếm trên 23% dân số) với trên 65.450 liệt sĩ; trên 30.550 thương bệnh binh; trên 45.550
Trang 12người có công giúp đỡ cách mạng; trên 11.800 người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; gần 33.800 người tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân, Huy chương; trên 6.200 người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học Đặc biệt, cả tỉnh có 15.237 Bà mẹ được Đảng, Nhà nước phong tặng và truy tặng danh hiệu “Bà
mẹ Việt Nam anh hùng” (trong đó có 2.582 Mẹ được phong tặng, còn sống
680 Mẹ)
Qua tìm hiểu, đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu đề tài: “Thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam” Đây là lý do để đề tài này được tác giả lựa chọn nghiên
cứu Thông qua đề tài này, tác giả muốn được làm rõ thêm một số vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý cũng như việc thực hiện chính sách ưu người có công với cách mạng, nhất là chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Quảng Nam, qua đó đề xuất, khuyến nghị chính sách để phù hợp hơn với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xác đáng của người có công với cách mạng, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, giữ vững thành quả cách mạng, phát triển kinh tế - xã hội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
Trang 13- Khái quát hoá lý luận và thực tiễn về tổ chức thực thi chính sách ưu đãi người có công;
- Nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam;
- Trên cơ sở quan điểm của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước,
đề xuất một số giải pháp trong tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho tỉnh Quảng Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam
Khách thể nghiên cứu: Các Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: tỉnh Quảng Nam
Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2015-2019
Về nội dung: Việc thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng
Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp và phân tích văn bản chính sách: Các tài liệu, các Pháp lệnh, Nghị định về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; các tài liệu có liên quan đến chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; phân tích các tài liệu, văn bản, các thông tin đã thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau Phân tích và tổng hợp các thông tin, trên cơ
sở đó đưa ra các nhận xét, đánh giá
- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu thứ cấp: các bảng số liệu tổng hợp, các báo cáo liên quan đến chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng của tỉnh Quảng Nam và các nguồn khác
Trang 14như sách, báo, mạng internet
- Phương pháp phỏng vấn sâu và quan sát tham dự: Phỏng vấn sâu 10
Bà mẹ Việt Nam anh hùng và quan sát đời sống, nhà ở, sức khoẻ của các Mẹ tại nơi sinh sống để phối kiểm các thông tin thu thập được từ các phương pháp nghiên cứu khác
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Thông qua nghiên cứu, luận văn góp phần vào quá trình hoàn thiện cơ
sở lý luận của chính sách dựa trên những bằng chứng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam Hơn nữa, những kiến nghị chính sách góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách
ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI, CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG 1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Chính sách ưu đãi
Chính sách ưu đãi là sự phản ánh trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng xã hội, là sự đãi ngộ đặc biệt, ưu tiên hơn mức bình thường về mọi mặt trong đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần đối với người có công lao đặc biệt đối với đất nước
1.1.2 Người có công với cách mạng
Nhân dân ta đã trải qua các cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc và trong những cuộc đấu tranh đó đã có biết bao nhiêu người con của đất nước đã cống hiến, hy sinh xương máu, của cải và cả tính mạng của mình Họ luôn được nhân dân, Tổ quốc kính trọng, tôn vinh, đời đời ghi nhớ
và biết ơn
Ở mỗi thời kỳ khác nhau thì chính sách ưu đãi người có công với cách mạng cũng khác nhau Chính sách ưu đãi đối với người có công là sự ghi nhận những công lao của họ đối với đất nước, là những chính sách, chế độ đãi ngộ về vật chất và tinh thần, là sự bày tỏ lòng biết ơn của Đảng, Nhà nước đến những người đã cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong mấy chục năm qua, Đảng và Nhà nước ta coi việc thực hiện ưu đãi xã hội đối với người có công là quốc sách Chủ trương đó đã được cụ thể hóa bằng hai Pháp lệnh quan trọng đó là: Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ, gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng và Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Khái niệm người có công
Trang 16được hiểu theo 2 nghĩa rộng, hẹp khác nhau
Theo nghĩa rộng, người có công là người bình thường, làm việc đại
nghĩa, có công lao lớn đối với đất nước, đó là nghĩa vụ không bao giờ kể công
và không đòi hỏi cộng đồng phải báo nghĩa
Theo nghĩa hẹp, khái niệm người có công được xác định là những
người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Theo quy định Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số
04/2012/UBTVQH13 ngày 16/7/2012 [40, tr.1-2] thì người có công với cách
mạng bao gồm:
Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;
Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;
Liệt sĩ;
Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;
Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;
Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
Bệnh binh;
Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;
Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;
Người có công giúp đỡ cách mạng
1.1.3 Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh
Trang 17hùng” năm 1994 quy định: danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” để tặng hoặc truy tặng những Bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì
sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế
Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam [41] quy
định những Bà mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây được tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”:
- Có 02 con trở lên là liệt sĩ;
- Chỉ có 02 con mà 01 con là liệt sĩ và 01 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
- Chỉ có 01 con mà người con đó là liệt sĩ;
- Có 1 con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ;
- Có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên
1.1.4 Chương trình chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Phong trào chăm sóc người có công gồm 5 chương trình: vận động Quỹ
“Đền ơn đáp nghĩa”; tặng nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa; chăm sóc thương bệnh binh nặng, bố mẹ liệt sĩ cô đơn, con liệt sĩ mồ côi; phụng dưỡng
Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Chương trình chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng là một trong năm chương trình chăm sóc người có công Chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng là sự tự nguyện của cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng một phần về vật chất và tinh thần đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng trong những năm tháng còn lại của cuộc đời Mẹ Chăm sóc, phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng không chỉ là trách nhiệm, tình cảm của mọi tầng lớp nhân dân mà còn thể hiện sự
Trang 18kính trọng, tri ân sâu sắc đối với sự cống hiến, hy sinh cao cả của các Mẹ, của những Anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống cho độc lập, tự do của Tổ quốc
Phong trào chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng đã được các ngành, các cấp, các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội quan tâm bằng nhiều việc làm ý nghĩa, thiết thực như: phụng dưỡng suốt đời Bà mẹ Việt Nam anh hùng, sửa chữa nhà ở, tặng nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, mua sắm đồ dùng phục vụ đời sống sinh hoạt trong gia đình, tổ chức cho Mẹ đi tham quan, du lịch… Việc phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng không chỉ thực hiện bằng hình thức gửi tiền phụng dưỡng hàng tháng, nhiều cơ quan, đơn vị thường xuyên cử cán bộ đến thăm hỏi, tặng quà, kịp thời động viên an ủi khi Mẹ ốm đau hoặc phối hợp với địa phương lo việc tang lễ chu đáo khi Mẹ qua đời
1.2 Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của chủ thể nắm quyền lực công, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định
Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là một chính sách nhân đạo, là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất lẫn tinh thần của Nhà nước và xã hội nhằm ghi nhận, đền đáp công lao đối với những người có công với cách mạng, thể hiện sâu sắc bản chất ưu việt của xã hội ta Đảng và Nhà nước ta tiếp tục tổ chức nghiên cứu, hoạch định, ban hành hệ thống chính sách, chế độ
và tổ chức triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện đến từng đối tượng Tùy vào điều kiện kinh tế ở từng giai đoạn mà Nhà nước điều chỉnh chế độ ưu đãi phù hợp theo hướng nâng cao và cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần cho người có công
1.2.1 Về chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công
Trang 19Theo quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16/7/2012 và Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29/6/2005 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định số
31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 [8] và Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22/5/2013 của Chính phủ [9] thì chính sách ưu đãi đối với người có công với
- Chính sách ưu đãi đối với thân nhân liệt sĩ;
- Chính sách ưu đãi đối với Bà mẹ Việt Nam Anh hùng;
- Chính sách ưu đãi đối với Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;
- Chính sách ưu đãi đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B (gọi chung là thương binh);
- Chính sách ưu đãi đối với bệnh binh;
- Chính sách ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học;
- Chính sách ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;
- Chính sách ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;
- Chính sách ưu đãi đối với người có công giúp đỡ cách mạng
1.2.2 Nội dung các bước tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Để tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách ưu đãi người có công với
Trang 20cách mạng, trước tiên cần phải tuân thủ một quy trình chặt chẽ, thống nhất nhằm phản ánh các bước trong việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách, gồm các bước cơ bản sau đây:
1.2.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Để việc tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng có hiệu quả, trước tiên cần phải tiến hành xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện một cách chi tiết, cụ thể, rõ ràng Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng phải được xây dựng gồm các nội dung cơ bản sau:
- Kế hoạch về tổ chức điều hành: Dự kiến cơ quan chủ trì, phải phân công rõ trách nhiệm cho từng tổ chức, cá nhân có liên quan trong thực hiện chính sách, tránh phân công chồng chéo nhiệm vụ của cán bộ này với cán bộ khác, giữa cơ quan này với cơ quan khác
- Kế hoạch về cung cấp các nguồn vật lực: Dự kiến về cơ sở vật chất, trang thiết bị, các công cụ, dụng cụ, phương tiện kỹ thuật, nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo việc tổ chức triển khai thực hiện được thuận lợi, kịp thời, mang lại hiệu quả
- Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện: Dự kiến cụ thể thời gian từ khâu tuyên truyền, phổ biến chính sách, triển khai thực hiện đến khâu tổng kết đánh giá, chia sẻ và rút kinh nghiệm thực hiện chính sách Mỗi bước phải nêu
rõ thời gian dự kiến thực hiện và mục tiêu thực hiện
- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách: Dự kiến thời gian, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc tổ chức thực hiện chính sách
- Dự kiến những nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; về nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức và cá nhân tham gia thực hiện chính sách; về các
Trang 21hình thức khen thưởng, biện pháp kỷ luật trong tổ chức thực hiện chính sách
Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách ở lĩnh vực nào, cấp nào do lãnh đạo lĩnh vực đó, cấp đó xem xét thông qua Sau khi kế hoạch được quyết định thông qua thì việc thực hiện chính sách mang giá trị pháp lý, được mọi người chấp hành thực hiện
Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách có thể điều chỉnh nếu kế hoạch đó còn có những vấn đề chưa phù hợp với thực tế Việc điều chỉnh kế hoạch cũng do lãnh đạo đã quyết định thông qua quyết định điều chỉnh
1.2.2.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Đây là một hoạt động quan trọng đối với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và các đối tượng thực hiện chính sách Thực hiện tốt công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách sẽ giúp cho các đối tượng chính sách và người dân nhận biết về mục đích, yêu cầu của chính sách để họ tự giác tham gia thực hiện; đồng thời giúp cho cán bộ, công chức tổ chức thực hiện chính sách nhận thức về tầm quan trọng của chính sách đối với đời sống xã hội, để chủ động nghiên cứu, tham mưu các giải pháp thích hợp, mang lại hiệu quả cao trong việc triển khai thực hiện chính sách
Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách phải được thực hiện kịp thời để đối tượng chính sách sớm tiếp cận, kê khai, thụ hưởng chính sách Nếu đối tượng chậm được tiếp cận thông tin sẽ gây thiệt thòi trong xác lập hồ sơ để thụ hưởng chính sách; đồng thời các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách sẽ ảnh hưởng đến tiến độ triển khai thực hiện, ảnh hưởng đến việc tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách
1.2.2.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Để việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng đạt
Trang 22hiệu quả cao, cần phải có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan
có liên quan, các cấp, chính quyền địa phương Việc phân công phải thực hiện
cụ thể, rõ ràng, theo đó: xác định rõ cơ quan, đơn vị, cá nhân chủ trì, cơ quan, đơn vị, cá nhân phối hợp, tránh phân công chồng chéo hay chung chung
Thực tế, chính sách mới ban hành nhưng không thể triển khai thực hiện hoặc thực hiện không mang lại hiệu quả là do sự phân công trách nhiệm cho
cơ quan chủ quản và các cơ quan phối hợp bị chồng chéo và không rõ ràng; xảy ra tình trạng đùn đẩy, né tránh, hoặc ôm đồm dẫn đến không ai làm hết trách nhiệm hoặc làm nửa vời không đến nơi, đến chốn Chính vì vậy, để việc
tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng có hiệu quả, cần phải có sự thống nhất cao về quan điểm, mục tiêu chính sách; từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo đến công tác phổ biến, tuyên truyền, công tác cung ứng nguồn lực tài chính, trang thiết bị và cơ sở vật chất đảm bảo đến thực hiện chính sách
1.2.2.4 Duy trì chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Duy trì chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là hoạt động nhằm bảo đảm cho chính sách tồn tại được và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Vì thế, các cơ quan, tổ chức có liên quan và người thực hiện chính sách phải luôn quan tâm công tác tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách tích cực tham gia vào quá trình thực hiện chính sách để có những tham mưu đề xuất và những giải pháp phù hợp
Nếu việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng gặp phải những khó khăn, vướng mắc do môi trường thực tế biến động thì cơ quan nhà nước chủ động sử dụng các công cụ quản lý tác động nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công Trong một chừng mực nào đó, để đảm bảo lợi ích cho người có công, các cơ quan nhà nước có thể kết hợp sử dụng biện pháp hành chính để duy trì chính sách
Trang 231.2.2.5 Điều chỉnh, bổ sung chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền được điều chỉnh, bổ sung chính sách
ưu đãi người có công với cách mạng để cho chính sách ngày cảng phù hợp với yêu cầu và tình hình thực tế Cơ quan nào có quyền ban hành chính sách thì cơ quan đó có quyền điểu chỉnh, bổ sung chính sách Nhưng trong thực tế, việc điều chỉnh các cơ chế chính sách, các biện pháp thực hiện diễn ra rất linh hoạt Chính vì thế, các cơ quan nhà nước, các ngành, các cấp chủ động điều chỉnh cơ chế chính sách, biện pháp để thực hiện có hiệu quả hơn nhưng không làm thay đổi mục tiêu chính sách
Trong tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, việc điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách phải chính xác, hợp lý, nếu không sẽ làm sai lệch chính sách, biến dạng chính sách, làm chính sách trở nên kém hiệu quả, thậm chí không tồn tại được
1.2.2.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Ở từng vùng, từng địa phương không giống nhau về điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường , cũng như không đồng đều về trình
độ, năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ trong các cơ quan nhà nước, do vậy các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, từ
cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách, đến các cơ quan và cán bộ, công chức được phân công thực hiện chính sách; kiểm tra chính sách đã được triển khai đúng chưa, tiến độ thực hiện có đảm bảo không; việc tổ chức thực hiện
có đúng nguyên tắc, quy trình, kế hoạch đã ban hành hoặc đến được các đối
Trang 24tượng chính sách chưa
Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng nhằm đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong việc tổ chức thực hiện chính sách; ngăn ngừa các sai sót, lệch lạc có thể xảy ra; chấn chỉnh hoặc xử lý các vi phạm đã xảy ra; kịp thời đề nghị điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chính sách, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
1.2.2.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm là một hoạt động xem xét, kết luận việc chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực hiện chính sách
Hằng năm, từ Trung ương đến địa phương được tổ chức đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm về chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng từ khâu xây dựng
kế hoạch thực hiện chính sách đến lãnh đạo, chỉ đạo triển khai; công tác tuyên truyền, phổ biến; công tác phối hợp, tổ chức thực hiện nhằm biểu dương những kết quả đã đạt được của các tập thể, cá nhân, đồng thời nêu ra những hạn chế, khuyết điểm hoặc những phát sinh mới trong thực tiễn Trên cơ sở
đó, kiến nghị đến cấp có thẩm quyền bổ sung, điều chỉnh chính sách cho phù hợp thực tiễn, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người có công với cách mạng
Vì vậy, việc đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm là một nội dung quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách Thực hiện bước này một cách sát đúng, toàn diện mới biết được chính xác kết quả và hiệu quả trong tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
1.3 Chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam
Trang 25anh hùng
1.3.1 Việc thực hiện trợ cấp ưu đãi
Ưu đãi người có công với cách mạng là một chính sách lớn của Đảng
và Nhà nước, đó là sự đãi ngộ đặc biệt, là trách nhiệm và là sự ghi nhận, tôn vinh những cống hiến, đóng góp, sự hy sinh của họ đối với đất nước
- Tại khoản 9, Điều 1 Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 quy định các chế độ ưu đãi đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng bao gồm:
Các chế độ ưu đãi đối với thân nhân liệt sĩ quy định tại Điều 14 của Pháp lệnh này;
Phụ cấp hàng tháng;
Trợ cấp người phục vụ đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình;
Điều dưỡng phục hồi sức khỏe hàng năm;
Nhà nước và xã hội tặng nhà tình nghĩa hoặc hỗ trợ về nhà ở quy định tại khoản 4 Điều 4 của Pháp lệnh này
- Tại Điều 23 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định chế độ ưu đãi đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng bao gồm:
- Tại Điều 3, Nghị định số 56/2013/NĐ-CP quy định chế độ ưu đãi đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng, theo đó:
Trang 26+ Bà mẹ được tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” được tặng Bằng, Huy hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng;
+ Tổ chức lễ tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” được quy định như sau:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức lễ tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà
mẹ Việt Nam anh hùng”;
Lễ tặng hoặc truy tặng được tổ chức trang trọng, tiết kiệm, có ý nghĩa giáo dục truyền thống; trang trí buổi lễ có dòng chữ: Lễ tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”
+ Tổ chức lễ tang khi Bà mẹ Việt Nam anh hùng từ trần được quy định như sau:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức lễ tang với thành phần đại điện cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội; cơ quan, đơn vị phụng dưỡng và nhân dân nơi bà mẹ cư trú;
Lễ tang được tổ chức trang trọng, tiết kiệm phù hợp với phong tục, tập quán của địa phương; trang trí buổi lễ có dòng chữ: Lễ tang Bà mẹ Việt Nam anh hùng
+ Kinh phí tổ chức lễ tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước
“Bà mẹ Việt Nam anh hùng” không quá 01 tháng lương tối thiểu chung cho
01 trường hợp; lễ tang Bà mẹ Việt Nam anh hùng không quá 02 tháng lương tối thiểu chung cho 01 trường hợp”
1.3.2 Việc thực hiện chăm sóc sức khỏe
Việc chăm sóc sức khỏe cho người có công là trách nhiệm của toàn xã hội trong việc tạo ra và phát triển một môi trường lành mạnh cho các hoạt
Trang 27động chăm sóc người có công Ở mỗi địa phương đây là cộng đồng trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể, quần chúng
và của nhân dân Đây cũng là trách nhiệm, tình cảm của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp trong việc thực hiện công tác Đền ơn đáp nghĩa
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số
13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 03/6/2014 [4] thì Bà mẹ Việt Nam anh hùng được hưởng chế độ
điều dưỡng phục hồi sức khoẻ theo quy định mỗi năm một lần, được cấp thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh, được trang cấp phương tiện trợ giúp dụng cụ chỉnh hình khi có chỉ định của cơ sở y tế
Bên cạnh các chính sách, chế độ của Nhà nước, phải phát triển rộng rãi các hình thức chăm sóc người có công ở cộng đồng để người dân chủ động tham gia; đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho sự nghiệp phát triển, khai thác các nguồn lực đang tiềm ẩn trong cộng đồng xã hội Cùng với việc tăng dần ngân sách Nhà nước, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong cộng đồng xã hội, tạo thêm điều kiện cho các hoạt động chăm sóc sức khoẻ người có công ngày càng chất lượng hơn Việc xã hội hoá, huy động nguồn lực trong nhân dân để thực hiện chăm sóc sức khỏe người có công phải được thực hiện thường xuyên, bởi vì chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng là một chính sách lớn và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của đất nước
Như vậy, ngoài chính sách chăm sóc sức khỏe đối với người có công theo quy dịnh hiện hành, việc huy động xã hội hóa chăm sóc sức khỏe người
có công đã góp phần chăm lo tốt hơn sức khỏe, tinh thần của họ, trong đó có
Bà mẹ Việt Nam anh hùng
1.3.3 Phong trào nhận phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, thời gian qua nhiều cơ quan, đơn
vị, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đã nhận phụng dưỡng các Bà mẹ Việt
Trang 28Nam anh hùng Những việc làm có ý nghĩa này đã thể hiện tình cảm, trách nhiệm đối với những người đã cống hiến, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc Phong trào nhận phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng đã được các địa phương, đơn vị, doanh nghiệp hưởng ứng nhiệt tình, chất lượng phụng dưỡng ngày càng được nâng lên cả về vật chất và hình thức thực hiện Ngoài các chính sách, chế độ ưu đãi của Nhà nước theo quy định, các cơ quan, đơn
vị nhận phụng dưỡng Mẹ hàng tháng đã gửi tiền mặt cho Mẹ, đồng thời tổ chức thăm hỏi và tặng quà khi các Mẹ ốm đau và các dịp lễ, Tết Những nghĩa cử ấy đã cải thiện đời sống vật chất, kịp thời động viên về mặt tinh thần, góp phần nâng cao hơn chất lượng cuộc sống của các Mẹ
1.3.4 Chính sách hỗ trợ nhà ở
Cùng với thực hiện tốt các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, phát huy truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, thời gian qua việc tặng nhà tình nghĩa hoặc hỗ trợ về nhà ở cho Bà mẹ Việt Nam anh hùng cũng luôn được Nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm
Việc hỗ trợ nhà ở cho Bà mẹ Việt Nam anh hùng được quy định tại
Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 [21] của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 09/2013/TT-BXD ngày 01/7/2013 của Bộ Xây dựng [7]
+ Đang sinh sống và có đăng ký hộ khẩu thường trú trước ngày 15 tháng 6 năm 2013 (ngày Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành) tại nhà ở mà nhà ở đó thuộc một trong các điều kiện sau:
Trang 29Nhà ở bị hư hỏng nặng phải phá dỡ để xây dựng lại nhà ở mới;
Nhà ở bị dột nát, hư hỏng cần phải sửa chữa phần khung - tường và thay mới mái nhà
- Về mức hỗ trợ:
Mức hỗ trợ về nhà ở cho người có công được đảm bảo từ ngân sách nhà nước (bao gồm nguồn ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương) Cụ thể như sau:
+ Mức 40.000.000 đồng/nhà đối với trường hợp nhà ở bị hư hỏng nặng phải phá dỡ để xây dựng lại nhà ở mới
+ Mức 20.000.000 đồng/nhà đối với trường hợp phải sửa chữa khung, tường và thay mới mái nhà ở hiện có
1.3.5 Chương trình tặng sổ tiết kiệm
Bên cạnh chương trình hỗ trợ về nhà ở, chương trình tặng sổ tiết kiệm cho Bà mẹ Việt Nam anh hùng cũng được các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp
và cá nhân hưởng ứng thực hiện một cách tích cực, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc Tuy trị giá mỗi sổ không lớn nhưng chứa đựng giá trị tinh thần lớn lao, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, cộng đồng xã hội đối với các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, góp phần động viên, chia sẻ
và giúp đỡ những Bà mẹ Việt Nam có thêm điều kiện để tiếp tục vươn lên trong cuộc sống
1.4 Những nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Việc thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng có thể chịu tác động của nhiều nhân tố:
- Thể chế, chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng: Chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội, thể hiện trong việc Nhà
Trang 30nước tổ chức nghiên cứu, hoạch định, hoàn thiện hệ thống chính sách, chế độ
và tổ chức thực hiện Việc tổ chức thực hiện chính sách ưu dãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng phải phù hợp, đảm bảo chắc chắn và
ổn định Chính sách này cần phải được sửa đổi, bổ sung điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục hồ sơ nhằm tuyên dương những người Mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh
vì Tổ quốc và nhằm nâng cao và cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần cho những Bà mẹ Việt Nam anh hùng Thể chế, chính sách phù hợp với thực tiễn cuộc sống thì việc thực thi chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng sẽ thuận lợi, khả thi; nếu không phù hợp với thực tiễn thì dẫn đến việc tổ chức thực hiện sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí không khả thi, thiếu hiệu quả
- Tính chất của vấn đề chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà
mẹ Việt Nam anh hùng: Đây là yếu tố gắn liền với mỗi vấn đề chính sách, có tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn đề bằng chính sách và tổ chức thực hiện chính sách Nếu vấn đề của chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng
Bà mẹ Việt Nam anh hùng đơn giản, liên quan đến ít đối tượng thì công tác tổ chức thực thi chính sách sẽ được thuận lợi hơn các vấn đề phức tạp có quan
hệ lợi ích với nhiều đối tượng trong xã hội
- Môi trường thực hiện chính sách: Các yếu tố liên quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hoá của từng địa phương cũng tác động đến việc thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng Những địa phương có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi, có điều kiện kinh tế xã hội phát triển sẽ có tác động thúc đẩy việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng Ngược lại, những địa phương có môi trường không thuận lợi sẽ trở ngại, kìm hãm các hoạt động này, dẫn đến việc thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng đạt hiệu quả không cao
Trang 31- Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Mỗi bước trong quy trình thực hiện đều có vị trí, ý nghĩa và tác động nhất định đối với quá trình thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng Trên thực tế, quy trình thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng được bắt đầu
từ công tác tuyên truyền, vận động về chính sách và triển khai thực hiện chính sách Tuyên truyền, phổ biến, vận động thực hiện tốt chính sách sẽ củng cố thêm lòng tin của người dân, của đối tượng vào chính sách của nhà nước; tăng cường tính tự giác thực hiện chính sách của đối tượng thụ hưởng và quyết tâm chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức tổ chức thực thi chính sách Do đó, trong tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng phải thực hiện đúng và đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách
- Nguồn lực thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà
mẹ Việt Nam anh hùng: Ngoài nguồn lực của Nhà nước thì nguồn lực xã hội hoá từ cộng đồng là một yếu tố rất quan trọng và ý nghĩa, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của xã hội, của cộng đồng đối với người có công mà đặc biệt là các Bà mẹ Việt Nam anh hùng trong công tác “Đền ơn đáp nghĩa”
- Tổ chức bộ máy và cán bộ thực thi: Cần quan tâm đến việc kiện toàn
tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ cán bộ công chức - nhất là đội ngũ cán
bộ chủ chốt của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, cán bộ Ban Thương binh xã hội cấp xã phải có năng lực công tác, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tâm huyết uy tín đối với người có công và tận tuỵ trong việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, vì đây là yếu tố có vai trò quyết định đến kết quả của tổ chức thực hiện chính sách Cán bộ, công chức có trình độ năng lực thực tế, có phẩm chất đạo
Trang 32đức tốt còn thể hiện ở việc giải quyết vấn đề trong quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và cá nhân trong xã hội
- Nhận thức của xã hội và người dân: Việc thực hiện chính sách cần tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của người dân vì đây là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, đặc biệt là chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng Người có công và thân nhân vừa trực tiếp tham gia thực hiện chính sách, vừa là đối tượng được thụ hưởng những lợi ích từ chính sách Nếu chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội về mục tiêu, phương hướng và giải pháp thì nó sẽ nhanh chóng đi vào lòng dân, được nhân dân ủng hộ tích cực Ngược lại, nếu chính sách chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng không thiết thực, không phù hợp thì chính sách sẽ khó triển khai trong thực tiễn
1.5 Kinh nghiệm trong thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Thanh Hoá và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Nam
1.5.1 Kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Thanh Hoá
Thanh Hoá là tỉnh số số lượng đối tượng chính sách người có công với cách mạng lớn Toàn tỉnh hiện đang quản lý gần 330.000 người có công, trong đó có: trên 56.000 liệt sĩ, gần 46.000 thương binh, hơn 16.000 bệnh binh, 2.000 cán bộ lão thành cách mạng, gần 600 cán bộ tiền khởi nghĩa Đặc biệt, cả tỉnh có 4.573 Mẹ Việt Nam anh hùng (còn sống 148 Mẹ) Hàng tháng, toàn tỉnh chi trả trợ cấp cho gần 77.000 đối tượng người có công với tổng kinh phí trên 135 tỷ đồng và chế độ đối với thân nhân người có công khoảng 25.000 người với tổng kinh phí gần 30 tỷ đồng
Trong 5 năm qua, đã vận động đóng góp vào Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”
Trang 33trên 70 tỷ đồng, từ nguồn Quỹ này tỉnh đã hỗ trợ xây mới 341 nhà và sửa chữa 677 nhà ở cho người có công với kinh phí gần 34 tỷ đồng Nhìn chung, nhà ở của hầu hết các Mẹ đều ổn định, vững chắc
Từ năm 2015 đến nay, hằng năm đã thực hiện chế độ điều dưỡng (tập trung và gia đình) cho từ 25.000 - 28.000 lượt người có công và thân nhân; 100% người có công và thân nhân được cấp thẻ bảo hiểm y tế phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh Ngoài chế độ, chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước, hằng năm tỉnh Thanh Hoá cũng đã trích ngân sách trên 30 tỷ đồng để trợ cấp,
tổ chức thăm hỏi, động viên, tặng quà người có công có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn các huyện, thành phố Hiện tại, 98% gia đình thương binh, liệt
sĩ, gia đình người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn bình quân toàn tỉnh; 100% xã, phường, thị trấn ở tỉnh Thanh Hoá được công nhận làm tốt công tác thương binh liệt sĩ
Bên cạnh đó, nhằm kế thừa và phát huy đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” công tác xã hội hoá và phong trào chăm sóc người có công luôn được các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh thực hiện Đến nay, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã thực sự trở thành một phong trào sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội, các cấp, các ngành với nhiều hình thức phong phú, sáng tạo, trở thành nét đẹp văn hoá trong đời sống xã hội Toàn tỉnh có 148 Mẹ Việt Nam anh hùng còn sống đều được các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp nhận phụng dưỡng và được thăm, tặng quà vào các dịp lễ, tết hoặc chăm sóc lúc Mẹ ốm đau
Công tác quản lý đối tượng, quản lý trợ cấp ưu đãi đối với người có công và thân nhân cũng được ngành Lao động - Thương binh và Xã hội từ tỉnh đến huyện, thành phố và xã, phường, thị trấn thực hiện đạt kết quả; việc chi trả trợ cấp cho đối tượng được cơ bản thực hiện kịp thời, đảm bảo đúng đối tượng và đến tận tay người được hưởng trợ cấp Công tác thanh tra, kiểm
Trang 34tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân luôn được các cấp, các ngành, địa phương chú trọng triển khai thực hiện thường xuyên Công tác cải cách thủ tục hành chính từng bước thực hiện hiệu quả, giúp việc giải quyết các chế độ, chính sách cho người có công được nhanh chóng, không gây phiền hà, tiết
kiệm chi phí và thời gian đi lại của người có công [39]
Có thể khẳng định rằng, để đạt được những kết quả trên, trong những năm qua các ngành, các cấp của tỉnh Thanh Hoá luôn dành sự quan tâm sâu sắc đến mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần cho các gia đình chính sách, đã tập trung triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chính sách, chế độ ưu đãi của Đảng, Nhà nước đối với người có công; cùng với đó là sự chung tay, góp sức của các tổ chức, cá nhân, của đơn vị, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, của cộng đồng xã hội nhằm thực hiện đạo lý, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”
Tuy nhiên, từ thực tế trong công tác chăm sóc người có công, Thanh Hoá vẫn gặp phải những khó khăn do một bộ phận người có công ở vùng sâu, vùng xa đang phải sinh hoạt trong những căn nhà thiếu kiên cố, đời sống vật chất còn thiếu thốn Việc chăm sóc sức khoẻ khi đau yếu, chữa trị chưa được chu đáo là những vấn đề cần được quan tâm hơn nữa
Nhằm thực hiện tốt hơn nữa công tác chăm sóc người có công và đẩy mạnh các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, trong thời gian tới, chính quyền các cấp, các địa phương và ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thanh Hoá sẽ tập trung giải quyết cơ bản các vấn đề còn tồn đọng, tạo điều kiện thuận lợi để người có công được thụ hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước Bên cạnh nguồn lực của Nhà nước, các cấp, các ngành, các địa phương
sẽ tiếp tục đẩy mạnh xã hội hoá, huy động toàn xã hội cùng tham gia chung tay góp sức chăm sóc ngày càng tốt hơn đời sống của gia đình người có công;
Trang 35triển khai thực hiện phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” một cách sâu rộng, mạnh mẽ trong các tầng lớp nhân dân; phấn đấu đến cuối năm 2020, 100% hộ người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân nơi cư trú Ngoài ra, tỉnh sẽ chủ động phối hợp đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, kiên quyết không để xảy ra tiêu cực trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng
1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Nam
- Làm tốt công tác quán triệt, phổ biến, tuyên truyền đầy đủ và kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến các cấp ủy đảng, chính quyền và người có công với cách mạng, qua đó góp phần nâng cao nhận thức
về truyền thống đấu tranh cách mạng, sự cống hiến, hy sinh của các Anh hùng liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc
- Xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể về thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng với nội dung thiết thực theo hướng xã hội hóa và phải nằm trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
- Tập trung thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng
- Ngoài các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước, sự hỗ trợ của toàn xã hội, phải phát huy sự phấn đấu, nỗ lực vươn lên của các Mẹ Việt Nam anh hùng
- Tăng cường vai trò lãnh đạo, ý thức trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp của Mặt trận, các đoàn thể trong việc vận động thực hiện hiệu quả công tác Đền ơn đáp nghĩa Tranh thủ sự quan tâm hỗ trợ, giúp đỡ về vật chất và tinh thần của các cơ quan, đơn vị ở Trung ương, ở các tỉnh, thành phố, các doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ
Trang 36trang để chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng
- Công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng phải được xác định là một trong những nội dung của phong trào thi đua yêu nước, là chỉ tiêu xét khen thưởng hoàn thành nhiệm vụ kinh
tế - xã hội, an ninh - quốc phòng hằng năm của địa phương Phải lấy xã, phường, thị trấn làm đơn vị để tổ chức phát động phong trào thi đua và phải chú trọng việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm
Tiểu kết Chương 1
Tại Chương 1, trên cơ sở lý thuyết về chính sách công đã được học, luận văn đã tổng hợp những vấn đề lý luận chung về thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, làm rõ những khái niệm về chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, chương trình chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng , nêu những chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng nói chung
và chính sách ưu đãi đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng nói riêng của Đảng và Nhà nước ta
Chương 1 cũng nêu các bước tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người
có công với cách mạng; những nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách
ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng và kinh nghiệm trong thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Thanh Hoá và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Nam
Cơ sở lý luận nghiên cứu của Chương 1 này sẽ là tiền đề quan trọng để tác giả phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng tỉnh Quảng Nam
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI, CHĂM SÓC,
PHỤNG DƯỠNG BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG Ở
TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở tỉnh Quảng Nam
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Quảng Nam là một tỉnh ven biển, nằm trong Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung; phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Đông giáp biển Đông và phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm: 2 thành phố, 01 thị xã, 6 huyện đồng bằng và 9 huyện miền núi) với 244 xã, phường, thị trấn Với diện tích 10.438 km², dân số 1.495.812 người (tính đến ngày 01/4/2019), mật độ dân số trung bình là 143 người/km²
so với 293 người/km² của cả nước Quảng Nam là tỉnh duy nhất của duyên hải Nam Trung Bộ có đường biên giới quốc tế
Là tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, nên chỉ có 2 mùa là
2.000 - 2.500 mm nhưng phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng, thường tập trung từ tháng 9 đến
tháng 12 hàng năm (chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm) [10, tr.10-11]
2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Sau 4 năm triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2016-2020, kinh tế Quảng Nam tiếp tục phát triển vượt bậc, trở thành điểm sáng của Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung, với quy mô nền
Trang 38kinh tế gần 100.000 tỷ đồng, đứng vị trí thứ hai trong Vùng
Tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2016-2019 đạt 10,7%/năm; GRDP bình quân đầu người đạt 66,3 triệu đồng Ngành công nghiệp đóng góp tích cực vào nền kinh tế, nhất là sản xuất, lắp ráp ô tô Ngành dịch vụ, du lịch phát triển nhanh và ngày càng có nhiều dự án quy mô lớn đi vào hoạt động Tổng lượt khách tham quan lưu trú 4 năm 2016-2019 ước gần 23 triệu lượt, tăng bình quân 15,7%/năm
Thu ngân sách của tỉnh tăng cao, riêng năm 2019, tổng thu ngân sách khoảng 23.000 tỷ đồng Đặc biệt, kể từ năm 2017, sau 20 năm tái lập, Quảng Nam trở thành tỉnh tự cân đối ngân sách, có điều tiết về ngân sách Trung
ương [11]
Song song với phát triển kinh tế, lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến
bộ, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện Tỉnh cũng giải quyết việc làm mới cho 71.000 lao động, bình quân mỗi năm giải quyết 17.700 lao động Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch tích cực với tỉ lệ lao động trong lĩnh vực nông
nghiệp từ 47,7% năm 2016 giảm xuống còn 39% năm 2019 [11] Tỷ lệ hộ
nghèo giảm đáng kể, từ 32% vào cuối năm 2015 xuống còn 6,06% vào cuối
năm 2019 [38]
Quảng Nam có 02 di sản văn hóa thế giới được công nhận vào năm
1999 là Khu di tích Mỹ Sơn và Khu đô thị cổ Hội An Toàn tỉnh só 330 di tích cấp tỉnh, 61 di tích quốc gia được xếp hạng đặc biệt
Cùng với những đổi thay, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đời sống kinh tế của người có công nói chung và của các Mẹ Việt Nam anh hùng nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam cũng có rất nhiều đổi thay Đặc biệt trong những năm gần đây, nhờ sự đổi mới toàn diện, đời sống các tầng lớp dân cư, trong đó có Bà mẹ Việt Nam anh hùng khá hơn trước rất nhiều
Kinh tế càng phát triển thì cơ sở hạ tầng của xã hội ngày càng hoàn
Trang 39thiện, sẽ bảo đảm cho việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, trong đó có Bà mẹ Việt Nam anh hùng và công tác “Đền ơn đáp nghĩa” được tốt hơn
Đối với tỉnh Quảng Nam, ngoài nguồn kinh phí Trung ương uỷ quyền thực hiện các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công và thân nhân thì hằng năm Uỷ ban nhân dân tỉnh cũng đã bố trí một khoản kinh phí từ ngân sách tỉnh để góp phần thực hiện tốt hơn chính sách này Từ năm 2015 - 2019,
Uỷ ban nhân dân tỉnh đã bố trí trên 500 tỷ đồng để trợ cấp, tặng quà cho người có công với cách mạng dịp tết Nguyên đán và nhân ngày Thương binh - Liệt sĩ hàng năm, trong đó thăm hỏi, trợ cấp, tặng quà cho Bà mẹ Việt Nam anh hùng gần 10 tỷ đồng
Với sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền tỉnh Quảng Nam đối với người có công với cách mạng đã góp phần làm ổn định chính trị - xã hội, từ đó góp phần phát triển về kinh tế
2.1.2 Về công tác tuyên truyền, triển khai thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Xác định công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng là nhiệm vụ hết sức quan trọng Sau khi Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”
và các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành liên quan ban hành, tỉnh Quảng Nam đã tổ chức nhiều hội nghị triển khai nhằm quán triệt chủ trương chính sách, phổ biến, hướng dẫn tổ chức thực hiện đến các ngành, các cấp - nhất là đội ngũ những người làm công tác chính sách ưu đãi người có công; đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực người có công đã được đổi mới thông qua nhiều hình thức phong phú như: các phương tiện thông tin đại chúng, các buổi
Trang 40gặp mặt, tọa đàm nhân ngày Thương binh - Liệt sĩ, tổ chức đối thoại về thực hiện chính sách ưu đãi người có công để phổ biến, truyền tải những chính sách ưu đãi người có công tới toàn thể nhân dân Đồng thời, bồi dưỡng kiến thức và chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác thương binh xã hội ở các xã, phường, thị trấn
Hằng năm, tỉnh cũng đã tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về công tác chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng để người có công, nhân dân được biết, thực hiện và giám sát việc thực hiện
Một số văn bản của tỉnh Quảng Nam đã ban hành liên quan đến công tác tuyên truyền, chỉ đạo, triển khai thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn tỉnh như sau:
- Chỉ thị số 21/CT-UBND ngày 07 tháng 6 năm 2016 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam về tăng cường chỉ đạo thực hiện chính sách ưu đãi người
có công với cách mạng;
- Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 11 tháng 4 năm 2017 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam về đẩy mạnh thực hiện công tác người có công với cách mạng và tổ chức các hoạt động kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2017);
- Công văn số 3296/UBND-KGVX ngày 29 tháng 6 năm 2017 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam về phát động phong trào chăm lo đối tượng chính sách người có công nhân kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ;
- Thư kêu gọi của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ngày 03 tháng 7 năm 2017 về hỗ trợ, chăm sóc người có công với cách mạng tỉnh Quảng Nam;
- Kế hoạch số 2694/QĐ-UBND ngày 22 tháng 6 năm 2015 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam về tổ chức Lễ phát động nhận phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng;