1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên trường đại học hà nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục

103 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Việc hỗ trợ các nguồn lực trong công tác tổ chức các hoạt động ngoài giờ không những giúp cho quá trình bồi dưỡng và phát triển nhân cách của sinh viên mà chính trong quá trình phối hợ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ THỊ THÚY

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ CHÍNH KHÓA

CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI TRONG

BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ THỊ THÚY

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ CHÍNH KHÓA

CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI TRONG

BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

Ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8.14.01.14

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THỊ THANH NGA

HÀ NỘI, 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Nếu có điều gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 26 tháng 8 năm 2020

Tác giả luận văn

Hà Thị Thúy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn với đề tài: “Quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên trường Đại học Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục” tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Thanh Nga, người đã tận

tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình viết luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô giáo trong khoa Tâm lý- Giáo dục, Học viện Khoa học xã hội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian tôi học tập tại Nhà trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo, các em sinh viên và bạn bè đồng nghiệp trường Đại học Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi, đóng góp ý kiến giúp tôi hoàn thành luận văn này

Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được các Quý Thầy, Cô và toàn thể các bạn đóng góp ý kiến

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Hà Thị Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ CHÍNH KHÓA CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC 9

1.1 Lý luận về hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên ở trường đại học 9

1.2 Lý luận về quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa tại trường đại học 17

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa 29

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ CHÍNH KHÓA CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 34

2.1 Khái quát chung về Trường Đại học Hà Nội 34

2.2 Quá trình tổ chức khảo sát thực trạng 37

2.3 Thực trạng hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên Trường Đại học Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục 38

2.4 Thực trạng công tác quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên tại Trường Đại học Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục 46

2.5 Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa cho sinh viên tại Trường Đại học Hà Nội 58

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ CHÍNH KHÓA CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 64

3.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa 64

3.2 Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên trường Đại học Hà Nội 64

3.3 Khảo sát ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp 74

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL: Cán bộ quản lý CSVC: Cơ sở vật chất CTSV & QHDN: Công tác sinh viên & Quan hệ doanh nghiệp CT-XH: Chính trị - xã hội

ĐHHN: Đại học Hà Nội GDCT -TT, ĐĐ, LS: Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống GDCT: Giáo dục chính trị

GV: Giảng viên HĐNGCK: Hoạt động ngoài giờ chính khóa KTCM: Kiến thức chuyên môn

LĐCI: Lao động công ích NGCK: Ngoài giờ chính khóa SV: Sinh viên

TDTT: Thể dục thể thao VH-TT: Văn hóa thể thao VHVN: Văn hóa văn nghệ

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Nhận thức về mức độ cần thiết của hoạt động ngoài giờ chính khóa 38Bảng 2.2: Nhận thức về mục tiêu hoạt động ngoài giờ chính khóa 39Bảng 2.3: Thực trạng về mức độ thường xuyên của các hình thức hoạt động ngoài

giờ chính khóa 40Bảng 2.4:Thực trạng mức độ phù hợp của nội dung hoạt động ngoài giờ chính khóa

của sinh viên tại trường Đại học Hà Nội 42Bảng 2.5: Thực trạng về mức độ hiệu quả của các hoạt động ngoài giờ chính khóa

cho sinh viên Trường Đại học Hà Nội 44Bảng 2.6: Mức độ phối hợp giữa các lực lượng giáo dục tham gia triển khai hoạt

động ngoài giờ chính khóa cho sinh viên tại trường Đại học Hà Nội 45Bảng 2.7: Xây dựng kế hoạch các hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên 47Bảng 2.8: Tổ chức triển khai các hoạt động ngoại giờ chính khóa cho sinh viên 49Bảng 2.9: Chỉ đạo thực hiện các hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên tại

trường Đại học Hà Nội 51Bảng 2.10: Kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên

tại trường Đại học Hà Nội 53Bảng 2.11: Quản lý sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục tham gia triển khai

hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên tại trường Đại học Hà Nội 55Bảng 2.12: Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa

cho sinh viên tại trường Đại học Hà Nội 57Bảng 2.13: Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa của

sinh viên tại Trường Đại học Hà Nội 58Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp được đề xuất 74Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp 75

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục là cách thức cơ bản để con người và xã hội loài người phát triển

Để đáp ứng với yêu cầu tạo ra nguồn nhân lực thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa

và hiện đại hóa đất nước và thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa Luật Giáo dục nước ta

đã xác định: “Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo

đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế” [21,tr1]

Nghị quyết số: 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ VIII BCH TƯ Khóa XI ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã nêu mục tiêu cụ thể đối với giáo dục đại học là: tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học; Đồng thời cũng đề ra nhiệm vụ, giải pháp thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là: tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học [1]

Chiến lược phát triển GD&ĐT đến năm 2020 của Chính phủ nêu: “Để đi tắt, đón đầu từ một nước kém phát triển thì vai trò của giáo dục và khoa học công nghệ lại càng có tính chất quyết định Giáo dục phải đi trước một bước, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược của kinh tế- xã hội” [3] Để làm được điều đó, trong chương trình đào tạo ở các cấp học, ngành học mà Bộ GD&ĐT xây dựng, ngoài các môn học cung cấp kiến thức cơ sở còn có các hoạt động bổ trợ, trong đó phải kể đến hoạt động ngoài giờ chính khóa Như vậy đổi mới phương pháp dạy học, giáo dục phù hợp với yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục, phát triển đất nước hiện nay là một việc làm tất yếu Đổi mới phương pháp dạy học - giáo dục cần định hướng vào việc phát triển tính chủ

Trang 9

động tích cực, sáng tạo của học sinh, khả năng hoạt động độc lập, khả năng hợp tác, khả năng tự đề xuất và giải quyết các vấn đề trong quá trình học tập và nhận thức cũng như khả năng tham gia vào các hoạt động mang tính tích cực

Là một yếu tố nằm trong hệ thống giáo dục của trường học, HĐNGCK có sự gắn kết chặt chẽ với các hoạt động khác trong nhà trường, nhằm cùng đạt tới mục tiêu chung là giáo dục sinh viên phát triển một cách toàn diện Đối với công tác chuyên môn chính khóa, công tác giảng dạy trên lớp, hoạt động ngoài giờ chính khóa có sự hỗ trợ tích cực giúp sinh viên tiếp thu kiến thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn HĐNGCK như một sự tiếp nối sinh động, mở rộng cho kiến thức mà sinh viên đã lĩnh hội trên lớp, giúp sinh viên say mê tìm tòi nghiên cứu nâng cao kết quả học tập của bản thân HĐNGCK còn góp phần nâng cao kết quả học tập của sinh viên trong nhà trường, nâng cao kết quả công tác đào tạo, góp phần tích cực vào công tác đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường Đối với công tác rèn luyện đạo đức, phẩm chất nhân cách cho sinh viên, HĐNGCK là môi trường tốt để sinh viên tự giáo dục và rèn luyện, rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân về mọi mặt, rèn luyện bản lĩnh, niềm tin, nhân cách, giao tiếp ứng xử, đối nhân xử thế… học tập những điều tốt và hạn chế cái xấu Đối với công tác giáo dục quản lý đánh giá sinh viên: HĐNGCK sẽ là một yếu tố quan trọng để giáo viên chủ nhiệm, và những người làm công tác quản lý theo dõi trực tiếp học sinh, sinh viên đánh giá đúng, đầy đủ, thực chất và toàn diện sinh viên về cả mặt rèn luyện phẩm chất đạo đức và học tập

Trong những năm qua Trường Đại học Hà Nội đã không ngừng quan tâm đến những HĐNGCK Ban Giám hiệu nhà trường đã nhận thức rõ vai trò của HĐNGCK, xác định đây là một dạng hoạt động có tầm quan trọng và chiến lược, là một hoạt động nhằm hỗ trợ cho chương trình nội khóa, góp phần hoàn thiện và phát triển nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng sáng tạo của sinh viên, giúp sinh viên củng cố và khắc sâu kiến thức, rèn luyện những kỹ năng cần thiết trong môi trường học đại học, giúp sinh viên phát huy khả năng tự tin với sự phát triển mạnh

mẽ của kỷ nguyên thông tin

Quá trình HĐNGCK cũng đã đạt được những thành tích nhất định, sinh viên đánh giá cao các chương trình Theo báo báo của Phòng CTSV & QHDN Trường Đại học Hà Nội có 45.9% sinh viên rất hài lòng với chương trình ngoại khóa và 49.4% cho rằng chương trình có sự bổ trợ kiến thức cho chuyên ngành của sinh viên đang theo học và 54.1% cho rằng chương trình ngoại khóa giúp ích cho sinh viên với định hướng nghề nghiệp trong tương lai [18] Điều này cho thấy rằng vẫn còn

Trang 10

những vấn đề tồn tại như giáo viên và sinh viên chưa nhận thức được sâu sắc tầm quan trọng của HĐNGCK, chưa huy động hết được các nguồn lực của nhà trường trong công tác quản lí cũng như nâng cao hiệu quả của HĐNGCK Trong công tác

tổ chức, quản lý, chỉ đạo còn thiếu chặt chẽ, chưa phối hợp đồng bộ các đơn vị của nhà trường trong tổ chức hoạt động, công tác kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm còn sơ sài chưa được quan tâm đúng mức Bên cạnh đó sự thay đổi từ phương thức đào tạo niên chế sang phương thức đào tạo tín chỉ và những yêu cầu thách thức mới đối với sinh viên cần phải trau dồi những kỹ năng cần thiết, giúp sinh viên tự tin tham gia vào thị trường lao động đang đòi hỏi ngày càng khắt khe

Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu:

“Quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên Trường Đại học Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục”

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

HĐNGCK được các nhà khoa học quan tâm từ rất sớm Cho đến nay, vấn đề này đã được nhiều lĩnh vực (Tâm lý học, Giáo dục học, Quản lý giáo dục, Xã hội học…) nghiên cứu ở mọi cấp học Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tôi xin trình bày một số công trình tiêu biểu sau:

2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Trong tác phẩm “J.A Cômenxki - Ông tổ của nền sư phạm cận đại” được xuất bản năm 1997 cũng đề cập tới hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Ông cho rằng: Học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà lĩnh hội kiến thức

từ bầu trời, mặt đất, cây sồi… Với quan điểm giáo dục mới của mình, JA Cômenxki đã dùng phương pháp dạy học mới, đặc biệt là việc mở rộng các hình thức học tập ngoài lớp, nhằm khơi dậy và phát huy những khả năng tiềm ẩn, nhằm rèn luyện cá tính cho học sinh [5]

Cùng với nhận định đó tác giả Pauk, W với cuốn sách Làm thế nào để học

tốt ở trường cao đẳng (How to study in collge) [17] cho rằng: Có nhiều điều cần

thiết hơn để trở thành một sinh viên thành công so với việc đơn giản chỉ học tập để đọc, viết và làm các phép tính toán học Cần phải bổ sung những kỹ năng cần có của một sinh viên như: học tập, hoạt động ngoại khóa, công việc làm ngoài giờ học

Và nhà giáo dục không tưởng đầu thế kỷ 16 Thomas More (1478 - 1535) cũng đã đánh giá rất cao vai trò của lao động đối với con người và đối với xã hội Ông cho rằng việc giáo dục con người phải thực hiện kết hợp giáo dục nhà trường, trong lao động và họat động xã hội [13] Tuy chưa định nghĩa thành “hoạt động giáo dục

Trang 11

ngoài giờ lên lớp” nhưng tư tưởng của Thomas More cho thấy sự cần thiết và vai trò của hình thức giáo dục này đối với việc giáo dục toàn diện học sinh

C Mác (1818-1883) và F.Anghen (1820-1895) đã có nhiều đóng góp to lớn cho nền giáo dục hiện đại: cung cấp cho khoa học giáo dục một phương pháp luận khoa học vững chắc để xây dựng khoa học giáo dục, vạch ra qui luật tất yếu của xã hội tương lai là đào tạo con người phát triển toàn diện Muốn vậy phải kết hợp giữa giáo dục đạo đức, thể dục, trí dục và lao động trong việc thực hiện giáo dục kĩ thuật tổng hợp, trong hoạt động thực tiễn và hoạt động xã hội [16]

Nhà giáo dục xô viết lỗi lạc người Nga A X Macarenco cũng đề cập tới nhiều hoạt động giáo dục khác nhau, ông cho rằng: một trong những logic của quá trình sư phạm là quá trình quản lý, tổ chức hợp lý các hoạt động tham gia vào cách mạng xã hội, lao động sản xuất, các hoạt động tập thể như vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, văn hoá nghệ thuật cho học sinh [22]

2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

HĐNGCK ở Việt Nam đã được quan tâm từ những năm 1990 về trước, hoạt động này đã được các tác giả là Đặng Vũ Hoạt [10] với ý tưởng đưa HĐNGCK thành một hoạt động có định hướng theo yêu cầu mục tiêu của giáo dục Việt Nam Ông đã xác định được vị trí, nhiệm vụ, nội dung, hình thức, quy trình và thiết kế những hoạt động ngoài giờ chính khóa cụ thể và cũng cấp những thông tin, tư liệu cần thiết cho việc thực hiện Có thể nói đây là công trình có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn cho HĐNGCK, nhưng do chưa đưa vào chương trình bắt

buộc, chưa quan tâm nên thực hiện hiệu quả chưa cao Hay trong cuốn sách: “Tổ

chức hoạt động giáo dục” của tác già Hà Nhật Thăng trong đó đề cập đến việc tổ

chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa và các phương pháp tổ chức các hoạt động với các lực lượng xã hội trong giáo dục [23]

Bên cạnh đó còn có một số tác giả đã biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo phục vụ cho đào tạo, bồi dưỡng HĐNGCK cho sinh viên và giáo viên phổ thông như những tác giả Nguyễn Dục Quang, Ngô Quang Quế đã biên soạn giáo trình HĐNGCK, trong đó các tác giả chủ yếu giới thiệu chương trình, các HĐNGCK, đánh giá kết quả, phối hợp các lực lượng thực hiện hoạt động ngoài giờ Hoặc tác

giả Phạm Thị Minh Hạnh biên soạn giáo trình “Tổ chức dạy môn hoạt động ngoài

giờ chính khóa ở trường CĐSP” trong giáo trình này tác giả đã thiết kế giáo án điện

tử để dạy học lý thuyết và rèn luyện các kỹ năng HĐNGCK cho sinh viên

Trang 12

Ngoài ra còn một số các tác giả khác cũng rất quan tâm đến nghiên cứu các

kỹ năng trong HĐNGCK như Trần Thị Hường “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập thực hành rèn luyện kỹ năng HĐNGCK trong dạy học giáo dục ở Đại học Sư Phạm” hay Nguyễn Thị Oanh nghiên cứu tìm hiểu một số biện pháp rèn luyện kỹ năng tổ chức HĐNGCK cho sinh viên CĐSP Hải Dương Hay dưới một góc độ

khác như tác giả Đoàn Trung Dung với nghiên cứu “Các giải pháp quản lý

HĐNGCK của sinh viên nội trú trường Đại học Khoa học Tự nhiên” Tại đây tác

giả đưa ra vai trò cần thiết của HĐNGCK đối với sinh viên, đặc biệt là sinh viên nội trú, đối tượng chủ yếu là sinh viên nội trú nhưng nghiên cứu cũng đã đưa ra những giải pháp cụ thể, hiệu quả đối với HĐNGCK

Vấn đề HĐNGCK đã thu hút được nhiều lực lượng nghiên cứu như các nhà khoa học, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và giáo viên đã có nhiều công trình luận văn, luận án nghiên cứu về chủ đề này, từ nghiên cứu thực nghiệm, nội dung hoạt động các nghiên cứu đã đạt được những thành tựu về lý luận và thực

tiễn, tiêu biểu như một số công trình luận án của Đặng Thị Kim Dung “Quản lý

hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của sinh viên các trường đại học theo quan điểm tăng cường tính tự quản” [7] Đây là một nghiên cứu có tâm huyết của tác giả

đối với HĐNGCK ở các trường đại học, ngoài việc nhận dạng đánh giá được thực trạng hiện nay về HĐNGCK của các trường đại học, tác giả còn đề xuất những giải pháp trong việc nâng cao chất lượng HĐNGCK, song bên cạnh đó luận văn còn hạn chế trong việc khai thác các góc độ của nhà quản lý của các đơn vị chức năng trong nhà trường cũng như sự khả thi trong việc chỉ đạo thực hiện hoạt động

- Luận văn “Thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học cơ sở bán công TP Hồ Chí Minh”, tác giả Trần Thị Minh Thi, năm 2005

- Luận văn “Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng các trường THPT Huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây trong giai đoạn hiện nay”, tác giả Nguyễn Như Ý, năm 2005

- Luận văn “Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông tỉnh Đồng Tháp”, tác giả Nguyễn Đức Điền, năm 2007

- Luận văn “Thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởng ở các trường trung học phổ thông huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh”, tác giả Phan Thị Hiền, năm 2008

Trang 13

- Luận văn “Công tác quản lí hoạt động ngoài giờ lên lớp của sinh viên học theo hệ tín chỉ tại Trường cao đẳng nghề Sài Gòn” tác giả Huỳnh Kim Thủy Tiên, năm 2010

Trong các luận văn tác giả đã đưa ra một số lý luận chung về hoạt động ngoài giờ lên lớp của của học sinh viên tại trường trung học cơ sở, từ đó phân tích thực trạng của hoạt động ngoài giờ lên lớp tại trường trung học cơ sở Các luận văn khá chi tiết

về vấn đề thực trạng của nhà trường, tuy nhiên nội dung các biện pháp chưa được

cụ thể đối với đối tượng nghiên cứu hay các nhóm đối tượng là học sinh phổ thông

cơ sở Tuy nhiên các tài liệu này cũng giúp tác giả bổ sung về cơ sở lý luận, cũng như các vấn đề đã nghiên cứu và vấn đề còn tồn tại

Tiếp đến là Luận án “Bồi dưỡng năng lực hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

cho sinh viên cao đẳng sư phạm” của tác giả Huỳnh Mộng Tuyền Đây cũng là một

nghiên cứu về lý luận việc tổ chức các HĐNGCK cho sinh viên ở các cơ sở đào tạo, tác giả đã nghiên cứu về nội dung và hình thức tổ chức HĐNGCK cho sinh viên, bên cạnh đó cũng đưa ra những giải pháp để tổ chức HĐNGCK hiệu quả đối với các cơ sở đào tạo

Các nghiên cứu trên tập trung nghiên cứu nhiều vấn đề của hoạt động ngoài giờ lên lớp Nhiều ý kiến khẳng định mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động ngoài giờ không chỉ đối với việc hình thành và phát triển các phẩm chất và nhân cách, đạo đức của học sinh, sinh viên mà còn góp phần củng cố, nâng cao kiến thức văn hoá cho người học Các hình thức, nội dung hoạt động ngoài giờ rất phong phú, đa dạng, phương thức tổ chức linh hoạt, mềm dẻo và sát với thực tiễn các trường học Như vậy, đã có rất nhiều tác giả đề cập tới vấn đề quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp Song chưa có nhiều công trình thực sự đi sâu vào nghiên cứu những thiết chế cụ thể, trong đó có trường đại học, đặc biệt là quản lý HĐNGCK của sinh viên Trường Đại học Hà Nội

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận các khái niệm về hoạt động ngoài giờ chính khóa và các nội dung về quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa cho sinh viên tại trường đại học bao gồm các khái niệm, đặc trưng và những nội dung cơ bản, từ đó làm căn cứ cơ

sở lý luận cho việc nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa cho sinh viên của Trường Đại học Hà Nội Dựa vào kết quả nghiên cứu đã thu được, phân tích những vấn đề trong công tác quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa

Trang 14

cho sinh viên, tác giả đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa cho sinh viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về quản lí HĐNGCK của sinh viên

- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý HĐNGCK của sinh viên Trường Đại học Hà Nội

- Đề xuất một số biện pháp nâng cao công tác quản lý HĐNGCK của sinh viên Trường Đại học Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên Trường Đại học Hà Nội

Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Quản lý HĐNGCK của sinh viên đại học chịu

tác động của nhiều yếu tố khác nhau - yếu tố chủ quan và khách quan, trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh khác nhau có yếu tố tác động trực tiếp, có yếu tố tác động gián tiếp, có yếu tố tác động nhiều, có yếu tố tác động ít Việc xác định đúng vai trò của từng yếu tố trong những hoàn cảnh cụ thể là điều cần thiết

Nguyên tắc tiếp cận hoạt động: Khi nghiên cứu về HĐNGCK của sinh viên,

cần nghiên cứu về hoạt động quản lý của Hiệu trưởng, của Phòng Công tác Sinh viên và Quan hệ Doanh nghiệp, và các đơn vị đào tạo trong nhà trường đối với hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên trong nhà trường

Nguyên tắc tiếp cận chức năng quản lý: Quản lý HĐNGCK của sinh viên,

của cán bộ quản lý trường đại học được thực hiện thông qua chức năng cơ bản của quản lý đó là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá

Tiếp cận quá trình giáo dục: Nghiên cứu đánh giá HĐNGCK của sinh viên

trường đại học theo tiếp cận các thành tố của quá trình giáo dục (mục đích, nội

Trang 15

dung, phương pháp, hình thức cho quá trình tổ thức thực hiện các hoạt động ngoài giờ chính khóa cho sinh viên đạt hiệu quả tốt đối với mục tiêu đề ra đối với mỗi chương trình hoạt động

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu,văn bản;

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi;

- Phương pháp phỏng vấn sâu;

- Phương pháp thống kê toán học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

những tri thức cơ bản về quản lý HĐNGCK của sinh viên trường đại học

- Về thực tiễn: Xác định thực trạng và đề xuất biện pháp nhằm nâng cao

chất lượng quản lý HĐNGCK của sinh viên trường Đại học Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học và tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý vận dung trong công tác quản lý các hoạt động đào tạo tại nhà trường

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn được cấu trúc 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý HĐNGCK của sinh viên trường đại học

Chương 2: Thực trạng quản lý HĐNGCK của sinh viên trường Đại học Hà Nội Chương 3: Biện pháp quản lý HĐNGCK của sinh viên Trường Đại học Hà Nội

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ CHÍNH KHÓA

CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Lý luận về hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên ở trường đại học

1.1.1 Khái niệm hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên ở trường đại học

Hoạt động ngoài giờ chính khóa là những hoạt động giáo dục tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của sinh viên Tổ chức HĐNGCK là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình giáo dục nhân cách cho sinh viên Thông qua hoạt động giáo dục sinh viên được kiểm nghiệm những tri thức đã tiếp thu trong sách vở

và trong giờ học trên lớp Đồng thời hoạt động này còn là môi trường, là điều kiện giúp sinh viên giao lưu, tiếp xúc với cuộc sống dần dần hình thành nên mối quan hệ

xã hội Thông qua các hoạt động này sinh viên tự biết phát huy những điểm mạnh, hạn chế những điểm yếu, để dần hoàn thiện bản thân phấn đấu theo mục tiêu giáo dục của nhà trường và xã hội

HĐNGCK còn được tiến hành trong mối quan hệ biện chứng với việc tổ chức dạy học trên lớp giúp sinh viên hình thành và phát triển nhân cách toàn diện

Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt quan niệm: “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học –

kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mỉ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí v.v…để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường…)”[11, tr7] Hay “Hoạt động

giáo dục ngoài giờ lên lớp là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học-kĩ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mĩ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí,v v để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường…)”[4] Trong tài liệu bồi dưỡng giáo viên về hoạt động ngoài giờ do Hồ Văn Liên biên soạn năm 2006 “Hoạt động ngoài giờ chính khóa là những hoạt động giáo dục được

tổ chức ngoài giờ học các bộ môn văn hóa Hoạt động ngoài giờ lên lớp có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động dạy học tạo điều kiện gắn lí thuyết với thực hành, thống nhất nhận thức với hành động, góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển các kỹ năng, tình cảm, niềm tin, tạo cơ sở cho sự phát triển nhân cách toàn diện học

sinh trong giai đoạn hiện nay”[14]

Trang 17

Từ những khái niệm nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm hoạt động giáo dục ngoài

giờ chính khóa của sinh viên ở trường đại học như sau: Hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa là hoạt động giáo dục có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật nhằm hoàn thiện nhân cách sinh viên, góp phần đạt được mục tiêu giáo dục - đào tạo và được tiến hành ngoài thời gian giảng dạy trên lớp

HĐNGCK của sinh viên ở trường đại học bao gồm các hoạt động cụ thể sau: tự học, nghiên cứu khoa học, ngoài giờ chính khóa, tham gia sinh hoạt đoàn thể (sinh hoạt tập thể, văn hóa-thể thao, tham gia câu lạc bộ, hoạt động chính trị - xã hội, ) sinh hoạt hướng nghiệp, lao động sản xuất trong trường, xưởng trường, xí nghiệp của trường; hoạt động ngoài trường gồm các hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động đoàn thể, hoạt động hội đoàn, hoạt động từ thiện

HĐNGCK của sinh viên ở trường đại học do nhà trường quản lý, hỗ trợ, tiến hành ngoài thời gian giảng dạy trên lớp, nó được tiến hành xen kẽ hoặc tiếp nối chương trình dạy học trong phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội, được diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè nhằm đạt được mục tiêu giáo dục- đào tạo đề ra trong suốt quá trình dạy học và các quá trình giáo dục tại cơ sở giáo dục- đào tạo đại học

1.1.2 Vai trò của hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên ở trường đại học

Trong quá trình giáo dục thì HĐNGCK có một mối quan hệ hữu cơ với hoạt động dạy học cũng như hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp Nó chính là sự kết nối giữa lí luận và thực tiễn, là sự dung hòa giữa nhận thức và hành động, giúp hình thành niềm tin, thế giới quan phù hợp với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách sinh viên đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội Hoạt động giáo dục tổng thể cho sinh viên ở bậc đại học cũng không nằm ngoài những điều này Quá trình hình thành nhân cách, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp của sinh viên không chỉ hình thành qua những giờ học trên giảng đường mà còn thông qua các HĐNGCK Như vậy, HĐNGCK là một bộ phận không thể tách rời của hoạt động giáo dục nhằm hoàn tất quá trình khép kín của hoạt động giáo dục, đảm bảo hoạt động giáo dục được diễn ra mọi lúc mọi nơi Sự kết hợp giữa hoạt động dạy học trên lớp và NĐNGCK là sự hoàn thiện quá trình hình thành và phát triển nhân cách người học theo mục tiêu, yêu cầu xã hội trong thời kì mới

Hoạt động ngoài giờ chính khóa có vai trò sau:

- HĐNGCK là cầu nối tạo sự liên kết hai chiều giữa nhà trường và xã hội Các hoạt động tham quan, giao lưu, văn hóa-văn nghệ, thể dục-thể thao, các hoạt động

Trang 18

bồi dưỡng và giáo dục nghề nghiệp khác cho sinh viên trong nội dung tổ chức hoạt động Hoạt động ngoài giờ chính là sự thể hiện tính kết nối giữa nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục Các hoạt động trên tạo ra sự kết nối hữu cơ giữa nhà trường và xã hội, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với xã hội, thực tế cuộc sống một cách khoa học

- HĐNGCK là điều kiện và phương tiện để huy động sức mạnh cộng đồng tham gia vào quá trình đào tạo sinh viên, vào sự nghiệp phát triển của nhà trường Việc huy động các nguồn lực của xã hội trong sự nghiệp giáo dục của đất nước ngày càng được Đảng và Chính phủ quan tâm Sức mạnh cộng đồng đóng vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp, nhà trường không thể tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp một cách hiệu quả nếu thiếu sự phối hợp hỗ trợ về mặt vật chất cũng như tinh thần của các tổ chức chính quyền, đoàn thể, các cá nhân tích cực Các tổ chức đoàn thể như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ… chính là các đơn vị đóng vai trò nòng cốt trong việc tổ chức hoạt động ngoài giờ, các công ty, xí nghiệp, trung tâm nghiên cứu là những nơi giúp cho sinh viên cơ hội tiếp thu các kinh nghiệm thực tiễn cũng như trau dồi các kiến thức đã học, hình thành đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp Ngoài ra kinh phí thu được từ nguồn tài trợ của các cá nhân, tổ chức

xã hội cũng đóng góp không nhỏ cho việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ

- Việc hỗ trợ các nguồn lực trong công tác tổ chức các hoạt động ngoài giờ không những giúp cho quá trình bồi dưỡng và phát triển nhân cách của sinh viên mà chính trong quá trình phối hợp giữa nhà trường và các tổ chức đoàn thể còn tạo được động lực để phát triển nhà trường, tạo mối quan hệ phối hợp sâu rộng giữa nhà trường và các tổ chức chính trị xã hội trong công tác giáo dục-đào tạo của trường đại học Gia đình, nhà trường và xã hội luôn được coi là tam giác đều trong giáo dục Quá trình giáo dục luôn cần sự phối hợp đồng bộ giữa ba yếu tố trên Nhà trường không thể thành công trong giáo dục nếu thiếu sự hỗ trợ, phối hợp của gia đình và xã hội Gia đình và xã hội chính là môi trường giúp cho sinh viên nhận thức sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa lí luận và thực tiễn, giúp hình thành các kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp và niềm tin đúng đắn ở sinh viên

- HĐNGCK là bộ phận hữu cơ trong quá trình giáo dục ở bậc đại học, là bộ phận không thể thiếu được trong kế hoạch giáo dục - đào tạo của nhà trường; tạo sự thống nhất giữa giáo dục trong nhà trường và giáo dục ngoài nhà trường, giữa thời gian trong năm học và thời gian hè Việc học không chỉ diễn ra trên ghế nhà trường, trong giờ học chính khóa mà còn được bổ sung, củng cố thêm bằng những giờ thực

Trang 19

hành ngoại khóa, thực tập tay nghề, trao đổi học hỏi kinh nghiệm… chính những hoạt động này sẽ bổ sung và hoàn thiện hơn quá trình nhận thức của sinh viên trong quá trình học Ngoài ra thời gian hè chính là thời điểm thích hợp nhất để tổ chức các hoạt động ngoài giờ như “chiến dịch mùa hè xanh”, “tiếp sức mùa thi”, các hoạt động tham quan, dã ngoại, kiến tập… cho sinh viên, những hoạt động này đều được thể hiện trong chương trình công tác năm học của nhà trường, tạo nên sự thống nhất giữa các đơn vị chức năng trong nhà trường trong quá trình thực hiện chương trình công tác năm học

1.1.3 Đặc trưng của hoạt động ngoài giờ chính khóa tại trường đại học

* Mục tiêu của hoạt động ngoài giờ chính khóa tại trường đại học

Mục tiêu chung của HĐNGCK trong quá trình đào tạo đại học là nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân

Mục tiêu cụ thể của HĐNGCK trong đào tạo trình độ đại học là để sinh viên có kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội, có

kỹ năng thực hành cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc ngành được đào tạo; HĐNGCK trong trường đại học nhằm thực hiện công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho sinh viên; hình thành, rèn luyện và phát triển phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống văn minh, tiến

bộ, góp phần giáo dục toàn diện cho sinh viên Đồng thời chương trình HĐNGCK tạo cơ sở pháp lý để nhà trường phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý và hỗ trợ cho học sinh, sinh viên ngoại trú có môi trường ăn, ở, sinh hoạt lành mạnh, học tập và rèn luyện tốt; Đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên tham gia

và phát huy được năng lực của mình trong việc xây dựng đời sống văn hóa, nền nếp, kỷ cương, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội ở nơi cư trú

* Yêu cầu và nhiệm vụ của hoạt động ngoài giờ chính khóa trong trường đại học

- Sinh viên đại học là những người đã trưởng thành, đã được trang bị hệ thống kiến thức, kỹ năng khá đầy đủ; đồng thời được đào tạo để có một nghề nghiệp Những sinh viên sắp bước vào xã hội để trở thành một người lao động mang kiến thức chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực hành nghề nghiệp mà họ đã được trang bị để phục vụ cho xã hội

Trang 20

- Các chương trình, kế hoạch HĐNGCK cần đưa ra được những định hướng, nội dung rèn luyện cụ thể, phù hợp với từng ngành học, trường học để vừa tạo khả năng thực hành nghề nghiệp, vừa tạo môi trường cho sinh viên rèn luyện những kỹ năng

để có thể thích ứng với công việc chuyên môn khi sinh viên tốt nghiệp ra làm việc ngoài xã hội HĐNGCK cần giúp cho sinh viên có kiến thức chuyên môn toàn diện,

có kỹ năng sống và kỹ năng thực hành chuyên môn cơ bản; có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo; hình thành, rèn luyện và phát triển phẩm chất, lối sống, ý thức vì cộng đồng HĐNGCK cần đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa nhà trường với địa phương, gia đình sinh viên; Phát huy vai trò của các cơ quan chức năng, tổ chức chính trị - xã hội bên trong và bên ngoài trường đại học ; đặc biệt cần phối hợp chặt chẽ với Ðoàn TNCSHCM và Hội SV

- Trong tổ chức HĐNGCK, trường đại học quan tâm xây dựng cơ cấu, thiết chế

tổ chức của sinh viên như: Đội sinh viên tình nguyện; Đội sinh viên xung kích an ninh, Câu lạc bộ sinh viên, Bố trí các nguồn lực: cơ sở vật chất, kinh phí, đội ngũ giảng viên, các chuyên gia tư vấn, để hỗ trợ cho sinh viên có thể chủ động, sáng tạo, tích cực thực hiện các HĐNGCK;

-Trong quản lý HĐNGCK, nhà trường không trực tiếp tác động vào các hoạt động ngoài giờ, mà trao quyền chủ động cho tập thể sinh viên tự quản Sinh viên sẽ chủ động trong tổ chức, thực hiện các hoạt động ngoài giờ lên lớp: từ khâu lập kế hoạch hoạt động; thiết lập cấu trúc tổ chức; phân bổ cơ sở vật chất, kinh phí; phân công, tổ chức thực hiện các hoạt động; Tự kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh các hoạt động Nhà trường đại học chỉ đóng vai trò hỗ trợ, tư vấn, hướng dẫn sinh viên thực hiện các hoạt động

- HĐNGCK phải sử dụng đa dạng, xen kẽ nhiều loại hình HĐNGCK tổng hợp để tác động đến tất cả sinh viên, hình thành nhận thức, thái độ tình cảm, hành vi, kỹ năng cho sinh viên

* Tính chất của hoạt động ngoài giờ chính khóa trong trường đại học

- HĐNGCK của sinh viên trong trường đại học có bình diện hoạt động rất rộng Bởi vì, HĐNGCK là hoạt động phong phú, đa dạng, diễn ra ở trong trường và cả ngoài trường, gồm hàng loạt các hoạt động như: tự học, nghiên cứu khoa học, các hoạt động giao lưu, sinh hoạt tập thể, lao động, rèn luyện thể chất, sinh hoạt Câu lạc

bộ chuyên môn, văn hóa, văn nghệ, các hoạt động tình nguyện, hoạt động chính trị -

xã hội…nhằm giúp sinh viên củng cố, mở rộng kiến thức, có điều kiện giao lưu hòa nhập với đời sống xã hội và gắn liền “học với hành”

Trang 21

- HĐNGCK là hoạt động mang tính chất đặc thù của quá trình giáo dục sinh viên: Quá trình giáo dục ở bậc đại học nhằm đào tạo nguồn nhân lực sắp bước vào đời sống

xã hội, trực tiếp lao động, cống hiến cho xã hội Trong trường đại học, sinh viên không những được trang bị những kiến thức chuyên môn cơ bản, mà còn cần phải được rèn luyện, hoàn thiện nhân cách với những kỹ năng sống, kỹ năng thực hành nghề nghiệp

để có thể thích ứng với đời sống xã hội Thông qua HĐNGCK đa dạng, phong phú cùng với những giờ học tập trên lớp sẽ góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Hoạt động giáo dục trên lớp và HĐNGCK tạo nên sự giáo dục toàn diện, giữa Trí - Đức, giữa Tình cảm - Lí trí, giữa Nhận thức - Hành động Như vậy HĐNGCK có khả năng giáo dục to lớn: làm nảy sinh năng lực, phẩm chất, tình cảm Thông qua việc tham gia HĐNGCK, sinh viên hiểu và biết cách làm, biết tự điều chỉnh hành vi phù hợp với yêu cầu chung của xã hội

Nếu HĐNGCK ở trường phổ thông chủ yếu do nhà trường tổ chức, giáo viên trực tiếp hướng dẫn thực hiện thì ở trường đại học, nhà trường chỉ đạo, hỗ trợ, tạo điều kiện để Đoàn TN, Hội SV, các tổ chức tự quản của sinh viên chủ động tổ chức, thực hiện các HĐNGCK HĐNGCK của sinh viên đại học mang tính xã hội nhiều hơn Phần lớn HĐNGCK của sinh viên diễn ra ngoài giờ học, diễn ra bên ngoài trường với các hoạt động phong trào, phát huy vai trò tự quản của sinh viên như: sinh viên tình nguyện tham gia bảo vệ môi trường, phân luồng giao thông; sinh viên hiến máu;…; Các HĐNGCK của sinh viên do các tổ chức của sinh viên trong trường đại học trực tiếp tổ chức, thực hiện; Có thể chịu sự quản lý, chỉ đạo của các tổ chức Đoàn TN, Hội SV cấp trên như: Trung ương Đoàn TNCSHCM, Trung ương Hội sinh viên Việt Nam

- HĐNGCK có tính năng động của chương trình kế hoạch: Xuất phát từ mục tiêu giáo dục của nhà trường, những yêu cầu HĐNGCK của ngành và nhu cầu của sinh viên cần có chương trình, kế hoạch hoạt động thực sự phù hợp với kế hoạch chung của nhà trường, mục tiêu đào tạo của từng ngành học, từng trường đại học; phù hợp với từng thời gian, thời điểm tránh kế hoạch chồng chéo hoặc các kế hoạch mang tính "chiếu lệ”, hình thức kém hiệu quả

- HĐNGCK là hoạt động phức tạp, khó khăn trong việc kiểm tra đánh giá: hoạt động ngoài giờ gồm nhiều loại hình hoạt động khá phức tạp nên khi kiểm tra, đánh giá đòi hỏi phải cụ thể, tỉ mỉ, chính xác Trong quá trình đánh giá cần định ra các tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá Có thể đánh giá từng khâu, từng hoạt động ở mỗi thời điểm nhất định để làm căn cứ đánh giá cho cả kỳ học, năm học và toàn khoá học

Trang 22

Kết quả hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên phải được sử dụng để đánh giá kết quả rèn luyện và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện chung của từng sinh viên Đồng thời, kết quả HĐNGCK cần được sử dụng để khen thưởng, kỷ luật sinh viên Có như vậy mới khuyến khích hoạt động ngoài giờ được thực hiện thường xuyên, nền nếp và có hiệu quả Đồng thời điều chỉnh, khắc phục kịp thời những thiếu sót, hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả HĐNGCK của sinh viên

* Nguyên tắc cơ bản của hoạt động ngoài giờ chính khóa tại trường đại học

- Đảm bảo phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước

và truyền thống văn hoá Việt Nam, thực tiễn kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, địa phương và điều kiện của nhà trường

- Đảm bảo tính kế hoạch và tính tổ chức: HĐNGCK cần đề ra được mục đích, yêu cầu trong từng kỳ học, năm học để đạt được mục tiêu chung của toàn trường, thậm chí đến từng khóa học, lớp học; Cần có kế hoạch cụ thể, tỉ mỉ, có cơ sở khoa học, để cho cán bộ quản lý chủ động hơn trong chỉ đạo thực hiện

- Đảm bảo nguyên lý giáo dục mở: Khi xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện HĐNGCK cần có sự phối kết hợp giữa các đơn vị chức năng, tổ chức chính trị - xã hội, các cá nhân trong và ngoài trường để tổ chức các hoạt động này có hiệu quả cao

- Đảm bảo tính đa dạng và phong phú: HĐNGCK góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Muốn nhân cách sinh viên phát triển toàn diện thì HĐNGCK cần phải kết hợp giáo dục chính khoá với tổ chức các hoạt động ngoại khoá; kết hợp giáo dục với việc tổ chức các hoạt động thực tiễn có tác dụng giáo dục chính trị, đạo đức, lối sống cho sinh viên hoạt động ngoài giờ cần được tổ chức thật phong phú, đa dạng, hấp dẫn phù hợp với từng đối tượng sinh viên để các em hào hứng tham gia, phát huy năng lực bản thân và đem lại hiệu quả giáo dục

- Đảm bảo phát huy tính năng động, sáng tạo và tích cực của sinh viên: HĐNGCK cần tạo ra nhiều loại hình hoạt động thật phong phú, hấp dẫn để tạo sự hứng thú, cuốn hút sinh viên và tập thể sinh viên tích cực tham gia; Bảo đảm phát huy tính năng động, sáng tạo và tích cực của sinh viên, biến quá trình giáo dục, rèn luyện thành tự giáo dục, tự rèn luyện

1.1.4 Các hình thức của hoạt động ngoài giờ chính khóa tại trường đại học

- Hoạt động tự học: sinh viên tự học các môn chuyên môn và các môn ngoại

khóa bằng cách nghiên cứu giáo trình, tài liệu để phục vụ cho các bài học trên lớp, thực hiện bài tập do giáo viên giao Sinh viên thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học từ các nội dung, chuyên môn trong chương trình đào tạo; đào sâu, mở rộng tri

Trang 23

thức từ các vấn đề trong nội dung học tập để thực hiện những nghiên cứu ứng dụng vào thực tế đời sống, xã hội

- Hoạt động văn hoá - thể thao: Là những hoạt động nhằm đáp ứng, phát triển

nhu cầu đời sống tinh thần và thể chất của sinh viên Hoạt động văn hóa- thể thao tạo điều kiện cho sinh viên được thưởng thức, tham gia, sáng tạo các giá trị văn hoá tinh thần, rèn luyện thể chất để phát triển toàn diện Hoạt động văn hóa- thể thao bao gồm: Sinh viên tham gia hoặc thưởng thức các hoạt động văn hóa, văn nghệ như: hát, múa, khiêu vũ cổ điển, kịch, thời trang, thi sinh viên thanh lịch, các diễn đàn, sinh hoạt chuyên đề liên quan đến những vấn đề của đời sống, xã hội, Hoạt động thể thao, vui chơi giải trí dành cho sinh viên: là những hoạt động thể chất có tác dụng rèn luyện thể chất, rèn luyện tính kỷ luật, tinh thần đồng đội, tạo bầu không khí vui tươi, sôi nổi, giúp sinh viên học tập tốt hơn như: bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, khiêu vũ, thể thao, các trò chơi, hoạt động thể chất khác,

Hoạt động chính trị - xã hội: Là những hoạt động nhằm tuyên truyền, giáo dục

chính trị tư tưởng, các sinh hoạt của các tổ chức Đảng, Đoàn, Hội SV, có nội dung phù hợp với đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng mục tiêu giáo dục của nhà trường Hoạt động chính trị - xã hội bao gồm: Các hoạt động sinh hoạt chính trị: là các hoạt động tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên như: tham dự những buổi nói chuyện thời sự, chính trị trong nước và quốc tế; tham gia những hoạt động phong trào nhằm tuyên truyền, ủng hộ cho thể chế chính trị

Các hoạt động xã hội: Đó là những hoạt động tình nguyện của sinh viên tham gia giải quyết các vấn đề xã hội, giúp ích cho cộng đồng Hoạt động tình nguyện có thể diễn ra ở cả trong và ngoài phạm vi nhà trường như: Hiến máu nhân đạo, tiếp sức mùa thi, bảo vệ môi trường, đấu tranh phòng, chống ma tuý, HIV-AIDS, tệ nạn xã hội; xoá đói, giảm nghèo, xoá mù chữ, ủng hộ đồng bào bị bão lụt, chăm sóc các bà

mẹ Việt Nam anh hùng,

- Hoạt động lao động: Là những hoạt động nhằm huy động sức lao động, kiến

thức của sinh viên để mang lại lợi ích cho tập thể và xã hội Nhà trường tổ chức, hướng dẫn các hoạt động lao động, sản xuất, dịch vụ nhằm nâng cao ý thức hoạt động vì cộng đồng, trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, rèn luyện thói quen, ý thức lao động có tổ chức của sinh viên; đồng thời góp phần khuyến khích tính năng động, sáng tạo của sinh viên Hoạt động lao động bao gồm: Các nhiệm vụ lao động

có tính chất nghĩa vụ đối với sinh viên như: làm vệ sinh khu vực trường, lớp, ký túc

Trang 24

xá; các hoạt động lao động công ích do chính quyền phát động, quản lý các nhiệm

vụ lao động có tính chất nghĩa vụ của sinh viên nhằm hướng cho sinh viên nâng cao

ý thức hoạt động vì cộng đồng, trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, rèn luyện thói quen, ý thức lao động có tổ chức Các hoạt động lao động, sản xuất có tính tự nguyện nhằm mục đích kinh doanh hay thực hiện các dịch vụ mang lại lợi nhuận như: làm việc trong các xưởng sản xuất, tổ chức cung cấp các loại hình dịch vụ như: Quán cà phê, nhóm lập trình hay viết phần mềm cho máy vi tính, xưởng cơ khí, nhóm dịch thuật, nhóm hoạt động marketing sản phẩm,

Các hoạt động trên do trường đại học phối hợp với tổ chức chính trị, chính trị -

xã hội, chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho sinh viên

1.2 Lý luận về quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa tại trường đại học

1.2.1 Khái niệm quản lý; quản lý giáo dục; quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa

1.2.1.1 Khái niệm về quản lý

Trong quá trình phát triển của lý luận quản lý, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lý do các nhà nghiên cứu lý luận và nhà thực hành quản lý đưa ra dưới các góc độ tiếp cận khác nhau

Một số tác giả khác- định nghĩa về quản lý như sau:

Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối

hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân

ít nhất” [9,tr12]

Theo tác giả Vũ Dũng và Nguyễn Thị Mai Lan: “Quản lý là sự tác động có định

hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [8, tr.52]

Từ các khái niệm trên thấy rằng quản lí là một hoạt động có các đặc trưng sau:

- Là quá trình có mục đích, mọi hoạt động của nhà quản lí đều hướng tới mục tiêu của tổ chức Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó mỗi người có thể hoàn thành được mục đích của mình, của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất

- Hoạt động của nhà quản lý là khai thác các nguồn lực một cách tối đa Do đó, cần có một quy trình hợp lý, sắp xếp nhân sự phù hợp với khả năng của từng người, từng nhóm người

Trang 25

Như vậy có thể hiểu một cách khái quát rằng “Quản lý là quá trình ra quyết định, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra công việc của các bộ phận, các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực một cách phù hợp để đạt được mục đích đã định”

1.2.1.2 Khái niệm về quản lý giáo dục, quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa cho sinh viên đại học

* Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình Khái niệm về Quản lý giáo dục có nhiều định nghĩa khác nhau của các nhà nghiên cứu lý luận cũng như thực hành quản lý giáo dục đưa ra Theo M.I.Kôn đacốp: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch hóa, nhằm đảm bảo vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lí giáo dục (và nói riêng quản

lí trường học) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lí (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối

và nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học-giáo dục thế hệ trẻ, đưa

hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [19, tr32]

Theo Đặng Quốc Bảo “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều

hành, phân phối các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ Cho nên quản lý giáo dục được hiểu là

sự điều hành của hệ thống giáo dục Quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục Quốc dân” [2, tr25]

Theo tác giả Trần Kiểm, đối với cấp vĩ mô “Quản lý giáo dục là sự tác động

liên tục có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trội của hệ thống, sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của

hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động” [12]

Từ những khái niệm trên, tác giả đồng tình với quan điểm rằng: Quản lý giáo

dục là việc chủ thể quản lý tác động lên khách thể quản lí một cách có tổ chức, có kế

hoạch cụ thể nhằm sử dụng có hiệu quả những nguồn lực, những cơ hội của tổ chức để

Trang 26

đạt được mục tiêu đề ra trong các điều kiện ổn định tương đối của môi trường, làm cho

tổ chức vận hành có hiệu quả, nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục cụ thể

Đến nay khái niệm ngoại khoá cũng chưa được lý giải cặn kẽ, thấu đáo và nhất quán Trong điều kiện dạy học hiện nay, do yêu cầu về sự cập nhật thông tin, tri thức khoa học, những khái niệm của lý luận dạy học như: lớp học, giờ học, bài học sẽ có sự thay đổi Ranh giới giữa trong lớp học và ngoài lớp học trong giờ học và ngoài giờ học cũng sẽ khác đi nên cần phải đổi mới và khẳng định lại nhận thức về khái niệm ngoại

khoá, vai trò và tác dụng của nó cho cả người dạy, người học và nhà quản lý

Theo các tác giả Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần

Thế Duật “Hoạt động ngoài giờ không nên hiểu là công việc ngoài giờ học, ngoài

chương trình, thực hiện tuỳ tiện được sao hay vậy Hoạt động ngoài giờ chỉ có nghĩa là không đặt sự giảng dạy của giáo viên bộ môn lên hàng đầu mà xem trọng hoạt động tự giác vận dụng sáng tạo của sinh viên Đó cũng là việc học đích thực,

do sinh viên tự nguyện, tự chọn, tự làm ra mà học’’ [15]

HĐNGCK đóng một vai trò quan trọng trong việc bổ sung các kĩ năng và kinh nghiệm sống cho sinh viên, giúp các em trở thành một con người toàn diện và thú

vị hơn.Với cách hiểu như trên, ngoài giờ chính khóa được xem là một hình thức tổ chức dạy học quan trọng, là một trong những con đường để thực hiện đổi mới phương

pháp dạy học theo định hướng “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của

sinh viên, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho sinh viên’’ [20, Điều 28.2]

Từ việc phân tích các khái niệm liên quan đến HĐNGCK; quản lý giáo dục, tác

giả đưa ra khái niệm quản lý HĐNGCK cho sinh viên đại học như sau: Quản lý các

HĐNGCK là hoạt động có ý thức nhằm thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lý tới mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp và các hình thức

tổ chức HĐNGCK để sử dụng hiệu quả những nguồn lực (con người, kinh phí, thời gian, các điều kiện cơ sở vật chất) nhằm làm cho các HĐNGCK có được chất lượng hoạt động tốt nhất, giúp sinh viên mở rộng kiến thức, trang bị kỹ năng và tự tin tham gia vào thị trường lao động

1.2.1.3 Các chức năng quản lý của hoạt động ngoài giờ chính khóa

Như các hoạt động quản lý khác, HĐNGCK cũng có hệ thống các chức năng cụ thể:

- Xây dựng kế hoạch HĐNGCK

Trang 27

Việc xây dựng kế hoạch tổ chức các HĐNGCK là cần thiết nhằm đảm bảo tính khả thi và khoa học của hoạt động Kế hoạch hóa hạn chế tối đa những sai sót, lãng phí về nhân lực, vật lực trong quá trình tổ chức và tận dụng được các nguồn lực có sẵn của nhà trường tham gia vào việc tổ chức HĐNGCK đồng thời là cơ sở cho công tác kiểm tra đánh giá sau này đạt tính chính xác, khách quan

Trong quá trình xây dựng kế hoạch cần chú ý các vấn đề như căn cứ vào chương trình năm học của nhà trường, nhiệm vụ trọng tâm của năm học của tập thể lớp học, khả năng của sinh viên của từng khóa học, khả năng đáp ứng của các bộ môn khoa phòng trong công tác tổ chức, bên cạnh đó cần chú ý đến khả năng đáp ứng về cơ sở vật chất của nhà trường

- Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động ngoài giờ chính khóa

Tổ chức thực hiện kế hoạch HĐNGCK chính là việc hiện thực hóa HĐNGCK, tùy theo phân cấp xây dựng kế hoạch mà việc triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch có thể do hiệu trưởng, đoàn thanh niên, các bộ môn khoa phòng trực tiếp thực hiện

Tham mưu cho Ban giám hiệu, lãnh đạo các bộ môn khoa phòng trong việc xây dựng kế hoạch, chương trình hành động trong năm học, học kỳ

Tổ chức thực hiện các hoạt động, xác định các lực lượng phối hợp, nội dung phối hợp, cơ chế phối hợp Hướng dẫn các lực lượng tham gia tiến hành thực hiện các hoạt động của mình một cách hiệu quả

Tổ chức công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả giáo dục của hoạt động

- Chỉ đạo thực hiện

Đây chính là quá trình xác lập quyền chỉ huy và can thiệp của người lãnh đạo trong quá trình quản lý Là quá trình huy động các nguồn lực vào việc thực hiện kế hoạch và điều hành nhằm đảm bảo cho việc thực hiện có hiệu quả kế hoạch Chỉ đạo công tác tổ chức HĐNGCK chính là sự can thiệp của người lãnh đạo vào toàn bộ quá trình quản lý HĐNGK Là quá trình chỉ đạo của hiệu trưởng nhà trường đối với các lực lượng tham gia HĐNGCK Mục đích của công tác chỉ đạo là để nắm bắt và điều chỉnh các hoạt động diễn ra đúng hướng, đúng tiến độ, thống nhất được các nguồn lực nhằm phát huy một cách tốt nhất các nguồn lực được huy động Quá trình quản lý sẽ có những vấn đề phát sinh hoặc chưa phù hợp, do đó người quản lý phải theo dõi thông tin, nắm bắt kịp thời tình hình để đưa ra những quyết định kịp thời, hợp lý

- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt động ngoài giờ chính khóa

Là chức năng để đánh giá chất lượng trong tiến trình thực hiện và chỉ ra sự chệch hướng có khả năng diễn ra hoặc đã diễn ra từ trong quá trình tổ chức Kiểm tra bao gồm quản lý thông tin, xác định hiệu quả của thành tích và đưa ra những

Trang 28

hành động tương ứng kịp thời Trong quá trình quản lý, phải chú ý đến công tác kiểm tra, bao gồm kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra đột xuất, kiểm tra định kỳ và kiểm tra thường xuyên Kiểm tra để phát hiện cái đúng, cái chưa phù hợp kịp thời điều chỉnh hoặc có biện pháp xử lý phù hợp góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ đề ra Kiểm tra, đánh giá là nhận định về kết quả của việc thực hiện kế hoạch Việc kiểm tra phải dựa theo chương trình, kế hoạch đã được quy định Phải có tiêu chí, chuẩn mực cụ thể cho từng hoạt động, có thể định tính, định lượng hoặc được sự thừa nhận của tập thể, của xã hội trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể

1.2.2 Nội dung quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa cho sinh viên

Quản lý HĐNGCK trong trường đại học là quá trình tác động của lãnh đạo nhà trường, bằng cách thực hiện các chức năng: xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá; tác động tới sinh viên và quá trình thực hiện các hoạt động ngoài giờ nhằm phát huy ý thức tự quản của sinh viên trong các hoạt động Từ đó dần hoàn thiện được nhân cách sinh viên và góp phần đạt mục tiêu giáo dục toàn diện cho sinh viên trong trường đại học

Trong quá trình quản lý hoạt động ngoài giờ, trường đại học chú trọng việc tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao ý thức chủ động, tự giác của sinh viên trong các mặt hoạt động ngoài giờ; phát huy các nội dung tự quản trong các mặt hoạt động Các trường đại học chỉ đạo các đơn vị, tổ chức đoàn thể trong trường, đặc biệt chỉ đạo Đoàn TN, Hội SV, trao quyền chủ động cho các tổ chức tự quản của sinh viên tổ chức các hình thức HĐNGCK sinh động, hấp dẫn, đa dạng, phát huy được tính chủ động, tích cực, tự giác của sinh viên

Các nội dung cơ bản về quản lý hoạt động ngoài giờ gồm:

1.2.2.1 Xây dựng kế hoạch hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên

Kế hoạch HĐNGCK của sinh viên là những phương án hành động được vạch

ra một cách có hệ thống những công việc dự định sẽ được tiến hành trong khoảng thời gian nhất định, theo một trình tự, thời hạn nhất định, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường Xây dựng kế hoạch HĐNGCK là một khâu quan trọng trong công tác quản lý sinh viên và quản lý hoạt động ngoài giờ của sinh viên Từ khi xây dựng kế hoạch HĐNGCK, lãnh đạo trường cần quan tâm chỉ đạo các đơn vị

có chức năng liên quan đến quản lý sinh viên Trong công tác kế hoạch HĐNGCK của sinh viên, phòng chức năng được giao trách nhiệm làm đầu mối tổ chức HĐNGCK của sinh viên (tùy từng trường đại học, học viện có thể là: Phòng Công tác học sinh, sinh viên; Phòng Công tác Sinh viên, Phòng Quản lý Đào tạo, ) chịu

Trang 29

trách nhiệm chính trong việc tổng hợp, lập kế hoạch hoạt động ngoài giờ để tham mưu cho lãnh đạo trường đại học, ban hành bản kế hoạch HĐNGCK theo từng năm học, học kỳ Khi xây dựng kế hoạch HĐNGCK phòng chức năng được giao trách nhiệm làm đầu mối quản lý HĐNGCK của sinh viên phối hợp chặt chẽ với các Khoa, phòng, ban chức năng, trong trường đại học có liên quan đến việc quản lý sinh viên, quản lý hoạt động ngoài giờ của sinh viên; Đồng thời cần tham khảo ý kiến, nhu cầu của sinh viên trước khi xác định các mục tiêu, hoạch định các nội dung công việc và biện pháp thực hiện nội dung hoạt động ngoài giờ.Trong kế hoạch HĐNGCK của nhà trường có tham khảo và sử dụng kế hoạch hoạt động ngoài giờ của tổ chức sinh viên tự quản phù hợp Đặc biệt cần đôn đốc, hướng dẫn Đoàn TN, Hội SV và các tổ chức tự quản của sinh viên liên hệ, phối hợp với Đoàn

TN, Hội SV cấp trên để xây dựng kế hoạch hoạt động ngoài giờ Khi đào tạo theo học chế tín chỉ, phòng chức năng được giao trách nhiệm làm đầu mối quản lý hoạt động ngoài giờ của sinh viên sẽ căn cứ vào đơn vị lớp sinh viên được thành lập vào đầu khóa học, khi sinh viên nhập trường và biên chế Ban Cán sự lớp, Ban Chấp hành Chi đoàn sinh viên được thành lập ở thời điểm đó để quản lý hoạt động ngoài giờ nói chung, quản lý hoạt động tự học của sinh viên nói riêng

Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động ngoài giờ của sinh viên được thể hiện thông qua các nội dung cụ thể: Lãnh đạo trường đại học chỉ đạo các đơn vị chức năng, tổ chức đoàn thể trong trường, đặc biệt là Đoàn TN, Hội SV và các tổ chức tự quản của sinh viên xây dựng kế hoạch hoạt động ngoài giờ trên cơ sở chương trình, kế hoạch đào tạo, quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và tình hình thực tế của từng trường Sau đó, đơn vị được giao làm đầu mối quản lý hoạt động ngoài giờ sẽ tổng hợp thành một bản kế hoạch về hoạt động ngoài giờ chung của trường đại học

Việc xây dựng kế hoạch hoạt động ngoài giờ không chỉ giúp cho đội ngũ cán

bộ làm công tác quản lý sinh viên thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả, mà còn phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên tham gia vào các hoạt động lành mạnh, có tổ chức, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc, làm giảm được sử dụng thời gian nhàn rỗi vào những hoạt động tiêu cực

1.2.2.2 Tổ chức hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên

Để tổ chức thực hiện hoạt động ngoài giờ của sinh viên thực hiện các công việc sau:

- Sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hạn cho các thành viên trong bộ máy quản lý của nhà trường một cách hợp lý; đảm bảo để các tổ chức, cá nhân phát huy

Trang 30

tính tự chủ, trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc để sinh viên có khả năng tự tổ chức, điều khiển các hoạt động

tự học và các mặt hoạt động ngoài giờ

- Xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và nguồn nhân lực làm công tác quản lý sinh viên, quản lý hoạt động ngoài giờ có phẩm chất đạo đức, tâm huyết, có năng lực chuyên môn đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ Xây dựng mạng lưới tổ chức tự quản sinh viên gồm những sinh viên có kết quả học tập khá, có phẩm chất đạo đức, nhiệt tình, trách nhiệm để hỗ trợ nhà trường trong quản lý hoạt động ngoài giờ

- Xây dựng thiết chế tổ chức phù hợp trong công tác quản lý hoạt động ngoài giờ Xác lập mối quan hệ giữa các bộ phận, các thành viên trong trường đại học Đồng thời cũng phải xác lập, duy trì các mối quan hệ bên ngoài tổ chức: với cấp trên, với địa phương, với các cơ quan, tổ chức, trong quản lý hoạt động ngoài giờ của sinh viên Chú trọng xây dựng tổ chức tự quản sinh viên nội trú và ngoại trú khi xây dựng thiết chế tổ chức quản lý hoạt động ngoài giờ trong trường đại học

- Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm quy định rõ cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động trong quản lý hoạt động ngoài giờ của nhà trường Tức là có những quy định cụ thể về mối liên hệ giữa các đơn vị, bộ phận trong trường đại học và quan hệ giữa trường đại học với các cơ quan, tổ chức bên ngoài về quản lý hoạt động ngoài giờ; quy định rõ trách nhiệm của từng bộ phận chức năng, tổ chức đoàn thể trong quản lý hoạt động ngoài giờ; quy trình quản lý hoạt động ngoài giờ; chính sách cho cán bộ quản lý, chuyên viên, sinh viên tham gia quản lý hoạt động ngoài giờ

- Phân bố, sử dụng cơ sở vật chất, tài chính đủ để thực hiện các hoạt động ngoài giờ Nhà trường chỉ đạo, đôn đốc việc đảm bảo nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất để sinh viên tự quản tốt trong hoạt động tự học, văn hóa- thể thao, chính trị - xã hội, lao động Đồng thời, các đơn vị, cá nhân có chức năng tham gia quản lý hoạt động ngoài giờ quan tâm hướng dẫn sinh viên phân bổ, sử dụng cơ sở vật chất, tài chính khi thực hiện trong các hoạt động ngoài giờ

- Thực hiện hoạt động quản lý đội ngũ cán bộ quản lý sinh viên

Hoạt động quản lý đội ngũ cán bộ quản lý sinh viên và quản lý hoạt động ngoài giờ trong trường đại học là hoạt động của hiệu trưởng và các cấp lãnh đạo trong việc tuyển chọn, sử dụng, duy trì, động viên, phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho họ làm việc có hiệu quả, nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của nhà, đồng thời cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của họ ngày một tốt hơn Đội ngũ cán bộ quản lý sinh viên là lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý nói chung và

Trang 31

quản lý các hoạt động ngoài giờ của sinh viên nói riêng Nếu đội ngũ cán bộ quản lý sinh viên của nhà trường đảm bảo về số lượng, chất lượng, được bố trí một cách hợp lý trong môi trường làm việc thuận lợi thì hiệu quả quản lý sẽ cao Việc quản lý đội ngũ cán bộ quản lý sinh viên của nhà trường cần đảm bảo một số yêu cầu: Tuyển chọn nhân lực phù hợp, đảm bảo số lượng, chất lượng, cơ cấu Chú trọng tuyển chọn đội ngũ sinh viên tích cực, có phẩm chất đạo đức tốt, học lực khá trở lên tham gia vào bộ máy hoạt động ngoài giờ;

- Thực hiện hoạt động quản lý các điều kiện bảo đảm cho hoạt động ngoài giờ

Các điều kiện bảo đảm cho hoạt động ngoài giờ là quản lý và sử dụng có hiệu quả các cơ sở vật chất - phương tiện kỹ thuật, tài chính phục vụ cho các hoạt động như: ăn, ở, sinh hoạt tập thể, vui chơi giải trí (nhất là tại ký túc xá); điều kiện phục vụ họat động tự học, văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao; kinh phí cho hoạt động của nhà trường và các đoàn thể (Công đoàn, Đoàn TN, Hội SV) phục vụ cho hoạt động ngoài giờ của sinh viên, kinh phí giành cho việc thông tin về các hoạt động ngoài giờ trong và ngoài nhà trường Hoạt động quản lý các điều kiện bảo đảm cho các nội dung hoạt động ngoài giờ của sinh viên cần hướng tới việc tạo ý thức tự quản cho hoạt động ngoài giờ:

- Đoàn TN, Hội SV chủ động dự kiến các nhu cầu về cơ sở vật chất, tài chính

và phương án sử dụng trong kế hoạch hoạt động trong từng khoảng thời gian cụ thể

- Xây dựng ý thức cho sinh viên tận dụng, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất

- phương tiện kỹ thuật, tài chính được nhà trường trang bị, cung cấp, hỗ trợ và huy động được từ các tổ chức, cá nhân ngoài trường

- Hướng dẫn sinh viên, chủ động lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động lao động, sản xuất, dịch vụ để tự tạo ra kinh phí chi cho các hoạt động ngoài giờ

- Trong quản lý các điều kiện bảo đảm cho hoạt động ngoài giờ của sinh viên cũng có thể phát huy tinh thần tự quản của sinh viên qua việc thu thập thông tin, ý kiến góp ý, đánh giá của sinh viên về hiệu quả sử dụng của các cơ sở vật chất - phương tiện kỹ thuật, tài chính, cơ chế chính sách, phục vụ cho các hoạt động ngoài giờ

1.2.2.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên

Chỉ đạo hoạt động ngoài giờ của sinh viên là quá trình tác động, ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của sinh viên, phát huy vai trò tự quản của sinh viên trong các hoạt động ngoài giờ nhằm đạt tới các mục tiêu quản lý hoạt động ngoài giờ của sinh viên với chất lượng cao Lãnh đạo Trường chỉ đạo cán bộ quản lý sinh viên, giáo

Trang 32

dục thực hiện những hoạt động: giao nhiệm vụ và hướng dẫn các bộ phận có liên quan đến quản lý hoạt động ngoài giờ của sinh viên; hướng dẫn, động viên sinh viên chủ động, sáng tạo, tích cực thực hiện các nội dung hoạt động ngoài giờ và tham gia quản lý hoạt động ngoài giờ; Khuyến khích, động viên, đôn đốc tạo động lực cho mọi thành viên trong nhà trường và sinh viên thực hiện tốt công việc được giao; Giám sát, uốn nắn và điều chỉnh đảm bảo mọi công việc được thực hiện đúng hướng; Xây dựng môi trường thuận lợi, thúc đẩy các hoạt động ngoài giờ của sinh viên có hiệu quả Công tác chỉ đạo hoạt động ngoài giờ hướng tới việc đảm bảo cho các hoạt động ngoài giờ phát huy được tinh thần chủ động, tích cực; năng lực tự quản của sinh viên, từ đó đạt hiệu quả quản lý hoạt động ngoài giờ và hoạt động giáo dục- đào tạo

Việc chỉ đạo hoạt động ngoài giờ tập trung vào các mặt như sau:

- Hoạt động tự học: Theo quy định về đào tạo theo học chế tín chỉ, để tiếp

thu được 1 tiết học lý thuyết, sinh viên cần ít nhất 2 tiết chuẩn bị cá nhân Giảng viên có trách nhiệm cung cấp cho sinh viên bản đề cương môn học, trong đó thể hiện

rõ về cách thức, đánh giá kết quả học tập cũng như các yêu cầu, nội dung khác của môn học ngay từ khi bắt đầu học để sinh viên chủ động trong tự học, tự nghiên cứu

Khi chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, việc giảng dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên cũng có sự thay đổi căn bản Ngoài việc truyền đạt kiến thức, giáo viên phải hướng dẫn và giao nhiệm vụ cho sinh viên tự tìm kiếm kiến thức ở ngoài lớp học được thể hiện trong đề cương môn học mà mỗi giáo viên bắt buộc phải có và phát cho sinh viên trước hoặc trong buổi lên lớp đầu tiên Đề cương môn học phải cung cấp thông tin chính về nội dung và tổ chức dạy - học của môn học; Cung cấp danh mục các tài liệu tham khảo, hướng dẫn sinh viên về mục tiêu và phương pháp đọc tài liệu tham khảo, tổ chức thảo luận, thực hành và các hoạt động chuyên môn khác Hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu và phải có hình thức kiểm tra, kiểm soát và đánh giá kết quả tự học, tự nghiên cứu của sinh viên Nội dung tự học gồm 2 phần:

-Hệ thống các nhiệm vụ mang tính chất bắt buộc đối với sinh viên: cán bộ quản lý, giáo viên phải nắm được mức độ thực hiện yêu cầu trong việc nghiên cứu giáo trình, tài liệu của sinh viên để điều chỉnh cho hợp lý Ngoài ra, cán bộ quản lý, giáo viên tư vấn cho sinh viên về nội dung, phương pháp tự học bám sát mục tiêu, yêu cầu đào tạo của Nhà trường và thực tế đời sống, xã hội

- Định hướng nghiên cứu đào sâu, mở rộng tri thức từ các vấn đề trong nội dung học tập và hướng vận dụng nghiên cứu: giáo viên và cán bộ quản lý gợi mở để

Trang 33

sinh viên vận dụng được những kiến thức đã học để giải quyết những bài tập khó, liên quan tới các môn khoa học khác; hướng dẫn cho sinh viên nghiên cứu tài liệu tham khảo, tham gia nghiên cứu khoa học,

Hoạt động văn hoá - thể thao: Chỉ đạo hoạt động văn hóa- thể thao gồm:

+ Chỉ đạo tổ chức các hoạt động giáo dục nếp sống văn hoá cho sinh viên, phát huy những nét văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bài trừ những hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan, bài trừ tệ nạn xã hội thông qua các sinh hoạt chuyên đề, diễn đàn thanh niên, hội thi nữ sinh thanh lịch, thời trang học đường,

+ Chỉ đạo thực hiện nội dung hoạt động văn nghệ đảm bảo tính hấp dẫn, phù hợp với tâm lý lứa tuổi sinh viên, có sự kết hợp hài hoà giữa tính hiện đại với tính truyền thống Nội dung các tiết mục văn nghệ cần được thẩm định, kiểm duyệt, đáp ứng mục tiêu giáo dục của nhà trường Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cần biết tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại một cách có chọn lọc, đồng thời phải loại trừ những văn hoá phẩm độc hại

+ Chỉ đạo thực hiện nội dung hoạt động thể thao, vui chơi giải trí dành cho sinh viên Nội dung hoạt động phải lành mạnh, hấp dẫn, bổ ích, có tác dụng rèn luyện thể chất, rèn luyện tính kỷ luật, tinh thần đồng đội, tạo bầu không khí vui tươi, sôi nổi, giúp sinh viên học tập tốt hơn

- Hoạt động chính trị - xã hội: Cán bộ quản lý, giáo viên tác động đến hoạt

động chính trị - xã hội nhằm hướng cho nội dung hoạt động phù hợp với mục tiêu giáo dục của nhà trường Hoạt động chính trị - xã hội là một trong những chức năng quan trọng của Đoàn TN, Hội SV trong nhà trường, bao gồm:

+ Các nội dung sinh hoạt chính trị của sinh viên: đó là các hoạt động tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, các sinh hoạt của các tổ chức Đảng, Đoàn, Hội SV, Nội dung sinh hoạt chính trị luôn phải phù hợp với đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy chế của Bộ GD&ĐT, đáp ứng mục tiêu giáo dục của nhà trường Đề cao cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề về tôn giáo, dân tộc nhằm lôi kéo sinh viên tham gia vào các hoạt động chống phá cách mạng Để nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng tính hấp dẫn đối với sinh viên, các nội dung sinh hoạt chính trị cần được lồng ghép với các thông tin thời sự hoặc các nội dung hoạt động văn hoá - thể thao

+ Chỉ đạo các nội dung hoạt động xã hội của sinh viên: Đó là những hoạt động tình nguyện của sinh viên tham gia giải quyết các vấn đề xã hội Hoạt động tình nguyện có thể diễn ra ở cả trong và ngoài phạm vi nhà trường như: Giúp bạn

Trang 34

nghèo vượt khó, tiếp sức mùa thi, bảo vệ môi trường, đấu tranh phòng, chống ma tuý, HIV/AIDS, tệ nạn xã hội; xoá đói, giảm nghèo, xoá mù chữ, ủng hộ đồng bào

bị bão lụt, chăm sóc các bà mẹ Việt Nam anh hùng, Để chỉ đạo thực hiện tốt các hoạt động chính trị - xã hội của sinh viên cần phát huy tốt vai trò của các tổ chức Đoàn thanh niên, Hội SV Các tổ chức Đoàn, Hội phải được quan tâm, bồi dưỡng

đủ mạnh để xứng tầm với vai trò “Thủ lĩnh” của thanh niên Các cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên có trách nhiệm phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn, tạo các điều kiện hỗ trợ,

cổ vũ, động viên để Đoàn TN, Hội SV có thể thu hút được đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội có tổ chức

nội dung hoạt động lao động phù hợp với mục tiêu giáo dục của nhà trường, giúp sinh viên nâng cao nhận thức, ý thức về việc đóng góp sức lao động để mang lại lợi ích cho tập thể và xã hội Nhà trường phối hợp với Đoàn TN, Hội SV trong trường đại học chỉ đạo sinh viên thực hiện nội dung hoạt động lao động, bao gồm:

+ Thực hiện các nhiệm vụ lao động có tính chất nghĩa vụ đối với sinh viên như: làm vệ sinh khu vực trường, lớp, ký túc xá; các hoạt động lao động công ích do chính quyền các cấp phát động,

+ Thực hiện các hoạt động lao động có tính tự nguyện nhằm mục đích kinh doanh hay thực hiện các dịch vụ mang lại lợi nhuận như: tổ chức cung cấp các loại hình dịch vụ như: Quán cà phê, nhóm lập trình hay viết phần mềm cho máy vi tính, nhóm dịch thuật, nhóm hoạt động marketing sản phẩm, Hoạt động lao động có tính tự nguyện nhằm giúp sinh viên vận dụng được những tri thức, kiến thức đã lĩnh hội được trong trường đại học vào các hoạt động lao động, sản xuất, dịch vụ thiết thực để vừa ứng dụng được những kiến thức vào đời sống, vừa góp phần mang lại lợi ích kinh tế cho bản thân và xã hội; đồng thời góp phần khuyến khích tính năng động, sáng tạo của sinh viên Hoạt động lao động cần có sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo nhà trường và đơn vị chức năng cùng với sự phối hợp chặt chẽ của tổ chức Đoàn TN và Hội SV thì mới có thể đạt hiệu quả cao, đáp ứng mục tiêu của hoạt động này mà không gây ảnh hưởng tới nhiệm vụ chính của sinh viên là học tập chuyên môn, nghiệp vụ và rèn luyện phẩm chất đạo đức

1.2.2.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên

Kiểm tra, đánh giá HĐNGCK của sinh viên thực chất là theo dõi, xem xét việc thực hiện kế hoạch hoạt động để đưa ra nhận xét, đánh giá kết quả hoạt động trên cơ

sở so sánh với các mục tiêu đề ra

Trang 35

Nội dung kiểm tra đánh giá hoạt động ngoài giờ của sinh viên gồm:

- Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch HĐNGCK

- Kiểm tra việc tổ chức thực hiện kế hoạch HĐNGCK

- Kiểm tra các điều kiện về nhân lực, vật lực, tài chính, cơ chế chính sách, đảm bảo cho việc thực hiện các nội dung HĐNGCK

- Kiểm tra, đánh giá kết quả HĐNGCK

Dựa vào các dữ kiện định tính và số liệu thống kê (định lượng) thu thập được qua các loại hình HĐNGCK, tiến hành đánh giá hiện trạng của HĐNGCK trong từng giai đoạn, từng năm học cụ thể; đánh giá mức độ tự quản của sinh viên khi tham gia các HĐNGCK; hiệu quả HĐNGCK của nhà trường Từ đó có kế hoạch, chương trình, biện pháp khắc phục mặt yếu, phát huy mặt mạnh và phát hiện kịp thời các nguyên nhân, tồn tại dẫn đến kết quả thấp hoặc không đạt yêu cầu đã đề ra

Căn cứ theo mục tiêu giáo dục của nhà trường, việc kiểm tra đánh giá các HĐNGCK của sinh viên có thể tiến hành theo các hình thức thường xuyên hoặc định kỳ thông qua quan sát, phỏng vấn, tổng kết

1.2.2.5 Phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong tổ chức HĐNGCK

Các lực lượng giáo dục trong trường đều có trách nhiệm trong việc quản lý HĐNGCK, trong đó phòng CTSV&QHDN đóng vai trò chủ đạo dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường Các đơn vị đào tạo, phòng ban, đoàn trường cũng như các lực lượng bên ngoài đều có nhiệm vụ phối hợp tổ chức HĐNGCK dưới sự chỉ đạo của phó hiệu trưởng phụ trách công tác quản lý giáo dục sinh viên cụ thể như:

- Các đơn vị đào tạo chủ trì và phối hợp với Phòng CTSV&QHDN, phòng Quản lý đào tạo tổ chức quản lý giáo dục sinh viên ngoài giờ chính khóa, giờ thực hành, giờ tham gia thực tế, tổ chức hội thảo, diễn đàn về học tập, phối hợp trực tiếp hướng dẫn kiểm tra, đánh giá nội dung tự học của sinh viên

- Phòng Quản lý đào tạo, phối hợp với phòng CTSV&QHDN và các đơn vị đào tạo tổ chức các cuộc thi, nghiên cứu phổ biến về phương pháp học tập, phối hợp các đơn vị đào tạo, phòng CTSV&QHDN tổ chức hội thảo, diễn đàn học tốt các môn học

- Phòng Hành chính tổng hợp chủ động phối hợp với phòng CTSV&QHDN tổ chức chương trình giáo dục về chính trị tư tưởng, thời sự, văn hóa, văn nghệ, phổ biến giáo dục pháp luật;

- Phòng Quản trị phối hợp với phòng Quản lý sinh viên nội trú, Đoàn TN tổ chức thực hiện việc lao động nghĩa vụ, lao động công ích; đảm bảo các thiết bị, các điều kiện cần thiết cho sinh viên

Trang 36

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động ngoài giờ chính khóa

1.3.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên

- Nhận thức của cán bộ quản lý: trong vai trò của cán bộ quản lý giữ vai trò

quyết định, có duy trì được đều đặn, có đạt được kết quả như mong muốn hay không là phụ thuộc rất lớn vào sự chỉ đạo của cán bộ quản lý, qua việc kiểm tra đánh giá, nhắc nhở thường xuyên, cũng như nhận thức đầy đủ về vị trí, tầm quan trọng của công tác ngoại khóa trong nhà trường.Có được điều này mới thấy được tính cấp thiết của việc cần tổ chức các buổi ngoại khóa cho sinh viên

Khi hiểu được vị trí, vai trò và tác dụng, họ sẽ lên kế hoạch năm học và trong đó đưa và kế hoạch hoạt động năm học, cũng như chỉ đạo cho các tổ nhóm, chuyên môn tổ chức thực hiện Bên cạnh đó họ còn chỉ đạo việc thực hiện, kiểm tra, đánh giá tính hiệu quả của nó, tiến hành rút kinh nghiệm để hoạt động này đi vào nề nếp thành sinh hoạt trường kỳ trong nhà trường

- Nhận thức của giảng viên: giảng viên có một vai trò không nhỏ, trước hết

họ là người giúp sinh viên nắm được ý nghĩa, tác dụng của nó, tạo cho các em cơ hội để bầy tỏ, những hiểu biết của mình với chính lĩnh vực mà mình yêu thích trong quá trình học tập Giảng viên là người hướng dẫn cho sinh viên chủ động chiếm lĩnh tri thức, tư vấn cho các em, tham gia những hoạt động phù hợp với khả năng và năng lực của bản thân Và giảng viên cũng là người chỉ đạo, là người đánh giá kết quả, uốn nắn những sai lệch, động viên, khích lệ những sáng tạo và hình thành cho các em khả năng tự nghiên cứu, say mê khoa học.Cũng là cơ hội để giáo viên phụ trách ngoại khóa có dịp mở rộng, cập nhật kiến thức cần thiết, củng cố phát triển những kỹ năng thực hành của sinh viên Hệ thống kiến thức của sinh viên từ đó sẽ được ghi nhớ chặt chẽ, sâu sắc hơn Hơn nữa giáo viên ngoại khóa còn giáo dục cho các em phát triển tốt về mặt nhân cách, khơi dậy tình yêu thương, sống có trách nhiệm với cuộc sống xung quanh

sinh viên có tham gia tích cực hay không bắt nguồn từ chính bản thân sinh viên Trước hết sinh viên phải nhận thức được tính cần thiết của việc tham gia các hoạt động, như vậy sinh viên mới tích cực hơn khi tham gia, sự đóng góp của họ vào công tác tổ chức, tuyên truyền cho hiệu quả hơn, giúp sinh viên vượt qua những trở ngại, tích cực tham gia đem lại những hiệu quả thiết thực và có ích cho sinh viên

Trang 37

1.3.2 Những yếu tố kinh tế xã hội

Việt Nam ngày nay là một đất nước đang phát triển, kinh tế ngày một tăng trưởng cùng với sự phát triển xã hội Sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước tạo

ra nhiều điều kiện cho sinh viên nghiên cứu, học tập nhưng đồng thời cũng tạo ra tác động tiêu cực đối với sinh viên, nếu sinh viên không làm chủ được bản thân Môi trường kinh tế- xã hội, trong đó sinh viên sinh ra và trưởng thành đang có những đổi mới sâu sắc với sự xuất hiện của cơ chế thị trường, là cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường theo những quy luật như: quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ

Môi trường kinh tế- xã hội nước ta đang có những biến đổi sâu sắc, cơ bản

Cơ chế thị trường có những mặt tích cực là: phát huy cao độ tính năng động, sáng tạo của con người, giúp con người thích nghi nhanh chóng với những biến đổi trong điều kiện kinh tế- xã hội; Tạo điều kiện cho những sinh viên, thanh niên năng động, sáng tạo, tích cực học tập, vừa học vừa làm, có năng lực tự tìm việc làm, năng lực hoàn thiện nhân cách để duy trì những vị trí làm việc tốt

Tuy nhiên, cơ chế thị trường cũng bộc lộ những mặt tiêu cực Đó là: Nó tạo

ra sự phân hóa giàu nghèo, sự bất công xã hội; làm cho con người chạy theo lợi ích

cá nhân, không quan tâm đến lợi ích của người khác, lợi ích chung, chạy theo sự sùng bái đồng tiền, không quan tâm đến các giá trị cao quý Từ đó làm nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội (cờ bạc, mại dâm, ma túy với các biểu hiện của lối sống xa hoa, trụy lạc)

Những chuyển biến của môi trường kinh tế-xã hội nói chung và cơ chế thị trường nói riêng tác động đến vấn đề quản lý HĐNGCK ở trường đại học dưới nhiều khía cạnh:

Một là, nó đưa ra những yêu cầu khách quan với nhân cách sinh viên trong giai đoạn phát triển mới của xã hội, giúp cho họ có thể thích ứng được, phát huy tác dụng được trong cuộc sống hiện đại, cũng như trong tương lai khi họ vào đời với những vị trí xã hội nhất định

Hai là, nó tạo cho sinh viên những điều kiện thuận lợi để nhân cách của họ có thể được hình thành và phát triển theo những yêu cầu khách quan đã được xác định

Ba là, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, nó cũng tạo ra những mặt trái gây ảnh hưởng tiêu cực đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên ở một số khía cạnh, thời điểm và không gian nhất định

Vấn đề đặt ra là, để nhân cách sinh viên được hình thành và phát triển đúng hướng

và có hiệu quả, cần phải:

Trang 38

- Khai thác, tận dụng những yếu tố tích cực phục vụ cho việc giáo dục sinh viên

- Ngăn ngừa, hạn chế và cải tạo những yếu tố tiêu cực, giúp họ khai thác, tận dụng có phê phán những yếu tố tích cực, đồng thời giúp họ dần dần có khả năng

"miễn dịch” đối với những yếu tố tiêu cực

- Nhận thức đúng đắn vai trò, ý nghĩa quan trọng của quá trình tự giáo dục,

tự quản đối với từng sinh viên và tập thể sinh viên; Từ đó trường đại học có những tác động phù hợp để khuyến khích sinh viên tự giác, tích cực, chủ động tham gia các HĐNGCK; Từ đó tự quản trong quá trình học tập và rèn luyện

- Môi trường giáo dục

Môi trường giáo dục (nhà trường, gia đình, bạn bè và những người xung quanh) có tầm quan trọng đặc biệt Nó không chỉ tạo ra động cơ và nhu cầu hoạt động, mà còn tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi sinh viên Tuy nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường giáo dục tới việc quản lý các HĐNGCK của sinh viên còn tuỳ thuộc vào lập trường, quan điểm, thái độ, xu hướng, năng lực của cả người quản lý lẫn đối tượng bị quản lý K.Mark

đã chỉ ra rằng: "Hoàn cảnh đã sáng tạo ra con người, trong chừng mực mà con người đã sáng tạo ra hoàn cảnh” Điều đó được hiểu là giữa môi trường và con người sống trong môi trường có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ với nhau Chính vì thế con người phải đấu tranh cải tạo môi trường xã hội, môi trường tự nhiên và thông qua đó tự biến đổi chính mình Đây cũng chính là mối quan hệ biện chứng giữa con người với môi trường Con người muốn sống trong môi trường tốt đẹp hơn thì phải đấu tranh xoá bỏ những hiện tượng bất hợp lý tồn tại trong môi trường, cải tạo môi trường Môi trường giáo dục ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý HĐNGCK của sinh viên có thể được phân thành hai loại:

- Môi trường sư phạm bao gồm toàn bộ các điều kiện thực tế về tình hình học tập, rèn luyện, sinh hoạt, vui chơi giải trí, của tập thể lớp, chi đoàn, khoa, trường Thực tế cho thấy ở những trường có phong trào Đoàn TN, Hội SV phát triển mạnh, hoạt động tự quản của sinh viên được quan tâm thì các quản lý HĐNGCK của sinh viên đạt hiệu quả giáo dục cao hơn rất nhiều so với những nơi có phong trào kém phát triển

- Môi trường cộng đồng dân cư bao gồm toàn bộ các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế, an ninh, chính trị, văn hoá, xã hội, phong tục tập quán của địa phương nơi sinh viên xuất thân, thường trú hoặc tạm trú Sự tác động của môi trường cộng đồng dân cư đến việc hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên luôn có 2 mặt: tích cực và tiêu cực Trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay, môi trường này tạo cho sinh viên tính năng động, nhạy bén về thông tin, đồng thời họ cũng phải chịu ảnh hưởng xấu

Trang 39

1.3.3 Các yếu tố pháp lý

Trong công tác quản lý giáo dục- đào tạo nói chung và quản lý HĐNGCK của sinh viên nói riêng, để vận hành được phải dựa trên một hành lang pháp lý hoàn thiện Đó là hệ thống các văn bản pháp quy do Đảng, Nhà nước, ngành giáo dục-đào tạo và các ngành, đoàn thể liên quan đến công tác quản lý sinh viên ban hành như: Nghị quyết, Nghị định, Luật, thông tư, quyết định, quy chế, quy định, về quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ của các cơ sở giáo dục- đào tạo đại học có liên quan để hướng dẫn tổ chức, điều hành, chỉ đạo mọi hoạt động quản lý của nhà trường đi đúng vào quỹ đạo Nó bao gồm hệ thống tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, quy trình thực hiện công tác quản lý giáo dục-đào tạo, quản lý sinh viên, được quán triệt qua các Nghị quyết của Đảng, các cơ quan quản lý nhà nước để ban hành các văn bản pháp lý phục vụ công tác quản lý giáo dục-đào tạo, tuỳ trường hợp trong công tác quản lý vĩ mô, vi mô

Hiện nay, Bộ Giáo dục-đào tạo đã có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về chủ trương, định hướng HĐNGCK tại các trường đại học Ngoài ra Ban chấp hành Đoàn TN; Trung ương Hội SV Việt Nam cũng có những văn bản quy định liên quan đến quản lý sinh viên ngoài giờ chính khóa và công tác tổ chức các HĐNGCK của sinh viên

Nhiều trường đại học cũng đã ban hành những văn bản quy phạm nội bộ cụ thể hóa văn bản quy định của cấp trên, của Bộ GD&ĐT về quản lý sinh viên, quản

lý HĐNGCK Tuy nhiên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, Nhà nước, ngành GD-ĐT và các Ngành, đoàn thể cũng như văn bản quy phạm nội bộ của các trường đại học chưa có những quy định cụ thể về chủ trương, định hướng thực hiện quản lý HĐNGCK của sinh viên; chưa quy định cơ chế, chính sách để có thể phát huy hiệu quả vai trò của sinh viên Những văn bản quy phạm nội bộ của các trường đại học cũng chưa quy định rõ về cơ cấu tổ chức quản lý HĐNGCK, về

tổ chức tự quản của sinh viên; chưa quy định chính sách cho cán bộ quản lý, giáo viên, chuyên viên và sinh viên tham gia vào công tác quản lý HĐNGCK

1.3.4 Yếu tố về cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất phục vụ sinh viên gồm toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng (ký túc

xá, thư viện, nơi tập thể thao, phòng chức năng), các trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện (mạng internet; các chương trình phần mềm hỗ trợ việc học tập, tư vấn cho sinh viên), kinh phí dành cho hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, hoạt động của

Trang 40

Đoàn, Hội sinh viên, của nhà trường được khai thác, sử dụng để thu hút sinh viên tham gia vào các HĐNGCK

Cơ sở vật chất có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng các HĐNGCK và ý thức tự quản của sinh viên Nhu cầu HĐNGCK của sinh viên luôn rất cao, nếu điều kiện về cơ sở vật chất của nhà trường đầy đủ và hiện đại thì không chỉ hấp dẫn, thu hút được đông đảo sinh viên tham gia các HĐNGCK, mà còn tác động trực tiếp đến

ý thức, hành vi và thái độ của họ, tạo sự tự giác, chủ động tham gia các HĐNGCK; Ngược lại, nếu cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu sẽ tạo cho họ cảm giác chán nản, khiến họ phải đi tìm những thú vui, những dịch vụ bên ngoài nhà trường; dễ sa vào vòng xoáy của tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật

Chương 1 của luận văn bao gồm toàn bộ khung lý thuyết về quản lý HĐNGCK tại các trường đại học Trong đó gồm các khái niệm: khái niệm quản lý; khái niệm HĐNGCK; khái niệm quản lý HĐNGCK Khái niệm công cụ chính của luận văn là khái niệm quản lý HĐNGCK cho sinh viên đại học được trình bầy như sau: Quản lý các HĐNGCK là hoạt động có ý thức nhằm thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lý tới mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp

và các hình thức tổ chức HĐNGCK để sử dụng hiệu quả những nguồn lực (con người, kinh phí, thời gian, các điều kiện cơ sở vật chất) nhằm làm cho các HĐNGCK có được chất lượng hoạt động tốt nhất, giúp sinh viên mở rộng kiến thức, trang bị kỹ năng và tự tin tham gia vào thị trường lao động

Ngày đăng: 23/11/2020, 16:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w