1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các quy định của Luật thuế giá trị gia tăng về hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng và liên hệ thực tiễn.

12 173 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 32,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích các quy định của Luật thuế giá trị gia tăng về hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng và liên hệ thực tiễn. So sánh hai phương pháp tính thuế này. Đánh giá về ưu điểm và nhược điểm của từng phương pháp dưới góc độ của cơ quan quản lý thuế

Trang 1

MỞ ĐẦU

Công cuộc đổi mới ở nước ta nhằm xây dựng một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sau nhiều năm thực hiện đã thu được nhiều thành quả tốt đẹp Nền kinh tế Việt nam đã phát triển tương đổi ổn định và dần chuyển sang một thời kì mới- thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tích cực hội nhập hội nhập kinh tế quốc tế Trong cơ chế này, thuế được nhìn nhận là một công cụ hữu hiệu của Nhà nước để điều tiết nền kinh tế Thuế vừa đáp ứng nguồn thu cho ngân sách, vừa thúc đẩy sản xuất kinh doanh, khuyến khích đầu tư đồng thời góp phần đảm bảo công bằng xã hội Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi có đủ điều kiện nhất định Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Thuế giá trị gia tăng gồm hai phương pháp tính thuế là phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng Để đi sâu tìm hiểu thêm về

hai phương pháp này, em xin lựa chọn đề bài 10: “Phân tích các quy định của Luật thuế giá trị gia tăng về hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng và liên hệ thực tiễn So sánh hai phương pháp tính thuế này Đánh giá về ưu điểm và nhược điểm của từng phương pháp dưới góc độ của cơ quan quản lý thuế”.

NỘI DUNG

I Phân tích các quy định của Luật thuế giá trị gia tăng về hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng và liên hệ thực tiễn

1 Phân tích các quy định của Luật thuế giá trị gia tăng về hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng

a) Phương pháp khấu trừ thuế

Theo Điều 10 Luật thuế giá trị gia tăng 2016 quy định

“1 Phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:

a) Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp khấu trừ thuế bằng số thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ;

b) Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng;

Thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng bằng giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ đó

Trừng hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị tăng đầu ra được xác định bằng gia thanh toán trừ tính thuế gia trị gia tăng xác định theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 7 luật này;

Trang 2

c) Số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng của hàng hóa nhập khẩu và đáp ứng Điều kiện quy định tại Điều 12 của Luật này.

2 Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ và đăng

ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế.[…]”

Với mục tiêu tạo thuận lợi, hỗ trợ cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 93/2017/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Khoản 3, Khoản 4 Điều 12 Thông

tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014) và bãi bỏ Khoản 7 Điều 11 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính để cải cách thủ tục hành chính trong việc đăng ký và chuyển đổi phương pháp tính thuế giá trị gia tăng (GTGT)

Theo hướng dẫn tại Công văn số 4235/TCT-CS của Tổng cục Thuế thì đã bỏ hướng dẫn nộp Mẫu 06/GTGT để đăng ký áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ đối với cơ sử kinh doanh đang hoạt động có doanh thu chịu thuế GTGT dưới 1 tỷ đồng Từ ngày 05/11/2015 áp dụng theo Thông tư 93/2017/TT-BTC thì nếu cở sở kinh doanh đăng ký áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì Tờ khai thuế GTGT Mẫu số 01/GTGT, 02/GTGT đến cơ quan thuế

Nội dung cơ bản của phương pháp khấu trừ thuế là số thuế giá trị gia tăng phải nộp được tính trên cơ sở số thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ đi số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ

Điểm cần đặc biệt lưu ý, đối với phương pháp khấu trừ thuế được xác định một cách trực tiếp, là hiệu số thuế của các khâu trong quá trình sản xuất lưu thông mà không phải phần giá trị gia tăng được xác định trực tiếp qua các khâu

Thuế giá trị gia tăng đầu ra là số thuế xuất hiện ở khâu bán ra, chủ thể nộp thuế đã xấc định và tính trong giá bán cho người nhận hàng hóa dịch vụ (trong giá thanh toán) Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016 quy định thuế đầu ra được tính bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng Phần thuế này được tính trên toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho khách hàng, tính bằng giá tính thuế hàng hóa, dịch vụ đầu ra nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng đầu vào xuất hiện ở khâu mua vào, được tính trong tổng giá mà chủ thể nộp thuế đã trả để nhận được hàng hóa dịch vụ Luật thuế giá trị gia tăng quy định số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ bằng tổng thuế giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch

vụ, chứng từ nộp thuế giá gia tăng của hàng hóa nhập khẩu Như vậy, bằng một nghiệp vụ phát hành hóa đơn, có thể là cơ sở xác định số thuế đầu ra cho chủ thể cung ứng hàng hóa, dịch vụ; đồng thời lại là căn cứ xác định số thuế đầu vào cho bên nhận hàng hóa dịch vụ Đối với chứng từ nộp thuế của hàng hóa nhập khẩu, vừa là cơ sở đề xác định nghĩa vụ thuế đã hoàn thành ở khâu nhập khẩu, đồng thời là cơ sở để cơ quan thuế nội địa khấu trừ thuế đối với hoạt động tiêu dùng trong nước

Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể đều được nộp thuế theo phương pháp khấu trừ mà phải đảm bảo những điều kiện sau: Chủ thể nộp thuế có hoạt động kinh doanh ổn định, chấp hành chế độ hoạch toán kế toán, chế độ sử dụng chứng từ hóa đơn (hóa đơn giá trị gia tăng) theo quy định hiện hành dành cho các chủ thể kinh doanh Cần lưu ý là chế độ kế toán chứng

từ hóa đơn của các chủ thể nộp thuê có thể khác nhau giữa doanh nghiệp trong nước và doanh

Trang 3

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài về hệ thống kế toán, loại chứng từ hóa đơn phát hành; Đăng

kí và được cơ quan thế cấp mã số thuế theo đúng trinh tự luật định; Đăng kí với cơ quan thuế

và được cơ quan thuế chấp nhận nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ

b) Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

Theo Điều 11 luật thuế giá trị gia tăng 2016 quy định

“ 1 Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng bằng giá trị gia tăng nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với hoạt động mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý.

Giá trị gia tăng của vàng, bạc, đá quý được xác định bằng giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra trừ giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào tương ứng.

2 Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng bằng tỷ lệ % nhân với doanh thu áp dụng như sau:

a) Đối tượng áp dụng:

- Doanh nghiệp, hợp tác xã có doanh thu hàng năm dưới mức ngưỡng doanh thu một

tỷ đồng, trừ trường hợp đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật này;

- Hộ, cá nhân kinh doanh;

- Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng có doanh thu phát sinh tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, trừ tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu, khí nộp thuế theo phương pháp khấu trừ

do bên Việt Nam khấu trừ nộp thay;

- Tổ chức kinh tế khác, trừ trường hợp đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật này;

b) Tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:

- Phân phối, cung cấp hàng hóa: 1%;

- Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%;

- Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 3%;

- Hoạt động kinh doanh khác: 2%.".

Theo Thông tư 93/2017/TT-BTC quy định nếu cơ sở kinh doanh đăng ký áp dụng thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì gửi Tờ khai thuế GTGT Mẫu số 03/GTGT , 04/GTGT đến cơ quan thuế

Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng là phương pháp tính thuế mà theo

đó : “Số thuế phải nộp bằng giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với hoạt động mua bán, chế tác vàng bạc, đá quý”

Trang 4

Để có được phần giá trị tăng thêm của vàng bạc, đá quý, pháp luật quy định bằng giá thanh toán của vàng bạc, đá quý bán ra trừ giá thanh toán của vàng bạc, đá quý bán ra trừ giá thanh toán của vàng bạc, đá quý mua vào tương ứng Như vậy, nếu phương pháp khấu trừ thuế xác định trực tiếp theo hiệu số thuế thì phương pháp tính trực tiếp xác định theo hiệu số kết quả kinh doanh của chủ thể kinh doanh vàng bạc, đá quý

Thuế suất thuế giá trị gia tăng được áp dụng phù hợp với hoạt động mua bán, chế tác vàng bạc, đá quý

Áp dụng phương pháp nộp thuế trên cơ sở trừ trực tiếp, cần lưu ý một số điểm: Căn

cứ tính phần “giá trị tăng thêm” là giá thanh toán, tức giá đã có thuế giá trị gia tăng được xác định trong chứng từ hóa đơn; Thuế suất áp dụng chung cho hàng hóa dịch vụ mua vào và hàng hóa dịch vụ bán ra; Đối với hàng hóa, dịch vụ ở khâu mua vào, nếu không chứng minh

đã được bán ra, đã cung ứng, không được xác định là phần giá trị được phép trừ đi khi tính phần giá trị gia tăng

Chủ thể nôp thuế theo phương pháp trừ trực tiếp trong trường hợp này được pháp luật chỉ rõ là cơ sở chế tác, kinh doanh vàng bạc, đá quý mà không quy định chung chung

Trường hợp số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho đối tượng này được xác định bằng tỉ

lệ phần trăm nhân với doanh thu thì được áp dụng tại điểm a khoản 2 Điều 11 Luật thuế giá trị gia tăng 2016 đã nếu trên

Cả hai trường hợp trên, tỉ lệ giá trị gia tăng do cơ quan thuế ấn định Nếu xét về bản chất, cách xác định thuế giá trị gia tăng theo nội dung nêu trên thực chất là một hình thức áp thuế, khóa thuế

2 Liên hệ thực tiễn

Sở dĩ Luật thuế giá trị gia tăng quy định hai phương pháp tính thuế như vậy vì xuất phát từ phạm vi của đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng trong quy định này xét ở một góc độ nào đó phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam, song chưa thực sự bảo đảm sự bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng, thể hiện ở chỗ cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào khi thỏa mãn các điều kiện nhất định được pháp luật quy định Còn các đối tượng nộp thuế theo phương pháp trực tiếp không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào kéo đến những hậu quả phát sinh tiêu cực

a) Ưu điểm:

Phương pháp khấu trừ thuế là phương pháp được áp dụng phổ biến nhất vì nguyên tắc này thể hiện được nhiều ưu điểm như: Hóa đơn là chứng cứ quan trọng của giao dịch và là chứng cứ cho việc đã nộp thuế; tạo ra cơ sở tốt cho kiểm toán; có thể áp dụng cho nhiều mức thuế suất khác nhau; Tính thuế theo phương pháp trực tiếp sẽ có hiện tượng đánh trùng thuế (tức là đánh nhiều lần thuế trên cùng một mức doanh thu) và được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào

Do đó để đảm bảo sự bình đẳng cho các chủ thể và tránh các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh, cần xác định rằng phương pháp tính thuế trực tiếp chỉ là tạm thời, tình thế Nên cần đưa ra một lộ trình nhất định để các đối tượng nộp thuế theo phương pháp trực tiếp chuẩn bị chuyển sang phương pháp khấu trừ

Trang 5

b) Bất cập:

Theo pháp luật về thuế giá trị gia tăng, chỉ khi những đơn vị nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ mua hàng hóa, dịch vụ từ những đơn vị cũng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ và có lập hóa đơn giá trị gia tăng hợp pháp thì mới có khả năng được khấu trừ thuế đầu vào một cách chính xác số thuế giá trị gia tăng đúng theo bản chất của thuế giá trị gia tăng Còn trường hợp những đơn vị nộp thuế giá trị gia tăng theo phương thức trực tiếp, hóa đơn đầu vào và hợp pháp nhưng không là hóa đơn giá trị gia tăng mà là hóa đơn bán hàng, thì đối tượng nộp thuế không được khấu trừ hoặc được khấu trừ theo một tỷ lệ ấn định mang tính chủ quan Vì vậy, trường hợp này đi ngược lại với bản chất của thuế giá trị gia tăng mà thực chất chỉ là một phiên bản của thuế gián thu Ngoài ra, đối với những trường hợp

cơ sỏ sản xuất kinh doanh mua hàng không có hóa đơn chứng từ mà chỉ cần bảng kê khai (hầu như không có giá trị pháp lí) thì được khấu trừ khống theo tỷ lệ nhất định (trừ một số hàng hóa không được khấu trừ) Vì vậy, đưa đến một mâu thuẫn là trong một số trường hợp

số thuế đầu vào không có thật thì được khấu trừ, một số trường hợp khác là số thuế đầu vào

có thật thì không được khấu trừ hoặc chỉ được khấu trừ một phần Do đó, để khắc phục tình trạng này cần phải đi đến một phương pháp tính thuế thống nhất, một loại hoá đơn thống nhất

để trả lại đúng bản chất của thuế GTGT, tức là cần phải tiến đến việc sử dụng phương pháp khấu trừ cho mọi đối tượng

II So sánh hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng

1 Những điểm giống nhau

Một là, phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng và phương pháp tính trực tiếp trên

giá trị gia tăng đều là hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng

Hai là, luật thuế giá trị gia tăng với những điều kiện và phương pháp tính thuế không

chỉ tạo ra nguồn thu ổn định cho ngân sách, đảm bảo bình đẳng về nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế mà còn là biện pháp chống gian lận, trốn lậu thuế ở các khâu của quá trình sản xuất lưu thông hàng hóa

Ba là, hai phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng và phương pháp tính trực tiếp

thuế giá trị gia tăng dựa trên đối tượng tính thuế là phần chênh lệch giữa các giá trị đầu ra và phần giá trị đầu vào tương ứng

Bốn là, để xác định được sẽ áp dụng theo phương pháp tính thuế giá trị gia tăng nào thì

việc xác định số thuế giá trị gia tăng nộp qua mỗi khâu phải dựa trên điều kiện thực tế của chủ thể kinh doanh, đồng thời đáp ứng yêu cầu thu đúng, thu đủ thuế vào ngân sách nhà nước

2 Những điểm khác nhau

Thứ nhất, để có được phần “giá trị tăng thêm của vàng bạc, đá quý”, pháp luật quy định

“bằng giá thanh toán của vàng bạc, đá quý mua vào tương ứng” Như vậy, nếu phương pháp khấu trừ thuế xác định trực tiếp theo hiệu số thuế thì phương pháp tính trực tiếp xác định theo hiệu số kết quả kinh doanh của chủ thể kinh doanh, vàng bạc đá quý

Thứ hai, về đối tượng áp dụng:

Trang 6

- Phương pháp khấu trừ thuế (Khoản 2 Điều 10 Luật thuế giá trị gia tăng 2016) Áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ bao gồm:

+ Cơ sở kinh doanh có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ một

tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh

+ Cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, trừ hộ, cá nhân kinh doanh

- Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng (Khoản 2 Điều 11 Luật thuế giá trị gia tăng 2016) Áp dụng đối với:

+ Doanh nghiệp, hợp tác xã có doanh thu hàng năm dưới mức ngưỡng doanh thu một

tỷ đồng, trừ trường hợp đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật thuế giá trị gia tăng 2016

+ Hộ, cá nhân kinh doanh

+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, trừ tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu, khí nộp thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam khấu trừ nộp thay + Tổ chức kinh tế khác, trừ trường hợp đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật này

Thứ ba, theo các quy định trên thì những Doanh nghiệp có doanh thu hàng năm dưới

mức ngưỡng doanh thu một tỷ đồng sẽ có hai sự lựa chọn phương pháp tính thuế: Hoặc là theo phương pháp trực tiếp (mặc đinh) hoặc là theo phương pháp khấu trừ (nhưng phải thông báo đăng ký với cơ quan thuế) Chính vì có 02 sự lựa chọn, nên vấn đề được đặt ra là doanh nghiệp sẽ có cách tính nào để có lợi cho doanh nghiệp- số thuế giá trị gia tăng phải nộp là nhỏ nhất Câu trả lời là tùy vào tình hình, đặc điểm của mỗi loại doanh nghiệp mà có sự lựa chọn tối ưu:

a) Đối với những doanh nghiệp có số thuế GTGT mua vào gần tương ứng với số thuế GTGT bán ra, có nghĩa là chênh lệch giữa thuế GTGT bán ra và thuế GTGT mua vào không nhiều => số thuế GTGT phải nộp là nhỏ, hoặc không phải nộp thuế GTGT Những doanh

nghiệp loại này thì nên chọn cách tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

Thường là các doanh nghiệp sau:

+ Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu, hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình cho doanh nghiệp chế xuất; vận tải quốc tế…áp dụng mức thuế suất đầu ra là 0%; doanh nghiệp kinh doanh các hàng hóa dịch vụ không phải khai, tính nộp thuế GTGT Các doanh nghiệp này, thì thuế GTGT đầu ra là bằng 0 nhưng thuế GTGT đầu vào thì được khấu trừ toàn bộ

=> Không phát sinh số thuế GTGT phải nộp, nhưng lại được hoàn thuế đầu vào + Doanh nghiệp kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT như: sản phẩm trồng trọt, giống vật nuôi, giống cây trồng, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ cấp tín dụng,

Trang 7

kinh doanh chứng khoán bao, dịch vụ y tế, dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích, dạy học, dạy nghề,

=> Không phát sinh số thuế GTGT phải nộp

+ Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, hay các ngành nghề khác mà

có đầy đủ hóa đơn GTGT của hàng mua vào tương ứng với hàng bán ra chịu thuế GTGT, và chênh lệch giữa giá bán ra và giá mua là nhỏ (tỷ lệ lợi nhuận thấp)

=> Số thuế GTGT phải nộp là không đáng kể

b) Đối với những doanh nghiệp không có số thuế GTGT mua vào, hoặc thuế GTGT mua vào là quá nhỏ so với số thuế GTGT bán ra => số thuế GTGT phải nộp là rất lớn nếu chọn theo phương pháp khấu trừ Những doanh nghiệp loại này thì nên chọn cách tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp

Thường là các doanh nghiệp sau:

- Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tư vấn thiết kế, lập dự toán, tư vấn pháp lý, dịch vụ nhân sự, các dịch vụ khác mà chi phí chủ yếu là tiền lương (nhân công/chất xám) hoặc chi phí không có hóa đơn GTGT

- Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, hay các ngành nghề khác mà không có hóa đơn GTGT của hàng mua vào như mua bán sản phẩm nông/lâm/ngư nghiệp, đất đá cát sỏi (mua từ người trực tiếp sản xuất bán ra)

=> Số thuế GTGT đầu vào là hầu như không có hoặc rất nhỏ so với thuế GTGT đầu ra Nếu chọn theo phương pháp khấu trừ thì thuế GTGT phải nộp là rất lớn Chính vì thế nộp theo phương pháp trực tiếp sẽ tối ưu hơn vì số thuế GTGT phải nộp là nh

III Đánh giá về ưu điểm và nhược điểm của từng phương pháp dưới góc độ của cơ quan quản lý thuế.

1 Ưu, nhược điểm của phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng dưới góc độ của

cơ quan quản lý thuế

1.1 Ưu điểm

- Xác định đúng số thuế phải nộp ở từng khâu, từng chủ thể nộp thuế, chống thất thu

thuế Đảm bảo thu đủ số thuế cần thiết điều tiết thu nhập của người tiêu dùng Bởi tính thuế theo phương pháp khấu trừ không cần phải xác định giá trị gia tăng, điều này vốn rất khó và không chính xác nhưng vẫn đánh thuế đúng và đủ đối với mọi đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, không phân biệt đối tượng chịu thuế đó ở khâu sản xuất hay lưu thông

- Phương pháp khấu trừ thuế làm đơn giản hóa quá trình quản lý và thu thuế, do số thuế phát sinh ở các khâu được phản ánh rõ trên chứng từ hóa đơn Xét ở khía cạnh quản lý, phương pháp khấu trừ thuế được thực hiện sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế Điều này lý giải vì sao, pháp luật các nước đang áp dụng thuế giá trị gia tăng đều quy định phương pháp khấu trừ thuế là phương pháp tính thuế chủ yếu của loại thuế này Phương pháp khấu trừ thuế còn thúc đẩy các tổ chức kinh tế tiến hành hạch toán theo chuẩn mực pháp luật

Trang 8

- Thực hiện phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng đảm bảo sự động viên kịp thời

một phần thu nhập quốc dân bởi vì có thể xác định được nghĩa vụ nộp thuế theo tuần, theo tháng, theo quý hoặc theo năm Tổng hợp đối với hoàng hóa dịch vụ nhập khẩu còn có khả năng động viên trước được số thuế giá trị gia tăng phải nộp vào ngân sách nhà nước

- Ngoài ra, phương pháp này còn phân biệt được hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng trong nước

và hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu Bởi hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu chịu mức thuế suất 0%, đây

là điều kiện quan trọng đối với tình trạng cạnh tranh rất lớn trong việc hội nhập kinh tế quốc

tế hiện nay

- Phương pháp khấu trừ thuế làm nổi bật về tính trung lập kinh tế của thuế giá trị gia

tăng, không làm tăng giá trị thành sản xuất, không phụ thuộc vào mức độ dài ngắn của chu trình sản xuất và lưu thông của hàng hóa, dịch vụ

1.2 Nhược điểm

- Số thuế được khấu trừ thực tế là dựa trên những hóa đơn chứng từ Vì vậy, nếu hóa đơn

chứng từ phản ánh nghiệp vụ phát sinh không trung thực, hoặc những hóa đơn, chứng từ khống thì rõ rang lúc này số thuế thực nộp không còn phản ánh đúng phạm vi, mức độ của nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng

- Vì vậy, một vấn đề cần chú trọng là phải tạo lập thói quen lập và sử dụng hóa đơn chứng từ hợp lệ và cùng với các biện pháp đồng bộ khác để đảm bảo cho hóa đơn chứng từ luôn phản ánh trung thực, đầy đủ thu thập và hoạt động kinh doanh của các chủ thể có nghĩa

vụ thuế

- Nhiều quy định liên quan đến hóa đơn, cách tính thuế giá trị gia tăng, đối tượng chịu thuế, không chịu thuế, áp dụng thuế suất cho các laoij mặt hàng khác nhau,…mang đến cho phương pháp này nhiều sự phức tạp cũng như quá trình nghiên cứu trước khi sử dụng tại doanh nghiệp

- Yêu cầu chuyên môn kế toán cao, am hiểu các luật về thuế khi sử dụng phương pháp này bởi vì phương pháp này chỉ áp dụng chô những doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ kế toán hóa đơn chứng từ

2 Ưu, nhược điểm của phương pháp tính thuế trực tiếp dưới góc độ của cơ quan quản lý thuế

2.1 Ưu điểm

- Doanh nghiệp không cần phải thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng

từ, không cần các hóa đơn giá trị gia tăng ở đầu vào vì không được khấu trừ thuế

- Thuế giá trị gia tăng được thu trực tiếp trên doanh thu (tỷ lệ này chỉ từ 1% -5% tùy ngành

- Không quá yêu cầu chuyên môn kế toán cao, am hiểu các luật về thuế khi sử dụng

phương pháp này bởi vì phương pháp này không áp dụng cho những doanh nghiệp thực hiện

Trang 9

đầy đủ chế độ kế toán hóa đơn chứng từ Bởi, phương pháp tính trực tiếp thuế giá trị gia tăng

áp dụng đối với các trường hợp: Cơ sở kinh doanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài không có

cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng có thu nhập phát sinh tại Việt Nam chưa thực hiện đầy

đủ chế độ kế toán hóa đơn chứng từ,…

- Không có nhiều quy định liên quan đến hóa đơn, cách tính thuế giá trị gia tăng, đối

tượng chịu thuế, không chịu thuế, áp dụng thuế suất cho các laoij mặt hàng khác nhau,… mang đến cho phương pháp này ít sự phức tạp hơn so với phương pháp khấu trừ thuế giá trị

gia tăng cũng như quá trình nghiên cứu trước khi sử dụng tại doanh nghiệp

2.2 Nhược điểm

- Thực tế quản lí thuế cho thấy, các chủ thể nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp

khấu trừ thuế chiếm tỉ lệ không lớn so với tổng các chủ thể nộp thuế giá trị gia tăng nhưng số thuế được thu, nộp lại lại chiếm đa số Chủ thể nộp thuế theo phương pháp trừ trực tiếp chiếm

tỉ lệ lớn, nhưng tổng thu thuế giá trị gia tăng của các đối tượng này không cao, chi phí quản lí thuế lớn so với các chủ thể nộp thuế theo phương pháp khấu trừ

- Sở dĩ, phương pháp trực tiếp có rất nhiều nhược điểm so với pp khấu trừ, đồng thời bị

tính thuế 2 lần như vậy là vì các cơ quan quản lý muốn khuyến khích các đối tượng kinh doanh hạch toán đầy đủ sổ sách, hóa đơn chứng từ nhằm kiểm soát tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, tránh tình trạng trốn thuế, gian lận thuế

- Không được khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào ảnh hưởng đến chi phí và giá thành sản phẩm, dịch vụ

3 Kiến nghị hoàn thiện phương pháp tính thuế giá trị gia tăng

Thứ nhất, cải tiến và đi đến thống nhất sử dụng một phương pháp tính thuế khấu trừ

đối với các doanh nghiệp có quy mô phù hợp ( doanh nghiệp lớn và vừa) Theo khuyến cáo của các chuyên gia quốc tế (IMF), Việt Nam chỉ nên áp dụng một phương pháp tính thuế khấu trừ đối với các doanh nghiệp thực hiện đúng chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ Điều này hết sức quan trọng nhằm đảm bảo tính nhất quán, chính xác và phù hợp với thông lệ quốc

tế trong xác định nghĩa vụ thuế phải nộp của các đối tượng

Thứ hai, nghiên cứu áp dụng chế độ thuế phù hợp đối với các doanh nghiệp nhỏ Hiện

nay, bên cạnh thuế môn bài, lệ phí trước bạ, các doanh nghiệp nhỏ còn chịu thêm các loại phí giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập doanh nghiệp Trên thực tế, các doanh nghiệp này thường không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định về chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ Do đó, việc xác định thuế đối với các đối tượng này thường chủ yếu dựa trên các ước tính hoặc khoán So với các nước, hệ thống thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ ở nước ta tương đối phức tạp, kém hiệu quả, gây khó khăn cho quá trình triển khai thực hiện cũng như chi phí lớn cà phía cơ quan thuế và người nộp thuế

Thứ ba, việc quản lý hoá đơn kê khai thuế cần phải thực hiện bằng hệ thống máy tính

trên toàn quốc để truy cập, xác minh hoá đơn một cách thuận lợi và nhanh gọn Do đó, ngành thuế cần phải phát triển hệ thống mạng giữa các tỉnh, thành phố nhằm xác định đúng số thuế GTGT kê khai khấu trừ, hoàn thuế; phát hiện kịp thời hoá đơn đã thông báo không còn giá trị

sử dụng1

1 Theo Những bất cập trong phương pháp tính thuế và qui trình hoàn thuế GTGT- Th.S.Trần Anh Tuấn & CN.Châu Quốc An - Viện Kinh tế TP HCM

Trang 10

KẾT LUẬN

Thuế giá trị gia tăng là loại thuế phức tạp, các vấn đề có liên quan đến thuế giá trị gia tăng được quy định tại nhiều văn bản pháp luật, với hiệu lực pháp lí khác nhau, mức độ điều chỉnh trực tiếp hay gián tiếp khác nhau Tất cả sự khác nhau này chỉ có thể là khác nhau về trật tự áp dụng nhưng về nội dung phải đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với thực tế đời sống kinh tế, có tính ổn định, tạo niềm tin cho các chủ thể kinh doanh Hai phương pháp tính thuế của thuế giá trị gia tăng là khấu trừ thuế và tính trực tiếp trên phần giá trị tăng thêm có những

ưu điểm cũng như nhược điểm của nó Vì vậy, ta cần duy trì và phát huy ưu điểm vốn có cũng như khắc phục nhược điểm của mỗi phương pháp để pháp luật về thuế giá trị gia tăng đảm bảo được tính đúng đắn, nhất quán của nó

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngày đăng: 23/11/2020, 15:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w